VÕ PHIẾN NHỚ LÀNG

 

Tác phẩm văn chương thường được xây dựng với ít nhiều trải nghiệm của tác giả trong một thế giới hiện thực ; do đó tác phẩm phản ánh đời sống hằng ngày, phản ánh xã hội. Ngòi bút của nhà văn khi dừng lại ở những chuyện linh tinh của cuộc đời, ở những kỷ niệm, khi chăm chú theo dõi những biến cố liên quan đến đời sống trong xã hội, lại càng chăm chú hơn đến một biến cố lịch sử lớn lao như chiến tranh, làm khuynh đảo cả một xã hội, cả đất nước. Cho nên ở miền Nam, trước năm 1975, chiến tranh đã tràn vào văn học, đọc truyện dài, truyện ngắn, tiểu luận, tùy bút, thơ, nơi đâu cũng có khói lửa chiến tranh.

Về phần Võ Phiến, ông không nhìn chiến tranh qua thảm họa Tết Mậu thân chẳng hạn, hoặc qua cái chết của người lính, qua những trận đánh lớn ; Võ Phiến nhìn chiến tranh qua hình ảnh một làng quê, và ông vẽ lên chân dung một người dân quê chất phác bị dồn vào tận cùng nỗi tuyệt vọng.

Tên tuổi của Võ Phiến tưởng không cần thiết phải giới thiệu dài dòng, vì ông được xem như một trong những nhà văn trụ cột của miền Nam thời 54-75. Ông viết nhiều thể loại : truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, ông cũng là tác giả của một tập thơ. Một trong những đặc điểm của Võ Phiến là sự gắn bó với làng quê. Qua những truyện và tùy bút, người đọc được đưa về cảnh đồng quê để biết rõ người ông, người bà của tác giả, để làm quen với những nhân vật trong làng như anh Bốn Thôi với sáu người vợ của anh, như ông tú Từ Lâm suốt đời đi lang thang,  ông Tam Khoang với phong cách uống chè Huế của ông, v.v… Rồi chẳng bao lâu làng quê trở nên một chiến địa. Bài tùy bút Nhớ làng của Võ Phiến dựng lên một khung cảnh loạn lạc, đảo điên, đe dọa mạng sống con người.

Năm 1992, nhà Văn Nghệ ở California xuất bản tập tùy bút Quê của Võ Phiến gồm ba bài : Nhớ làng, Khách xá qui tâm và Cái lạnh nửa người. Tác giả viết bài tùy bút Nhớ làng trước đó hai mươi năm, tức năm 1972, khi ông còn ở quê nhà, và chiến tranh đang đến mức độ tàn khốc.

Trong văn học Việt Nam, thể loại tùy bút rất được nhiều nhà văn ưa chuộng. Nhưng tùy bút là gì ? Theo Trương Chính, trong bài tựa cuốn Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, tùy bút là bài viết theo ngọn bút gặp đâu nói đó, không có hệ thống, rất linh động và cũng rất linh tinh. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, khi đề tựa một cuốn tùy bút của Võ Phiến, năm 1973, thì định nghĩa như sau : Tùy bút – tùy hứng mà phóng bút – là một thể rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Nhưng ông nói thêm rằng tính nghệ thuật rất cần thiết, đó là một thể văn khó viết, cho nên một bài tùy bút hoặc thành công hoặc thất bại, không có sự lưng chừng. Đúng là phải có nghệ thuật để viết một bài tùy bút hay, vì khi tác giả được tự do tản mạn, đi từ ý tưởng này sang ý tường khác, đôi khi thiếu mạch lạc, và nếu không có chủ ý thuyết phục người đọc về một điều gì rõ ràng, thì tác giả dễ rơi vào sự tầm thường, sự nhàm chán.

Vậy thử xem Võ Phiến nhớ làng như thế nào. Ông có gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy không ?

Nhân đọc những câu thơ của Yến Lan, người cùng quê Bình Định với ông, Võ Phiến bỗng ngậm ngùi nhớ đến làng mình. Câu hỏi đầu tiên của tác giả : Làng đâu ? kéo theo nhiều tin tức chiến sự do báo chí và đài phát thanh không ngớt truyền đi khắp nơi, vào thời điểm tháng 6 năm 1972. Năm 1972 là cái năm có nhiều trận đánh khốc liệt trên toàn lãnh thổ miền Nam, cái năm có mùa hè đỏ lửa. Thời gian báo hiệu thảm trạng của làng : làng đang ngập chìm trong khói lửa, đang trở nên một vị trí nổi tiếng. Trong làng ngày đêm sư đoàn 3 Sao Vàng của bên kia không ngớt đánh nhau với trung đoàn 41 bên này. Rồi một chiếc phi cơ Mỹ rớt ngay xuống làng, tác giả tự hỏi nó rơi đúng vào chỗ nào. Một dịp để nhắc đến những nhân vật trong làng mà tác giả đã cho xuất hiện trong các truyện và tùy bút trước đây, đó là những người dân quê mộc mạc mà những hành động khi xưa đã trở thành những kỷ niệm bất hủ của làng : nào là chị vợ bé anh Bốn Thôi với người đàn ông câu ếch trong bài tùy bút Lại thư nhà, nào là chị Bốn Chìa Vôi, anh Năm Cán Vá trong truyện Chim và rắn, nào là ông Bái Công trong truyện Về một xóm quê.

Làng quê trở thành nơi chốn quyết liệt của sự sống chết. Hai chiến thuật đối đầu nhau : một bên là biển người và một bên là vũ khí tối tân, kết quả : có vô số người chết : xác địch, xác ta. Ai nấy đều rõ một khi Sao Vàng đến thì sự tai ương ra sao.

Nói đến xác địch xác ta, tác giả liên tưởng đến sự gặp gỡ anh Ấm Sứt năm trước, anh là một người dân làng đã ra sống ở tỉnh, làm nghề thợ vịn cho Mỹ, lương khá, thợ vịn là để giúp việc lặt vặt cho thợ chính cống. Tác giả theo anh Ấm về nhà, được biết lý do anh bỏ làng ra đi. Số là một hôm lực lượng bên kia cho người về bắt tất cả trai tráng trong làng dẫn đi. Anh Ấm có nhiệm vụ tải thương. Đêm hôm đó một trận chiến xảy ra, lực lượng bị tấn công tứ phía, mạnh ai nấy chạy. Anh Ấm Sứt chạy trốn, sau đó anh đem gia đình lên sống ở tỉnh. Trong buổi họp mặt ở nhà anh Ấm, tác giả được quen biết với một người đàn ông có lòng tốt đã giúp anh Ấm có việc làm. Người này vừa mất hai người con trai, người con cả đi lính bị súng cối bắn vào đồn, gọi là cối vào, chết ngay, người con thứ hai đang ở ngoài vườn, hai bên đánh nhau, trong đồn bắn ra, gọi là câu ra, thế là chết. Tác giả ngẫm nghĩ về trường hợp anh Ấm Sứt, nếu trước đó anh đang tham gia công cuộc giải phóng mà rủi ro chết ngoài ruộng, hoặc bây giờ anh làm công việc xây cất cho Mỹ mà chết vì một quả mìn của đặc công, vậy xác của anh tùy nơi chết được xem khi thì xác địch khi thì xác ta. Lập trường của anh ra sao ? Hai người con ông bạn tốt bụng, người bị bên kia cối, người bị bên này câu. Đâu là địch đâu là ta, và có gì thay đổi trong tư tưởng của họ ?

Chuyện chém giết lạị được báo chí loan tin : ở xã nọ gần làng tác giả, một viên xã phó đã xử tử nhiều dân làng, hung thần bị bắt và sắp bị đưa ra tòa xử. Thì ra hung thần không ai xa lạ mà chính là anh Năm Hà. Trước kia anh ta là một nông dân, một người đàn ông xấu xí, gầy đét, giọng nói khó nghe. Anh lấy một người phụ nữ không đẹp, nhưng có một thân hình khêu gợi. Từ ngày anh Năm Hà lấy vợ anh bỗng thay đổi nhiều, anh ăn mặc khá hơn, phát âm khá hơn, anh bắt đầu có một đời sống xã hội : anh làm cán bộ, tham dự những buổi hội họp, ngôn ngữ của anh cũng thay đổi, anh thích ăn nói kiểu cách. Lúc đó vào thời kháng chiến, anh có dịp tiếp đón những cán bộ cao cấp tại nhà. Có lần một đại đội trưởng ở trọ nhà anh. Một hôm ở ngoài đồng về, anh Năm Hà bắt gặp qua khe cửa cảnh chị vợ ngoại tình, anh không trông thấy gì nhiều, chỉ thấy một bàn chân rướn cong lên. Nhưng cũng đủ cho anh thấy thế giới quanh anh sụp đổ. Từ đó cuộc đời của anh đã thay đổi. Mười năm sau, anh là một người nông dân sống vất vả, cực nhọc. Đến những năm 60, tình hình an ninh ở miền quê không mấy sáng sủa. Anh Năm Hà được bầu làm ấp trưởng, anh sống trong tình trạng trên đe dưới búa. Anh bị cộng sản tìm cách hại anh nhiều lần, có lần anh bị bắn gãy một cánh tay. Anh phải chống trả quyết liệt, chém giết lung tung để tự bảo vệ mạng sống. Khi an ninh được vãn hồi, anh Năm Hà bị tình nghi có hành động mập mờ : vào thời kháng chiến anh phục vụ cho bên kia, về sau anh phục vụ cho bên này, chẳng những anh bị tình nghi mà anh còn bị xem là hung thần. Hung thần Năm Hà quê mùa, xấu xí, tàn phế, vì không chịu rời bỏ làng quê nên mới phải chém giết theo luật rừng. Hung thần sắp ra trước pháp đình để các ông quan tòa học cao hiểu rộng, sống cuộc đời sung sướng, an bình nơi đô thị, xét xử.

Bài tùy bút gợi lên một không gian là cái làng. Dân làng khốn đốn vì cộng sản chiếm làng ban đêm, Quốc gia làm chủ ban ngày. Chiến tranh xuất hiện với « Sao Vàng », với chiến thuật biển người, và chiến tranh cũng có bộ mặt dữ tợn của một chiếc phi cơ Mỹ : nó đã gầm thét dữ dằn rồi nó đã rơi xuống

Qua cảnh chiến tranh có hai nhân vật nổi bật : anh Ấm Sứt và anh Năm Hà. Chuyện anh Ấm Sứt bỏ làng lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, đôi lúc có phần khôi hài làm người đọc tạm quên trong chốc lát cái hoàn cảnh mất gốc của anh. Khi còn ở trong làng và bị bên kia bắt lùa đi để làm cái công việc tải thương ban đêm, anh phải học tập về những khúc tre chẻ ra và lật ngửa, trong đêm tối màu trắng của tre là dấu chỉ đường. Việc chạy trốn của anh tuy rất hồi hộp, nhưng lối kể chuyện của tác giả có phần dí dỏm : Anh Ấm Sứt hôm đó chạy trối chết. Anh chạy đến đâu, tưởng như phi cơ rít chận đầu đến đó. Dĩ nhiên, anh không chạy theo dấu thẻ tre. Với bên kia anh Ấm Sứt học tập về thẻ tre, với Mỹ anh làm thợ vịn. Ở tỉnh anh có vẻ hài lòng vì có công ăn việc làm, anh lại mở tiệc mừng đứa con thi đậu vào trường công. Nhưng anh chưa ý thức được sự mất mát lớn lao của anh : anh đã mất làng. Làng là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi cha ông của anh đã sống trong truyền thống địa phương và là nơi anh được dân làng biết đến và nể nang. Giờ đây anh là kẻ mất gốc, anh chỉ là một tay thợ vịn không ra gì, sống lạc loài ở thành thị.

Nhân vật thứ hai là anh Năm Hà. Anh hành động ngược lại, anh không chịu rời làng. Trong cuộc đời của anh Năm Hà có hai thời kỳ : thời kỳ xây dựng và thời kỳ sụp đổ. Vào thời kỳ xây dựng, anh Năm Hà vốn là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng. Nhưng từ ngày anh cưới được người vợ trẻ, có một thân hình hấp dẫn, anh bỗng đổi khác : anh trau chuốt cách ăn mặc, cách ăn nói. Lúc bấy giờ vào thời kháng chiến, anh Năm xông xáo tham gia vào những hoạt động xã hội, chính trị trong làng xã. Phải nói những cố gắng để ra khỏi tình trạng một nông dân tầm thường đã gây cho anh Năm Hà nhiều vất vả. Anh muốn chứng tỏ anh không phải là người tầm thường. Nhưng rồi anh bị tình phụ. Đến thời kỳ thứ hai là thời kỳ sụp đổ, cuộc đời anh Năm Hà xuống dốc. Chiến tranh lan tràn ở thôn quê, anh Năm Hà bị áp lực của đôi bên, một mình anh phải tả xung hữu đột, anh chém giết lung tung để tự cứu mạng sống, anh không còn biết đâu là thiện đâu là ác. Và trước mắt thiên hạ anh đã trở nên một hung thần.

Có sự chênh lệch trong cách miêu tả hai nhân vật. Mặc dù Võ Phiến tạo nên một anh Ấm Sứt khôi hài, anh ta chạy thục mạng, lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, nhưng người đọc không biết gì về nét mặt, hình dung của anh Ấm Sứt. Còn anh Năm Hà thì rất đậm nét : … anh ta trông khổ não. Người gầy choắt và đen, khuôn mặt hóp lại (…) anh ta lạc giọng, tắt tiếng : nói khàn khàn, gần như không phát ra âm. Và sau khi xảy ra nhiều vụ chém giết trong làng khiến anh Năm bị xem là hung thần,  anh xấu xí, khù khờ, người quắt queo, má hóp, tay cụt, kỳ hình dị dạng…  Sở dĩ anh Năm Hà được tô đậm nét là vì anh là trọng tâm của bài tùy bút, là biểu tượng của sự thống khổ của người dân quê trong cuộc chiến. Nếu không có chiến tranh, anh Năm Hà sẽ là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng, được dân trong làng nể nang. Nhưng chiến tranh đã biến anh thành một quái vật, một hung thần. Chiến tranh đã tha hóa con người, đã hủy diệt cái phần cao đẹp của con người.

Nếu phải tìm cho hai nhân vật Năm Hà và Ấm Sứt một hình tượng, thì Năm Hà là người đứng thẳng, người đối đầu với chiến tranh và hứng chịu mọi hậu quả, Ấm sứt là người cúi xuống, người tránh né chiến tranh.

Có hai sự kiện cho thấy thân phận của người dân quê bị rơi vào một tình trạng chông chênh : thứ nhất là sự phân biệt xác địch, xác ta, phải dựa vào tiêu chuẩn nào ? Dựa vào lý do của cái chết, tức bị pháo vào hay bị câu ra ? Hay dựa vào nơi chết, tức vùng của địch hay vùng của ta ? Cách phân biệt như thế hoàn toàn vô lý, không phản ánh tư tuởng, lập trường của người chết. Vấn đề khó phân biệt « xác ta, xác địch » nói lên tình trạng bi thảm và sự vô lý của cuộc chiến tranh tương tàn, của huynh đệ tương tàn. Thứ hai là sự chênh lệch giữa thế giới của người dân quê nghèo, mộc mạc, thất học, nạn nhân của chiến tranh và thế giới của những ông quan tòa có học, quen cảnh sống sung sướng, an toàn ở thành thị. Hai hạng người trong xã hội xa lạ đối với nhau, hạng người được đời ưu đãi có quyền xét xử hạng người khốn đốn, trơ trụi, không có khả năng giải bày những uẩn khúc của mình. Anh Năm Hà sẽ câm nín trước một xã hội khắt nghiệt, nhưng hình hài quắt queo, tàn phế của anh có khả năng biện hộ cho anh không ? Hậu vận của anh rồi đây sẽ ra sao ?

Võ Phiến nhớ làng, ông nhắc đến những nhân vật của làng khi xưa như muốn làm tái sinh những nhân vật đó, làm tái sinh làng quê. Nhưng ông phải nhìn nhận rằng chiến tranh không những đã tàn phá thôn làng mà còn tha hóa con người.

Bài tùy bút được cấu trúc mạch lạc, nội dung gần với truyện ngắn, vì có một cốt truyện. Hình ảnh làng quê làm nên tính nhất quán của bài tùy bút. Võ Phiến vượt xa cái định nghĩa của tùy bút là gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Ông có một nghệ thuật tinh tế để xây dựng tùy bút. Trong bài Nhớ làng, ông phóng bút với một ý tưởng chủ đạo, rồi ý tưởng dần dần được tán rộng theo cách liên tưởng.

Người đọc Võ Phiến đã quen với từ rất Võ Phiến : Nhưng còn Ngô Xuân H… là ai vậy cà ? Và rồi có những trạng từ rất bình dân như : còn lâu, sức mấy, tạo nên một sự gần gũi với người dân quê :

có những số thiệt hại còn lâu mới kiểm điểm được.

Sức mấy ! Anh mong gì ngo ngoe nổi trước pháp luật ?

Văn phong của Võ Phiến tuôn chảy tự nhiên khi dí dỏm kể chuyện anh Ấm Sứt chạy trốn, khi chua xót nhận xét thân phận anh Năm Hà : Trong khi anh Năm Hà lặn ngụp trong sắt máu, trong cảnh giết chóc dã man, thì những vị đó lớn lên ở những đô thị an lành, học ở những trường đại học… nghiên cứu về luật pháp…

Võ Phiến đã biến anh Năm Hà thành một biểu tượng của người dân quê nạn nhân của chiến tranh. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng hình hài quắt quéo của anh Năm Hà vẫn sừng sững trước lịch sử, như một nỗi oán hận.

 

 

 

 

Advertisements

TRUYỆN “YÊU” CỦA CHU TỬ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÂM HỌC

 

Với sự phát triển của các ngành khoa học nhân văn, chân trời phê bình văn học được mở rộng. Ngày nay một tác phẩm văn học, nếu là một tác phẩm phong phú, có thể được tiếp cận nhiều cách, được giải thích theo nhiều hướng. Bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học cho thấy xã hội miền Nam, vào những năm 60 của thế kỷ trước, đã tiến hóa như thế nào trong một bối cảnh lịch sử mới. Truyện Yêu cũng có thể được tiếp cận từ góc độ phân tâm học, vì độc giả có thể tự đặt câu hỏi về đời sống tâm lý, tình cảm ngoại lệ của nhân vật Đạt. Đọc một tác phẩm văn học qua lưới phân tâm học là tra vấn tác phẩm để cố tìm một phần nào vô thức của tác giả qua nhân vật, qua cốt truyện, v.v… dù biết rằng vô thức ở trong chiều sâu của con người, khó nắm bắt được.

Nói đến phân tâm học là nói đến vô thức, vì vô thức làm nền tảng cho học thuyết của Freud. Nhưng Freud nhìn nhận ông không phải là người đã phát hiện vô thức. Ông viết : Các nhà thơ và các nhà triết học đã phát hiện vô thức trước tôi : điều mà tôi đã phát hiện, chính là cái phương pháp khoa học cho phép nghiên cứu vô thức (1).

Khi một nhà văn xây dựng một truyện hư cấu, ông (hay bà) cho rằng mình hoàn toàn chủ động trong việc tưởng tượng cốt truyện, miêu tả nhân vật, chủ động trong lối viết, lối chọn từ ngữ, v.v… Tóm lại nhà văn tin chắc mình sáng tạo hoàn toàn theo ý muốn của mình. Có điều nhà văn không nghĩ đến là quyền chủ động của nhà văn thật ra bị vô thức điều khiển. Vai trò của phân tâm học là giải thích rằng đời sống tâm lý con người tùy thuộc vô thức, con người không hoàn toàn tự làm chủ mình được. Chính tác giả Chu Tử trong truyện cũng nhìn nhận sự hiện diện của vô thức mà nhân vật Tuyết của ông gọi là « tiềm thức », khi cô quả quyết chị Diễm của cô yêu thầy Đạt. Khi Diễm cho rằng lời nói : Nhớn lên cháu lấy chú Đạt thốt ra khi nhỏ lúc đi tắm suối với thầy Đạt là chuyện con nít, thì Tuyết nói : Quan hệ lắm chứ ! Câu đó chứng tỏ là chị đã yêu ông ta từ lâu, yêu trong tiềm thức, mà tiềm thức là cái bất trị lắm, không thể coi thường được. Cũng như khi đi dạo phố với Khải, người chồng chưa cưới, Diễm vô tình mặc cái áo dài do Đạt tặng. Vô thức của Diễm qua sự chọn lựa cái áo đã tiết lộ tình yêu âm thầm của Diễm đối với Đạt.

