Ý NHI VÀ TRẦN MỘNG TÚ, HAI NGUỒN THƠ, HAI PHƯƠNG TRỜI

Họ cùng trang lứa, cùng yêu quê hương, cùng say mê chữ nghĩa,  văn chương ; ngoài đời, họ có thể là hai người bạn, hai chị em. Nhưng lịch sử đã xui khiến họ ở hai phương trời cách biệt.

Ý Nhi sinh ở Hội An, Quảng Nam, năm 1944, nhưng lại trôi giạt ra đất Bắc khi còn nhỏ ; Trần Mộng Tú chào đời ở Hà Đông, Bắc Việt, năm 1943, lại theo làn sóng di cư vào Nam, năm 1954. Hai cô gái lớn lên và trưởng thành dưới hai chế độ : chế độ cộng sản và chế độ tự do, nhân bản, hai hệ tư tưởng chống đối nhau để rồi đi đến một cuộc chiến tranh tương tàn. Hai cô gái mang trong tâm hồn những vết thương, những nỗi đau của thời mình sống, và nguồn thơ nảy sinh từ đó. Thế rồi khi tiếng súng im bặt, khi vĩ tuyến 17 không còn ngăn cách đôi miền Nam Bắc, thì không gian mở rộng mênh mông. Từ Hà Nội, Ý Nhi mang túi thơ lên đường khám phá miền Nam, dừng chân đây đó ở Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Nhatrang, Đà lạt, rồi cuối cùng chọn cái đất Sài Gòn làm nơi cư ngụ. Nhưng Trần Mộng Tú thì đã biến thành con chim từ biệt quê hương, bay đến những chân trời mới lạ, tìm đất lành để đậu. Từ xa, con chim cất tiếng hót, giọng nó cuốn hút, sưởi ấm lòng kẻ lưu đày, và tiếng hót vọng về quê hương như hẹn ngày tái ngộ. Trần Mộng Tú xuất hiện ở hải ngoại như một nhà thơ nữ Việt Nam hiện đại với những thi phẩm :

Thơ Trần Mộng Tú (1990)

Để Em Làm Gió (1996)

Ngọn Nến Muộn Màng (2005)

Thơ Tuyển Trần Mộng Tú (2009)

– Thơ dịch của Trần Mộng Tú được đưa vào sách giáo khoa Mỹ, chương trình trung học : American Literature, Glencoe, 1999.

– Thơ dịch của Trần Mộng Tú được giới thiệu trong biên khảo của Huỳnh Sanh Thông : An Anthology of Vietnamese Poems : From the Eleventh through the Twentieth Centuries. Yale University Press – New Haven and London.

Trong nước, nguồn thơ của Ý Nhi cũng làm rung động lòng người, ngoài hai tập thơ xuất bản chung với hai nhà thơ khác, Ý Nhi có 8 thi phẩm sau đây :

Đến Với Dòng Sông (1978)

Người Đàn Bà Ngồi Đan (1985) Giải thưởng Hội Nhà Văn Việt Nam

Ngày Thường (1987)

Mưa Tuyết (1991)

Gương Mặt (1991)

Vườn (1998)

Thơ Tuyển ( 2000)

Ý Nhi Tuyển Tập (2011)

Từ thơ, Trần Mộng Tú và Ý Nhi còn bước sang văn xuôi để cống hiến độc giả trong và ngoài nước những tập truyện ngắn. Trần Mộng Tú là tác giả các tập truyện : Câu Chuyện Của Lá Phong (1994), Cô Rơm Và Những Truyện Ngắn Khác (1999), Vườn Măng Cụt (2009) (gồm truyện ngắn, tùy bút và ký) và một tập tạp văn : Mưa Sài Gòn Mưa Seattle (2006). Ý Nhi là tác giả tập truyện ngắn : Có Gió Chuông Sẽ Reo (2014).

Và rồi với thời gian, tài năng của hai nhà thơ nữ càng được độc giả thưởng thức, yêu chuộng, được giới thẩm quyền nước ngoài về văn học nhìn nhận. Năm 2003, Trần Mộng Tú nhận giải The New California Media « Ethnic Pulitzers ». Nhiều bài thơ của Trần Mộng Tú cũng được phổ nhạc. Về phần Ý Nhi, tuy bắt đầu sáng tác trong thời chiến, Ý Nhi thật sự nổi tiếng khi đất nước thanh bình. Thơ của Ý Nhi được dịch ra nhiều thứ tiếng, và năm 2016, Ý Nhi được trao Giải thưởng Văn học Thụy Điển Cikada.

Danh vọng do người đời tặng thưởng hẳn đem lại cho nhà thơ niềm vui và gây phấn khởi, nhưng có là bao so với sự đam mê suốt đời cái đẹp của chữ nghĩa. Cả hai nhà thơ đều say sưa biến chữ nghĩa thành những vần thơ ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, sự huy hoàng của vũ trụ, ca ngợi mãnh lực của tình yêu và kể lể về những nổi trôi của phận người, theo văn phong độc đáo của mỗi người.

Ở hai nhà thơ, vẻ đẹp của thiên nhiên không chỉ dành cho sự hân hoan, hứng thú của giác quan, thiên nhiên còn là nơi tình yêu xuất hiện, là nơi tình yêu được cất giấu, được nuôi dưỡng.

Ý Nhi, trong bài thơ Dẫu Chỉ Là Cơn Mưa, nhắc lại rằng mưa của bốn mùa làm tươi mát cỏ cây và gây nhớ một tình yêu vững bền. Nước mưa của bốn mùa tượng trưng cho thời gian đang trôi, nhưng vẫn còn lại mặt trời là ngọn lửa bền lâu của tình yêu :

Dẫu Chỉ Là Cơn Mưa

Mưa ồn ào mùa hạ

mưa dịu hiền mùa xuân

tháng ba ngày mưa nhuần

vòm hoa xoan tím ngát

 

Đất cằn trong khô khát

bỗng mát lành sau mưa

cây lá xanh vườn trưa

lại nồng nàn hơi thở

 

Anh có còn luôn nhớ

cái mùa mưa đầu tiên

con suối nhỏ bên thềm

bỗng cồn cào mùa lũ

 

Anh có còn luôn nhớ

mùa đông mưa trắng đồi

hoa lau phơ phất gió

dốc Dài và suối Đôi

 

Hay chỉ mình em thôi

tháng năm dài vẫn nhớ

như nhớ về đống lửa

như nhớ về mặt trời

chắc bền và rực rỡ

thân gần và xa xôi

 

Em chẳng dám quên đâu

những gì mình đã có

để làm nên ngọn lửa

suốt cuộc đời hai ta

dẫu chì là cơn mưa

em làm sao quên được.

Ý Nhi (1976)

Trong thơ Trần Mộng Tú, mặt trời và lửa biểu tượng cho tình yêu :

Ngày Hạ Chí

Anh đến với em vào ngày hạ chí

ngày mặt trời tình tự với đêm

buổi chiều trên cao buổi chiều không cúi xuống

sao bóng anh ngã xuống bóng em

ngày hạ chí thân thể anh như đuốc

anh kéo mặt trời xuống thắp sáng em

những tia lửa rắc cả vào trong áo

ngày tham lam không nhường chỗ cho đêm

 

Ngày hạ chí như có ngàn nến thắp

soi buổi chiều trong suốt hồn em

anh đứng đó như mặt trời không tắt

tự nhóm than nung đỏ đời mình

 

Khi anh đến em rơi vào hạ chí

anh dắt em trong vũng sáng hoang mang

đêm không xuống mà hồn em sao thắp

làm thế nào phân biệt thời gian.

Trần Một Tú, Tạp chí Da Màu, 2006

Trần Mộng Tú cũng bị thiên nhiên thu hút, nên phó thác cho thiên nhiên nỗi khao khát yêu đương, như « hoa cúc tháng mười » :

Tháng Mười Hoa Cúc

Bây giờ là tháng mười

Em như hoa cúc nhỏ

Sao anh không là gió

Thổi mùa thu vào em

 

Bây giờ là tháng mười

Em hiền như hoa cúc

Sao anh không là đất

Cho em ngả vào lòng

Bây giờ là tháng mười

Em gầy như nhánh cúc

Sao anh không là mưa

Cúi hôn từng cánh lá

 

Bây giờ là tháng mười

Em mong manh như cúc

Sao anh không là nắng

Ôm em ấm một ngày

 

Bây giờ là tháng mười

Sao anh không là rượu

Em là hoa cúc vàng

Cho anh Hoàng Hoa Tửu

 

Tháng mười tháng mười đến

Mùa thu mùa thu qua

Cúc vàng cúc vàng héo

Anh xa anh xa…xa.

Trần Mộng Tú

Ý Nhi thường hướng về ngoại giới, tỏ ra dịu dàng, kín đáo, chừng mực, cho nên ngôn từ mang nhiều im lặng, nhưng là những im lặng giàu về gợi ý, gợi cảm. Tuy nhiên khi nói về những người thân yêu, giọng thơ của Ý Nhi vẫn có những cung bậc dạt dào tình cảm.

Trần Mộng Tú thì quá đa cảm, quá thiết tha, cảm thấy cần xuống tận cùng nỗi đau của mình, cần đi xa trong tình cảm của mình, với một ngôn từ hồn nhiên, chân thật và giàu nữ tính.

Khi nhớ đến người mẹ, Ý Nhi xúc động :

Kính Gửi Mẹ

Con đã đi rất xa rồi

ngoảnh nhìn lại vẫn gặp ánh đèn thành phố.

 

Sau cánh rừng, sau cù lao, biển cả

một ánh đèn sáng đến nơi con

và lòng con yêu mến, xót thương hơn

khi con nghĩ đến cuộc đời của mẹ

khi con nhớ đến căn nhà nhỏ bé

Mẹ một mình đang dõi theo con.

Giữa bao nhiêu mưa nắng đời thường

đã có lúc lòng con hờ hững

thấy hạnh phúc của riêng mình quá lớn

ngỡ chỉ mình đau đớn xót xa thôi.

 

Giữa bao nhiêu năm tháng ngược xuôi

đã có lúc lòng con đơn bạc

quên cả những điều tưởng không sao quên được

như người no quên cơn đói của chính mình.

 

Sao đêm nay se thắt cả lòng con

khi con gặp ánh đèn thành phố

nơi mẹ sống, mẹ vui buồn, sướng khổ

chỉ một mình tóc cứ bạc thêm ra.

 

Sao đêm nay khi đã đi xa

lòng con bỗng bồn chồn quay trở lại

bên đời mẹ nhọc nhằn dầu dãi

nỗi mất còn thăm thẳm trong tim.

Đời mẹ như bến vắng bên sông

nơi đón nhận những con thuyền tránh gió

như cây tự quên mình trong quả

quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây

như trời xanh nhẫn nại sau mây

con đường nhỏ dẫn về bao tổ ấm.

 

Con muốn có lời gì đằm thắm

ru tuổi già của mẹ tháng năm nay.

Ý Nhi, Đà Nẵng – Hà Nội, 11-1978

Trong khi Ý Nhi từ xa nhìn về ngôi nhà của mẹ, lòng xót xa đau, thì Trần Mộng Tú đi tìm bóng mẹ trong một ngôi nhà trống không và chỉ tìm thấy những di vật của mẹ :

Mẹ Và Ngôi Nhà Cũ

Bây giờ thì mẹ đã đi thật xa

Ngôi nhà cũ con trở về chiều nay không thấy mẹ

Con đi chung quanh căn bếp nhỏ không nghe tiếng bát đũa cười

Con mở cửa từng căn buồng ngày xưa của mấy đứa nhỏ và căn buồng của mẹ

con không nhìn thấy ai

trẻ con đã đến ở một thành phố khác

và mẹ thì đi thật xa

con chẳng biết đâu tìm

Con mở từng ngăn kéo tủ

tìm những chiếc áo cũ của các con

những cái áo mẹ khâu tay

những chiếc quần mẹ vá đầu gối

những chiếc vớ rách mẹ mạng dọc mạng ngang

con chạm tay vào từng đường chỉ

nghe lòng mang mang

Từ ngày không còn mẹ

trẻ con không biết miếng vá là gì

chúng lớn lên

chúng đi xa

bỏ lại những chiếc áo mới mặc một hai lần

quên là mình đã có.

Dù con đã nhủ lòng

Thôi đừng giữ nữa

trong ngăn kéo của mẹ

chiếc áo lụa

cái khăn quàng

chuỗi tràng hạt

đôi hài nhung

chiếc quạt trầm

vẫn nằm cuộn vào nhau nhớ mẹ rưng rưng

Con đi ra vườn sau

những bông hoa héo bên hàng dậu

người hàng xóm mới

trong vườn không bóng chim

con ngơ ngác gọi mẹ

biết nơi nao tìm !

Trần Mộng Tú, Ngày lễ các Bà Mẹ, 2004

Cả hai nhà thơ đều gợi lên hình ảnh một ngôi nhà khi tưởng nhớ đến người mẹ. Phải chăng do sự đưa đẩy của vô thức ? Theo Gaston Bachelard, nhà triết học chuyên về khoa học luận, về thơ, thì ngôi nhà là biểu tượng của người nữ trong cái nghĩa ngôi nhà là nơi ẩn náu, là người mẹ, là lòng mẹ, là sự che chở.

Tình yêu là chủ đề được đưa lên tuyệt đỉnh. Định mệnh an lành hay khắc nghiệt đều hiện rõ trong tình yêu.

Trong thơ của Ý Nhi, tình yêu được định mệnh an bài, êm đẹp cho những người yêu nhau :

Trong ánh chớp của phận số

Em đã kịp nhìn thấy anh

Trong vòng quay không ngừng nghỉ của phận số

Em đã dừng lại đúng nơi anh

ôi thời khắc huy hoàng.

……………………………..

Em đã mơ thấy anh trong đêm

Cho tới buổi mai

Rồi em mơ thấy anh khi em thổi cơm

khi em giặt giũ.

Em mơ thấy anh ngoài phố đông

qua những tán cây quen

qua những gương mặt người xa lạ.

Em mơ thấy anh khi em đọc sách

khi em cười vui

khi em hỏi ai đó một điều gì

trả lời ai đó một điều gì

khi em nói không

khi em nói có.

 

Em chẳng kể cùng ai giấc mơ của mình

bởi có ai mà hiểu thấu, ngoài anh

người cũng hoà nhập với cuộc đời này bằng một giấc mơ.

Ý Nhi, Năm Lời Cho Bài Hát

Trần Mộng Tú thì không được định mệnh ban cho sự may mắn, chiến tranh là một hung thần đã cướp đoạt hạnh phúc của người phụ nữ đang yêu :

Mùa mưa đang về giữa Sài Gòn

Con đường Tự Do vỡ oà bong bóng

 

Em đi dưới trời mưa

Em nhớ anh

Em khóc

…………………………

Sao anh còn trẻ thế

Sao em còn trẻ thế

Sao tình yêu hai ta còn trẻ thế

Lại lăn vào

Một cuộc chiến già nua

Trần Mộng Tú, Buổi Trưa Sài Gòn

 

Tôi người đàn bà thi sĩ Việt Nam

Bỏ lại trên quê hương

Một mối tình

Một mối tình được gắn huy chương

Huy chương anh dũng bội tinh

Lấp lánh ngôi sao bạc

(Ngôi sao bạc trông xa

Giống như một hạt lệ)

Ôi mối tình của thi sĩ

Được gói thân yêu trong Quốc kỳ.

Trần Mộng Tú, Người Đàn Bà Thi Sĩ Việt Nam

Cả hai nhà thơ nữ đều trăn trở, khắc khoải, trước cái chết của con người.

Thơ của Ý Nhi nói nhiều về cái chết, Ý Nhi thấy Xuân Quỳnh trong chiêm bao, Ý Nhi đi viếng mộ Hàn Mặc Tử, thắp nén hương tiễn đưa danh họa Bùi Xuân Phái, rồi tưởng niệm một họa sĩ khác : Tưởng Niệm Họa Sĩ Nguyễn Sáng hoặc sáng tác một bài thơ mang tựa đề : Cái Chết Của Nhà Thơ. Lại có những cái chết bên trời Tây : cái chết của Đônkisốt (Don Quichotte), cái chết của bác sĩ Zivago.

Khi nói về cái chết của những danh nhân, Ý Nhi lòng đầy khâm phục, kính cẩn, đồng thời giữ một khoảng cách với người đã khuất bóng, như bài thơ sau đây về Hàn Mặc Tử :

Viếng Mộ Hàn Mặc Tử

Bốn mươi năm trước

Hàn Mặc Tử dừng lại

chôn vùi nỗi đau đớn cùng cực của mình

giữa núi và biển.

 

Ai còn đi trên đường đời bốn mươi năm sau ông

còn có thể tuyệt vọng

còn có thể hạnh phúc

còn có thể kiếm tìm

còn có thể xuất hiện với một khuôn mặt mới

ai đem thơ làm trang sức

làm những nấc thang danh vọng.

 

Những câu thơ Hàn Mặc Tử

không có gì để tô vẽ

không biết đến ghẻ lạnh hay vồ vập

bốn mươi năm còn xanh ngời màu lá trúc

qua khuôn mặt người.

 

Giữa núi và biển

ông đã dừng lại

đó là sự lựa chọn của chính ông

hay là sự sắp đặt lạ kỳ của số phận.      

Ý Nhi, Qui Nhơn 1986

Trong bài thơ khóc danh họa Bùi Xuân Phái sau đây, tác giả vẫn đầy lòng khâm phục, kính cẩn, nhưng khoảng cách giữa người chết và người sống ngắn lại, vì người quá cố là một người mà tác giả thân quen, mến mộ tài năng, câu thơ có giọng bùi ngùi, thương tiếc :

Khóc Bác Bùi Xuân Phái

Thưa Bác

cháu thắp nén hương này

xa Hà Nội hàng nghìn cây số

và xa bác biết chừng nào.