Nội dung truyện Yêu đã được trình bày trong bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học, nay chỉ xin nhắc lại các nhân vật chính trong truyện. Thúc, một giáo sư triết học, có vợ là Hoà và bốn cô con gái đã lớn, đến tuổi lấy chồng : Uyển là sinh viên luật khoa, Diễm sắp vào đại học dược khoa, Huyền dọn thi tú tài và Tuyết học trường Tây, bốn cô gái mỗi người đẹp mỗi vẻ và tính tình khác hẳn nhau. Đạt là bạn của Thúc, cũng là nhà giáo, thường đến dạy thêm cho bốn cô con gái của Thúc. Ngoài các nhân vật này còn có Tuấn, họa sĩ và là học trò cũ của Thúc, Trang, em gái của Tuấn, làm nghề vũ nữ, học trò cũ của Đạt. Khải, một sinh viên y khoa, sắp ra trường, chồng tương lai của Diễm. Vậy trong truyện Yêu có nhiều nhân vật, nhân vật nào cũng có những nét đặc thù, nhưng chỉ có một nhân vật nổi bật, có sức lôi cuốn sự chú ý của độc giả, vì nhân vật này có một đời sống tâm lý lạ lùng, đó là nhân vật Đạt. Tuy sống trong thực tế như mọi người, tham gia vào những sự kiện, những biến cố xảy ra chung quanh mình, nhưng con người Đạt tách rời cái đời sống thực tế đó, để âm thầm sống một cuộc đời khác. Những nhân vật nữ như Hội, bạn của Diễm, như Trang đều cho rằng Đạt ngây thơ, nhút nhát, thiếu tính quyết định, thật ra những tính từ đó được gán cho Đạt là cái bề ngoài che đậy một đời sống nội tâm đang đeo đuổi một ám ảnh, một chủ đích. Đạt sống trong một tâm trạng căng thẳng, chờ đợi, một tâm trạng không bao giờ được giải quyết. Vấn đề hệ trọng của Đạt là một tình yêu ngoại lệ, hay nói theo phân tâm học, một ham muốn, ham muốn một người con gái mãi mãi ở ngoài tầm tay của mình, tức một ham muốn không được thỏa mãn, toại nguyện.

I Con đường quanh co của ham muốn

Trong truyện Yêu, có điều lạ là một lời nói của trẻ con bỗng nhiên có khả năng quyết định cuộc đời tình cảm của một người đàn ông. Cô bé Diễm khi lên bảy tuổi, có lần đi tắm suối với chú Đạt đã nói : Nhớn lên, cháu lấy chú Đạt. Câu nói vô tình và vô tội làm nảy sinh một xung năng, một ham muốn nơi Đạt. Về sau, trong thư gửi cho Diễm, Đạt nói nhớ đến lời của Diễm năm xưa : Tôi nhớ và tôi đợi Diễm nhớn lên !… Và Đạt khẳng định : … sẽ không có ai yêu Diễm như tôi yêu Diễm, từ mười năm nay, từ cái buổi bên dòng suối, tôi bế cái thân hình bé bỏng, trong trắng của Diễm trong lòng và tự nhủ : « Cái kho tàng này là thuộc về phần ta » (tr. 48-49).

Vậy truyện Yêu là truyện của một ham muốn. Ham muốn là tính đặc thù của con người, chỉ có con người mới biết ham muốn, thú vật chỉ có nhu cầu và chỉ tìm cách thỏa mãn nhu cầu. Theo Freud, trong con người có vô số xung năng vô thức. Những xung năng này bị sự kiểm duyệt kìm nén trong vô thức, nhưng một khi được trá hình, chúng có thể được thực hiện qua những giấc mơ, những hành động hụt, những triệu chứng loạn thần kinh. Phân tâm học cho bản năng dục tính một nghĩa rộng, một tầm quan trọng lớn trong đời sống con người. Với khái niệm libido (dục năng), Freud đưa ra một quan niệm mới về ham muốn, về mục tiêu và mục đích của ham muốn.

Đối với mọi người, ham muốn chủ yếu được thực hiện dưới hình thức của bản năng dục tính với tình dục khác giới và nhằm đi đến cực khoái.

Đối với Freud, bản năng dục tính có một nghĩa rộng lớn hơn, nó chỉ định một tổng hợp xung năng, tiếng Đức Trieb có nghĩa là xung năng do động từ treiben có nghĩa là đẩy, vậy xung năng là cái đẩy (thúc đẩy) chúng ta làm điều gì, là cái mà Freud chỉ định bằng từ la tinh libido có nghĩa là ham muốn. Libido là toàn thể những xung năng có dục tính. Libido có đặc tính là có khả năng biến hóa, thay đổi mục tiêu và mục đích của ham muốn. Theo nguyên lý thích thú (Lustprinzip / Principe de plaisir) chi phối đời sống tâm lý con người, thì ham muốn bắt nguồn trong một tâm trạng căng thẳng, và mục đích của nó là làm giảm bớt tâm trạng căng thẳng đó.

Trở lại ham muốn của Đạt. Khi dạy học bốn cô con gái của bạn mình, Đạt có cơ hội theo dõi sự khôn lớn của Diễm, và Đạt không cầm lòng được trước một thiếu nữ có một vẻ đẹp kín đáo, đài các, tính tình lại dịu dàng, thùy mị. Ham muốn của Đạt là một ham muốn chiếm hữu, nhưng nó không đơn giản chỉ là ham muốn dục tình, nó vói cao hơn : Đạt vừa ham muốn Diễm vừa biến Diễm thành một thần tượng để tôn thờ. Trong bức thư thứ hai gửi cho Diễm, Đạt viết : Anh vẫn tôn trọng em như một thần tượng cao xa vòi vọi, mà anh không vói tới (tr. 182). Nhà phân tâm học Jacques Lacan nhấn mạnh rằng mối liên hệ của ham muốn chủ yếu là mối liên hệ với người kia, với tính cách là người kia. Người được ham muốn là một chủ thể, không phải là một vật thể. Liên hệ giữa người ham muốn và người được ham muốn có tính liên chủ thể.

Trong khi ham muốn của Thúc đối với Hằng xảy ra đột ngột, bốc cháy và được thỏa mãn nhanh chóng, thì ham muốn của Đạt xuất hiện từ lâu, lớn dần, mạnh dần qua nhiều giai đoạn, và ham muốn đó tự vạch một con đường bất chấp mọi trở ngại, như sự chênh lệch tuổi tác hay kỷ cương của lễ giáo trong một xã hội vẫn còn tôn ti trật tự, bất chấp những biến cố có tính đe dọa sắp xảy ra, bất chấp thời gian.

Giai đoạn một : bước đầu táo bạo. Xung năng ham muốn của Đạt quá mạnh mẽ khiến Đạt vượt khỏi những định kiến nặng nề của xã hội truyền thống để tỏ ý muốn hỏi Diễm làm vợ, và Đạt gặp ngay sự chống đối quyết liệt của Hoà, mẹ của Diễm. Một mặt Hoà sắp đặt để Diễm thành hôn với Khải, người thanh niên đồng trang lứa với Diễm, có một tương lai đầy hứa hẹn. Mặt khác Hoà cho Diễm về nghỉ hè ở Vĩnh Bình để xa lánh Đạt.

Giai đoạn hai : đỉnh cao của ham muốn. Đạt không sờn lòng. Khi hay tin Diễm đi Vĩnh Bình, Đạt vội vàng về Vĩnh Bình. Phải nói từ ngày biết Đạt có ý định xin được hứa hôn với Diễm, Diễm bàng hoàng nhớ lại kỷ niệm năm xưa và cảm thấy như bị tình yêu của Đạt lôi cuốn, cảm thấy có cái gì ràng buộc cô với thầy Đạt. Nhưng Diễm vẫn còn đủ lý trí để vâng lời mẹ, về Vĩnh Bình để bình tâm suy nghĩ. Không ngờ Đạt xuất hiện. Thắng cảnh ao Bà Om, nơi hai người đến viếng, đánh dấu cao điểm của mối tình ngoại lệ này. Trước cảnh tượng những đứa bé tắm ao, cả hai đều xúc động nhớ đến kỷ niệm xưa. Trong tâm trạng đó, những bước đi của Diễm trở nên lảo đảo, và có một lúc Diễm vấp vào một rể cây, Đạt dang tay đón Diễm, cô ôm chầm lấy Đạt và thốt lên tiếng « Anh ». Đạt sung sướng muốn đặt một nụ hôn lên trán người yêu, nhưng Đạt vụng về, không làm được cử chỉ đó. Dù sao tiếng « Anh » và nỗi sung sướng của Đạt cũng đủ đánh dấu giây phút thần tiên của hai người.

Giai đoạn ba : tình yêu của Diễm vừa làm tăng ham muốn của Đạt vừa gieo sầu muộn. Trước khi đi lấy chồng, Diễm gửi cho Đạt một bức thư tình đầu tiên và cũng là cuối cùng, không còn gọi Đạt là thầy nữa. Diễm thú nhận tình yêu của mình đối với Đạt : … em lại khám phá ra rằng em đã nghĩ tới anh, từ bao nhiêu năm nay, trước khi Ba em cho biết ý của anh, trước khi nhận được thư anh (tr. 163). Còn đối với mẹ thì Diễm nói : … nếu con được làm theo ý riêng con thì con sẽ lấy ông Đạt (tr. 168-169).

Cũng trong thư đó Diễm tỏ ý, trước khi vĩnh biệt Đạt để đi lấy chồng, tặng Đạt một món quà, cô hứa sẽ làm bất cứ điều gì theo ý muốn của Đạt, nhưng với điều kiện Đạt đừng hôn cô để tình yêu đó mãi mãi trong trắng.

Giai đoạn bốn : bức chân dung của vĩnh biệt. Món quà vĩnh biệt Diễm tặng Đạt là ngồi cho Đạt vẽ. Ham muốn của người đang yêu trở thành, trong chốc lát, ham muốn của người nghệ sĩ, cái đẹp thắng cái khổ : Nhưng khi ngồi trước giá vẽ, nhìn vào đôi mắt cố mở to để nước mắt khỏi trào ra của Diễm, nhìn vào đôi mắt não nùng như muốn tan ra thành lệ của Diễm, trong giây phút đó, con người si tình của Đạt hầu như bị con người nghệ sĩ lấn át, khiến Đạt chưa kịp cảm thấy đau xót tuyệt vọng mà chỉ nhìn thấy cái đẹp mông lung, phù du của đôi mắt. Đạt cảm thấy cần phải ghi ngay lên khung vải, cái ánh biệt ly đang dâng lên khoé mắt người yêu ! (tr. 201) Những cố gắng của Diễm chỉ đến chừng đó, cô từ chối, không cho Đạt vẽ vai và ngực trần của mình. Đạt bỗng nảy ra cái ý vẽ một bức tranh khác theo tưởng tượng, một bức tranh vẽ Diễm ngửa mặt đón nước mưa đang chảy ròng trên mặt, trên vai, trên ngực. Diễm nhìn bức tranh thứ hai mà rùng mình : Đạt vẽ Diễm giống quá. Khi nhìn đôi mắt mình trong tranh Diễm hiểu tất cả tình cảm sâu xa của mình đối với Đạt và không dễ gì mà nàng có thể dứt tình được (tr. 203). Trước khi ra về, Diễm xin Đạt bức tranh thứ nhất. Diễm không còn tin vào sự cứng rắn của mình nữa, cô lo sợ và vội vàng từ biệt Đạt. Nghi thức vĩnh biệt không che lấp được ham muốn. Đạt nói : Nhưng em đừng tưởng là anh sẽ mất em, em sẽ quên nổi anh đâu ! Anh nhất định sẽ không để mất em, em nhớ lấy ! … (tr. 206) Khi Diễm ra về, Đạt tự giận mình không có can đảm để tiến thêm một bước trong tình yêu. Đạt nhìn bức tranh Diễm và hét to : « Tôi chỉ muốn ngủ với người tôi yêu », lặp lại câu nói của một nhân vật tiểu thuyết. Ham muốn của Đạt đã đến một mức độ nồng nhiệt quá lớn.

Giai đoạn năm : Ham muốn bị xúc phạm. Trang đến nhà Đạt, thấy Đạt bơ phờ bên cạnh bức tranh vẽ Diễm, Trang đâm ghen tức và hung hăng xé toạt bức tranh. Một xúc phạm quá lớn đối với tình yêu ham muốn của Đạt.

Giai đoạn sáu : Ham muốn chẳng những bị đe dọa, mà còn bị đẩy vào quên lãng với hai cuộc hôn nhân : hôn nhân của Diễm với Khải và hôn nhân của Đạt với Trang. Đạt không cưới được Diễm thì cưới Trang như một người thay thế. Nhưng  người thay thế sẽ không bao giờ là người được thay thế. Hôn nhân Đạt-Trang bề ngoài như một dứt khoát cuối cùng. Nhưng ham muốn của Đạt vẫn còn đấy, Đạt sống trong tâm trạng hững hờ, để mặc cho chị em Diễm tổ chức lễ cưới của mình với Trang, Đạt có cảm tưởng hình như tất cả các việc đứng đắn, quan trọng, đánh dấu một khúc ngoẹo trong đời chàng (…) là việc của ai chứ không phải của chàng. Bởi vì chàng chưa thấy mình sống một cách thật đầy đủ, trọn vẹn cái tâm trạng của một người « đi lấy vợ ». Chàng thấy mình vẫn là mình, chưa có gì thay đổi. Ngay cả khi đứng bên cạnh cô dâu Trang, Đạt càng có cảm tưởng mình chưa có tâm hồn một chú rể, chàng tự nhủ : « Lấy vợ có thế này thôi à ? » (tr. 337).

Giai đoạn bảy : Ham muốn nhanh chóng trổi dậy với một biến cố bất ngờ : tin Khải tử nạn. Kể từ nay cuộc đời của Diễm đã trở lại tự do. Ham muốn của Đạt không còn gặp trở ngại, mặc dù Trang vẫn là vợ Đạt. Sở dĩ ham muốn của Đạt trở nên một ám ảnh kiên trì là vì ham muốn đó có hai mặt : dục tình và thanh cao. Đạt ham muốn thân xác của người yêu : … anh muốn bức chân dung đó là bức chân dung em để trần hở vai và ngực (tr. 182)… khuôn mặt em, làn tóc em, vành môi em (…), từng nét, từng đường của thân hình em… (tr. 183). Nhưng sự ham muốn nồng nhiệt bị tê liệt. Tại sao Đạt không dám hôn Diễm ? Vì Diễm được thanh cao hóa và trở nên một thần tượng mà Đạt tôn thờ. Đạt có thể hôn Trang một cách xác thịt, bừa bãi, nhưng Diễm thì không, Diễm là cái gì sáng chói, cùng lắm Đạt có thể đưa tay đỡ Diễm khi cô vấp ngã ở ao Bà Om. Thần tượng Diễm quá mong manh, trong trắng và quý hóa, đòi hỏi một cách cư xử đầy trân trọng. Cho nên ham muốn dục tình bị thất bại, một lần ở ao Bà Om, lần khác khi hai người vĩnh biệt nhau. Đạt bứt rứt và tự giận mình một cách thê thảm. Hai bức tranh Đạt vẽ chân dung của Diễm là biểu tượng cho hai khía cạnh của ham muốn đó : một bức chân dung u buồn của thần tượng cao xa và bức chân dung để hở một phần thân xác của người yêu. Trong con người Đạt có sự xung đột giữa ham muốn dục tình và ham muốn được thanh cao hóa.

II Viết theo vô thức

Vô thức đưa đẩy ngòi bút của tác giả để vẽ lên một nhân vật giống tác giả ít nhiều, Đạt là nhà giáo giống Chu Tử ; trước khi trở thành nhà báo, nhà văn, Chu Tử đã từng là nhà giáo. Vô tình tác giả đã tự đưa mình vào truyện chăng ? Biến cố sau đây có thể được xem như lời đáp phần nào của tác giả.

Truyện Yêu ra mắt độc giả năm 1963, ba năm sau, một biến cố trầm trọng đã xảy ra khi Chu Tử làm chủ nhiệm nhật báo Sống. Ngày 16-4-1966, Chu Tử bị mưu sát và bị trọng thương. Cả giới trí thức Sài gòn : văn hữu, nghiệp đoàn ký giả, các hội đoàn sinh viên, các nhân vật tôn giáo, chính trị, đều lên tiếng phẫn nộ và bênh vực nhà báo Chu Tử – Chu Văn Bình. Các bài viết, quyết nghị, thư từ, v. v… đều được Chu Tử gom lại thành một cuốn sách mang tựa đề : Không hận thù. Đặc biệt trong chương III : Những suy nghiệm của bản thân, tác giả tâm sự : bốn viên đạn bắn vào người ông đã làm thay đổi cách nhìn đời của ông. Chương này được xem là một tự truyện của tác giả : ông nói về sự sống chết của con người, về con người làm văn nghệ, và về tuổi thơ của ông ; ông là một học sinh xuất sắc, tuy nghèo, quê mùa, nhưng học hành vượt xa những người sống trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn ông, ông đậu tú tài thủ khoa với hạng bình. Tuổi thơ của tác giả được trình bày trong một đoạn văn có cái tựa đề nhỏ : Một kỷ niệm tắm truồng. Chu Tử kể ông sinh ra trong một làng rất quê, rất man rợ, trung cổ, cho nên đàn bà có thói quen tắm truồng mà không ai lấy điều đó làm hổ thẹn (…) Khi tôi lên năm, lên sáu tuổi, mẹ tôi thường đưa tôi ra giếng tắm, tắm chung cùng mọi người đàn bà khác. Tôi thấy điều đó rất tự nhiên, không có gì là xấu hổ nên tôi không biết ngạc nhiên vì tôi vẫn đinh ninh ở mọi nơi khác, đàn bà cũng đều tắm truồng như thế cả (tr. 91). Về sau, khi lên tỉnh học, có vài người bạn biết được chuyện này bèn chế nhạo cậu bé Chu Tử, và cậu bé trở nên một trò cười cho mọi người. Từ đó tôi không ngớt mang tâm trạng đầy mặc cảm, đầy chống đối ngấm ngầm của một đứa nông dân khờ khạo, lạc lõng giữa cái gọi là văn minh đô thị. Trong thâm tâm, tôi vẫn coi rẻ, coi khinh cái bề ngoài hào nhoáng, đạo đức giả của người đô thị… (tr. 92) Điều này giải thích cái « tếu » của  Chu Tử trong mục Ao Thả Vịt của tờ báo. Và nhà báo Chu Tử không quên đề cao sự thực, một cách bất ngờ ông đưa chúng ta trở về với nhân vật Đạt trong truyện Yêu : Rồi sau này, khi tôi viết văn, viết báo, tôi vẫn chỉ tả sự thực. Sự thực trần truồng, trắng trợn, trong tâm hồn con người. Sự thực trần truồng trong xã hội. Để chứng tỏ cho mọi người thấy là sự thực trần truồng tự nó không có gì xấu, rất đẹp là đằng khác. Chỉ có những kẻ đạo đức giả nuôi những ý nghĩ đen tối, nhìn trộm sự trần truồng mới là xấu. Chẳng hạn nhân vật Đạt trong truyện « Yêu » của tôi, trước khi người yêu là Diễm lấy chồng, Đạt chỉ có một ao ước là vẽ một bức tranh Diễm để hở ngực, mặc dầu trong suốt thời gian yêu Diễm, Đạt vẫn tôn thờ Diễm, chưa bao giờ dám hôn Diễm và khi Đạt giải thích tại sao Đạt lại có ý định như trên, Đạt chỉ là phát ngôn nhân của tác giả vẫn sắt đá tin tưởng ngay từ hồi thơ ấu rằng, tắm truồng không có gì là xấu xa ! (tr. 93)

Đọc kỹ đoạn văn trên, có những yếu tố làm rõ thêm nhân vật Đạt. Trước khi Chu Tử bị mưu sát và cho ra cuốn Không hận thù thì Chu Tử đã có ba tiểu thuyết : Sống, Yêu, Loạn, nhưng sao ông chỉ nhắc đến truyện Yêu mà thôi ? Tác giả đã đặc biệt gửi gắm trong truyện này nhiều điều mật thiết của mình chăng ? Tác giả khẳng định Đạt là phát ngôn nhân của mình. Với việc làm của vô thức, chúng ta có thể nghi ngờ và đi xa hơn bằng cách cho rằng Đạt là một hình ảnh của Chu Tử, và chuyện đàn bà tắm trần truồng đương nhiên dẫn đến kỷ niệm cô bé Diễm tắm suối khi xưa với chú Đạt.

Trong truyện Yêu có hai nhân vật sống với tâm trạng ham muốn : Đạt và Thúc. Cả hai đều là nhà giáo, đều ham muốn một người phụ nữ. Nhưng tâm trạng ham muốn của họ không giống nhau. Thúc ham muốn Hằng, một ham muốn xảy đến bất ngờ, cháy ngùn ngụt, biến thành hỏa diệm sơn, và nhất quyết đi đến cùng, tức đi đến xung năng chết mà Freud gọi là Thanatos, do tên thần chết trong thần thoại Hy lạp. Thanatos chỉ định toàn thể những xung năng chết, đối lập với Eros – thần tình yêu – xung năng sống. Ham muốn của Đạt không được thỏa mãn, vẫn trong tình trạng chờ đợi, thuộc về xung năng sống. Đạt và Thúc, hai người bạn cùng đi tìm tình yêu, Thúc gặp Thanatos, Đạt gặp Eros.

Trong cuốn Không hận thù, Chu Tử tuyên bố Đạt là phát ngôn nhân của ông. Thật ra, cả Đạt và Thúc đều là phát ngôn nhân của ông. Cả hai đều phát biểu về ham muốn, và sống dùm tác giả trạng thái đa dạng của ham muốn.

 

Chú thích :

  1. Lionel Trilling, Freud and literature, The liberal imagination, London, 1951. Do Jean Starobinski dẫn.

Tác phẩm và tài liệu tham khảo :

Chu Tử, Yêu, tái bản ở Hoa kỳ

Chu Tử, Không hận thù, Toà soạn Sống, Sài Gòn, trình bày, 1966, Xuân Thu in lại ở Hoa Kỳ

Philippe Cabestan, Le désir, Ellipses, 2005.

 

TRUYỆN “YÊU” CỦA CHU TỬ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC

 

Vào năm 1963, ở miền Nam, một cuốn tiểu thuyết ra đời và được sự đón nhận quá nồng nhiệt của độc giả, nó biến thành một hiện tượng. Tôi muốn nói đến cuốn truyện Yêu của Chu Tử. Trong lời tựa cho lần tái bản thứ hai, tác giả cho biết cuốn Yêu lần đầu tiên ra mắt, được in 5.000 bản và đã bán hết trong vòng hai mươi lăm ngày. Kết quả vượt xa sự chờ đợi của tác giả và nhà xuất bản

Điều gì đã lôi cuốn người đọc ? Chắc chắn là cái tựa đề Yêu, nhưng nếu chỉ là cái tựa đề thì sự lựa chọn quá nông cạn. Phải nói cốt truyện hấp dẫn với những mối tình lãng mạn, ngoài thông lệ, và những nhân vật nữ có cá tính sâu sắc, ăn nói ngỗ ngáo, sống sượng hay dịu dàng, lãng mạn, như ở ngoài đời. Chu Tử đã đem một cái gì mới lạ đến với người đọc, làm người đọc không khỏi kinh ngạc, cảm thấy có điều gì lạ lẫm đang biến đổi cách suy nghĩ, cách nhìn đời, cách hành động của các nhân vật trong truyện. Phải chăng truyện Yêu phản ánh sự chuyển mình của xã hội thời đó ?

Có nhiều cách tiếp cận một tác phẩm văn học. Trường hợp tác phẩm Yêu, chúng ta cần đến cái lưới đọc của xã hội học để xem xét những dấu hiệu nào đã làm nên cái mới lạ của truyện.

I Nội dung truyện

Chu Tử đưa chúng ta vào một thế giới của tình yêu mà theo các nhân vật, đó là thứ tình yêu do số kiếp, do định mệnh an bài. Thúc và Hòa có bốn cô con gái : Uyển, hai mươi hai tuổi, sinh viên luật khoa, có sắc đẹp lộng lẫy, khiêu gợi, Diễm, hai mươi tuổi, đẹp kín đáo, mơ màng, Huyền, mười tám tuổi, có vẻ đẹp lạ lùng nhờ có mắt hơi lác, Tuyết mười sáu tuổi, học trường Tây, có vẻ đẹp Tây phương. Thúc là một giáo sư triết học, đa cảm, phóng khoáng, xuề xòa, Hoà, vợ Thúc, là một phụ nữ tôn trọng đạo giáo truyền thống. Ba cô gái lớn đã đến tuổi lấy chồng nên không thiếu gì đàn ông giàu có lui tới.

Vào truyện, Thúc báo cho gia đình biết Đạt, bạn của Thúc và là thầy dạy học của bốn cô con gái, có ý định hỏi Diễm làm vợ. Cả gia đình kinh ngạc, mỗi người phản ứng mỗi cách. Uyển, tự ái bị tổn thương, mặc dù Uyển dửng dưng với Đạt, vụt hỏi : « Sao ông ấy không hỏi con, Ba nhỉ ? ». Hòa tỏ vẻ khó chịu, bực mình, bà không chấp nhận một người bạn của chồng, gần bằng tuổi chồng, và là thầy dạy học các con mình, lại muốn đi hỏi một đứa con của mình. Vả lại, bà muốn Diễm lấy Khải, một sinh viên y khoa sắp ra trường, đẹp trai, con nhà giàu. Còn Diễm bồi hồi, im lặng. Huyền tính tình đôn hậu, được mọi người tin cậy và tâm sự, kể cả Đạt. Huyền báo cho gia đình biết hai chuyện do Đạt kể. Chuyện thứ nhất là khi Diễm còn bé, có lần chú Đạt bế Diễm đi tắm suối và Diễm nói sau lớn Diễm sẽ lấy chú Đạt. Với thời gian, lời nói ngây thơ đó đã làm cho Đạt yêu Diễm. Diễm cũng bắt đầu nhớ lại chuyện xưa. Chuyện thứ hai là chuyện Đạt thân với bà Hằng. Nhưng giữa hai người chỉ có tình bạn. Vào thời kháng chiến, Hằng mồ côi mẹ, phải tự lo thân, mặc dù đã có tiền của. Hằng dựng lên một quán nước để giúp những anh dân quân đi đường xa. Hằng có vẻ đẹp quyến rũ, lại bồng bột yêu nước bằng cách sẵn sàng « ủng hộ sinh lý » cho những phần tử tranh đấu nếu cần. Thanh, một anh đại đội phó mê Hằng, một đêm mò đến nhà Hằng, liền bị một anh dân quân tên Đa cũng mê Hằng, nổi ghen, tri hô. Thế là cả Hằng và Thanh đều bị bắt, ra tòa. Dạo ấy Đạt làm dự thẩm. Ông chánh án là một người thuộc sắc tộc thiểu số, ông ta cũng thèm muốn Hằng, bèn lập mưu để tên Đa thoả mãn dục tình, rồi đến lượt ông ta. Sau này khi Đạt gặp lại Hằng thì Hằng có một đứa con, để giữ tiếng cho Hằng, Đạt nhận đứa con là con của mình. Hòa muốn triệt hạ uy tín của Đạt trước mặt con cái nên tỏ vẻ nghi ngờ đứa bé là con thật của Đạt. Huyền cũng cho biết hiện Hằng sống ở Sài gòn với đứa con. Càng ngày Đạt càng tỏ tình với Diễm và Diễm cũng bắt đầu cảm thấy yêu Đạt, nhưng biết mẹ mình chống đối, Diễm dè dặt. Tuấn, một người học trò cũ của Thúc, nay là một họa sĩ, rất mê cờ bạc, luôn luôn cần tiền. Huyền vì lòng thương người muốn chạy chọt để giúp Tuấn. Đạt muốn đỡ lấy gánh nặng của Huyền, bèn đến làm quen với Tuấn với ý định khuyên răn Tuấn. Nhưng tại nhà Tuấn, Đạt gặp Trang, em của Tuấn và là một vũ nữ. Đạt khó nhận ra ở người vũ nữ ăn nói bạo dạn, cay cú, có nhiều mánh khóe để làm đàn ông mê say, cô học trò khi xưa của mình, nhút nhát và hay khóc. Vì là nạn nhân của một người bạn của Tuấn, Trang đã hóa thành vũ nữ. Trang thù ghét đàn ông và có tiếng là thứ « rắn hổ mang ». Trang ghét nhất bọn con gái nhà lành, khi được biết Đạt và Diễm yêu nhau, Trang quyết phá tình yêu của hai người. Về phần Tuyết và Huyền, trong lúc Hoà và Uyển đi Đà lạt, hai cô thấy bố mêt mỏi, bơ phờ, mới nảy ra cái ý đưa bố đến nhà bà Hằng để bố vui. Đang lúc tâm hồn trống trải, Thúc nhận lời. Không ngờ khi Thúc và Hằng gặp nhau, hai người bỗng yêu nhau như hỏa diệm sơn bốc lửa. Sau đó Thúc và Hằng lại rủ nhau đi Vũng Tàu để tiếp tục sống một cuộc tình say đắm. Khi Hòa trở về và được biết chồng mình đã ngoại tình, bà có một phản ứng im lặng, lạnh lùng, làm mọi người trong gia đình đâm ra lo sợ. Không khí gia đình không còn êm ấm nữa. Thúc bị thổ huyết, phải vào bệnh viện. Diễm mặc dù yêu Đạt, phải nhận làm lễ cưới gấp với Khải để đem lại niềm vui cho gia đình. Diễm quả quyết với Đạt và mọi người rằng Diễm sẽ tạo hạnh phúc với Khải, và sự quyết định của Diễm không phải là một hành động hy sinh. Về phần Đạt, Đạt đau đớn thấy Diễm đành tâm cắt đứt, Đạt quả quyết với Diễm Đạt vẫn chờ đợi. Còn Trang càng thấy Đạt đau khổ vì Diễm càng tức giận vì Trang đã bắt đầu yêu Đạt. Từ ngày Thúc nằm bệnh viện, gia đình túng quẫn, Uyển, tuy yêu Hướng, một sinh viên nghèo, vẫn muốn làm tiền một trong những người đàn ông giàu có theo đuổi Uyển, để có tiền giúp gia đình. Hướng nghi ngờ, theo dõi đến chỗ hẹn của hai người, và Hướng đã thẳng tay hành hung người đàn ông. Hướng bị bắt, bị vào tù. Bệnh tình của Thúc ngày càng trầm trọng. Nghe lời khuyên của bác sĩ Thoại, bạn của Thúc và là người yêu thầm nhớ trộm Hòa khi xưa, Hòa chẳng những tha thứ cho chồng mà còn mời Hằng đến gặp Thúc. Sau khi Thúc chết, Hằng hạ sinh một đứa con trai. Cũng sau ngày Thúc chết, để gia đình bớt túng quẫn, Huyền xin phép mẹ nghỉ học để đi dạy, Tuyết xin đi hát, Diễm từ khi lấy chồng, mặc dù cố gắng tạo hạnh phúc, nhưng vì Khải ghen nên cảnh gia đình cơm không lành canh không ngọt. Khi Đạt biết Uyển gia nhập hội cờ bạc bịp của Tuấn và lãnh cái việc đi dụ những người đàn ông giàu có bất lương về để Tuấn lột tiền, thì Đạt có ý khuyên nhủ Uyển, trước thái độ hỗn xược của Uyển, Đạt nhận thức vì mình đã yêu Diễm nên mất uy tín với Uyển. Và Đạt có mặc cảm tội lỗi. Uyển và Tuấn bị bắt, bị vào tù. Đối với Uyển, ở tù chung chạ với những cô gái mại dâm là một kinh nghiệm đã biến đổi con ngưòi Uyển, Uyển bắt đầu biết thương những người thiếu may mắn hơn mình. Đạt nhờ luật sư Hoàng, một người bạn, biện hộ cho Uyển. Diễm đã đi lấy chồng, Đạt không còn hy vọng gì nữa, khi Diễm khuyên Đạt nên lấy Trang thì Đạt mệt mỏi để Uyển, lúc đó đã ra tù, và Diễm đứng làm chủ hôn. Sau ngày cưới, Đạt và Trang đi Vũng Tàu một tháng. Còn Diễm và Khải khi ở tiệc cưới ra về, Khải lái xe nhưng vì say rượu, Khải đã gây tai nạn và chết, Diễm bị thương. Một tháng sau, khi hay tin, Đạt sững sờ và có phần quên sự hiện diện của Trang bên cạnh mình. Đạt vẫn còn yêu Diễm.

Thoại đưa Uyển và Huyền vào thăm bệnh viện người cùi và giới thiệu Hội  Bạn những người cùi của ông. Ông ao ước Huyền và Uyển sẽ gia nhập hội, quên cái đau khổ giả tạo của mình để giúp những kẻ đau khổ thật sự. Bất ngờ trong đám bệnh nhân, Uyển nhận ra Trường là người sinh viên trước kia yêu Uyển và đã bị Uyển nhục mạ. Trường từ chối không muốn gặp Uyển, còn Uyển bị sốc và vô cùng hối hận. Trường tự tử sau khi để lại cho Uyển một bức thư đầy oán hờn. Với tư cách là bác sĩ tâm thần, Thoại lập mưu với Hướng vừa ở tù ra, làm một buổi cầu cơ với sự có mặt của Huyền và Uyển với mục đích chửa tâm bệnh cho Uyển. Trong lúc cơ lên, Hướng giả vờ cho Trường lên tiếng nói chuyện với Uyển, Trường khuyên Uyển nên giúp hội Bạn những người cùi, Uyển tin đây là cơ hội để Uyển đền tội. Thế là Uyển nảy ra cái ý gửi thư cho những người đàn ông giàu có đang đeo đuổi mình, và cho họ biết Uyển sẽ nhận làm vợ người nào bằng lòng hiến dâng tài sản của mình cho hội Bạn những người cùi, vì Uyển vẫn tin tưởng vào sắc đẹp đầy sức quyến rũ của mình. Nhưng chẳng có ai trả lời. Uyển chán chường, cảm thấy sắc đẹp của mình là một cái vạ. Nghe tin Tuấn trúng số, Uyển đến gặp Tuấn với mục đích đoạt trọn tiền của Tuấn cho người cùi. Nhưng Tuấn cũng là kẻ tham tiền, cuối cùng Uyển thất thân với Tuấn mà chẳng được gì. Uyển lâm trọng bệnh và từ giã cõi đời.

II Tác phẩm Yêu qua lưới đọc xã hội học

 Khi nhà văn viết một truyện hư cấu, bao giờ nhà văn cũng dựa vào những yếu tố, những chi tiết có thật ngoài đời, nhờ thế truyện hư cấu có tính thuyết phục và lôi cuốn người đọc. Cho nên văn chương, nói rõ hơn truyện văn xuôi, mang dấu ấn của xã hội. Nhà văn Pháp Louis de Bonald, vào thế kỷ 19, đã từng nhận xét : La littérature est l’expression de la société, comme la parole est l’expression de l’homme (Văn chương là sự biểu đạt của xã hội, như lời nói là sự biểu đạt của con người). Lời nhận xét này dọn đường cho ngành phê bình văn học theo xã hội học.

1/ Những bước tiến của phê bình văn học theo xã hội học

Việc hình thành của phê bình văn học theo xã hội học đã qua nhiều giai đoạn. Khởi đầu là những lý luận của hai nhà triết học Mác xít Georg Lukács (1885-1971) và Lucien Goldmann (1913-1970), họ quan niệm tác phẩm văn học như một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, như một « phản ánh » của một bối cảnh hay của một hệ tư tưởng. Thế hệ phê bình Mác xít đến sau gồm có : Louis Althusser, Jacques Dubois, Renée và Etienne Balibar và Pierre Macherey. Họ cố định nghĩa văn chương như hình thức của một hệ tư tưởng có biệt tính. Diễn giải của họ là một diễn giải theo chủ nghĩa duy vật.

Rồi đến phê bình văn học theo xã hội học hiện nay. Các nhà phê bình muốn cách đọc văn bản phải làm nổi bật Lịch sử và xã hội, phải tìm hiểu xã hội đi vào tác phẩm văn học như thế nào, tìm những âm vang của diễn ngôn xã hội và diễn ngôn của Lịch sử. Đọc tác phẩm theo phương pháp của xã hội học là đọc cái minh bạch, rõ ràng và nhất là đọc cái được hiểu ngầm.

Đọc tác phẩm văn học theo phương pháp xã hội học không có nghĩa là đem những lý luận đã có trước ứng dụng vào tác phẩm. Vì những lý luận đó tuy đã có công đi tiên phong trong ngành xã hội học, nhưng chúng đã được đặt trên nền tảng của Lịch sử và những xã hội thời xưa.

Ngày nay, mọi cách đọc đều là một phát minh, một sáng tạo và là một công việc nghiên cứu. Việc đọc ở mức độ của nó, nó góp phần vào việc phong phú hóa và vào sự tiến bộ của tâm thức xã hội và lịch sử, cũng như viết và sáng tạo vậy. Việc giải thích văn bản ngay cả khi nó dựa vào những phát hiện của lý luận xưa, nó có thể góp phần vào việc uốn nắn cái tâm thức về hiện thực dưới nhiều khía cạnh, mặc dù đây là một uốn nắn bấp bênh. Chính ở mức độ của việc giải thích, cũng như ở mức độ của viết và sáng tạo, mới luôn luôn có một tổng hợp mới giữa cơ sở hạ tầng / kiến trúc thượng tầng, giữa tâm thức / phi tâm thức, giữa hình thức cũ được bảo tồn / hình thức mới được tạo nên, v.v…

Vậy cách đọc theo phê bình xã hội học là một vận hành không chỉ khởi đầu bằng những văn bản sáng lập, mà cốt yếu khởi đầu bằng sự nghiên cứu và bằng một cố gắng tìm tòi để làm xuất hiện những vấn đề mới và đặt ra những câu hỏi mới.

2/ Nhìn lại người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa

Truyện Yêu không khỏi làm người đọc kinh ngạc trước những đổi thay của người phụ nữ trong xã hội miền Nam vào những năm 60. Để có cái nhìn đối chiếu chỉ cần xem qua vài tác phẩm văn học trong quá khứ.

Truyện Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng hạn, ra mắt độc giả năm 1936, kể một người phụ nữ tên Nhung góa chồng vào lúc hãy còn rất trẻ, tâm hồn dễ say đắm, khao khát yêu đương, nhưng bị giam cầm trong lễ giáo truyền thống. Tiết hạnh khả phong, Nhung phải thờ chồng, thủ tiết với chồng suốt đời. Khi biết Nhung lén lút yêu Nghĩa, bà Án, bà mẹ chồng, mắng người làm, nhưng thật ra để ám chỉ Nhung. Bà nói với con Nhài : Thôi biết điều thì về với chồng con cho phải đạo vợ chồng. Đừng có học cái thói lăng loàn ấy nữa, làng nước người ta cười cho. Chúng mày tưởng rằng nhà hạ lưu thì không cần gì sao ? Người sang thì tiếng lớn, người hèn thì tiếng nhỏ, nhưng ở đời ai cũng có danh tiếng của mình (1). Trong cách nhìn của bà Án, Nhung không có chút may mắn nào để tìm được hạnh phúc cho đời mình.

Đó là thân phận người phụ nữ bị lễ giáo, đạo đức nghiền nát vào những năm 30. Qua những năm 40 thì sao ? Trong truyện Một người đàn ông đi tìm một người đàn bà của Vũ Bằng, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, năm 1942, người phụ nữ đã được tự do buôn bán, tự do gặp gỡ đàn ông. Trâm yêu Hải, nhưng Trâm phải chấp nhận làm vợ bé của Hải. Một hôm Hải ra đi để xây mộng làm giàu, nhưng cảm thấy không cần cho Trâm biết. Trâm tưởng Hải đã chết, nên khóc lóc đau khổ. Đàn bà chung quanh xúm lại an ủi, có bà nói : Mình là đàn bà, mình buôn bán làm ăn thủ phận. Còn đàn ông phải để cho họ bay nhảy chứ… Một lần nữa, người phụ nữ tuy tương đối được tự do, nhưng vẫn thiệt thòi, vẫn phải an phận, chấp nhận làm vợ bé tức một địa vị không chính thức, chấp nhận sự coi thường của người chồng : đàn bà không xứng đáng chia sẻ những tham vọng của chồng.

Hai thập niên sau, vào những năm 60, ở miền Nam đã có nhiều thay đổi. Học giả Lê Văn Siêu, trong bài nói chuyện Những lối nói Việt-Nam, ngày 25-3-1962, tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài gòn, đã nói về xã hội cũ và xã hội mới : Hai con người mới và cũ ở hai xã hội mới và cũ ấy, hẳn là phải khác nhau, mặc dầu trong những cốt cách vẫn còn nguyên vẹn một con người Việt Nam, không giống một con người nào khác trên thế giới… Tác giả nhận xét sự khác biệt giữa cũ và mới trong lối sống, lối hiểu, lối suy nghĩ và lối nói. Về người phụ nữ thì tác giả nói : Ngày xưa, người con gái chưa chồng, không bao giờ dám nói chuyện đàng hoàng với những người trai không quen biết. Ngay giữa nơi hội hè đình đám cũng e thẹn, có cạy răng ra mới nói nửa lời, mà cũng còn đắn đo chán ra, để tránh sự xuyên tạc, tránh những ký hiệu và biểu tượng gì khiến người ta có thể hiểu sai. Nhưng ngày nay thì các cô giao thiệp bạo dạn lắm (2).

3/ Bối cảnh văn hóa trong truyện Yêu

Đặc tính của phê bình theo xã hội học là thiết lập những liên hệ giữa xã hội và tác phẩm văn học, và miêu tả những liên hệ đó.