 

Hà Nội bao thăng trầm

phố Thuốc Bắc cũ xưa

đã ồn ào chợ búa

căn phòng nhỏ đã quá chừng chật chội

bác mãi giữ gìn một Hà Nội thanh cao

góc phố thưa người

ngói nâu buồn lặng lẽ.

 

Đời bác bao thăng trầm

bao ngặt nghèo, buồn khổ

bác vẫn đem bức tranh mới nhất làm quà

vẫn đón bạn bè với chén rượu trên tay

vẫn nhẹ bước qua những phố mùa đông quạnh vắng.

 

Mùa đông này rồi sẽ quạnh vắng hơn

những phố dài Hà Nội

rồi sẽ chẳng có gì bù đắp nổi

một phần Hà Nội đã ra đi.

 

Thưa bác

từ rất xa

cháu xin thắp nén hường này.        

Ý Nhi, tháng 7-1988

Và khi những nhà nghệ sĩ cùng thế hệ đột ngột ra đi, mọi việc vẫn còn dang dở, Ý Nhi ngỡ ngàng, luyến tiếc :

Chưa kịp đọc hết cuốn sách anh gửi tặng

Chưa kịp hiểu hết bức tranh anh vẽ

Chưa kịp nói lời cám ơn

Sao anh lại ra đi  (…)

Ý Nhi, Tiễn Biệt

Câu Sao anh lại ra đi lặp lại nhiều lần trong bài thơ như một điệp khúc là một tra vấn định mệnh.

Trong khi Ý Nhi có bài thơ : Cái Chết Của Nhà Thơ, tiết lộ sự cảm thông nhà thơ chỉ sau khi ông đã khuất bóng, thì Trần Mộng Tú có bài thơ Khi Thi Sĩ Chết, nói về di sản lớn lao người thi sĩ để lại cho đời. Nhưng gần gũi hơn, đau buồn hơn, đối với Trần Mộng Tú, là cái chết của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền :

Anh

Người thi sĩ đó vừa chết hôm qua

Em muốn gọi anh

mà anh đã bỏ đi xa

em hụt hẫng đứng nhìn buổi sáng

trên mặt hồ lặng thinh

và dãy núi thì trắng toát đến rùng mình

Chao ôi lòng em buồn bã !

những câu thơ tự do

rồi lấp vào trong đất

nó mọc cùng cỏ xanh

gió thổi đi xa tắp.

Thời gian rồi đi qua

xóa mờ khuôn mặt

những sợi tóc bỏ trần gian

nằm trong đáy huyệt

và những ngón tay chàng

sẽ mục thành phân bón.

Mặt trời đen

mặt trời không mọc nữa

và cả tên chàng

chẳng còn ai bật lên thảng thốt

mặt trời không còn nữa.

Chao ôi lòng em buồn bã !

buổi sáng kéo một vệt dài

trên mặt hồ phẳng lặng

câu thơ kéo dài

một đường thẳng nằm ngang nghĩa trang mùa xuân.

Thi sĩ…

Cúi xuống

tình yêu và những cuộc biệt ly ở một nơi hư không.

Chao ôi lòng em buồn bã !

Khi anh trở về

một thi sĩ đã đi qua biền biệt.

Không Đề, nghĩ tới Thanh Tâm Tuyền   

Trần Mộng Tú, tháng 3-2006

Đối với Ý Nhi, cái chết ở bên ngoài, và luôn luôn có khoảng cách giữa người sống và người chết. Còn đối với Trần Mộng Tú, cái chết được cảm nhận từ bên trong, ngay cả khi thương tiếc một nhà thơ có tài năng như Thanh Tâm Tuyền, cách xưng hô thân mật của tác giả, tiếng than thở Chao ôi lòng em buồn bã ! lặp lại ba lần, và hình ảnh thân xác con người tan ra tro bụi, những yếu tố đó khiến người sống và người chết gần lại với nhau. Và khi người chết lại là một người thân yêu của tác giả thì sự mật thiết giữa đôi bên càng làm tăng nỗi đau. Trần Mộng Tú ngỡ ngàng, đau đớn, khi bị cái chết tước đoạt những người thân yêu, trước tiên là người yêu, người chồng. Khi chung sống với chồng chưa tròn một tháng thì tin dữ đã đến : người chồng tử trận. Trần Mộng Tú khóc chồng trong bài thơ sau đây:

Quà Tặng Trong Chiến Tranh

Em tặng anh hoa hồng

Chôn trong lòng huyệt mới

Em tặng anh áo cưới

Phủ trên nấm mồ xanh

 

Anh tặng em bội tinh

Kèm với ngôi sao bạc

Chiếc hoa mai màu vàng

Chưa đeo còn sáng bóng

 

Em tặng anh tuổi ngọc

Của những ngày yêu nhau

Đã chết ngay từ lúc

Em nhận được tin sầu

 

Anh tặng em mùi máu

Trên áo trận sa trường

Máu anh và máu địch

Xin em cùng xót thương

 

Em tặng anh mây vương

Mắt em ngày tháng hạ

Em tặng anh đông giá

Giữa tuổi xuân cuộc đời

 

Anh tặng môi không cười

Anh tặng tay không nắm

Anh tặng mắt không nhìn

Một hình hài bất động

 

Anh muôn vàn tạ lỗi

Xin hẹn em kiếp sau

Mảnh đạn này em giữ

Làm di vật tìm nhau.            

Trần Mộng Tú tháng 7/1969

Người thân yêu thứ hai ra đi là cô em của tác giả, mất năm 2020. Nửa thế kỷ sau cái chết của người chồng, Trần Mộng Tú vẫn còn chơi vơi, hụt hẫng trước cái chết của người em :

Chiếc Áo Của Ai

Em mất một trăm ngày

Hương còn đầm khăn áo

Chị tung áo khắp nhà

Nỗi buồn không tiếng động

 

Nhớ em mặc áo này

Nhớ em quàng khăn ấy

Tiếng cười còn vướng lại

Giữa hai đầu chéo khăn

 

Cầm lên lại bỏ xuống

Chiếc áo màu tím than

Màu tím như nốt nhạc

Rơi xuống buổi chiều vàng

 

Em đã nằm im lặng

Trong chiếc bình lặng im

Chị khua mặt hồ động

Nước không còn bóng chim

 

Chị không « đập cổ kính

Cất tàn y » xưa sau

Hương em trong ngực chị

Đọng tím một nỗi sầu

 

Lưỡng lự rồi cũng chọn

Một chiếc áo cất đi

Xếp cùng khăn áo chị

Như thuở bé nằm kề

 

Một trăm ngày rồi đấy

Rồi một năm, hai năm

Chị già thêm, chị lẫn

Ngu ngơ giữa áo khăn

 

Áo em và áo chị

Ký ức thời gian phai

Một ngày tay sẽ hỏi

Ồ, chiếc áo của ai.           

Trần Mộng Tú, 23/6/2020

Giữa hai bài thơ dòng thời gian đã trôi qua, người vợ trẻ đang tuổi xuân xanh khóc chồng năm nào nay đã thấy tuổi già lấp ló, nhưng vẫn đau cái đau của mất mát khi người em ra đi. Trong khi khóc lóc, đối thoại với người chết, Trần Mộng Tú có cái đặc điểm là phải cầm trong tay kỷ vật của người khuất bóng, kỷ vật của người mẹ, của người chồng, của người em, làm như khi nắm kỷ vật trong tay, tác giả níu kéo được người chết để kể lể, khóc than.

Chúng ta vừa đến với Ý Nhi và Trần Mộng Tú, hai nhà thơ nữ đã dâng cho đời những vần thơ đẹp, đầy cảm xúc, hai nguồn thơ chị em vẫn còn xa cách nhau trên quả địa cầu, nhưng rồi mai kia sẽ chảy ra biển, sẽ gặp nhau trong đại dương của Mẹ Việt Nam.

 

 

VÀI CẢM NGHĨ VỀ MAI THẢO

Nhắc đến Mai Thảo (1927-1998), người ta thường liên tưởng đến tác giả của những truyện ngắn như : Đêm Giã Từ Hà nội, Tháng Giêng Cỏ Non, Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời, v.v… và nhất là liên tưởng đến Mai Thảo, thủ lĩnh của nhóm Sáng Tạo, người đã có những lời tuyên bố đi vào văn học sử. Khi nền Đệ nhất Cộng hòa được thiết lập ở miền Nam, trong không khí thanh bình, mọi người đều phấn khởi ra tay xây dựng tương lai, thì trong lĩnh vực văn học, Mai Thảo cũng xây dựng ngày mai bằng cách hô hào cắt đứt với văn học tiền chiến, với quá khứ để lên đường, lên đường đi tới đâu thì chưa biết, nhưng nhất định phải lên đường, phải bỏ lại quá khứ sau lưng. Lời kêu gọi của Mai Thảo đáp ứng sự chờ đợi của giới trẻ cầm bút đang tìm phương hướng, và đồng thời vô tình gây một hậu quả bất ngờ cho các nhà văn nổi tiếng thời tiền chiến đang có mặt ở miền Nam lúc bấy giờ : họ bị lu mờ và dần dần rơi vào quên lãng.

Phần Mai Thảo thì đang thời sung sức sáng tạo, những tác phẩm của ông lần lượt ra mắt độc giả ; kể từ những năm 1950-1960 đến cuối thời miền Nam, 1975, Mai Thảo có khoảng 10 tập truyện ngắn, 33 truyện dài, một tập tùy bút, và nếu kể thêm các sáng tác sau 1975, thì ông có thêm 5 tập truyện ngắn và đặc biệt thi phẩm Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền xuất bản ở Mỹ, và đã được độc giả nồng nhiệt đón nhận. Cũng cần nói, tùy bút cũng là môn sở trường của Mai Thảo, ông được đánh giá cao trong thể loại này. Đọc truyện của Mai Thảo, mọi người đều thấy rõ ông muốn quay lưng với quá khứ bằng cách làm mới chữ nghĩa. Bút pháp mới lạ của Mai Thảo mà có người cho là làm dáng, cũng như văn xuôi của ông giàu chất thơ, dành cho ông một chỗ đứng riêng biệt, hư cấu của ông cũng dành cho ông một chỗ đứng riêng biệt. Trong khi thế giới truyện của Võ Phiến là đồng quê nơi có những nhân vật như anh Ấm Sứt, anh Năm Cán Vá, chị Bốn Chìa Vôi, thì thế giới truyện của Mai Thảo là những thành thị, những chốn phồn hoa của giới tiểu tư sản, nhưng cũng có khi Mai Thảo chọn đời sống thầm lặng ở tỉnh nhỏ để làm bối cảnh cho truyện, như trong các tiểu thuyết : Để Tưởng Nhớ Mùi Hương, Ôm Đàn Đến Giữa Đời… Không ít người trách Mai Thảo trong khi chiến tranh ngày càng khốc liệt thì trong truyện của Mai Thảo không có tiếng đại bác, không có những thảm bom rơi từ trời, những xác chết la liệt dưới đất, chỉ có cảnh sống thanh bình trong đó những con người lãng mạn yêu nhau, xâu xé nhau, xa nhau, hoặc những con người ăn chơi, thời thượng, những con người thất bại trong cuộc sống, v.v… Mai Thảo đã vẽ lên cái xã hội ở đô thị của thời đó. Nói cho cùng, nếu tất cả các nhà văn đều viết về chiến tranh thì còn đâu là tính đa dạng của văn học miền Nam ? Vậy chúng ta nên tôn trọng sự tự do sáng tạo của Mai Thảo theo quan niệm nghệ thuật của ông, tôn trọng cái khuynh hướng duy mỹ của ông và nhìn nhận vị trí chính đáng của ông trong văn học miền Nam. Dù sao Mai Thảo cũng có công đánh thức mọi người về sự cần thiết đổi mới văn học, có công vạch rõ ranh giới giữa hôm qua và ngày mai. Và chẳng những Mai Thảo đặt hết tin tưởng vào con đường sáng tạo của mình, ông còn có công thúc đẩy, khích lệ những người trẻ muốn cầm bút. Trong bài tựa có nhan đề : Nói chuyện với những người viết mới, trong tập truyện Dòng Sông Rực Rỡ, Mai Thảo, với kinh nghiệm bản thân, khuyên các bạn trẻ viết văn như sau : Khó nhất là cái bước đầu. Viết phải được tâm niệm và lĩnh hội như một sửa soạn chu đáo. Cái bước đầu sai yếu, hụt hơi, thì di động nào về sau cũng cứ mãi mãi là một điều chỉnh cực nhọc. Tôi lấy tôi ra mà nói, lấy nhiều bạn tôi ra mà chứng minh cho cái tầm quan trọng cực kỳ của bước chân đầu tiên đi vào văn nghệ. Phải thật khó khăn nghiêm khắc với mình. Đoạn văn, bài thơ đầu tiên không phải là một thoáng qua đâu, mà là một vết lằn đẫm nét, nó quyết định cho cả một sự nghiệp sáng tác, sau này thấy hỏng, có dụng tâm làm khác đến mấy, cũng vẫn cứ hiện hữu cái bút pháp, cái phong cách ấy của những dòng chữ đầu tiên. Bước đầu anh đi, nhìn lại, phải là một bước đi chững chạc… Và nhất là : Đừng viết như ai. Hãy viết như mình. Những lời khuyên này quả là rất quý hóa và phải là điều tâm niệm của giới trẻ cầm bút. Chính bản thân Mai Thảo cũng không viết như ai, vì Mai Thảo là Mai Thảo, cho nên ông gây ngỡ ngàng cho người đọc, và đó chẳng phải là dấu hiệu của cách tân sao ? Những lời tâm huyết mà Mai Thảo gửi đến thế hệ trẻ cầm bút chứng tỏ ông coi trọng sứ mệnh của nhà văn.

Sau này, khi miền Nam không còn nữa, có hình bóng một Mai Thảo đi lang thang trên các nẻo đường của một nước Mỹ xa lạ, mênh mông, để tranh đấu cho sự sống còn của văn học miền Nam, cho sự phát triển của văn học hải ngoại, hình bóng đó nói lên tấm lòng của Mai Thảo suốt đời gắn bó, tha thiết với chữ nghĩa.

 

 

 

 

 

 

 

TRUYỆN “CON SÂU” CỦA DƯƠNG NGHIỄM MẬU HAY NHỮNG KHẮC KHOẢI VỀ SỰ HIỆN HỮU TRÊN ĐỜI

 

Dương Nghiễm Mậu là một trong những nhà văn hàng đầu của văn học miền Nam thời 1954-1975. Khi cuốn truyện Con Sâu được nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng cho ra mắt độc giả năm 1971, thì Dương Nghiễm Mậu đã có một văn nghiệp vững vàng. Nhìn chung thì trong suốt hai thập kỷ 1960-1970, Dương Nghiễm Mậu đã cho xuất bản 13 tập truyện ngắn, từ tập Cũng Đành (Văn Nghệ, 1963) đến tập Tiếng Sáo Người Em Út (Văn Nghệ, ?), và 8 truyện dài từ Gia Tài Người Mẹ (Văn Nghệ, 1964) đến Kẻ Sống Đã Chết (Giao Điểm, 1972). Năm 1972, theo nhà xuất bản Giao Điểm thì Dương Nghiễm Mậu còn có thêm những tác phẩm sắp xuất bản như những truyện dài : Con Mắt Đá Đen, Nuôi Hủi, Trái Nổ Trong Miệng, Đất Máu, một tự truyện : Giọt Nến Hồng và kịch bản : Cái Chết Của Một Lãnh Tụ. Không rõ các tác phẩm vừa kể có được xuất bản kịp thời trước biến cố tháng 4 năm 1975 không.

Qua nhiều truyện ngắn, truyện dài của Dương Nghiễm Mậu, thấp thoáng bóng dáng những người lính trẻ cô đơn, lạc lõng trong một xã hội đầy căng thẳng về mặt chính trị, đạo đức và trong một cuộc chiến dường như không bao giờ chấm dứt. Trong truyện Con Sâu cũng có những người lính trẻ và mối đe dọa của chiến tranh, nhưng người lính và chiến tranh chỉ được dùng để làm nền cho một truyện khác có chiều kích siêu hình.

Tác phẩm Con Sâu phong phú vì có thể được tiếp cận từ nhiều phương diện như nghệ thuật dựng truyện, triết học – có nên đặt vấn đề ảnh hưởng của triết học hiện sinh không ? – tâm lý và phân tâm học. Trước khi lần lượt xét qua những khía cạnh đó, thiết tưởng cũng cần nhắc lại nội dung của truyện.

I  Nội dung truyện Con Sâu

Vào đầu truyện là một cảnh nhậu nhẹt giữa năm người bạn : Quảng, Ngưỡng, Thạc, Đức và Lực, trong một quán nước. Không khí có vẻ buồn bã, đôi khi họ văng tục. Quảng vừa tự tử hụt, bị các bạn tra vấn về nguyên do của sự chán đời. Quảng trả lời là vì thất tình, nhưng anh không thuyết phục được ai. Còn Ngưỡng đập nát chai bia trên đầu gối để nói lên sự đau buồn, uất ức về cái chết của Thăng ngoài mặt trận. Qua những độc thoại nội tâm, chân dung của năm người thanh niên được vẽ lên như sau :

Quảng, Ngưỡng và Thạc đều ở trong quân ngũ. Trước khi tòng quân, Ngưỡng là một người con trai hiền lành, mơ mộng, sống với mẹ và em gái. Chiến tranh đã biến Ngưỡng thành một người hung bạo, nhưng sự thật Ngưỡng vẫn là con người đa cảm. Ngưỡng yêu thầm Thảo, em vợ của Đức và mơ ước có một gia đình ấm cúng.

Thạc, cũng như Ngưỡng và Quảng, sống cuộc đời người lính nay đây mai đó. Thạc chỉ còn một người cô mà anh rất thương yêu.