Cuốn Yêu ra đời năm 1963, non mười năm sau ngày ký Hiệp định Genève chia đôi đất nước ; xã hội thời tiền chiến đã dần dần lùi vào dĩ vãng, miền Nam đang tin tưởng xây dựng tương lai, và xã hội miền Nam đang chuyển dần từ cái cũ sang cái mới. Xã hội trong truyện Yêu phản ánh xã hội bên ngoài, tuy đây là một truyện hư cấu. Những nhân vật trong truyện thuộc giới trung lưu, trí thức, ngoài luật sư Hoàng và bác sĩ Thoại là những người có chức vị trong xã hội, có tiền của, các nhân vật chính : Đạt, Thúc là những nhà giáo mơ mộng, lãng mạn, giàu chữ nghĩa nhưng nghèo tiền bạc. Cũng cần nhắc lại tác giả Chu Tử trước khi trở thành nhà báo, nhà văn đã từng là nhà giáo.

Về phương diện văn hóa, ảnh hưởng của Pháp vẫn còn sâu đậm. Bài thơ tủ  mà Đạt thường giảng cho học trò của mình là bài thơ La mort du loup (Cái chết của con chó sói) của Alfred de Vigny. Trong một thư của Diễm gửi cho Đạt, Diễm thú thật sở dĩ mê tác giả Pháp Pierre Benoit là vì ông này năm sáu mươi tuổi mới lấy con một người bạn, một cách để Diễm tỏ tình với Đạt. Còn Hằng, người yêu của Thúc, cũng là một nhà giáo, bình luận dong dài về triết lý bi đát (la Philosophie tragique) của Clément Rosset, khi bà nhắc đến tình yêu trong tác phẩm A farewell to arms (Giã từ vũ khí) của Hemingway. Uyển thì khi chết có để lại mấy trang nhật ký kể nội dung kịch phẩm Le malentendu (Ngộ nhận) của Camus, để kết luận rằng : cuộc đời tàn bạo, bi đát.

Ngoài những tác phẩm Tây phương được trích dẫn, các nhân vật trong truyện Yêu có lúc cũng dùng Pháp ngữ xen kẻ vào lời nói của mình. Thúc cho Đạt là một rêveur incorrigible (một người mơ mộng không chữa được). Trang tự cho mình là một thứ voleuse d’amants (một thứ đàn bà cướp người yêu). Trang lại còn pha thêm tiếng Anh : Such is life (Đời là thế).

Không gian của truyện gồm những nơi chốn thể hiện những hoạt động của một xã hội đương đại : trụ sở cảnh sát, nhà tù, bệnh viện người cùi, phòng trà, vũ trường…

Một xã hội do đồng tiền chế ngự. Uyển dùng sắc đẹp của mình để quyến rủ những người đàn ông giàu có. Đặc biệt Tuấn là nhân vật biểu tượng cho sự ham muốn đồng tiền. Anh ta nói : Người ta chỉ triết lý suông khi nào không có tiền, chứ đã có tiền rồi, thì …a-lê-hấp ! sống đã chứ ! (tr. 97)

4/ Từ xã hội cũ đến xã hội mới

Trong tác phẩm Yêu, những dấu ấn của xã hội xưa vẫn tồn tại, như chủ nghĩa gia trưởng (paternalisme), quan niệm thứ bậc giữa thầy trò, hôn nhân phải do cha mẹ sắp đặt. Chủ nghĩa gia trưởng vẫn tồn tại nơi những người đàn ông có tuổi tác, chức vị. Khi Uyển bị bắt và đưa đến ông biện lý, ông này có giọng quở trách như một người cha mắng con : Cô là một thiếu nữ có học, con nhà gia giáo… Cha cô là một giáo sư, vậy mà sao cô hư hỏng sớm thế ? (tr.314)

Và trước thái độ sừng sộ của Uyển, ông biện lý lên giọng nghiêm khắc : Được lắm ! Tôi sẽ dạy cho cô biết tôn trọng mọi người. (tr. 314)

Một nhân vật khác cũng có thái độ và hành vi của một người gia trưởng. Đó là Thoại. Thoại là một bác sĩ tâm thần nhưng lại hướng dẫn chị em Uyển như một gia trưởng. Ông đưa Huyền và Uyển đến một bệnh viện chữa người cùi và giảng cho hai chị em biết là ở đời có những kẻ đau khổ thật sự như những người cùi. Ông khuyến khích hai chị em tham gia vào hội giúp người cùi của ông. Ông giảng rất hăng, và từ vai trò một gia trưởng ông bước sang vai trò một nhà truyền giáo. Khi Uyển ra tù, Thoại muốn cứu Uyển khỏi cái ám ảnh đã vô tình giết Trường. Hành động của Thoại là hành động của một người cha muốn cứu đứa con.

Lễ giáo, kỷ cương của thời xưa đặc biệt được nhân vật Hòa bênh vực mạnh mẽ. Hòa là một phụ nữ đoan chính, luôn luôn làm tròn bổn phận một người vợ, một người mẹ. Trước vụ ngoại tình của chồng, bà nghĩ nếu bà ở trong hoàn cảnh của chồng, bà sẽ có đủ nghị lực để chống trả sự cám dỗ, vì bà đặt bổn phận trên tình cảm. Bà cũng tôn trọng quan niệm thứ bậc giữa thầy trò như trong xã hội xưa. Cho nên khi hay tin Đạt ngõ ý muốn hỏi Diễm làm vợ, bà kinh ngạc, rồi lấy làm bực tức, khó chịu, bà nghiêm khắc chỉ trích Đạt và tìm cách triệt hạ uy tín của Đạt. Bà nói với Đạt : Thời buổi này, thiếu gì những giáo sư đã lợi dụng uy tín, địa vị của mình để quyến rũ học trò mình… Một ông giáo sư mà muốn chiếm đoạt tình yêu của học trò mình thì còn gì dễ dàng bằng, còn gì thuận tiện bằng… Nhưng dù người ta có viện bất cứ lý do gì để bào chữa, tôi vẫn cho rằng làm như vậy tức là lợi dụng, tức là sang đoạt tình cảm, và một người giáo sư dù có yêu thực tình, cũng không có quyền lấy học trò của mình. Một giáo sư dù vô tình hay hữu ý – làm cho học trò của mình say mê mình – tức là có tội rồi… (tr. 106)

Và Hòa đã dùng uy quyền của một người mẹ để buộc Diễm lấy Khải. Khi Diễm xin phép mẹ đến gặp Đạt lần cuối trước khi lấy chồng, Hòa nhắc con :… con cần nhớ là con đến thăm ông ấy để thanh toán tình cảm, chứ không phải để làm cho tình cảm thêm rắc rối. (tr. 193)

Hòa cũng có quan niệm truyền thống về người phụ nữ. Sau khi nghe kể chuyện Hằng thất thân dễ dàng với đàn ông, Hòa cho Hằng là thứ « đàn bà thối thây ».

Khi lãng mạn hóa tình yêu giữa thầy trò, có thể nói Chu Tử đã đánh dấu một cuộc cách mạng trong cách cư xử giữa thầy trò và dọn đường cho những tác phẩm khác cùng chủ đề, như cuốn Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, ra năm 1966. Chu Tử đã xóa bỏ cái ranh giới giữa thầy trò, làm đảo lộn thứ bậc giữa thầy trò, do đó uy tín của người thầy bị suy sụp. Khi Uyển nghe Đạt khuyên can mình đừng gia nhập tổ chức cờ bạc bịp của Tuấn thì cô tức giận, trở nên hỗn xược, cô không còn gọi Đạt là thầy mà là anh : Tôi vẫn đinh ninh là từ khi anh tỏ tình yêu với con Diễm, thì anh cũng tự động chối bỏ cái chức « thầy » đối với chúng tôi, cái địa vị « bạn bè » đối với Ba tôi… Chứ anh vừa muốn yêu con Diễm, vừa muốn đóng vai « thầy» của chúng tôi, bạn của Ba chúng tôi, đâu có được ! (tr. 300)

Còn cô vũ nữ Trang, cũng là học trò của Đạt và yêu Đạt ; khi thấy Đạt đau khổ vì phải đoạn tuyệt với Diễm, mà lại điên cuồng muốn hôn Trang, thì Trang đâm ghen tức, phẫn nộ và thẳng thắn mắng chửi Đạt : Anh là một đứa đê hèn, một đứa khốn nạn, anh biết không ? Anh cao thượng, anh đứng đắn, anh không dám hôn con khốn nạn, anh nhè tôi anh hôn, vì tôi là con đĩ, ai hôn mà chả được ! Tôi ghê tởm cái đứng đắn, cao thượng của anh ! (tr. 211)

Nếu uy tín của người thầy bị sụp đổ trong đời sống tình cảm, thì ngoài xã hội, uy tín đó vẫn tồn tại. Bằng chứng khi Tuyết tập tành làm ca sĩ, ra trình diễn ở một phòng trà, có một nhóm du đãng, bộ hạ của một nữ ca sĩ khác cạnh tranh với Tuyết, lao vào phá đám, hăm dọa Tuyết, thì bất thình lình Đạt xuất hiện, tên du đãng cầm đầu nhóm nhận ra Đạt là thầy cũ của mình, bèn ra lệnh cho đàn em rút lui êm thấm.

Vậy trong truyện Yêu, Hoà là người của xã hội truyền thống, xã hội cũ. Đối diện với Hoà có hai người con gái sống theo thời mới, xã hội mới, đó là Trang và Uyển. Trang vì hoàn cảnh đưa đẩy đã trở thành một vũ nữ, tuy thế Trang căm ghét đàn ông, cô sống một cuộc đời độc lập, đơn độc, cho đến khi gặp lại thầy cũ là Đạt và làm vợ Đạt. Chẳng những Trang xóa thứ bậc thầy trò qua hôn nhân, mà cô còn mắng nhiếc Đạt khi nổi cơn ghen.

Còn Uyển là một cô gái đã thoát xa khuôn phép của lễ giáo xưa. Cô ăn nói tự do, không chút dè dặt ; khi nghe bố báo tin thầy Đạt muốn đi hỏi Diễm làm vợ, Uyển phản ứng ngay : Sao ông ấy không hỏi con, Ba nhỉ ? (tr. 13) Cách ăn nói bộc trực như thế hoàn toàn khác xa sự e lệ, dè dặt của các cô gái thời trước do học giả Lê Văn Siêu miêu tả trong bài nói chuyện của ông. Uyển biết mình đẹp, đầy tự tin, cô sống tự do, sống bất cần đời, cô chưa biết tình yêu thật sự và chỉ xem đàn ông với cái nhìn đầy vụ lợi, vụ lợi không riêng cho cô mà cho những người cô thương. Thật ra Uyển giàu tình thương người, trong thời gian ở tù cô cảm thấy thương những người bạn tù, rồi cô thương người cùi. Nhưng vì những tính toán điên rồ, Uyển đã rơi vào tuyệt vọng và đi đến cái chết.

Hoà và Uyển là hai thái cực, hai biểu tượng đi ngược nhau : Hoà là biểu tượng của xã hội xưa và Uyển là biểu tượng của xã hội hiện đại.

Truyện Yêu tiết lộ một hiện tượng lịch sử, xã hội quan trọng : sự chuyển mình của xã hội miền Nam vào những năm 60. Sự chuyển mình đó trước hết do ảnh hưởng của văn hóa Pháp để lại. Sau nữa xã hội miền Nam là một xã hội tự do, cởi mở, dễ dàng tiếp nhận những tập tục, những học thuyết mới đến từ Tây phương. Do đó dù muốn dù không xã hội miền Nam cũng đổi thay, những ranh giới chia cách thứ bậc giữa cha mẹ, con cái, giữa thầy trò đều bị xóa mờ ; con cái nói chuyện ngang hàng với cha mẹ, bông đùa với cha mẹ, như Tuyết khi cô can thiệp vào những tranh cãi của cha mẹ ; học trò không còn kính nể thầy như trước. Và điều quan trọng nhất là trong cái xã hội mới của miền Nam, bỗng nhiên nữ quyền biểu lộ mạnh mẽ ; người phụ nữ như Uyển trở nên hoàn toàn tự do, tự do trong cách suy nghĩ, ăn nói, đối xử với kẻ khác, tự do lựa chọn đời sống theo ý mình. Yếu tố quyết định của sự biến đổi này là học vấn, học vấn giải phóng người phụ nữ, nhờ học vấn địa vị của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Có thể nói, qua truyện Yêu, nữ quyền là một trong những động lực của sự chuyển mình của xã hội miền Nam.

 

 

Chú thích :

(1)  Nhất Linh, Lạnh lùng, Nxb Hội Nhà Văn, 2010, tr. 103.

(2) Lê Văn Siêu, Văn Minh Việt Nam, tr. 216.

 

MỘT NGHỆ THUẬT DỰNG TRUYỆN CỦA THANH TÂM TUYỀN

 

Thanh Tâm Tuyền nổi tiếng vì đã cách tân thơ ở miền Nam ; ngoài ra ông còn sáng tác kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết, v.v… Về truyện ngắn, ông là tác giả của hai tập truyện : Khuôn Mặt (1964) và Dọc đường (1966). Tập Dọc đường gồm các truyện : Tư, Người gác cổng, Trên mây, Dọc đường, Chim cú, Mỗi người, Sắc trời. Truyện Dọc đường được xem là truyện ngắn xuất sắc nhất, tiêu biểu cho nghệ thuật dựng truyện của Thanh Tâm Tuyền.

Dọc đường kể chuyện một người đàn ông quê mùa, rụt rè, đi thăm người em làm việc trong một đồn điền cao su. Xe đò ngừng lại ở một dãy phố gần rừng cao su, người lơ xe giục người đàn ông xuống xe để xe đò chạy tiếp. Nhưng khi bước xuống khỏi xe, người đàn ông nhận thấy đây không phải là nơi ông ta định đến và muốn trở lên xe. Nhưng người lơ xe ngăn cản không cho ông ta trở lên, vì cái vẻ quờ quạng, ngập ngừng của ông ta có thể làm chậm trễ chuyến xe. Vậy là xe chạy tiếp, bỏ lại người đàn ông đứng ngơ ngác trên hè phố. Người đàn ông ôm khư khư vào người một cái bọc giấy và bắt đầu đi dọc con phố có vài cửa tiệm, vài ngôi nhà, một khoảng đất trống. Người đàn ông dừng lại trước một cửa tiệm sửa xe đạp, hỏi người thợ sửa xe có còn chuyến xe đò nào nữa không. Người này trả lời vắn tắt có lẽ không còn xe nữa. Người đàn ông tiếp tục đi, đến trước một ngôi nhà cửa đóng có cái lu nước trước nhà, người đàn ông dừng chân uống nước và rửa mặt, rồi lại tiếp tục đi và ghé vào một quán nước. Người đàn ông khơi chuyện với người đàn bà chủ quán, kể lể chuyện của mình. Vì biết người đàn ông đang mong có một chuyến xe đò, người đàn bà lắng tai nghe ngóng và báo có chiếc xe be sắp đi qua, người đàn ông vội vã chạy ra đường, có đến hai chiếc xe be đang chậm chạp chạy trên đường, người đàn ông ra dấu xin đi quá giang, nhưng hai người tài xế chỉ vẫy tay chào và hai chiếc xe be vẫn chạy. Người đàn ông trở vào quán, xin ngủ lại đêm. Người đàn bà chủ quán quyết liệt từ chối và dọa sẽ kêu lính đến. Lý do sự từ chối là người đàn ông là kẻ lạ mặt, bà ta sợ lỡ đêm hôm người đó có thể giết bà ta, hoặc sợ nhà chức trách đến xét nhà. Và bà ta xua đưổi người đàn ông. Người này đi trở lên con phố và một lần nữa dừng lại trước tiệm sửa xe đạp. Người thợ đã ngưng làm việc, đã tắm rửa, thay quần áo và đang khẩy đàn ghi ta. Người đàn ông không còn hỏi thăm về các chuyến xe, chỉ nhờ người thợ chỉ dùm một nơi để ngủ tạm qua đêm. Người thợ lúc đầu cười vẻ chế nhạo, sau anh ta đâm ra cáu kỉnh. Người đàn ông lại dừng trước căn nhà cửa đóng có lu nước, và nhẹ nhàng gõ cửa. Trong nhà có tiếng niệm Phật, tiếng mõ, tiếng chuông. Sau mấy lần gõ cửa, có tiếng một bà cụ già từ trong vọng ra, bà cụ hỏi : Ai đó ? và nhìn qua lỗ cửa. Người đàn ông một lần nữa kể chuyện đi thăm người em, nhưng bị lỡ đường, van nài bà cụ cho ngủ lại một đêm. Bà cụ có vẻ nhân đạo hơn bà chủ quán và người thợ sửa xe, bà cụ tin người đàn ông nói thật. Nhưng đến lượt bà cụ van nài người đàn ông hãy thương bà cụ và người cháu và hãy để họ yên. Rồi có tiếng người con gái, cháu bà cụ, cô ta bảo không tin câu chuyện của người đàn ông và hăm dọa sẽ kêu lính. Cô ta quả quyết : không chứa người lạ trong nhà. Đêm đã xuống, có tiếng súng nổ vang trời như một dấu hiệu, tức thì mọi cánh cửa đều vội vàng đóng lại. Người đàn ông dáo dác ngó ra đường.

Trong truyện của Thanh Tâm Tuyền, không gian, thời gian và nhân vật là ba yếu tố được triển khai để làm tăng nỗi sợ hãi đến tột đỉnh của nhân vật.

Không gian

Lessing, nhà văn kiêm nhà phê bình Đức ở thế kỷ 18, quan niệm rằng văn chương và âm nhạc là những môn nghệ thuật gắn liền với thời gian, còn hội họa và điêu khắc là những môn nghệ thuật gắn liền với không gian, vì ngôn ngữ của văn chương trải dài theo thời gian, trong khi các tác phẩm của nghệ thuật tạo hình thì được ngắm nhìn cùng một lúc trong không gian.

Thế nhưng, qua văn chương không gian tuy không được nhận thấy bằng thị giác, nhưng được nhận thức bằng trí tưởng tượng. Trước tiên không gian được nhà văn tưởng tượng và mang dấu ấn chủ quan của nhà văn, rồi không gian đó được người đọc nhận thức qua trí tưởng tượng của mình. Văn chương lại nói về con người, cho nên không gian là một chiều kích mở ra với tha nhân, văn chương tạo nên một không gian có tính xã hội, trong đó con người sống với nhau, sinh hoạt, xây dựng, phá hủy, thương yêu, thù ghét, vui buồn, v. v… rồi chết.

Trong truyện Dọc đường, Thanh Tâm Tuyền vẽ lên một không gian rất rõ ràng, tỉ mỉ như một nhà đo vẽ địa hình, để làm nổi bật tâm lý của nhân vật. Chuyện xảy ra trên một con phố nhỏ, đầu này con phố là quán nước giáp con đường đất và rừng cao su, đầu kia con phố là đồn Dân vệ. Người đọc theo gót người đàn ông đi từ đồn Dân vệ về phía quán nước, để lần lượt thấy những căn nhà hay khoảng đất dọc con phố : cái quán hớt tóc bỏ không, tiệm chạp phô của người Tàu, một căn nhà ở đóng cửa có dán những bích chương, khẩu hiệu, một tiệm trữ Âu dược, một nền nhà đổ, một khoảng đất làm chỗ họp chợ, nhà việc có mái thủng, một nhà bị sập mái trước, tiệm thuốc Bắc có cô gái Tàu lai, tiệm bán sách vở và tạp hóa, một lớp học, tiệm sửa xe đạp, tiệm chạp phô của người di cư, thêm một căn nhà rồi một căn nhà đóng cửa có cái lu nước ở phía trước, cuối cùng đến quán nước.

Lối miêu tả tỉ mỉ con phố như thế, tuy là trong một truyện ngắn, nhưng làm liên tưởng đến nghệ thuật miêu tả của Alain Robbe-Grillet, thủ lĩnh của nhóm Tiểu Thuyết Mới ở Pháp. Với Alain Robbe–Grillet và các tác giả thuộc nhóm Tiểu Thuyết Mới, sự miêu tả thường khi rất dài, rất tỉ mỉ. Tiểu thuyết truyền thống của Pháp, thời Balzac, Zola, Flaubert, đi vào bề sâu của xã hội, của tâm lý, còn Robbe–Grillet thì xây dựng tiểu thuyết trên bề mặt, nhìn thế giới với đôi mắt của một con người đang đi trong thành phố, không có chân trời nào khác hơn là chính cái cảnh trước mắt. Vậy lối miêu tả của Thanh Tâm Tuyền trong truyện này không khỏi làm liên tưởng đến Alain Robbe–Grillet.

Không gian mang những dấu hiệu của chiến tranh với chiếc trực thăng bay nhiều vòng rồi đậu trên khoảng đất trống, vài tiếng đại bác nổ ầm ở xa, những trái hỏa pháo được bắn lên trời. Trong im lặng của không gian, tiếng ve sầu và tiếng côn trùng làm tăng nỗi bơ vơ của người đàn ông, và rồi tiếng đại bác nổ trong đêm gây hoảng sợ cho kẻ lạc đường.

Không gian thu hẹp vào một con phố có tác dụng gây cảm giác ngột ngạt, biểu tượng cho lòng dạ con người hẹp hòi, ích kỷ.