Về phần Quảng, anh đã trải qua một thời gian trong quân lao vì đã nổ súng vào một tên chỉ huy dâm ô để cứu một cô gái. Được Quảng bênh vực, che chở, cô gái đem lòng yêu thương Quảng và muốn lập gia đình với anh. Nhưng tình yêu của cô gái chỉ là một tình yêu đơn phương. Quảng đã lớn lên trong một gia đình tan vỡ. Cha Quảng làm ăn thất bại, lại nữa ông không được trở về quê cũ, ông đâm ra buồn phiền, ngày đêm nằm hút thuốc phiện, trong một căn phòng tối tăm với một ngọn đèn leo lét, ông nằm quay mặt vào tường. Ông thường nhiết mắng mẹ Quảng là thứ đàn bà ngoại tình và cho rằng đứa em của Quảng không phải là con ông. Bà mẹ lẵng lặng bỏ nhà ra đi. Ở quân lao ra, Quảng giải ngũ và đi xin việc làm đây đó.

Đức khác với Ngưỡng, Thạc và Quảng, anh không biết đời lính là gì. Anh có một cuộc sống bình lặng của một người công chức với một gia đình êm ấm. Đức luôn luôn niềm nỡ đón tiếp bạn bè mỗi khi họ có dịp ghé chơi.

Lực lại càng xa vời với các bạn hơn. Anh ta ốm yếu, làm nghề nuôi ngựa trong Hội Kỵ mã. Lực yêu ngựa hơn đàn bà, những con ngựa của anh có tên là Mai Loan, Lệ Thu. Ước mơ của Lực là trở thành dô kề (jockey), người cưỡi ngựa đua ở ngoại quốc. Lực còn một ông chú và bà thím, anh có vẻ mơ hồ khi có ai hỏi đến lai lịch, nguồn gốc của mình.

Như thế, Đức và Lực sống bên lề chiến tranh, Ngưỡng, Thạc và Quảng đại diện cho thế hệ chiến tranh. Qua độc thoại của Đức, Ngưỡng đã nói lên sự chấp nhận định mệnh :

Giọng nhạt thoáng nó (Ngưỡng) nói, đến bọn mình thì chẳng được chọn gì ngoài cái chết. Nó nhập ngũ và sống. Nó không muốn bàn cãi. Chạy trốn, mơ mộng, lẫn tránh ước vọng và khỏa lấp mình. (tr. 66)

Ngưỡng là mẫu người lính miền Nam chịu đựng gian khổ. Khi Đức nói : Ông nào đi lính rồi cũng nhậu nhẹt tung trời, nói tục và ba trợn.

Ngưỡng trả lời :

Đừng nói thế oan cho lính. Một mình tôi thôi cậu ơi. Có điều cậu chưa sống như tôi, cậu chưa đi nhiều như tôi, chưa ăn rắn, nhái, ếch, rùa… chưa phải nhịn đói, ngâm mình dưới sình lầy, ngủ trong rừng mưa… cậu sung sướng đến không phải văng tục. (tr. 63)

Nhưng nhân vật chính là Quảng, chuyện Con Sâu là chuyện của Quảng. Cuốn truyện gồm ba chương, chương đầu gồm độc thoại của năm nhân vật, hai chương sau chủ yếu là độc thoại dài của Quảng. Bạn bè nhận thấy Quảng khó hiểu. Đức nghĩ : Hồi xưa thỉnh thoảng nó còn nói một tí chút, sau này tuyệt nhiên, nó chỉ nghe, làm như nó chẳng có điều gì để nói. (tr. 73).

Thạc thì nhận xét lúc này Quảng lạ ghê, không biết có chuyện gì. Lực nói hồi trong lính Quảng đổi tính. Hay nhăn nhó, nhưng có lần thấy đi với một cô (cô gái chịu ơn Quảng). Còn Ngưỡng kể hồi Quảng còn trong quân ngũ, một đêm gác đồn, thấy cây cỏ lay động bèn quạt hai tràng, nhưng tưởng mình lầm, sáng ra có ba xác chết.

Bây giờ nó ngậm miệng, chừng như nó thấy không còn chuyện gì để nói. (…) Nó giải ngũ trở về mặc áo bỏ ngoài quần, đi học ban đêm, nạp đơn xin việc hai ba chỗ (…). Mày yêu ai chưa. Nó cười cười. Nhiều lúc nó làm tôi phát bực. Cái chó gì mày cũng cười cười. Nó trầm xuống dời xa tôi, nó không còn rủ tôi đi chơi gái nữa (…) Chửi nó, nói tức nó, nó cười cười… (tr. 44-45)

Sự thật có hai con người trong Quảng : con người xã hội và con người thầm kín.

Ngoài xã hội, Quảng làm tròn bổn phận người trai thời chiến, anh giàu lòng thương người và đầy căm phẫn trước hạng người giàu có, ích kỷ. Quảng vốn tính nhút nhát, mặc cảm, có cảm tưởng mình còn nhỏ bé. Nhưng đời sống trong quân ngũ đã làm anh trở nên chín chắn, có lập trường vững vàng ; trước những cảnh bất công, bạo tàn, Quảng phản ứng theo lẽ phải không chút ngần ngại, như khi anh nổ súng vào tên chỉ huy để cứu cô gái. Quảng độc thoại :

Tôi không muốn vậy nhưng nhiều khi tôi hiểu vì sao một người can tội giết người vì nó không thể làm khác. Tôi không phải là thằng hèn. (tr. 90)

Quảng nói với Thạc : Đời sống bẩn lắm mày. Nhiều chuyện đau lòng. Tao đâu nhắm mắt bỏ qua được. Thà chết chứ tao đâu chịu. (tr. 82)

Quảng đau lòng khi nhìn một người ăn mày lê lết trên sàn gạch bẩn thỉu của một quán ăn. Anh bênh vực người nghèo bị người giàu bóc lột và chửi bới hạng người này : Tiên sư ông, ông nhiều tiền lắm hả (…) tao chửi tiên sư những thằng giàu, trong đó có mày, (…) tiên sư những thằng giàu bần tiện… (tr. 162)

Quảng nhìn cuộc sống chung quanh với đôi mắt bi quan :

Địa vị, quyền lợi, tiền bạc, danh vọng và những gì nữa… Cái bọn người ấy sao được gọi là người nhỉ, sống chen chúc, thôi thúc, hớt hải, khổ sở như thế này để làm gì nhỉ, đánh nhau, giết chóc để làm gì nhỉ, cũng là một nguồn hạnh phúc đó sao ? (tr. 170)

Quảng dần dần thu mình vào cõi riêng tư, thầm kín. Anh bị hai ám ảnh giằn vặt : người cha và cái chết.

Hình ảnh người cha nằm quay mặt vào tường luôn ám ảnh Quảng. Ông không bao giờ chuyện trò với người mẹ. Gương mặt nhợt nhạt, đôi mắt hốt hoảng của ông làm Quảng khiếp sợ. Quảng tìm cách giải thích cái thế nằm quay vào tường của cha. Phải chăng do sự thất bại của ông, hay ông muốn nói ông không phải là cha của Quảng ? Rằng ông không có trách nhiệm, hay ông ngoảnh mặt với đời sống ? Quảng không tìm ra một thông điệp nào. Ông nói Quảng hãy tự lo lấy thân, tự xem mình mồ côi, rằng ông hối tiếc đã có con. Ông giáng xuống một câu hỏi đập sâu vào tâm thức của Quảng : Mày định sau này làm gì ?  Quảng chới với lặp lại câu hỏi với các bạn : Cậu nghĩ sau này cậu làm gì ? Ngưỡng im lặng. Lực nói muốn nuôi ngựa giống tốt và sau này làm dô kề ở ngoại quốc. Đức muốn làm người chồng, người cha và người công dân tốt. Thạc nghĩ đến đâu hay đó. Những câu trả lời của các bạn không đáp lại mối băn khoăn của Quảng. Quảng lại âm thầm hỏi người cha : Ông định làm gì ? (…) Xưa kia bằng tuổi tôi ông định làm gì ? (tr. 109) Quảng tự hỏi lý tưởng của người cha là gì, ông có những xúc động nào, cái gì đã thúc đẩy tuổi trẻ của ông. Quảng chơi vơi, tự tìm cho mình một điểm tựa, và nhất là tìm nơi người cha một mẫu người, nếu không là lý tưởng thì ít ra cũng có khả năng chỉ đường cho Quảng. Nhưng người cha chẳng những không đáp lại sự mong đợi của Quảng mà ông còn là một bức tường câm, ngăn chặn Quảng với quá khứ, với tuổi thơ. Có nhiều chuyện mập mờ giữa cha mẹ mà trí óc nhỏ dại của Quảng không thấu hiểu được. Sự bất hòa giữa cha mẹ, thái độ hung bạo của cha, sự im lặng của mẹ đã làm cho đứa con đau khổ. Câu hỏi của người cha đột ngột đặt Quảng trước một tương lai mờ mịt, Tôi cũng không biết tôi phải làm gì. Quảng bèn quay nhìn hiện tại, anh đang ở trong quân ngũ, một ngày của đời lính đã diễn ra như thế nào ? Từ sáng đến chiều, cuộc hành quân kham khổ trong nóng bức. Đối với Quảng, mỗi người lính là một con số, những con số đều như nhau, cái tôi có đau khổ, kêu gào đến đâu thì cuối cùng vẫn chỉ là một con số. Cuộc đời càng trống rỗng hơn khi Quảng nhận thấy mình không có tình yêu. Quảng có cảm tưởng mình khác mọi người vì không có những cái bình thường của thiên hạ : gia đình, tình yêu. Quảng cho rằng con người tự nô lệ mình, tự cầm tù mình :… nếu phải sống như thế hết đời mình. Nếu con người sinh ra chỉ để sống như thế, không có gì khác (…). Ai hành con người vậy. Không ai biết. Chính nó. Chính nó làm cai ngục của nó. Chính nó những tham vọng và cố gắng như một hãnh diện vượt thoát khỏi đời sống thú vật để chịu một đời sống thú vật khác. (tr. 115)