Nhân vật

Trong một không gian được dàn dựng như thế, ống kính của tác giả quay chậm ở quán nước để người đọc thấy rõ những nhân vật nơi đó : người đàn ông chủ quán, hai người đàn ông khác, người đàn bà chủ quán, hai người lính Dân vệ, với cách ăn mặc, đi đứng, nói năng của họ. Quán nước là khởi điểm của truyện. Nơi đây đã có những dấu hiệu bất an : người đàn ông chủ quán chuẩn bị rời quán để đi ngủ đêm ở Biên Hòa, tránh cái nạn bị bắt đi khiêng xác chết ban đêm, để rồi ban ngày bị nhà chức trách hạch hỏi. Một người đàn ông khác trong quán, khi nghe tiếng trực thăng, thì cho rằng đây là một điều chẳng lành. Người đàn ông chủ quán mặc áo lá, quần xà lỏn, một chân co lên mặt ghế… và nói với vợ : Tao là đàn ông mày nghe chưa ?… Đ. m. thứ đồ đàn bà ngu ! Cách ăn nói thô tục, lại thêm giọng nói tàn nhẫn của người này báo hiệu sự tàn nhẫn của những nhân vật ở dọc con phố đối với kẻ lạc đường.

Sau khi cảnh trong quán được dàn dựng, thì nhân vật chính mới xuất hiện ngoài đường, ở trang 6, truyện dài gần 14 trang. Hắn vận bộ bà ba đen, chân đi săng đan, tóc cắt ngắn, mặt mũi gồ ghề xanh xao, tay ôm một cái gói. Từ khi xuất hiện, người đàn ông xa lạ, đi lạc đường đã ở trong tình trạng của kẻ bị xua đuổi : từ trên xe, người lơ xe thúc hối : Xuống lẹ lên cha nội. Rồi đến người đàn bà chủ quán, người thợ sửa xe đạp, bà cụ tụng kinh, niệm Phật, tất cả đều xua đuổi người đàn ông.

Người đàn ông đi lẩn thẩn từ đầu phố này đến đầu phố kia, rồi đi ngưọc trở lại. Không gian càng thu hẹp càng làm nổi bật mối tương phản giữa người và người. Có hai hạng nhân vật : nhân vật câm và nhân vật điếc. Nhân vật câm là những nhân vật dửng dưng, xa vời dưới mắt người đàn ông lạc đường, như cô gái Tàu lai trong tiệm thuốc Bắc đang ngồi đọc báo, người đàn bà di cư trong tiệm chạp phô đưa mắt nhìn trân trân kẻ lạ mặt, và hai người tài xế xe be chỉ đưa tay vẫy chào, không ngừng lại. Bên cạnh những nhân vật câm có những nhân vật điếc. Điếc là làm ngơ trước sự van xin của người lạc đường. Người điếc đầu tiên là người lơ xe, anh ta không cho người khách trở lên xe đi tiếp và không cần biết đến lời kêu xin của người này. Kế đến là bốn cuộc đối thoại giữa người đàn ông lạc đường với những người ở dọc con phố. Đối thoại 1 với người thợ sửa xe đạp. Đáp lại câu hỏi của người lạ mặt, người thợ lạnh nhạt trả lời vắn tắt, rồi tiếp tục làm việc. Đối thoại 2 với người đàn bà chủ quán mà người chồng vừa bỏ đi Biên Hòa. Người đàn bà này nói nhiều hơn người thợ, sự trao đổi lúc đầu bình thường, người đàn bà tò mò muốn biết về người đàn ông lạ mặt ; nhưng khi người này xin ngủ nhờ một đêm thì bà ta từ chối quyết liệt : Chú ở đâu tới tôi không biết. Chú xin ngủ đậu không được. Đi đâu thây kệ chú chớ. Mắc mớ gì tới tôi. Đối thoại 3 : một lần nữa người đàn ông lạc đường tìm cách khơi chuyện với người thợ, người này có vẻ chế riễu rồi phát cáu : Cha này rỡn hoài ta. Tôi đâu quen biết anh. Đối thoại 4 : người đàn ông lạc đường nói chuyện với một bà cụ già đang tụng kinh, qua một cánh cửa đóng kín. Bà cụ hiền lành, đạo đức, tin rằng người đàn ông nói thật. Nhưng trước sự van nài thống thiết của kẻ lỡ đường, bà cụ cũng tỏ thái độ van xin : Trong nhà chỉ có mấy bà cháu không có đàn ông. Lỡ ra tội nghiệp chú ơi… Tựu trung bà cụ cũng từ chối như những người trước, nhưng sự từ chối của bà cụ ẩn dưới hình thức của những lời van lơn, đạo đức. Cuối cùng giọng nói không chút xót thương, đầy hăm dọa của người cháu gái bà cụ đưa người đọc trở về một thực tế tàn nhẫn. Tóm lại, nhân vật điếc là nhân vật có đối thoại, nhưng không lắng nghe người đối diện với mình ; sự xua đuổi người lạ mặt khi thì hung hăng, đầy hăm dọa, khi thì dịu dàng, van lơn, nhưng tựu trung cũng cùng một lý do : mọi người muốn khư khư giữ lấy nếp sống yên ổn của mình, muốn được yên thân và dửng dưng với sự khốn khổ của một kẻ lạc đường ; tất cả đều do tính ích kỷ và hèn của con người.

Qua sự tiếp xúc của các nhân vật điếc với người đàn ông có những biểu tượng của sự xua đuổi. Biểu tượng thứ nhất là nụ cười của người thợ lần đầu tiên thấy người lạ mặt : Anh này (người thợ) chợt ngửng lên loe miệng cười với người đàn ông, nhưng nụ cười tắt ngay tức thời. Biểu tượng thứ hai là cánh cửa đóng kín của nhà bà cụ, cánh cửa đóng có tính xua đuổi, hất hủi, gây ngăn cách giữa người và người, cánh cửa khép kín lòng người. Sau cùng xe cộ là biểu tượng của sự bỏ rơi : sau khi người đàn ông bước xuống xe thì Chiếc xe rồ ga vọt thẳng vào phía rừng cao su. Sau đó : Hai chiếc xe be kềng càng rần rần từ trong rừng cao su, xe chạy chậm… và xe vẫn chạy. Lại một hành động từ khước, bỏ rơi.

Các nhân vật còn có thể vừa điếc vừa vô hình như bà cụ và người cháu ẩn sau cánh cửa đóng kín.

Thời gian

Thời gian trong truyện là một thời gian có tuyến tính, không có sự đi lùi về quá khứ rồi trở lại hiện tại chẳng hạn. Thời gian chỉ đơn giản đi theo mặt trời sắp lặn. Cũng như không gian và nhân vật, thời gian làm tăng nỗi lo sợ của kẻ lạc đường. Trong khi người đàn ông loay hoay tìm chỗ ẩn trú ban đêm thì thời gian từ buổi chiều dần dần đi vào đêm tối. Vào đầu truyện : Buổi chiều vàng rực ở phía đồn Dân vệ… Trong lúc người đàn ông lạ mặt nói chuyện với người đàn bà chủ quán thì Trời bắt đầu tím trên nền bóng núi xa, và người đàn bà thắp cây đèn dầu. Sau khi nói chuyện lần thứ hai với người thợ sửa xe : Người đàn ông quay mặt về phía rừng cao su trong ấy bóng tối đã dầy. Ngoài rừng trời chạng vạng nhá nhem. Cuối cùng khi người đàn ông đứng trước căn nhà có tiếng niệm Phật thì : Trời cứ tối dần.

Đêm đến, tức thời gian đầy đe dọa, gieo kinh hãi cho người lạc đường đang chơi vơi, vẫy vùng trong một không gian lạnh lùng, câm điếc.

Trong truyện Dọc đường, tác giả Thanh Tâm Tuyền đã chọn cho không gian và thời gian những chiều kích hẹp, ngắn : không gian của một con phố, thời gian của một buổi chiều, và những nhân vật điển hình để tạo nên và làm tăng thêm cơn khủng hoảng tâm lý của nhân vật. Nhân vật là một người rụt rè, ôm vào người một cái gói bọc giấy như một cái gì thân thiết, khi xuống xe, anh ta đứng lại bên đường ngơ ngác, rồi lủi thủi đi trong một con phố hoàn toàn xa lạ, gặp những người xa lạ muốn xua đuổi mình. Nhân vật bị hất ra khỏi thế giới con người và phải một mình đương đầu với sự sợ hãi ở một nơi xa lạ, trong đêm tối, không một mái nhà. Vì các nhân vật không có tên cho nên truyện Dọc đường có tính phổ thông, liên quan đến mọi người. Bất cứ ai cũng có thể ở trong tình trạng của người đàn ông lỡ đường. Một cách vô thức, người đọc động lòng trắc ẩn. Tác giả làm nảy sinh nơi người đọc cái bản năng tự đồng hóa với kẻ gặp rủi ro. Thanh Tâm Tuyền cho người đọc thưởng thức một nghệ thuật dựng truyện rất điêu luyện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THẾ GIỚI NGƯỜI NỮ CỦA TRẦN MỘNG TÚ

 

Trần Mộng Tú là một tên tuổi của văn học hải ngoại. Độc giả còn nhớ những vần thơ của bà đã gây xúc động ngay từ đầu :

Em tặng anh hoa hồng

Chôn trong lòng huyệt mới

Em tặng anh áo cưới

Phủ trên nấm mồ xanh

…………………………

Anh muôn vàn tạ lỗi

Xin hẹn em kiếp sau

Mảnh đạn này em giữ

Làm di vật tìm nhau.      (Quà Tặng Trong Chiến Tranh)

 

Ôi giấc mơ hoà bình

Anh trả bằng sự sống

Em trả bằng tủi hờn

Bằng một đời đơn độc.     (Giấc Mơ Hoà Bình)

Qua thể thơ ngũ ngôn, lời thơ rưng rưng kể lể, độc giả ngỡ như có tiếng nấc và hình dung bóng dáng một thiếu phụ đang ngồi thổn thức bên một ngôi mộ. Trần Mộng Tú không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng ở hải ngoại, bà còn là một nhà văn, tác giả của nhiều truyện ngắn, tùy bút, tạp ghi. Chủ đề tang tóc trong hai bài thơ trích dẫn trên đây trở lại trong một truyện ngắn : Dòng Sông Đứng Lại, đậm đặc tính tự truyện. Tác giả kể khi tuổi xuân vừa chớm nở đã sống một cuộc đời vợ chồng rất ngắn ngủi : chỉ ba tháng. Người chồng lên đường ra chiến trận. Rồi người vợ trẻ bất ngờ nhận được tin chồng tử trận. Cô đi nhận xác chồng mà sao không có được giọt nước mắt, cô quá trẻ, trước tin dữ, hãi hùng, đột ngột, cô ngỡ ngàng, sững sờ. Tôi tự thấy mình bé nhỏ, mỏng manh trong chiếc áo dài màu xanh nhạt, áo nhầu nát, tóc bơ phờ, mặt ngơ ngác đứng nhìn chung quanh mình. Cái sân bay trông sao mênh mông thế mà cái áo quan thì bé tí, tôi đứng bên cạnh trông lại càng bé hơn.

Thế rồi miền Nam sụp đổ. Sau bao vật đổi sao dời, cô từ nơi xa hướng về quê nhà và được biết ngôi mộ của chồng trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi Sài gòn đã bị chuyển dời và thân xác chồng nay còn lại một bình tro đặt ở nhà thờ Tân Định. Nhiều năm sau, khi trở về quê hương, đối diện với bình tro của chồng, bỗng nhiên cô oà khóc, một cơn khóc dữ dội, kéo dài rất lâu, tưởng như bao nhiêu đau đớn bấy lâu dồn dập, tích trữ trong lòng đều tuôn ra như một dòng thác ồ ạt. Lời nói không cần thiết nữa, những giọt nước mắt tuy phải chờ mấy mươi năm sau mới tuôn rơi, nhưng chính những giọt nước mắt đó đủ nói lên nỗi đau của con người.

Khi đọc truyện ngắn và tùy bút của Trần Mộng Tú, độc giả đi vào thế giới tình cảm của người nữ, những người nữ sống xa quê hương và chấp nhận thân phận lưu đày của mình. Nhân vật chính trong truyện hay trong tùy bút là người nữ, người nữ kể chuyện, người nữ tâm tình, người nữ đang ở trong một cảnh sinh hoạt nào đó ; tóm lại, người nữ hiện diện khắp nơi.

Có người nữ muốn đi ngược dòng thời gian để tìm lại tuổi trẻ, sắc đẹp bằng mọi giá, ngõ hầu tìm được một người yêu trẻ trong một chuyến trở về quê nhà, nhưng đó chỉ là một ảo tưởng (Hoa Hồng Nhung Thứ 8).

Có người nữ yêu cây cối, đặc biệt cây hạt dẻ (Hạt Dẻ Mùa Thu). Loại cây này rất gần gũi với đời sống con người : thân cây được dùng để đóng bàn ghế, giường tủ, cánh cửa, nôi trẻ thơ, quan tài. Từ cái nôi đến cái quan tài là đi trọn cuộc đời của con người. Cây hạt dẻ quả thật đồng hành với con người, còn gì quý bằng. Thế nhưng người nữ trong truyện lại yêu nhất hạt dẻ, trong năm chỉ trông đến mùa hạt dẻ. Khi mưa thu, nắng thu thay nhau tới gõ cửa nhà bất ngờ, không báo trước. (…) Lòng chị nôn nao, chị biết mùa đi nhặt hạt dẻ đã tới. Chị đi nhặt hạt dẻ chất đầy nhà. Để làm gì ? Để biếu bạn bè xa gần, để mời bạn bè khi gặp nhau cùng thưởng thức hạt dẻ rang mà chị đã bóc sẵn. Tình bạn thật là ấm cúng. Trong tâm hồn người phụ nữ đầy tình cảm này, có một chỗ nhỏ dành riêng cho quê hương xa vời : vừa nhặt hạt dẻ chị vừa nhớ cảnh hai chị em nhặt lá bàng trong bài Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh, hai chị em từ trong quá khứ xa xôi bỗng hiện về, cùng nhặt hạt dẻ với chị chăng ?

Lại có người nữ yêu cái đẹp của đồ cổ (Những Cánh Mai Trong Tách Trà). Hà đi đến đâu cũng không thể bỏ qua được các tiệm bán đồ cổ, mặc dù chẳng có nhu cầu gì. Khi cầm đến một vật cổ, Hà thường tưởng tượng quá khứ của nó thế này thế nọ, khiến cô càng thêm vương vấn. Một hôm, người chồng đang lái xe trên đường phải dừng lại để chiều lòng vợ. Thế là Hà tất tả đi vào một tiệm bán đồ cổ. Cô phát hiện một tách trà có cành mai rất đẹp bên ngoài, và bên trong có hai bông mai, tách trà có vẻ Á đông, nó không còn nguyên bộ. Trong khi cô ngắm nghía cái tách trà, thì có một giọng đàn ông Á đông sau lưng làm cô giật mình. Người đàn ông nhắc lại lịch sử của cái tách trà, sự trôi nổi của nó đến ngày nay. Ông nói đang chờ Hà đến để trao tách trà cho Hà vì cô là người biết thưởng thức vẻ đẹp của cái tách. Khi đến quầy trả tiền, Hà phát hiện không có người đàn ông nào trong tiệm. Cô ngỡ ngàng, cô có tưởng tượng không ? Cô rợn người mà nghĩ rằng người đàn ông đó là một người Việt Nam, đã trải qua khói lửa chiến tranh, tù đầy, đã sống cuộc đời di tản ở Mỹ và đã chết. Cái tách trà là của gia đình ông, ông muốn trao lại cho cô là người biết trân quý nó.

Một người nữ khác không yêu cây cối, không yêu đồ cổ mà yêu… đá (Chuyện Trò Với Đá). Những hòn đá cô nhặt ngoài biển khi đi dạo với chồng, ban đêm cô đem chúng vào giường. Thế là cuộc đối thoại với đá bắt đầu, đề tài rất linh tinh : Thượng đế, tôn giáo, chiến tranh, Sơn Tinh Thủy Tinh, nghệ thuật… đối với con người và đá. Cuộc đối thoại dí dỏm, và lời phát biểu của đá có phần triết lý.

Bên cạnh cái đẹp của thiên nhiên, của đồ cổ còn có một cái đẹp vô giá, đó là cái đẹp của tâm hồn. Trong truyện Sau Đám Tang, người phụ nữ ngắm nhìn, khâm phục tình yêu thầm kín, cao thượng của một người đàn ông.

Ngoài những người nữ biết yêu cái đẹp dưới nhiều hình thức, lại có người nữ biết khẳng định mạnh mẽ vị trí của mình, quan niệm sống của mình. Trong truyện Một Nửa Người Đàn Ông, một người đàn bà có chồng đến gặp tình địch của mình, định ra tay làm to chuyện. Người đàn bà mở đầu cuộc tấn công bằng một lời tuyên bố sắt đá :

Tôi là vợ của ông Minh.

Bà đưa mắt quan sát. Tình địch của bà là một cô gái rất trẻ, chỉ hơn con bà vài tuổi, tóc ngắn, một chút son thoa trên môi, áo sơ mi, quần jean, vẻ thông minh, bướng bỉnh. Người đàn bà tự hỏi cái gì nơi cô ta đã quyến rũ chồng mình. Cô gái làm biên tập viên cho một nhà xuất bản. Trước khi có sự gặp gỡ bất ngờ với người vợ của Minh, cô có hẹn đi ăn trưa với anh ta. Cô ngồi đối diện với người đàn bà và bình tĩnh nói :

Chắc bà đến đây để cho tôi biết là anh Minh đã có gia đình. Thưa bà, tôi biết điều này đã lâu. Và không bao giờ tôi có ý định kéo anh Minh ra khỏi gia đình của anh ấy.

Người đàn bà đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác, khi cô gái nói tiếp :

Tôi không hiểu được tại sao phần đông những người đàn bà trên mặt đất này lại có thể đặt mình lệ thuộc vào một người đàn ông nguyên một ngày, rồi những ngày đó kéo ra cả suốt đời mình.

Và cô thẳng thắng tuyên bố triết lý sống của cô :

Không, không bao giờ tôi cần nguyên một người đàn ông cả, tôi chỉ cần một nửa thôi. Có nhiều người phải uống nguyên một ly trà mới thấy vị ngon, phải ăn nguyên một trái táo mới hài lòng, phải đến được chân núi, hay trèo lên đỉnh núi để thưởng thức thì mới mãn nguyện, sông thì phải đi hết dòng mới thỏa chí, phải được lấy nguyên một ông chồng và được gọi là vợ thì mới cho là sung sướng. Tôi thì trà uống một ngụm, táo cắn một miếng, núi nhìn một góc, sông yêu một khúc, đàn ông hưởng một nửa. Suốt đời chỉ là người tình thì cũng đã thấy mình dư thừa hạnh phúc. Bà cứ an lòng ra về.

Cô gái trở về văn phòng và hủy bỏ cái hẹn đi ăn với người đàn ông. Người đàn bà ra về với tâm trạng hoang mang, và gần như bị quan niệm sống của cô gái thu hút.

Người phụ nữ Việt Nam lâu ngày tiếp xúc với văn hóa Tây phương, dù muốn dù không cách suy nghĩ cũng đã chịu ít nhiều biến đổi. Vả chăng người nữ trong truyện này có một bản lĩnh quá vững vàng, lại triệt để hướng về cái tôi, với một triết lý hưởng thụ cắt đứt mọi ràng buộc, tự cho mình một vai trò chủ động và xem nam giới như một sở hữu lưng chừng, tạm thời. Tóm lại một triết lý sống bất chấp những quy tắc luân lý cổ truyền Việt Nam. Đây là một hình thức của nữ quyền vào thời hiện đại ở Tây phương. Nhưng cô quên rằng về mặt tâm lý cô cũng cần thương yêu và được thương yêu trọn vẹn chứ không lưng chừng, không nửa vời.

Trong cuộc sống lưu đày, Trần Mộng Tú, cũng như những nhân vật của bà, cố tạo cho mình một đời sống ổn định, bình thường. Nhưng trong lòng vẫn còn một nỗi buồn không bao giờ nguôi, mất mát quê hương là một nỗi đau quá lớn, và cứ mỗi năm, tháng tư khơi lại nỗi đau buồn đó. Trong bài tùy bút Ngụm Cà Phê Tháng Tư, tác giả đang ngồi trong một quán cà phê ở Mỹ, ba mươi tám năm sau ngày 30 tháng tư 1975, ngậm ngùi nhớ lại bao kỷ niệm xót xa :

Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó ! Đứt ra từng đoạn : đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu… Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.

Sự mất mát như một cắt đứt vĩnh viễn, vì giờ đây nếu có trở về quê hương thì cũng tự cảm thấy mình lạc lõng giữa mọi người. Nơi đây cuộc sống bình an, nhưng sao người phụ nữ di tản không thoát được những kỷ niệm khói lửa của quá khứ, những giọt nước mắt thầm lặng rơi trước ly cà phê. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.

Dù sao cuộc sống vẫn còn đó, và con người cần sống, cần xây dựng. Người phụ nữ di tản có cả một kho tàng tình thương để trao cho đời.

Trong truyện Trong Bóng Tối, Phượng làm việc thiện nguyện cho một họ đạo và thường vào một bệnh viện để đem Mình Thánh Chúa cho những bệnh nhân theo đạo Công giáo. Có lần cô để ý trong phòng có một bệnh nhân thứ hai, một thanh niên tên David. Cô gặp David hai lần. Lần kế tiếp cô không còn thấy David nữa, và được biết người thanh niên đã đổi phòng, phòng mới ở trong một dãy nhà xa hơn. Phượng cũng được biết David bị bệnh AIDS mà không chịu chữa trị. Cô liền đến thăm David, anh còn nhớ cô và tử tế chào hỏi, nhưng anh ít nói và thường nhìn ra cửa sổ. Phượng kiên nhẫn, chậm rãi khơi chuyện, dần dà David thổ lộ về đời mình. David có một tuổi thơ bất hạnh, người mẹ thường thay đổi tình nhân, nhưng không có người nào thương yêu David, khi không có tình nhân người mẹ đem David về ở chung để được hưởng trợ cấp xã hội, nhưng khi có được một người đàn ông thì bà bỏ rơi đứa con. Người bố dượng sau cùng say rượu thường đánh đập David, một hôm đang mùa đông giá buốt, người bố dượng lại đánh đập David và đuổi ra khỏi nhà. Cậu bé đành lủi thủi đi ngoài tuyết, khi ra đến đường cậu bé được một chiếc xe ngừng lại, đó là xe của Jason, một thanh niên 19 tuổi. Jason ghiền ma túy và là người đồng tính luyến ái, Jason cho David về ở chung và để David tự do sống, anh cũng giúp David bằng cách đưa cậu bé đến ghi tên ở nhà trưởng, nhưng David bỏ học sớm, David cảm thấy được Jason che chở và xem Jason như một người cha. Chẳng bao lâu Jason lôi cuốn David vào con đường đồng tính luyến ái. Jason chết vì bệnh AIDS đã hai năm, giờ đây David bị nhiễm căn bệnh ngặt nghèo đó. Phượng nghe vậy thì lấy làm thương David, cô muốn khuyên người thanh niên chịu để cho bệnh viện chữa trị, nhưng David không tha thiết về chuyện này, từ ngày Jason chết. Phượng cảm thấy đau lòng, cô tôn trọng lối sống của David và không hề có ý phê phán về chuyện đồng tính luyến ái của David. Khi Phượng trở lại thăm David thì được biết người thanh niên đã trốn đi được hai ngày rồi.

Công việc thiện nguyện được tiếp tục với truyện Mầu Đỏ Trong Sân, tác giả cùng vài người phụ nữ làm việc thiện nguyện cho một họ đạo, họ lo dọn một bữa ăn cho 80 người già nhân ngày Lễ Tình Yêu (Valentine). Vào dịp này những cụ già đều mặt áo màu đỏ ; có người còn mạnh khỏe, đầu óc sáng suốt, có người đã già yếu. Họ kể lại cho nhau những kỷ niệm về Lễ Tình yêu của thời trẻ. Tác giả để ý trong đám người già một ông cụ người Việt Nam và thân mật trò chuyện với ông cụ. Lạc lõng giữa những người khác chủng tộc, khác văn hóa, ông cụ vẫn giữ những suy nghĩ của một người Việt Nam, ông cụ nói : Bên mình trước đây làm gì có Lễ Tình Yêu, bây giờ nghe đâu Việt Nam cũng ăn mừng ngày này đấy (…). Càng vinh danh tình yêu rầm rộ, càng ly dị nhanh. Những ồn ào của ngày Lễ Tình Yêu không làm ông cụ quên một tình cảm cao quý của người Việt Nam : Người mình coi nặng cái « nghĩa » hơn « tình ». Một lời nhắn nhủ từ quê nhà, từ quá khứ xa xôi đến với người phụ nữ di tản.

Truyện Ánh Trăng Và Nhà tù đưa độc giả đến với một thanh niên tên Năm, Năm có khiếu về nghệ thuật, vẽ đẹp, đàn hay, yêu thơ, nhưng Năm khó dạy, 17 tuổi đã bỏ học. Năm nay anh 22 tuổi, thỉnh thoảng bị bắt vì những tội phạm như lái xe quá nhanh, không tuân lệnh cảnh sát dừng lại, hoặc có cần sa trong xe. Lần này Năm bị bắt vì đã bạt tai cô bạn gái. Mẹ Năm thối chí giao cho người bạn là cô Rơm ra vào nhà tù thăm viếng Năm. Một dịp để Rơm phát hiện nơi đứa con trai một tâm hồn phong phú, độc đáo.

Trong truyện Đời Anh Làm Vườn, nhân vật chính là một người đàn ông qua lời kể của 4 người phụ nữ : người mẹ, người em gái, người vợ chưa cưới và người kể truyện. Người kể truyện là một phụ nữ thường thuê người đàn ông đến làm vườn. Vào đầu truyện, người phụ nữ nhường lời cho các nhân vật kia để họ lần lượt nói về người làm vườn. Người mẹ cho biết bà sinh đứa con trai ở Bình Long vào lúc Mùa Hè Đỏ Lửa, năm 1972. Bom đạn rơi ồ ạt khiến con trai bà rách màng nhĩ và bị điếc. Ở Mỹ, các bác sĩ đành bó tay trước bệnh điếc của người con trai, anh đành làm nghề làm vườn. Khi quá bốn mươi tuổi anh có ý định lập gia đình với một người con gái bên nhà. Khi cô gái được bảo lãnh và sang đến Mỹ, và khi việc cưới hỏi đã xong thì người làm vườn mới vỡ lẽ là đã bị gia đình cô này toa rập lừa gạt, và cô gái là một người hung dữ, không có ý định làm vợ anh, chuyện đổ vỡ. Người làm vườn đi tìm một người vợ khác, cô này hiền hơn, anh báo cho người kể truyện biết cô sắp qua Mỹ để cùng anh lập gia đình. Người lên tiếng kế tiếp là cô em gái người làm vườn. Cô báo tin anh cô đã chết vì thở hơi độc trong nhà chứa xe, và người chị dâu thứ hai của cô sang đến Mỹ chỉ vừa kịp để bấm nút máy hỏa thiêu anh. Đến lượt cô dâu thứ hai nói với người kể truyện, cô kể rằng anh làm vườn mỗi năm về thăm cô, hai người sống với nhau như vợ chồng, và như thế đã bốn năm. Cuối cùng người phụ nữ kể truyện an ủi cô dâu thứ hai và nói rằng với thời gian mọi chuyện sẽ nguôi ngoai, cô sẽ xây dựng cuộc đời với một người khác, cô sẽ không còn là một cô dâu không bao giờ cưới mà là một cô dâu được cưới hỏi.

Người làm vườn quả thật là một người đàn ông không may mắn dưới cái nhìn của những người phụ nữ thương anh. Khi vào đời anh đã mang thương tích của chiến tranh, nếu không có thương tích đó cuộc đời của anh chắc chắn sẽ khác đi.

 

Trong thế giới của Trần Mộng Tú chỉ có những người nữ sống xa quê hương, những người nữ mất gốc. Mất gốc đưa đến một tình trạng bất ổn, đầy lo lắng trước tương lai. Người nữ không còn cảm thấy mình thuộc về một quê hương, một đất nước, phải tự đặt lại vấn đề về con người của mình. Trong hoàn cảnh bất an về tâm lý, mỗi người nữ phản ứng mỗi cách, có người sợ già, có người bầu bạn với thiên nhiên hoặc đi tìm quá khứ qua những đồ cổ, có người chỉ biết sống cho mình, lại có người biết thương yêu kẻ khác và cùng lúc mang trong lòng nỗi đau của đất nước. Qua cái thế giới đa dạng đó, độc giả dường như nghe được một tiếng nói dịu dàng, đầy nhân ái.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐI VÀO GIẤC MƠ THỔ VỚI TRẦN VŨ

 

Vào cuối thập niên 80, văn học Việt Nam hải ngoại đang trên đà phát triển. Giữa lúc các nhà văn miền Nam có mặt ở hải ngoại lần lượt cầm bút trở lại với một tâm tư đầy khắc khoải, thì các thế hệ đến sau hăm hở bước vào cuộc phiêu lưu với chữ nghĩa. Trong số các tác giả mới, Trần Vũ là người gây nhiều chú ý trên các tạp chí Văn Học, Làng Văn, Hợp Lưu, với những truyện ngắn sâu sắc, đa dạng. Và khi truyện Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu xuất hiện, không ít người nghĩ rằng Trần Vũ là một trong những nhà văn trẻ tiêu biểu cho văn học hải ngoại. Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu được xây dựng chung quanh chủ đề kẻ song trùng, truyện khéo léo đưa độc giả dần dần vào một không khí kỳ ảo, rờn rợn. Chẳng bao lâu hai tập truyện ngắn được trình làng : Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu (Thời Văn xuất bản năm 1988, Hồng Lĩnh tái bản năm 1994) và Cái chết sau quá khứ (Nxb Hồng Lĩnh, 1992). Ngoài ra, những truyện ngắn khác vẫn tiếp tục xuất hiện trên tạp chí Hợp Lưu.

Trần Vũ có lối viết già dặn, cốt truyện thường đi sâu vào những ngõ ngách của mỗi cảnh sống, cảnh sống bất thường (Mưa bên chồng, Phố cổ Hội An), cảnh sống quá đen tối, khủng khiếp (Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé), v.v… Bởi thế người ta có cảm tưởng đây là một nhà văn từng trải. Thật ra trong những năm 80, Trần Vũ hãy còn rất trẻ, tuổi chỉ ngoài 20. Anh vượt biên sang Pháp tị nạn vào khoảng 17 tuổi, hành lý của anh là những kỷ niệm của quê hương miền Nam vào thời đổi đời, với một tuổi trẻ khốn khổ, sống lăn lóc, và những cảnh hãi hùng của cuộc vượt biên. Với một hành lý đau thương như thế, người con trai mới lớn, bơ vơ nơi xứ người, chỉ còn biết tìm an ủi bằng ngòi bút. Và ngòi bút giàu tưởng tượng của Trần Vũ đã đem lại cho tác giả một tên tuổi.

Nhưng rồi trong các truyện, Trần Vũ tỏ ra ngày càng bạo dạn, chẳng bao lâu hư cấu của Trần Vũ đi quá xa, về những vấn đề lớn lao như lịch sử, tôn giáo, hoặc quá thẳng, vượt qua hàng rào cấm kỵ trong vấn đề tình dục, gây nhiều động chạm, công phẫn trong giới độc giả. Phải chăng vì lúc đó Trần Vũ còn quá trẻ ? Tuổi trẻ thường có những xu hướng cực đoan. Phải chăng Trần Vũ chịu ảnh hưởng của Tây phương ? Xã hội Pháp, sau biến cố tháng năm sáu mươi tám, sau một cuộc cách mạng văn hóa, đã mất mát nhiều về kỷ cương đạo đức, tuổi trẻ ở Tây phương quá tự do, xem thường tất cả. Tuy nhiên, những điều trên đây chỉ là những nghi vấn.

Truyện Giấc Mơ Thổ, viết năm 1994, đã chịu nhiều phê bình nghiêm khắc. Có phải những cảnh khoái dâm sống sượng đã động chạm đến mỹ cảm của độc giả ? Nhà văn hóa Phạm Quỳnh khi xưa đã đề cập đến vấn đề mỹ cảm, trong bài Đẹp là gì ? Mấy lời bàn về mỹ học. Ông nhìn nhận cái đẹp và cái lành không giống nhau, mỹ thuật với đạo đức không thể lẫn được. Tuy nhiên, một tác phẩm mỹ thuật cũng cần phải giữ cho không hại đến phong tục trong nước, lương tâm người ta ; cái thú của mỹ thuật phải là cái thú chính đại quang minh ; không nên là cái thú thiên tà khuất khúc. Nhận xét của Phạm Quỳnh tuy viết vào năm 1917, vẫn phản ánh phần nào mỹ cảm của một số độc giả ngày nay, quen đọc truyện một cách hồn nhiên, dễ tin, tức đọc truyện ở mức độ 1, sát với văn bản, và không quen thấy cái xấu, cái ác trong những tác phẩm văn học hiện đại, Thiện có phần nặng hơn Mỹ. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng đây là một giấc mơ, và theo phân tâm học, trong giấc mơ vô thức tự do hiển hiện, không bị kiềm chế.

Sau khi mọi xôn xao đã lắng xuống, chúng ta thử đọc lại truyện Giấc Mơ Thổ. Cũng cần thưa rõ với bạn đọc ngoài nguyên bản của Giấc Mơ Thổ đăng trên Hợp Lưu số 19, còn có một bản khác đăng trong bộ sách 20 năm Văn học Việt Nam Hải ngoại 1975-1995, do Trương Đình Nho chủ trương, Đại Nam xuất bản, năm 1995, văn bản thứ hai này bị cắt xén một phần, như thế thiếu đi một chiều kích của truyện. Đương nhiên tôi chọn nguyên bản của Hợp Lưu để có một cái nhìn toàn diện.

Giấc Mơ Thổ cần được giải mã, để hiểu ý nghĩa truyện và nghệ thuật hư cấu của tác giả.

Giấc Mơ Thổ, một giấc mơ có cấu trúc

Trong cuốn L’interprétation des rêves (Giải thích những giấc mơ) (1899), Freud trình bày lý luận của ông về những giấc mơ. Ông định nghĩa giấc mơ như sau : Giấc mơ là sự thực hiện ngụy trang của một ham muốn, hoặc : Giấc mơ là con đường vương giả của vô thức. Giấc mơ là một lối thoát của vô thức. Con người có nhiều ham muốn, thế nhưng có những ham muốn đi ngược lại với kỷ cương của đời sống trong xã hội, với những điều răn dạy của đạo đức. Cho nên trong đời sống ban ngày, những ham muốn của vô thức bị ý thức kiểm duyệt, kìm nén. Nhưng ban đêm, trong giấc mơ, vô thức tha hồ tung hoành, những ham muốn điên rồ nhất, quái gở nhất, đều được tự do thực hiện, dưới hình thức này hay hình thức khác. Và lý luận của Freud cho phép giải thích phần nhiều những giấc mơ đó.

Vậy không có gì đáng ngạc nhiên, nếu trong Giấc Mơ Thổ có những chuyện không thể xảy ra được trong đời sống hiện thực, vì đây là một giấc mơ ; không phải giấc mơ của tác giả mà chỉ là một giấc mơ hư cấu, một giấc mơ có cấu trúc hẳn hòi. Truyện mở đầu bằng câu : Chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy ở khuôn mặt, trong đôi mắt, nhưng ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Câu này được lặp lại bốn lần, trở thành một câu nhạc chủ đạo, một leitmotiv. Mỗi leitmotiv đưa vào một cảnh mới trong giấc mơ. Và cái sườn của giấc mơ được phác họa như sau :

Cảnh 1 : Tiệc rồng.

Cảnh 2 : Cái chết của tuổi thơ và khoái lạc.

Cảnh 3 : Cái chết của hội họa.

Cảnh 4 : Tội ác và trừng phạt.

Trước khi đi vào giấc mơ, chúng ta cần làm quen với các nhân vật. Quý có vợ là Quỳ và con gái là Nữ. Ngoài gia đình của Quý còn có những người bạn : Chiến, Vĩnh, người kể truyện, cái tên Vĩnh chỉ xuất hiện lần đầu tiên ở trang 14, và một họa sĩ tên Đình. Đình sống biệt lập trong xưởng vẽ. Mỗi nhân vật có những nét đặc thù.

Quý trước kia gương mặt cằn cỗi, môi thâm, má hóp, có chứng sốt rét rừng vì đã từng đi B, đã có mười năm vượt Trường Sơn. Nhưng từ khi có cơ ngơi, mặt anh ta tươi hẳn lên.

Chiến thì mang trong lòng kỷ niệm của chiến tranh, là kẻ bại trận, bị lịch sử xóa bỏ, luôn luôn im lặng. Thỉnh thoảng giữa Quý và Chiến có những căng thẳng. Nếu Quý hô : Mười năm chống Mỹ ! thì Chiến hô : Mười năm kháng Cộng ! 

Quỳ có vẻ đẹp lẳng lơ, khêu gợi, là một người đàn bà hoang dâm.

Nữ, đứa con gái mới lớn, đẹp giống mẹ, bị Tây hóa, chỉ nói tiếng Pháp, thích nhạc Rock và đòi hỏi được tự do. Nữ từ chối cái căn cước Việt Nam, từ chối cái tên Nữ, mà cô đọc là Nue (con gái trần truồng), và khẳng định cái tên Marie của cô. Quý càng bảo thủ chừng nào thì con gái càng nhiễm văn hóa Tây phương chừng đó. Trong khi Quý cấm con gái ngủ với người Thổ, thì Nữ đòi sang Đức sống với Mohamed, và cho rằng cha mẹ của cô cũng là những người di dân, những người Thổ. Tóm lại giữa Quý và con gái có một bức tường dày đặc.

Vĩnh bị kỷ niệm cuộc vượt biên dằn vặt. Vĩnh vừa là nhân chứng của tội ác vừa là đồng lõa ; vả chăng Vĩnh có nhiều ham muốn xác thịt, vừa muốn ngủ với Quỳ vừa thèm muốn Nữ, và cũng đã phạm tội ác.

Cảnh 1 : người kể truyện kể Tết Giáp Tuất về sống ở ngôi nhà của Quý. Quý sở hữu một cơ ngơi vĩ đại, sừng sững với 50 gian nhà, xây cất như một lăng vua khi xưa.

Mỗi buổi trưa vợ chồng Quý bày ra tiệc rượu mà đồ nhắm là tim phượng, thịt rồng, rồng luộc có, rồng nướng có. Quý cho rằng bên này muốn ăn thịt rồng bao nhiêu cũng được vì là thịt rồng đông lạnh. Những cử chỉ của Quý tiết lộ sự thèm muốn thịt rồng của anh ta : Quý vươn tay gắp một mẩu lòng, cắn vào chính giữa chỗ dai dai tựa đầu nấm vú. (tr. 106) Quý đang chặt rồng. Vừa nhổ những chiếc vẩy bạc, tiện tay nhón một mẩu bầu dục còn sống ở bià thớt, chưa xiên, chưa nướng, bỏ tọt vào miệng. (tr. 107) Chiến và Vĩnh ăn uống thỏa thuê. Vĩnh thưởng thức tận cùng tác dụng của rượu hồi : Hồi nguyên chất đậm đặc. Nồng. Pha thêm nước lã thơm ngai ngái, vàng khói phất lên khứu giác ngất ngưởng. Cốc hồi tan vào máu làm thịt gân tôi nẩy giật. Nghe được cả những âm thanh của búp hồi nở ở gan bàn chân. (tr. 107)

Sau thịt rồng và rượu hồi, Quý bày ra đánh bài. Nữ đi học về, bị Quý mắng là vô lễ, không chào hỏi ai. Quý nói : Con gái bên này mất nết. Rồi Quý khui thêm rượu đỏ Pomérol.

Vĩnh say rượu và bị bội thực, ngã lăn ra. Chiến cố làm những động tác để ngăn Vĩnh nôn mửa, Quỳ thì cho Vĩnh uống trà Thổ đậm đặc, nóng bỏng. Trong cơn say, Vĩnh thấy đuôi rồng, vòi rồng uốn lượn quanh cơ ngơi.

Cảnh 2 : Cũng trong cơn say, Vĩnh lạc vào giấc mơ vượt biên. Một giấc mơ trong giấc mơ. Vĩnh xuống tàu vượt biên, có mẹ đưa tiễn, mẹ không giữ con lại để che chở. Đứa con đối diện với cái chết, cái chết của bạn bè ngoài khơi, cái chết của chính mình. Vượt biên là những cuộc tự sát tập thể. Vĩnh bị đám thủy thủ hành hung, cắt lưỡi để không còn nói được tiếng mẹ đẻ, thọc mắt để không còn thấy được quê hương.

Khi Vĩnh tỉnh dậy, nghe tiếng thắt bóp của mạch máu trong người và cảm thấy một sự thèm muốn. Vừa lúc đó Quỳ xuất hiện, giở trò cám dỗ Vĩnh. Người đàn bà thông dâm này có một ham muốn như thú vật. Trong cơn khoái lạc, Vĩnh lại trở về kỷ niệm tuổi thơ tự sát ngoài biển. Vĩnh thấy lại quê hương, muốn trở về nhà, muốn ngã vào lòng mẹ, nhưng bị Quỳ ghì siết.