Những lo âu, khắc khoải của Quảng là một chuỗi nghi vấn. Trong cuộc hành quân, dưới ánh nắng chói lòa : Mình ngồi đây làm gì ? Chờ. Chờ gì chờ hoài. Đến bữa ăn, thấy thức ăn bẩn thỉu : Làm sao để sống mà không ăn ? Và cuộc sống đơn điệu trong quân ngũ được diễn đạt qua sự lặp lại của những cụm từ Lần thứ mấy…,  Lần thứ bao nhiêu…  :

Lần thứ mấy thay đổi những khoảnh đất vuông vắn được rào lại, những dãy nhà, những chiếc sạp (…). Lần thứ mấy những khuôn mặt thoáng qua cùng những bài học luân lý, những răn dạy như lời hăm dọa, những kể lể huênh hoang (…). Lần thứ bao nhiêu nằm bên những người xa lạ, giấc ngủ chập chờn với chiếc ví tiền giấu trong ngực áo, chiếc khăn mặt luồn dưới chiếu, đôi giầy gối lên đầu, gói quần áo cột vào chân… Lần thứ bao nhiêu… và mỗi lúc bước chân một dời xa căn nhà cũ, con đường xưa, thành phố ấy để rồi tới đâu… Những gì đợi ở cuối đường kia (…)

Sự mệt mỏi, rã rời của người lính :

Nắng chói chang trên khoảng sân gồ ghề… Rồi tới đâu nữa. Những nét mặt bơ phờ, những thoáng nhìn ngỡ ngàng (…) Tìm gì ở đây. Tới đây làm gì, những vô lý chồng chất. (tr. 118)

Và Quảng nhìn những người phế binh : Tới đây để biến thành những thân hình ấy ?

Khi chiều xuống chấm dứt một ngày của lính : Bóng chiều ngả xuống, bên kia hàng rào kẽm gai cao nhiều tầng, phía ngoài một bãi cỏ trống hoang, khói lên từ mái nhà của trại gia binh, ba bốn đứa nhỏ, một cánh diều giấy là là ngang ngọn cây, cánh diều của một tuổi thơ vàng son huy hoàng còn chăng trong tâm tưởng. (tr. 121)

Hàng rào kẽm gai biểu tượng cho sự ngăn cách giữa hai thế giới : bên trong là chiến tranh, ngục tù, bên ngoài là thanh bình, tự do, và sự ngăn cách về thời gian, giữa tuổi của người lính đã từng nếm đắng cay của cuộc đời và tuổi của trẻ thơ còn vô tội.

Vậy là hình ảnh của người cha và câu hỏi của ông đã đẩy Quảng vào những trăn trở về thân phận của mình. Và Quảng rơi vào mối ám ảnh thứ hai : cái chết.

Chẳng những Quảng có cái nhìn yếm thế, tiêu cực về cuộc đời, Quảng còn bị một tâm bệnh : bệnh khó sống, khó hiện hữu trên đời. Trước hết là một cảm giác lạc lõng : Tôi trôi nổi mơ hồ… (tr. 124) Tôi không biết gì về tôi. (tr.145)

Quảng cố nhớ những người xung quanh nhìn mình như thế nào :

… cha tôi không quên tôi là một người con hư hỏng bỏ đi, những thằng bạn tôi thấy tôi là một con gà chết, mẹ tôi thấy tôi là một thằng con nhút nhát, bất lực, và các em tôi nhìn tôi như một tên điên khùng không chừng… Còn tôi, tôi nhìn thấy tôi như một con sâu. (tr. 126)

Ở trang 152, Quảng lặp lại : Tôi chỉ là một con sâu.

Quảng lạc lõng, không biết chỗ đứng của mình trong vũ trụ và không có hướng đi. Có lúc Quảng từ chối nguồn gốc của mình, muốn sống trong một gia đình khác, từ chối cái tôi của mình. Sao tôi không là một người khác. Tệ hơn nữa Quảng từ chối sự hiện hữu trên đời này bằng cách không muốn làm người, tự cảm thấy mình dư thừa và Quảng thụ động, tự để mình buông trôi :

Tôi sống với những gì đến đó. Người ta kéo tôi đến đâu tôi sống vậy. Có lúc tôi nghĩ nếu tôi không sinh làm người tôi cũng vậy mà thôi. Nhập ngũ, đánh giặc, người ta nói tới những bổn phận, tôi vác súng ra trận và bắn như người ta nhắm tôi bắn vậy. Nhưng chắc người ta khác tôi, người ta cầm súng bắn với những mục đích, những mưu toan, mơ ước khác tôi. Nếu không có trận giặc tôi cũng vậy, có rồi tôi cũng vậy. (tr. 92-93)

Tất cả bi đát của đời Quảng có thể được tóm tắt qua câu hỏi : Tôi sinh ra để làm gì ? Sau khi giải ngũ, bệnh khó sống của Quảng càng trở nên trầm trọng hơn. Chương II và chương III là những độc thoại dài cho thấy tâm trạng của Quảng qua hai ngày khủng hoảng siêu hình để kết thúc bằng một cơn hoang tưởng. Trọn chương II, Quảng ngẫm đi ngẫm lại vụ tự tử hụt của mình. Khởi đầu Quảng tự hỏi tại sao mình hành động như thế, hình ảnh cây cầu sắt, nơi Quảng gieo mình xuống sông, trở đi trở lại trong độc thoại đến mười lần, như một hình ảnh chủ đạo, biểu tượng cho sự ám ảnh của cái chết. Quảng cảm thấy bất lực, không giải thích được hành vi của mình. Quảng ôn lại suốt ngày hôm đó đã làm gì từ sáng đến tối, chính vào lúc tối xảy ra vụ tự tử. Ngày thứ hai của cuộc khủng hoảng, trong chương III, được diễn ra như sau. Buổi sáng thức dậy, Quảng nhớ là đã nộp nhiều đơn xin việc làm. Quảng chờ đợi một cái gì xảy đến để thay đổi đời mình. Thình lình lại nghĩ đến người cha, người mẹ, nghĩ đến sự giả dối trong xã hội, đến con người ngày nay khác với thời xưa. Quảng bắt đầu có những dấu hiệu không bình thường Có lẽ mình đang biến giống rồi đây. Quảng đến tìm Lực, Lực đi vắng. Khi ra khỏi Câu lạc bộ Kỵ mã, Quảng đâm ra sợ, không biết đi đâu, làm gì, bèn đến nằm trên một ghế đá. Một thằng bé lân la đến làm quen, nó mách với Quảng vừa có một vụ tự tử gần đấy. Suốt ngày khủng hoảng đó, lời nói, cử chỉ của Quảng đều có tính hung bạo và quá mức. Nhiều lần Quảng tự hỏi mình có điên không. Sau đó Quảng đến văn phòng Đức, Đức lo lắng : Sao trông cậu như người mất hồn vậy. Đức đưa Quảng về nhà ăn trưa, trên đường Đức nói Quảng có con sán trong đầu. Ý nghĩ đó làm Quảng nôn mửa dữ dội khi về đến ngõ. Sau khi từ giã Đức, Quảng đi lang thang dưới trời nắng oi bức và đến ngồi trước hiên một cửa hàng đang đóng cửa. Thình lình một người điên xuất hiện, đối thoại giữa Quảng và người điên. Người điên nghe Quảng nói không có cha mẹ bèn hỏi : Thế chó đẻ ra à ? Bị xúc phạm, Quảng đá vào mặt người điên, rồi xin lỗi và mời hút thuốc. Dần dần Quảng phát điên và chìm vào một cơn hoang tưởng, tức tình trạng của một người mất quan hệ bình thường với thực tại, ăn nói như mê sảng : Tôi lao đầu chạy theo, tôi nghe như cả một không khí náo động, chừng như một thế giới ma quái nào bỗng nhiên thành hình, chừng như mọi vật đều thay màu, biến dạng, chừng như ma quỷ đã xuất hiện (…). Tôi la lên và lao đầu chạy, tôi nghe như vô vàn những tiếng la thét cùng cất lên, không khí đầy tiếng vang nhức nhối… Thế giới đã đổi khác rồi đó sao, tôi đã tiến vào một cõi nào… (tr. 198)

Ở đây, cơn hoang tưởng cũng có thể là một giấc mơ, Quảng có thể ngủ vật vờ đâu đó ngoài đường và nằm mơ thấy những huyễn tưởng, tức những sự tưởng tượng theo đó cái tôi tìm cách thoát khỏi sự chi phối của thực tại. Quảng thấy mình tỉnh dậy trên một bãi cỏ, một người thanh niên ở bên cạnh, và gần đấy có một ngôi nhà. Người thanh niên đề nghị đưa Quảng đi viếng vườn và nhà. Quảng được biết xưa kia có một con sông chảy ngang qua nhà, và ngôi nhà cổ này được xây cất một cách khó khăn. Một người đàn bà mang thai đã chết trong đó. Khi ngôi nhà không có ai ở thì có tiếng một người đàn bà chơi đùa với một đứa trẻ. Lúc trời tối, người thanh niên và Quảng ở trong ngôi nhà, Quảng than : Người ta sinh ra để làm gì ? Sống để làm gì ? Chết để làm gì ? (tr.215). Người thanh niên đưa cho Quảng một gói thuốc giết sâu bọ và bảo Quảng uống đi. Và Quảng chết trong cơn hoang tưởng.