Cảnh 3 : Vĩnh vào xưởng vẽ của Đình, có rất nhiều tranh, nhưng điều lạ là chỉ có màu trắng. Không những các bức tranh toàn là màu trắng, mà cả xưởng đều trắng : … trắng ngát khắp gian phòng. Tường, thảm, bàn, ghế, trần, nền, cũng toàn trắng. (…) Màu trắng lan chiếm tất cả : Bao nhiêu dầu thông, týp màu, Đình bóp, trét, rồi vẩy, ném trát lên khung vải từng mảng, từng bệt, từng đùm, từng palette xanh, xám, đỏ, tím, đen, vàng, chỉ khắc trước khắc sau là biến mất. Trở y màu trắng. (…) Bàn tay Đình lún vào mặt vải, vùng vẫy. Cả thân mình dằn co với tấm tranh. (…) Giống Đình đang giết người, đâm vào bụng kết liễu một kẻ nào đó, rồi bị đâm trả lại, người anh co gập tự vệ, chống chỏi trước một lực vô hình. (tr. 115)

Vĩnh muốn cứu Đình nhưng lại bị kéo vào một bức tranh kỳ dị làm cho  thần trí bị tê liệt. Khi Đình kéo Vĩnh ra khỏi bức tranh như thể kéo Vĩnh ra khỏi gia đình và người thân, Vĩnh lại trở về với ám ảnh của cuộc vượt biên.

Đình thú nhận sự bất lực của mình : Mấy tháng nay không vẽ được. Ý có nhiều mà tranh không lên hình. Rồi thình lình Đình bỏ đi.

Cảnh 4 : Câu leitmotiv đưa vào cảnh này đặc biệt dài hơn, không nói đến tuổi trẻ mà nói đến tuổi thơ vô tội, lúc Vĩnh chưa phạm tội với Quỳ.

Chiến mê Quỳ, đưa Quỳ đi sắm sửa với chiếc xe Jeep của quân đội.

Có sự cãi cọ giữa Quý và con gái vì văn hóa dị biệt. Nữ nói không thể thích ứng được với một thế giới mà cô không hiểu. Quý tức giận, mắng con là Đồ đĩ

Quý dẫn Vĩnh đi xem Phật Điện mà anh ta cho xây cất như chùa Keo, vì anh ta quá nhớ quê nhà, anh ta uống rượu Armagnac với Vĩnh rồi rũ Vĩnh đi săn sơn dương.

Đến đây cuộc săn rồng bắt đầu. Dưới mắt Vĩnh, một cảnh huyền thoại hiện ra : một bầy rồng đẹp đang uốn lượn, đậu trên nóc Đền Hùng. Vĩnh tìm lại được bầy rồng của tuổi thơ, trong sách sử. Nhưng Quý đã đưa cao súng bắn xối xả vào bầy rồng, Vĩnh la gào, níu kéo bị Quý đạp ngã lăn. Bầy rồng chết. Vĩnh là chứng nhân cuộc tàn sát, anh ta mang mặc cảm tội lỗi.

Có tin Đình chết.

Sau buổi săn rồng, cơ ngơi của Quý có phần lạnh lẽo, Quý như một kẻ đánh mất gia phả.

Tối 30 Tết, mọi người bắt tay vào làm các món ngon với thịt rồng vừa săn. Vĩnh cuối cùng cũng thích ăn thịt rồng tươi, ngon hơn rồng đông lạnh. Họ luộc thịt, nướng chả, làm các món lẩu, lòng, gỏi bao tử trộn bưởi, v. v… Mọi người ăn uống thỏa thích. Đến sáng mồng một mới cảm thấy một nỗi buồn tê tái, tự biết mình phạm tội tổ tông và chờ hình phạt. Và hình phạt đã đến.

Nữ đi biểu tình chống kỳ thị trở về báo cho mọi người biết cô muốn bỏ nhà đi, đi với bồ. Quý không đồng ý, đánh Nữ một trận nên thân và nhốt con gái trong phòng.

Rồi cuộc chiến tái diễn giữa Quý và Chiến là hai nhân vật điển hình của đôi bên Bắc Nam ; tên khí giới và những ngày lịch sử cũng nói lên nguồn gốc Bắc Nam : Tiếng M-16 chen lẫn tiếng AK. Tiếng đại bác 155 ly pháo cùng lúc với sơn pháo 130 ly từ trong núi thúc xuống. (…) Ngày hôm nay là ngày 19 tháng 6 Quân lực VNCH, cũng là ngày 2 tháng 9 Tuyên Ngôn Ba Đình lịh sử. (tr. 124)

Trong khi Quý và Chiến giao tranh khiến cơ ngơi của Quý cháy rụi, thì Vĩnh  có một ham muốn mới, đầy kích thích : ham muốn tuổi thơ qua con người của Nữ.  Vĩnh mê vẻ đẹp thơ ngây của Nữ và đã hiếp nữ một cách tàn bạo, đi tận cùng tội ác.

Vào cuối giấc mơ, Quý và Chiến lãnh án 20 năm tù vì tội đốt rừng, Vĩnh bị án 10 năm tù vì tội hiếp dâm vị thành niên. Quỳ đi lấy ngoại kiều. Nữ sống hạnh phúc với Mohamed.

Nhiều năm sau Tết Giáp Tuất, Vĩnh trở lại nơi chốn cũ, cơ ngơi của Quý không còn nữa, rừng núi, bãi biển biến mất, chỉ có khách sạn và nhà hàng mọc lên.

Ảo và Thực

Trong Giấc Mơ Thổ cái ảo và cái thực hoà lẫn nhau. Trước hết không gian và thời gian được ảo hóa. Thời gian không trôi, thời gian dừng lại ở Tết Giáp Tuất. Còn không gian thì hiển nhiên là một không gian ảo, không có thật ở ngoài đời : một cơ ngơi quá đồ sộ : 50 gian nhà có cổng Đại Môn, với Phật Điện, tháp Bảo Nghiêm, sân trước có chín đỉnh đồng, sân sau có hồ Ba Bể, hồ Ba Bể của truyện truyền kỳ làm tăng ảo tính của truyện. Cơ ngơi quá mênh mông đến nỗi rừng tràn đến thềm nhà.

Tác giả đưa vào cái không gian chiêm bao đó những yếu tố ảo khác như cuộc săn rồng, tiệc rồng, hiện tượng mất hình vẽ. Rồng là một vật thần thoại, làm sao ăn được thịt của một con vật thần thoại ? Cũng như sự chống chọi tuyệt vọng của một họa sĩ bất lực trước một màu trắng đầy đe dọa, lan tràn khắp nơi. Và rồi cuộc vượt biên hãi hùng vượt xa một cơn ác mộng.

Trong cái thế giới ảo làm rợn người đó, bỗng nhiên xuất hiện những cảnh của thế giới thực, thế giới bình thường : Nữ đi học về không chào hỏi ai bị Quý mắng, Nữ đi biểu tình chống kỳ thị. Cha con cãi vã nhau bằng hai thứ tiếng, với cách nhìn tương phản của hai nền văn hóa Việt-Pháp. Nữ tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam lớn lên ở xứ người, bị cắt đứt với nguồn gốc, ngày càng xa cha mẹ. Quý thường nhắc « bên này » tức ở hải ngoại, một không gian xa quê hương. « Bên này» có thịt rồng đông lạnh, « bên này » con gái mất nết. Rồi Quý lại bảo lãnh cho những người thân qua bên này, họ sống lúc nhúc trong dinh cơ, bày trò buôn lậu. Chính con người của Quý cũng nhắc nhở một quá khứ có thật : Quý là một bộ đội má hóp, môi thâm, đã từng vượt Trường Sơn, Quý vẫn còn những khí giới của miền Bắc : súng AK, thượng liên 12 ly 7, súng chống tăng B40… Còn Chiến là lính miền Nam, đã từng có mặt ở căn cứ hỏa lực Hạ Lào năm 71, Chiến muốn sống lại chiến tranh, anh ta vẫn còn chiếc Jeep của quân đội miền Nam.

Nghệ thuật xây dựng giấc mơ của Trần Vũ làm cho cái ảo và cái thực đan vào nhau, khiến người đọc đôi khi bỡ ngỡ, mất hướng.

Giấc Mơ Thổ qua lăng kính của biểu tượng

Truyện Giấc Mơ Thổ hàm nhiều biểu tượng và cần được đọc ở mức biểu tượng để làm nổi bật những nghĩa chính.

Biểu tượng trước hết là một ký hiệu. Biểu tượng có một tương quan với cái nó biểu tượng. Theo bản chất, biểu tượng có tính lập lờ. Một đồ vật có thể có nhiều ý nghĩa và là biểu tượng của nhiều ý nghĩa đó. Một con sư tử trước hết chỉ là một con thú vật. Khi nó trở thành biểu tượng, sức mạnh và can đảm của nó khiến nó thành biểu tượng của người anh hùng ; cái dáng uy nghi của nó làm nó trở nên biểu tượng của vương quyền.

Nhà triết học Đức Hegel khẳng định rằng biểu tượng không phải là kết quả của một lựa chọn tùy tiện và không phải là một chỉ định theo quy ước, mà nó là một đơn nhất hàm nhiều nghĩa bên trong.

Biểu tượng có khả năng quy tụ những con người trong cùng một cộng đồng và do đó loại trừ những cộng đồng khác. Biểu tượng làm cho cộng đồng vững mạnh. Việc khẳng định sự thuộc về một cộng đồng xây dựng lai lịch của cộng đồng đó.

Biểu tượng không chỉ có một ý nghĩa, một vai trò nhận thức mà nó còn có một sức mạnh và có tính hiệu nghiệm. Chẳng hạn việc kéo lá cờ lên cao bắt buộc cách chào nghiêm theo quân đội, một dòng tu đòi hỏi im lặng và sự tĩnh tâm.

Đọc Giấc Mơ Thổ qua lăng kính của biểu tượng để thấy chủ đề duy nhất là cái chết. Ngay từ đầu đã có dấu hiệu của cái chết : cơ ngơi của Quý được kiến trúc như một lăng vua khi xưa. Có ba biểu tượng để minh họa chủ đề chết : thịt rồng biểu tượng cho cái chết của dân tộc, màu trắng biểu tượng cho cái chết của nghệ thuật và cuộc vượt biên biểu tượng cho cái chết của tuổi thơ.

Cái chết của dân tộc được diễn đạt qua việc giết rồng và ăn thịt rồng. Như chúng ta đã biết, nguồn gốc của dân tộc Việt Nam khởi đầu bằng huyền thoại Rồng Tiên.

Các nước trên thế giới đều có một thời tiền sử với những huyền thoại lập nước.

Huyền thoại là một truyện kể có tính biểu tượng và được phổ biến bằng truyền khẩu, từ đời này sang đời kia ; truyện dựa vào những quyền lực siêu tự nhiên và hy vọng những quyền lực đó làm sáng tỏ thân phận con người, đáp lại những câu hỏi căn bản mà con người tự đặt ra : Con người là gì ? Thế giới từ đâu đến ? Có cái gì sau cái chết ? Sức gợi cảm thi vị của huyền thoại gây thích thú và làm cho con người có nhiều mơ ước. Những hình tượng của huyền thoại nuôi dưỡng tư duy của con người và tạo nên một liên hệ căn bản trong mọi cộng đồng.

Ở nước ta, vào thời huyền thoại, Lạc Long Quân nối ngôi cha là Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân lấy Bà Âu Cơ sinh một trăm cái trứng, tức một trăm con. Lạc Long Quân là Rồng, đem năm mươi con xuống biển phía Nam. Âu Cơ là Tiên đem năm mươi con lên ở vùng đất Việt Trì. Người anh cả là vua Hùng. Các vua Hùng của bộ lạc Văn Lang tiếp nối nhau giữ ngôi vua.

Huyền thoại phát xuất từ Âm Dương. Cha là Rồng, là Dương, biểu tượng cho sức mạnh. Rồng là vật thần thoại, nhưng trong quan niệm của người Việt Nam, Rồng tượng trưng cho kiêu hùng, Rồng là chúa tể của biển cả. Nhà biên khảo Vũ Ký viết : Rồng gặp Tiên là Âm Dương kết tụ, là sự kiêu hùng của sức mạnh trần thế kết hợp với Chân, Thiện, Mỹ ở nơi non Bồng nước Nhuợc, tức thế giới vĩnh cửu, mà Thiên Chúa giáo gọi là Thiên đàng, Phật giáo gọi là Cực lạc. Người Việt Nam rất tự hào là con Rồng cháu Tiên, có nghĩa là tự hào về sự kiên cường, anh dũng của dân tộc, về sức mạnh của dân tộc, về vẻ đẹp tuyệt vời của Mẹ Việt, vẻ đẹp của tinh thần.

Trong Giấc Mơ Thổ, Quý giết rồng, Quỳ nướng thịt rồng, mọi người ăn thịt rồng, tức phạm tội diệt tổ tiên, diệt nòi giống Rồng Tiên. Khi chọn hai cái tên Quý và Quỳ, tác giả muốn chơi chữ chăng ? Theo Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh thì trong thần thoại xưa quỷ có chín đầu gọi là quỳ. Quý và Quỳ là hai bộ mặt của ác quỷ và là biểu tượng của tội ác. Cái tên Chiến cũng có giá trị biểu tượng, vì là tên của một người mang nặng ám ảnh của chiến tranh. Trong Giấc Mơ Thổ, chiến tranh Việt Nam vẫn còn đấy. Quý, biểu tượng của người lính miền Bắc, và Chiến, biểu tượng của người lính miền Nam, hai bên xả súng bắn nhau, làm tái diễn cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, gây nên tội ác diệt chủng.

Biểu tượng thứ hai là màu trắng. Màu trắng xóa sạch hình vẽ và màu sắc. Màu trắng là sự trống rỗng, là độ không của sáng tạo. Trong Giấc Mơ Thổ, hội họa của Đình biểu tượng cho nghệ thuật nói chung, và nghệ thuật là sự sáng tạo cái đẹp. Một khi dòng giống con Rồng cháu Tiên đã chết, thì cái Đẹp của con Rồng cháu Tiên không còn lý do để tồn tại, cái Đẹp và nghệ thuật tạo ra cái Đẹp cũng chết theo.

Biểu tượng thứ ba là cuộc vượt biên, biểu tượng cho cái chết của tuổi thơ. Tuổi thơ của Vĩnh và nhiều tuổi thơ khác đã bị giết hại trong cuộc vượt biên. Vĩnh mang trong lòng hình ảnh cuộc tàn sát tập thể. Tuổi thơ ngoài biển đã trở nên câm và mù, không còn nói được tiếng quê hương, không còn tìm được đường về quê hương. Trong lúc thông dâm với Quỳ, Vĩnh hướng về tuổi thơ, về người mẹ để cầu cứu. Nhưng bị Quỳ níu kéo. Vĩnh bị giằng xé giữa hai mẫu người phụ nữ : người mẹ, biểu tượng của tình mẫu tử, của sự hy sinh, của sự sống và của cái Thiện ; và Quỳ, người phụ nữ dâm dật, ngoại tình, biến thịt rồng thành của ăn, là biểu tượng của sự chết, của cái Ác. Tóm lại, Vĩnh bị giằng xé giữa cái Thiện và cái Ác, và đã trượt ngã qua cái Ác. Từ một nạn nhân trong cuộc vượt biên, Vĩnh trở nên một tên đao phủ để trở lại giết tuổi thơ, bằng cách hãm hiếp Nữ. Nữ là một cô gái mới lớn, còn ngây thơ, trong trắng, là biểu tượng của tuổi thơ.

Ba cái chết liên kết với nhau, cái chết của cái Đẹp, của Tuổi Thơ là hậu quả của cái chết của nòi giống Tiên Rồng.

Các nhân vật trong Giấc Mơ Thổ thuộc ba thế hệ : thế hệ chiến tranh (Quý, Chiến), thế hệ thoát chiến tranh với những chấn thương tâm thần (Vĩnh) và thế hệ hậu chiến trôi dạt xa quê hương, mất nguồn gốc (Nữ). Con cháu Tiên Rồng vào thời hiện đại đã hoàn toàn mất trí nhớ, quên công ơn của những bậc anh hùng dựng nước thời xưa, để lao vào lửa, để tàn phá, chém giết nhau. Hiện tượng mất trí nhớ khiến tuổi trẻ không còn biết dòng dõi Tiên Rồng nữa.

Cũng trong giấc mơ, Tết Giáp Tuất được nhắc lại nhiều lần, tất cả các biến cố đều xảy vào Tết Giáp Tuất. Tại sao ? Năm Giáp Tuất là năm 1994, vào thời điểm đó, chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt từ lâu. Tác giả như muốn nhắc nhở rằng gần hai thập niên sau, những vết thương do chiến tranh và cuộc vượt biên gây nên vẫn còn là một ám ảnh đau đớn, dai dẳng, một ám ảnh mà nghệ thuật dựng truyện kỳ ảo và bút pháp của Trần Vũ làm cho nặng nề, ngạt thở. Hệ thống biểu tượng cho thấy dưới hình thức một giấc mơ, một cơn ác mộng, Trần Vũ đã kể lại một thời kỳ bi thảm của lịch sử Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo :

1/ Le symbole et son interprétattion, sous la direction de Françoise Raffin et Michel Antiquet, Vol. I, Éditions Delagrave, 2004.

2/ Phạm Quỳnh, Tuyển tập và Di cảo, An Tiêm, Paris, 1992.

3/ Vũ Ký, Luận cương về Văn Hóa Việt Nam, Tập I, Trung tâm Văn Hóa Xã Hội Việt Nam tại Bruxelles, 1995.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẾP LỬA CỦA THANH TÂM TUYỀN, MỘT TÁC PHẨM CỦA TUỔI ĐÔI MƯƠI

 

Có một thời báo chí Pháp đã rầm rộ biểu dương hiện tượng Sagan. Cô gái Françoise Quoirez – về sau lấy bút danh Françoise Sagan – trong kỳ nghỉ hè năm 1953, sau khi thi đỗ tú tài, đã viết một mạch trong sáu tuần lễ truyện Bonjour tristesse. Cuốn sách được xuất bản năm 1954, chẳng mấy chốc tên tuổi của Françoise Sagan lẫy lừng. Cốt truyện gây sốc cho các nhà đạo đức, nhưng cuốn sách là một thành công bất ngờ, đã đưa tác giả lên đài vinh quang.
Ở ta cũng vào thời đó, cách nhau hai năm, tức vào năm 1956, cũng có một hiện tượng, tuy không ồn ào như bên trời Tây, nhưng nó đã đưa vào văn học sử Việt Nam một tên tuổi lớn, tôi muốn nói đến hiện tượng Thanh Tâm Tuyền. Không gọi hiện tượng sao được khi một chàng trai vừa mới lớn đã góp mặt với đời bằng một tập thơ độc đáo và một truyện dài. Quả thật Thanh Tâm Tuyền với tập thơ Tôi không còn cô độc ra năm 1956, năm ông hai mươi tuổi, đã gây một biến cố trong nền thi ca Việt Nam, và cuốn truyện Bếp Lửa xuất bản năm 1957 không để người đọc dửng dưng.
Tôi mong sẽ có dịp bàn về thơ Thanh Tâm Tuyền. Giờ đây chỉ xin đọc truyện Bếp Lửa. Cũng như Françoise Sagan viết Bonjour tristesse một mạch trong sáu tuần lễ, Thanh Tâm Tuyền cho biết, trong Lời Tựa năm 1973, nhân dịp cuốn sách được in lần thứ tư, rằng ông viết Bếp Lửa một hơi khoảng hai ba tháng. Tác giả viết truyện này ở tuổi đôi mươi, khi chưa có kinh nghiệm sống, nhưng đã bày tỏ một cách chân thật tâm trạng của một thế hệ trẻ trước vận mệnh của đất nước, và đã phác họa một nghệ thuật viết tinh tế. Ngày nay đọc lại Bếp Lửa để thấy truyện vừa đánh dấu một thời lịch sử đen tối vừa tiết lộ một tài năng đầy hứa hẹn.