Chủ đề chết hiển hiện trong khắp tác phẩm. Cái chết được xem như sự chấm dứt của bao khắc khoải và sau đó là hư vô. Quảng nhớ đến Ngưỡng : Rồi mày cũng chết con ạ… Rồi tao và cả chúng mày nữa cũng chỉ còn lại là một chút bụi vàng và hư không. (tr. 185)

Nhưng trước khi chết, thân xác được Quảng nhận thức như thế nào ? Quảng có cái nhìn bi quan về thân xác con người, thân xác mất hết giá trị bản thể, thiêng liêng của nó, và bị hạ xuống cái chức năng tiêu hóa, sinh lý : Ăn chỉ còn là hành động để cho đầy dạ dày. Hồi vừa nhập ngũ, nghe một tên cán bộ ví cái miệng là cái cối xay cứt đã khiến tôi nổi nóng, nhưng rồi từ đó, vâng từ đó, có lúc tôi đã nhận ra có phần đúng. (tr. 133)

… người đàn bà, con gái trong cái nhìn giống đực chỉ còn mỗi cái lỗ tròn, đôi vú với dáng điệu cách thế bỏ ngỏ như một đồ vật cần dùng… Từ đó đến nay tôi đã đánh mất đi bao nhiêu ảo tưởng, để chỉ còn lại thực tế. (tr. 133-134)

Dưới mắt Quảng có thân xác tàn tật của người ăn mày, thân xác tàn phế của người thương binh, thân xác tan nát của người lính tự tử trong kho súng. Ngay cả những người lính đang sống, đang hoạt động, thân xác của họ bị Quảng xem như những cái chết được tạm trì hoãn :

Ở đó cũng có những người cha vô danh, người mẹ vô danh, dù vậy đứa con vẫn có một cái tên, một con số được khắc sâu vào miếng kẽm, xỏ vào một sợi dây, mắc ở cổ, lủng lẳng nơi ngực, nơi đó cũng có thể có tượng phật, tượng chúa, thìa khóa, cái cắt móng tay… Cái chùm kim khí đó như tấm mộ bia, khác chăng nó không cắm trên một nấm đất, một mớ xương mà ở trên một nấm mồ sống, còn da thịt nóng, còn hơi thở, nhưng ở đó cũng chôn giấu những dĩ vãng được khơi dậy hay đã lãng quên mù tăm… Có điều chắc chắn những nấm mồ đó đang lo âu cho những ngày tới của nó, những lo âu dời đổi qua những nghĩa trang… Những gã đào huyệt tội nghiệp… và sau chót sẽ đến một nghĩa trang vĩnh viễn, tiêu tan trong đó như một cụm bụi vàng… (tr. 116)

Ngoài hình ảnh cây cầu sắt đã nói ở trên, dấu hiệu của sự chết bàng bạc trong truyện. Ngưỡng và Thạc đều có bạn đã tử trận. Khi Quảng và Ngưỡng cùng đi bên nhau, mỗi người đang suy nghĩ lan man về câu hỏi « Sau này sẽ làm gì ? » thì có tiếng chuông nhà thờ vang lên, Ngưỡng nói có người chết vì đó là tiếng chuông báo tử. Quảng liền tự hỏi tại sao sau này mình không là một gã đào huyệt. Trong căn nhà của quân đội, có những dãy giường hai tầng, Quảng nhìn những chiếc màn màu chàm phủ điều vuông vắn như những chiếc quan tài ngoại khổ. (tr. 136)

Hình ảnh của xác chết cũng lảng vảng nhiều trong truyện : thời kỳ Ngưỡng ở ngoài hải đăng được nghe tả nhiều xác chết sình thối ; còn Quảng ngồi cạnh người cha có cảm tưởng mình đang canh một xác chết, người bạn Thạnh nằm ngủ cũng giống một xác chết.

Điều đáng chú ý nhất là vấn đề tự tử. Đầu truyện là vụ tự tử hụt của Quảng, cuối truyện Quảng tự tử trong cơn hoang tưởng. Trong truyện cũng có những vụ tự tử do Quảng mục kích hay nghe kể lại. Tự tử là hành vi cuối cùng để chấm dứt những khắc khoải siêu hình.

II Cách tân nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết

Tác phẩm Con Sâu là một cố gắng của Dương Nghiễm Mậu để làm mới nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết. Trong khi phần đông các tác giả vẫn còn kể truyện theo lối truyền thống, thì Dương Nghiễm Mậu, trong truyện Con Sâu, đã không ngần ngại dùng độc thoại nội tâm từ đầu đến cuối truyện. Hẳn tác giả đã dùng độc thoại đây đó trong các tác phẩm trước, như trong Gia tài người mẹ chẳng hạn, xuất bản năm 1964. Nhưng chưa bao giờ Dương Nghiễm Mậu dùng kỹ thuật độc thoại nội tâm một cách triệt để như trong truyện Con Sâu. Mở đầu truyện, có tới năm độc thoại của năm nhân vật xen kẽ nhau. Người đọc có thể bỡ ngỡ khi phải đi từ độc thoại này qua độc thoại khác, và nếu thiếu kiên nhẫn có thể bỏ ngang việc đọc. Phải nói trong truyện Con Sâu, vai trò của người đọc cần phải tích cực. Annie Saumont, nhà văn nữ Pháp nổi tiếng về thể loại truyện ngắn, đặc biệt truyện rất ngắn, đã yêu cầu người đọc hãy cùng bà xây dựng truyện, nghĩa là trí óc của người đọc phải luôn luôn thức tỉnh, không bỏ qua một chữ nào, một chi tiết nào để thấu triệt cốt truyện. Với truyện Con Sâu, người đọc cũng cần có những cố gắng tương tự. Không thể đọc truyện Con sâu một cách thụ động, mà trái lại phải nhập vào thế giới riêng tư của các nhân vật, đặc biệt phải theo dõi tư duy, tình cảm của  nhân vật chính là Quảng. Việc đọc lúc đầu không dễ, cần phải đi xa hơn trong truyện mới từ từ nhận dạng được mỗi nhân vật.

Độc thoại nội tâm là một lối viết hãy còn mới ở miền Nam vào những thập kỷ 60-70 ; thật ra, cũng vào thời đó nó đã trở nên thông thường ở Tây phương. Phải đi lùi thời gian mới biết người đầu tiên dùng độc thoại nội tâm là một nhà văn Pháp, Edouard Dujardin. Năm 1887, Edouard Dujardin đã dùng hình thức mới này để viết cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông : Les lauriers sont coupés (Hoa trúc đào đã bị cắt trụi). Nhưng tiểu thuyết này không được chú ý. Phải chờ đến năm 1922, khi nhà văn Ai Len James Joyce cho ra một tác phẩm lừng danh : Ulysse, để độc thoại nội tâm được xem như một lối kể truyện mới mẻ. Lần lượt các nhà văn tên tuổi khác cũng dùng kỹ thuật này, như Virginia Woolf với tác phẩm Mrs Dalloway, hay William Faulkner với tác phẩm The Sound and the Fury (Âm thanh và cuồn nộ), v.v…

Độc thoại nội tâm là cái hình thức văn chương nắm bắt thời hiện tại của con người trong một ngôn ngữ chưa thành hình, đang nảy sinh không ngừng từ đáy sâu của tâm thức, ngôn ngữ đó luôn luôn trà trộn những kỷ niệm, mơ mộng, dự tính, cảm giác, nó là cái chuỗi liên tục của cái được gọi là dòng tâm thức (tiếng Anh : stream of consciousness, tiếng Pháp : le flux de conscience). Dòng tâm thức được dùng làm vật liệu cho độc thoại nội tâm, những hồi tưởng, những liên tưởng bất ngờ thay thế cho việc kể truyện có thứ tự. Nhà văn đưa người đọc vào ngay cái dòng tâm thức của nhân vật. Độc thoại của nhân vật là cái dòng thác liên miên của từ ngữ và hình ảnh, trong đó có khi người đọc khó theo dõi cốt truyện, cho nên tài năng của tác giả là làm thế nào để người đọc hiểu được truyện qua những sự kiện dồn dập và có vẻ lộn xộn của dòng tâm thức. Về điểm này, James Joyce là bậc thầy, vào cuối truyện Ulysse, cái dòng tâm thức của nhân vật Mrs Bloom, trong khi bà nằm chờ giấc ngủ, trải dài trong khoảng bốn mươi nghìn chữ không chấm phết.