Hà Nội trong tình trạng chờ đợi
Truyện Bếp lửa gồm 7 chương. Hà Nội, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Hải Phòng là những không gian của truyện. Nhân vật Tâm, tức người kể truyện, đang sống ở Hà Nội, trước ngày đất nước chia đôi. Tâm có một cô em họ xa tên Thanh mà Tâm đem lòng yêu mến, cô gái này sống trong một hoàn cảnh khó khăn, ngoài việc thêu may cô còn đi hát ở đài phát thanh để nuôi đứa em gái tên Minh đi học. Tâm mồ côi mẹ, sống với người bố dượng : ông Chính. Hình ảnh người mẹ quá cố thắt chặt tình thân giữa ông Chính và Tâm. Đây đó vẫn còn tiếng súng, chiến tranh chưa chấm dứt ; thành phố Hà Nội sống trong tình trạng mập mờ, như đang chờ đợi những thay đổi lớn. Con người cảm thấy khắc khoải, lo âu. Riêng Tâm, cũng như các bạn của anh, tâm hồn đầy trăn trở, tự đặt nhiều câu hỏi mà không có lời đáp. Tâm và một người bạn là Đại đọc sách nhiều, tìm hiểu thuyết Mác xít. Đại bị đảng Cộng sản lôi cuốn, nên anh có ý định ra ngoài, tức đi theo cộng sản. Tâm không đồng ý với Đại. Để thay đổi không khí, Tâm xin một chỗ dạy học trong một trường Công giáo ở Bắc Ninh. Tại trường này, Tâm quen một tu sĩ trẻ tên Nhiên, bạn mới của Tâm. Nhiên tỏ ra ân cần, cởi mở đối với Tâm, và giữa đôi bạn đã có sự bàn luận về Thượng Đế, nhưng chẳng đi đến đâu. Tâm gặp lại Long, một người bạn của thời đi học. Long vẫn ở lại Đáp Cầu, một thị trấn bị chiến tranh tàn phá. Đáp Cầu nhắc cho Tâm nhiều kỷ niệm của tuồi thơ, nơi đây mẹ đi buôn xa, Tâm sống với bà ngoại. Tâm dự đám cưới của Long ; gặp lại Hạnh, cô bạn thuở nhỏ, nay đã góa chồng, cảnh sống khó khăn. Chẳng bao lâu Hạnh và Tâm gần gũi nhau ; đã nhiều lần hai người cùng về Hà Nội, ngủ chung ở khách sạn. Chiến tranh và những căng thẳng tinh thần khiến Hạnh lao mình vào đam mê của tình yêu. Ngoài những chuyến về Hà Nội riêng với Hạnh, cũng có những lúc Tâm đến thăm chị em Thanh, Tâm vui vì Không khí gia đình ấm cúng suốt bữa cơm. Tâm thường đến ngủ nhà Bảo, một người bạn thân. Bảo cùng vợ buôn bán lặt vặt để sống cho qua ngày. Tâm và Bảo được tin Ngọc đã tìm được một giải pháp là lên đường đi xa. Phần Đại dọn đến ở nhà ông Chính và dan díu với Thịnh, con gái của ông. Tâm khinh Đại và cho rằng Đại là một người hèn. Tâm giúp Thanh sắp đặt đám cưới của em Minh với Chu. Sau khi đứa em đi lấy chồng, Thanh thấy không còn lý do gì để đi hát nữa, cô quyết định ngưng hát. Trở lại Đáp Cầu, Tâm được biết Hạnh đã ra ngoài và có lẽ đã bị giữ lại. Tâm nghĩ sẽ không còn bao giờ gặp lại Hạnh nữa. Ngọc viết thư cho Tâm thúc dục Tâm đi Hải Phòng để đôi bạn sống với nhau ít ngày, trước khi Ngọc lên đường. Tâm xin phép cha Tân, linh mục phụ trách nhà trường, nghỉ hai tuần. Nhưng một cách bất ngờ cha Tân cho Tâm nghỉ luôn mà không nêu lý do. Về đến Hà Nội, Tâm được biết ông Chính vừa mới mất, Tâm khóc nhiều khi trông thấy mặt ông. Đại vắng mặt trong tang lễ. Tâm nhận thấy Thịnh có thai mà Đại lại bỏ đi. Thịnh cho biết Đại đã ra ngoài, cô muốn trả nhà lại cho Tâm và định đi làm vú em nơi xa. Tâm khuyên Thịnh bán hết đồ đạt trong nhà để làm vốn. Tâm về nhà Bảo, tin cho bạn biết ngày hôm sau sẽ đi Hải Phòng. Nhưng Tâm vẫn sống trong tâm trạng lạc lõng. Trước giờ xe chạy Tâm lại có ý định bỏ chuyến đi. Tôi không biết xuống Ngọc xong tôi sẽ làm gì hoặc đi đâu. Đến Hải Phòng Tâm được biết Ngọc đã xuống tàu đi đã hai ngày rồi.
Ngọc và Đại đã ra đi, ông Chính chết, Tâm rơi vào tâm trạng tuyệt vọng, nghĩ đến việc tự tử, nhưng nhận thấy tự tử không giải quyết được gì.
Vào cuối truyện, Tâm đang ở miền Nam, nhận được thư của Thanh từ miền Bắc và được nghe tiếng hát của Thanh trên đài, Thanh vẫn hát bản nhạc Trờ về mái nhà xưa như năm nào. Tâm cảm thấy yêu quê hương đã rời bỏ và yêu Thanh vô cùng. Làm sao đừng mơ một bếp lửa ấm áp trong mái nhà xưa, một hình ảnh biểu tượng cho quê hương đã mất.

Lý tưởng nào cho tuổi trẻ trong một đất nước ngả nghiêng ?
Trong Lời Tựa viết năm 1965, khi cuốn Bếp Lửa được tái bản, Thanh Tâm Tuyền nói lúc viết cuốn sách, ông chưa phải là nhà văn. Thế nhưng ông đã nói lên được những trăn trở, buồn phiền của một tuổi trẻ mà do sự tình cờ của lịch sử đưa đẩy, đã bị bắt buộc phải lựa chọn cho mình một hướng đi, và sự lựa chọn đó có tính quyết định cho cả một đời.
Họ là sáu người thanh niên : Tâm, Đại, Long, Nhiên, Bảo và Ngọc, sống vào thời điểm gay cấn của năm 1954 ; con sông Bến Hải sắp sửa lãnh nhận một vai trò lịch sử quá nặng nề. Trong số các bạn của Tâm, Long là người không hề thắc mắc cho tương lai, không hề tự đặt những câu hỏi rắc rối. Long chấp nhận sống ở Đáp Cầu, nơi chốn của tuổi thơ. Long lấy vợ, sắp có con, làm hương sư cho đám học trò nghèo. Long có một cuộc đời khiêm tốn, không tham vọng. Nhiên, người bạn mới của Tâm, thì chọn lựa cho đời mình con đường thiêng liêng do Thiên Chúa dìu dắt. Nhiên có đức tin và ơn gọi nên rất bình an trong tâm hồn. Còn lại Tâm, Đại, Bảo và Ngọc. Có ít nhiều trao đổi, bàn luận, giữa các người bạn này.
Đại và Tâm có những hiểu biết về đảng Cộng sản, nhưng Tâm chưa thấy gì rõ ràng, vẫn sống trong tâm trạng mù mờ, chơi vơi. Khi Đại báo tin có ý định ra ngoài, thì Tâm nói :
– Nhưng cậu hẳn biết tôi không đồng ý với cậu. Nhưng tôi không thể phản đối cũng như khuyên cậu điều gì cả. Ở lại đây ư ? Để làm gì mới được ? Bằng chứng là tôi cũng không giải quyết nổi cho tôi. Còn đi ? Nhưng cũng để làm gì mới được ?
– Hẳn phải có việc để mà làm. Tất cả những người ở bên kia, người ta không biết người ta đang làm gì hay sao ?
– Tôi biết như thế : cậu sẽ đi. Cái chua xót là tất cả chúng ta đều thành thật, thành thật đến cái độ có thể chết. Tôi cũng mong cậu làm được điều gì ở đây.
Đại nói :
– Tôi không thể tưởng tượng được cậu có thể tìm thấy lòng tin ở một chỗ vô lý đến như thế. Tin rằng mình làm được cái gì ở đây, tôi nhất định không thể được, đừng vì cá nhân mình.
– Cậu vẫn nghĩ rằng chỉ vì cá nhân thôi ư ? Có lẽ tôi hiểu cậu hơn cậu hiểu tôi.
Vấn đề Thanh đi hát ở đài phát thanh cũng là một đề tài để Đại và Tâm cãi nhau, việc cãi nhau chóng trượt qua lĩnh vực chính trị. Đại tuy đọc sách nhiều nhưng đầu óc vẫn đầy thành kiến, Đại nói với Tâm rằng Thanh đi hát gây nhiều tai tiếng, rằng Thanh không đứng đắn. Nhưng Tâm biết rõ tâm hồn trong trắng, cao thượng của Thanh, Tâm tức giận :
– … Làm thế nào ở giữa một xã hội hư hỏng như thế này, bị tước đoạt hết khí giới, bị ném vào vũng bùn ? Cậu thử nghĩ nếu tôi và cậu cũng là con gái, chúng ta sẽ làm gì ?…. Cậu sẽ bảo tôi bỏ ra ngoài ấy. Bỏ ra ngoài cũng là một lối đánh đĩ, đánh đĩ tinh thần mình.
Ngọc thì muốn rời xa cái đất nước nhục nhã này. Ngọc tuyên bố : Thế nào tao cũng bỏ đất này đi, tao can đảm thú thực như thế, chết ở chỗ khác yên thân hơn. Còn hơn chúng mày lòng tin đã mất mà không dám thú thực, mà vẫn cố gắng giả tin.
Tâm viết cho Ngọc : … Đi đâu cũng vẫn chỉ là mày – đau khổ và nhục nhã. Mà nào riêng có đất nước này hổ nhục thôi đâu, mọi nơi mắt mày cũng chỉ nhìn thấy như đây. Không trốn được đâu, trừ khi mày trốn được lòng mày.
Phần Bảo thì than thở về cuộc sống tầm thường, nhàm chán của mình. Bảo tự hỏi : … có phải mình đang kiên nhẫn chịu đựng hay mình đang chết đi ? Hay đã chết rồi ? Nếu thật chết rồi thì cái hành động nổi loạn vô ý thức của nó (Ngọc) có nghĩa hơn cái cuộc đời bên cái hàng tạp hóa và vợ con này của tôi.
Đối với Bảo một cuộc sống vô nghĩa là một hình thức chết.
Vậy sáu người bạn, sáu chọn lựa khác nhau. Tâm trăn trở, phân vân đã lâu, rồi cuối cùng cũng đã lựa chọn. Thanh Tâm Tuyền gọi tuổi trẻ của thời đó, tức tuổi trẻ của ông, là tuổi trẻ bị tước đoạt, bị tước đoạt quê hương, bị tước đoạt tự do.

Viết về im lặng
Bếp Lửa là một truyện không dài, với nhiều nhân vật, nhiều trao đổi, có hai đám cưới, một đám tang, tưởng như trong thế giới truyện có nhiều tiếng nói ồn ào, có đám đông ầm ĩ. Nhưng không. Đặc điểm của Bếp Lửa là im lặng. Thế giới truyện là một thế giới có nhiều im lặng.
Cách miêu tả đôi khi rất vắn tắt, chẳng hạn : Bữa cơm ăn với vợ chồng Long trong một gian buồng hẹp ấm. Mâm bằng gỗ. Chi tiết hiếm hoi là một hình thức của im lặng.
Hoặc cách miêu tả một cảnh tượng hoang tàn, không thích hợp với hoàn cảnh của một ngày vui, như cảnh rước dâu sau đây : Đám cưới đi trên đường chính của thị trấn Đáp Cầu, một bên đường cỏ hoang và núi…, một bên là nhà cửa đổ nát ít dấu hiệu của sự sống, ngoài những đứa trẻ nghèo nàn chạy theo trông. Người ta rẽ vào một đống gạch vụn cao, vòng ra sau lưng một bức tường chưa đổ hết, và bước vào gian nhà tối… Một cảnh tượng như thế đưa đến cảm giác vắng vẻ, im lặng.
Trong không gian vắng lặng, Tâm thường lắng tai nghe những tiếng động. Khi đến Bắc Ninh, anh được ông già gác trường và cha Tân tiếp đón : Khi chúng tôi hết nói chuyện, tôi nghe tiếng sột soạt của bộ áo nhà tu bên cạnh và tiếng chân không đều của ông già gác. Hoặc khi Tâm nhận thấy Nhiên ít đến thăm vì đôi bạn không đồng quan điểm : … tôi nằm nghe tiếng động ngoài hành lang và lòng mình. Có sự qua lại giữa không gian bên ngoài và nội tâm.
Vì luôn sống với nỗi cô đơn, với khắc khoải, dằn vặt, Tâm thường thu mình vào nội giới. Anh đâm ra ít nói với mọi người. Chẳng hạn khi Tâm đến thăm Thanh, nhằm lúc Thanh bị bệnh, phải nằm nghỉ. Sau khi hỏi thăm sức khỏe của Thanh tôi ngồi im và không biết nói chuyện gì. Sau đó hai nhân vật trao đổi với nhau vài câu ngắn. Rồi : Chúng tôi cùng im lặng, tôi thì nhìn khói thuốc.
Hoặc khi dự đám cưới của Minh, Tâm kéo Chu, chú rể, ra ngoài. Chu trước kia là bạn thân của Tâm. Tâm nói :
– Tôi cần nói chuyện với anh một lát.
Nhưng khi ra ngoài, gió hơi lạnh, nhìn sang hồ nước im lặng và thấp thoáng phản chiếu ánh đèn, tôi không biết tôi muốn nói gì với Chu.
Còn giữa Tâm và Thịnh, sau đám tang ông Chính : Chúng tôi im lặng. Ở giữa chúng tôi không còn gì ngoài người đã chết.
Trong không khí của tình hình nghiêm trọng gây nhiều lo âu, con người trở nên trầm lặng, ít nói. Trên chuyến xe đi về Bắc Ninh : Không ai nói với nhau lời nào (…). Không ai nói một lời nào. Mọi người đều lạ nhau.
Những mẩu đối thoại trở nên rất ngắn, rơi vào im lặng, như có sự hiểu ngầm. Khi Tâm đến thăm Đại:
Đại cầm ở tay cuốn Crime et châtiment. Tôi hỏi :
– Cậu đến trường luôn không ? 
– Không. 
– Làm gì ở nhà ? 
– Đọc sách và suy nghĩ. 
– Suy nghĩ về phép giết người chăng ? tôi nói đùa. 
Đại không đáp. Chúng tôi đứng nhìn xuống khu xóm lao động phía dưới. Đại bỗng nói :
– Nó đến trường tìm mình dữ lắm. 
– Cậu quyết định thế nào ? 
Đại trầm ngâm một phút :
– Chưa. 
Đại là sinh viên khoa học…. Hắn bị gọi động viên và đang trốn.
– Nghĩ gì về Dostoïevski ? Tôi hỏi. 
– Bệnh. 
Ngay cả khi bàn đến một vấn đề quan trọng, đối thoại giữa hai nhân vật vẫn vắn tắt, đầy hiểu ngầm ; như khi Tâm nói chuyện với cha Tân, giám đốc trường : Tôi nằm rất lâu trong bóng tối. Hình như tôi sốt. Cho đến khi cha Tân vào phòng. Ông nói :
– Thầy không bật đèn ? 
(…)
– Hình như thầy không được khỏe ? 
Tôi vẽ một nụ cười :
– Bị sốt xoàng thôi, cám ơn cha. 
Một lát cha Tân vẫn chưa nói thêm. Tôi bỗng nói :
– Tôi muốn xin phép cha nghỉ độ nửa tháng. 
– Thầy có thể nghỉ dài hạn cũng được. 
– Vâng thế cũng được. 
Thế là Tâm mất việc, mà không biết lý do.
Đặc biệt nhất là cuộc đối thoại giữa ông Chính và Tâm. Hai người thương nhau, nhưng hiếm khi nói chuyện với nhau. Cả ông Chính và Tâm cùng làm việc tại một trường học, họ không tỏ ra gần gũi nhau, đến nỗi ở trường ít ai biết hai người có liên hệ gia đình với nhau. Một lần, trên đường Hàng Trống họ đi ngược chiều nhau, nhưng họ làm như không thấy nhau. Phải chăng bẩm tính của người đàn ông là ít bộc lộ về tình cảm ? Lại nữa giữa ông Chính và Tâm có hình ảnh ngưòi mẹ khuất bóng mà họ tôn thờ, lời nói giữa hai người có thể khơi lại niềm đau chăng ? Nhưng một sự việc xảy ra buộc họ ngồi lại với nhau : Tâm muốn rời Hà Nội để về dạy học ở Bắc Ninh, điều này làm ông Chính băn khoăn, ông không biết Tâm có buồn gì về ông không. Đối thoại giữa đôi bên có nhiều im lặng, lời nói được cân nhắc, biểu lộ giây phút nghiêm trọng. Tác giả đã khéo léo dùng một hiện tượng của thiên nhiên là mưa chẳng những để khỏa lấp những im lặng, mà còn để biểu hiện sự xúc động của Tâm khi mãnh liệt, khi lắng xuống. Trong đoạn văn sau đây mưa được nhắc đến bảy lần, mỗi lần mưa đều đổi dạng, làm như mưa biến đổi theo tâm trạng của Tâm :
Ông Chính đứng lên khép cửa và cửa sổ. Bóng ông in lên vách. Ông dừng một phút nhìn qua cửa sổ ra ngoài và hỏi tôi – mưa lúc ấy đổ mạnh khiến tiếng ông thấp thoáng…
– Anh Tâm. Tôi muốn anh thành thật trả lời câu hỏi này của tôi.  Vài giây cách quãng, mưa to hơn.  Giữa chúng ta có xảy ra một chuyện gì không đẹp không ? Anh cứ nói thẳng với tôi. 
Tôi muốn đứng dậy, nhưng không rời chỗ. Tôi nghe trong tiếng mưa vẫn còn vang tiếng của ông Chính khắp gian phòng.
– Thưa thầy không bao giờ tôi nghĩ lại có thể có câu hỏi ấy giữa thầy và tôi.  Tôi bị xúc động mạnh.
Ông Chính đã quay người lại. Mắt ông chớp nhanh, ông nói :
– Tôi muốn giữa chúng ta có được sự thẳng thắn.  Ông nuốt nước bọt.  Dù thế nào chúng ta cũng đã sống với nhau hơn mười lăm năm, lúc có mẹ cũng như lúc không… 
– Thầy đừng nên có ý nghĩ ấy (…) bao giờ tôi vẫn là con thầy như khi còn mẹ… 
Mưa dịu hơn lúc trước. Ông Chính ngồi xuống.
Chúng tôi đi nằm vào lúc mười một giờ. Tôi thao thức không sao ngủ được. Mưa dầm và lạnh. Ông Chính chong đèn đọc sách. Tôi biết ông cũng không ngủ được. Tôi thương ông vô cùng…
Gần ba giờ sáng. Mưa rơi sâu vào giấc mơ.
Lúc đầu những cử chỉ của ông Chính như khép cửa lại, ngừng một phút, nhìn ra ngoài, là những cử chỉ chậm rãi chuẩn bị cho cuộc trao đổi tế nhị giữa đôi bên. Nhưng mưa đổ mạnh át tiếng ông Chính, hay vô thức của Tâm sợ nghe những điều ông Chính sắp nói chăng ? Rồi mưa càng to hơn để biểu hiện sự xúc động mãnh liệt của Tâm khi Tâm trả lời ông Chính. Và khi sự hiểu lầm của ông Chính đã tan biến và cả đôi bên đã tỏ tình thương đối với nhau thì mưa dịu lại, rồi trở nên mưa dầm. Đối thoại chấm dứt, nhưng cơn xúc động vẫn theo Tâm vào giấc ngủ, vì Mưa rơi sâu vào giấc mơ.
Một yếu tố khác của thiên nhiên là núi cũng được ghép với tâm trạng của Tâm : Chuyến xe đã đến gặp núi. Núi tím lớn làm nhỏ cả thế giới hiện có của chúng tôi. Gặp núi, động từ gặp nói lên sự bất ngờ đối diện với núi ; và cảnh hùng vĩ của núi làm cho đời sống nội tâm với những suy tư, cảm xúc trở nên bé nhỏ, mất hết tính quan trọng.
Mưa rơi sâu vào giấc mơ, Chuyến xe gặp núi… cách cảm nghĩ như thế là dấu hiệu của nguồn thơ Thanh Tâm Tuyền.

Cũng trong Lời Tựa năm 1965, Thanh Tâm Tuyền viết : Cuốn sách mỏng manh, non nớt và chưa thành hình dáng này của một người mới lớn lên. Đúng là tác giả vừa mới lớn lên, nhưng cuốn sách không non nớt, phải xem Bếp Lửa là một tác phẩm. Nó mang dấu ấn của cái thời mà những người trai trẻ của miền Bắc ở trong hoàn cảnh phải chọn lựa, phải rứt áo ra đi, một nỗi đau ăn sâu vào tâm hồn của họ. Bên cạnh Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền còn có Đêm giã từ Hà Nội của Mai Thảo, Trương Chi của Vũ Khắc Khoan, cùng nói về thời kỳ chọn lựa đó.
Ngoài khía cạnh lịch sử, Bếp Lửa còn có khía cạnh nghệ thuật. Viết về tiếng động, về sự ồn ào, náo nhiệt để diễn tả một cốt truyện là lẽ thường, nhưng viết về im lặng không dễ, vì nghệ thuật này tùy thuộc đời sống nội tâm của tác giả. Joë Bousquet, một nhà văn Pháp, đã viết : Pour traduire le silence, il faut vivre au-delà de son propre silence, entendre et retenir toutes les voix qui se taisent en nous. Để nói lên sự im lặng thì phải sống vượt xa sự im lặng của chính mình, phải lắng nghe và nhớ tất cả những tiếng nói im bặt trong chúng ta. Qua những im lặng trong truyện, ngòi bút của Thanh Tâm Tuyền đã tạo nên một không khí lo âu trước một tương lai vô định, làm cho đối thoại giữa con người với nhau hàm nhiều hiểu ngầm, phức tạp, khó khăn ; và vẻ đẹp của thiên nhiên được dùng để im lặng bớt nặng nề. Bếp Lửa mở đầu cho những truyện ngắn, truyện dài đến sau, sẽ làm rõ nét hơn tài năng của Thanh Tâm Tuyền.

 

Tiếp tục đọc