Trở lại Dương Nghiễm Mậu, tác giả không hoàn toàn theo độc thoại nội tâm của Tây phương, chẳng hạn bằng cách bỏ chấm phết để cái dòng tâm thức của nhân vật được tự do thao thao bất tuyệt. Câu văn của ông được cấu trúc hẳn hòi như trong một văn bản bình thường. Độc thoại nội tâm của Dương Nghiễm Mậu đúng hơn ở ngay trong cách suy nghĩ chủ quan, thầm kín của nhân vật, và ở ngay trong cách nối tiếp chuyện này qua chuyện kia theo lối hồi tưởng và liên tưởng. Chẳng hạn khi đứng trên cầu, nhìn đầu điếu thuốc đỏ cháy, Quảng liên tưởng đến đôi mắt đỏ ngầu vì dục tình của tên chỉ huy, rồi Quảng nhớ đến cái ngày xảy ra chuyện đó, một ngày hành quân gian lao dưới cái nắng oi bức, đi qua một miền quê, Quảng nhớ lan man đến người cha, chắc đây là quê ông, nơi ông muốn trở về, rồi trở lại cái cảnh tàn bạo của tên dâm đảng, v. v… Kỹ thuật dựng truyện của Dương Nghiễm Mậu có nhiều đặc điểm.

Thứ nhất : tác giả đã chọn hình thức độc thoại nội tâm rất thích hợp để biểu hiện những ám ảnh và cơn khủng hoảng tinh thần của nhân vật. Độc thoại cũng dễ dàng biến thành ảo ngôn, thành những lời mê sảng của nhân vật.

Thứ hai : trong cách xếp đặt độc thoại, vào đầu truyện, tác giả lắp ghép nhiều độc thoại khác nhau, người đọc đi từ độc thoại này qua độc thoại khác, và bắt đầu làm quen với các nhân vật, nhận dạng mỗi nhân vật theo tính tình, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh sống của họ. Khi chân dung của Quảng đã được vẽ lên qua những độc thoại của bạn bè, thì tác giả đưa người đọc trực tiếp vào cái dòng tâm thức của Quảng, qua những độc thoại dài của nhân vật này. Đôi khi tác giả xen kẽ độc thoại với đối thoại, xen kẽ độc thoại với hình thức tự sự, nhưng không gây khó khăn cho việc đọc vì cốt truyện vẫn tiếp diễn.

Thứ ba là cách xây dựng nhân vật. Dưới ngòi bút của Dương Nghiễm Mậu, các nhân vật là những con rối mà tác giả điều khiển, sắp đặt và làm cho linh hoạt. Mỗi nhân vật là một thế giới riêng tư, chân dung và lối sống của nhân vật này được nhân vật khác miêu tả. Có khi tác giả chuyển từ nhân vật này qua nhân vật khác một cách đột ngột. Ví dụ ở trang 66, trong độc thoại của Đức, Đức đang nghĩ tới Lực với những chuyện bông đùa về trai thiếu gái thừa, bỗng nhiên Đức bắt qua một người khác và gọi là , đọc thêm vài câu mới biết là Ngưỡng. Ngoài ra, chỉ cần một chi tiết nhỏ cũng đủ vẽ lên một nét đậm đà trong sự miêu tả nhân vật. Chẳng hạn để diễn tả sự xúc động mãnh liệt của nhân vật Ngưỡng là một người đa cảm, tác giả chỉ viết gọn gàng : Giọng Ngưỡng lạc đi. Hoặc chỉ đôi mắt của người con gái cũng đủ gợi lên một cuộc sống thanh bình ở thôn quê :

Đôi mắt trong xanh nhìn lên. Đôi mắt mang hình ảnh những cánh đồng rộng hiền hòa, những cánh rừng dừa bạt ngàn, những kinh rạch trong mát không bao giờ cạn nước… (tr. 102)

Thứ tư là ý nghĩa của đồ vật trong dòng tâm thức của nhân vật. Ví dụ chi tiết cái ông bơ. Trong độc thoại của Quảng, khi Quảng đi bên cạnh Ngưỡng, và đang suy nghĩ về câu hỏi của người cha đã ám ảnh Quảng : Mày định sau này làm gì ? Quảng lặp lại câu hỏi với Ngưỡng : Cậu nghĩ sau này cậu sẽ làm gì ?

Ngưỡng lặng im một lúc, rồi ngừng lại nhìn tôi lặng lẽ, một lúc Ngưỡng lại cúi xuống tiếp tục bước. Một ống bơ nằm im. Ngưỡng giơ chân đá bung xuống mặt đường lăn đi rất xa. (tr. 107-108)

Rồi Quảng tiếp tục nghĩ đến câu trả lời của các bạn khác… thì : Tiếng chiếc xe vút qua, chiếc ông bơ bẹp xuống đường gây một tiếng động mạnh. Ngưỡng ở trước mặt tôi đang cúi xuống chiếc máy nước… (tr. 110)

Ống bơ xuất hiện trên mặt đường, lúc đầu nằm im lìm, rồi bị Ngưỡng đá lăn xa, một lát sau bị một chiếc xe chạy qua cán bẹp. Sự hiện diện của ống bơ, một đồ vật không đáng kể, được tác giả gợi lên hai lần, có tác dụng nói lên sự trôi qua của thời gian trong dòng tâm thức của Quảng. Tác dụng thứ hai là giá trị biểu tượng của cái ống bơ : thân phận của những người trai ở thời chiến, tức thân phận của Ngưỡng, cũng như cái ống bơ : bị đá lăn lóc đây đó, rồi bị cái guồng máy chiến tranh nghiền nát. Có thể xem biểu tượng này như một lời đáp của Ngưỡng với câu hỏi của Quảng.

Đặc điểm cuối cùng là việc dùng hồi tưởng và liên tưởng để nuôi dưỡng dòng tâm thức như đã nói trên.

III Truyện Con Sâu và triết học hiện sinh

Trong truyện Con Sâu, Dương Nghiễm Mậu thăm dò chiều sâu tâm lý của nhân vật, để nêu lên những khắc khoải về cuộc sống trên đời này, nêu lên sự hiện hữu dư thừa, vô lý, và có cả chứng buồn nôn, khiến người đọc liên tưởng đến triết học hiện sinh của Jean-Paul Sartre. Có đúng là Dương Nghiễm Mậu dùng thuyết hiện sinh cho truyện của ông không ?

Ở Pháp, sau thế chiến thứ hai, trong một bầu không khí buồn tẻ, trống trải, bỗng triết học hiện sinh của Sartre xuất hiện và được giới trí thức trẻ nhiệt liệt hưởng ứng. Theo Sartre, Hiện sinh có trước bản tính. Cây bút tôi đang cầm để viết, trước khi nó thành cây bút, nó đã được quan niệm là bút, đã được dự tính trước khi thành một đồ vật. Còn tôi, một con người, tôi hiện hữu vậy thôi, tôi không phải là kết quả của một dự án. Sartre cho rằng sự hiện hữu của con người là một sự ngẫu nhiên, vô cớ, phi lý. Con người bị đày phải tự do, một khi bị ném vào đời, con người chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình làm ra. Con người tự làm nên mình, tự tạo nên ý nghĩa của đời mình. Triết học hiện sinh của Sartre là một triết học hiện sinh vô thần, theo đó con người không do Thượng đế tạo nên, và sau cái chết không còn gì nữa. Ở Pháp, triết học hiện sinh của Sartre đã trở nên lừng danh và gây nhiều tranh cãi. Kể từ những năm 60 về sau, triết học này đã bị trào lưu cấu trúc luận phản bác, và bị phê phán là một ảo tưởng có tính chủ quan.

Ở Việt Nam, vào những thập niên 50-60, một số giáo sư trẻ tốt nghiệp về môn triết ở Pháp và Bỉ trở về nước giảng dạy triết học hiện sinh. Trong tâm trạng hoang mang trước một tương lai mờ mịt, trước sự đe dọa của chiến tranh, giới trí thức trẻ, đặc biệt giới sinh viên ở miền Nam thời đó hân hoan đón nhận triết học hiện sinh như một giải đáp phần nào cho những khắc khoải của họ. Nhưng cũng phải nhìn nhận rằng nhiều người đã dùng danh nghĩa hiện sinh như một thứ ngôn ngữ thời thượng, làm dáng, và có khi họ hiểu rất mập mờ triết thuyết này.

Trong truyện Con Sâu có những chi tiết nhắc nhở đến cuốn La Nausée (Buồn Nôn) của Sartre, như sự hiện hữu dư thừa, vô lý, hư vô, điên, buồn nôn, con sâu. Nếu so sánh Quảng với nhân vật Roquentin của cuốn La Nausée, thì hai nhân vật giống nhau ở điểm là cả hai đều sống cô độc, có nhiều khắc khoải, dằn vặt và cả hai tự cảm thấy dư thừa.

Roquentin có những trải nghiệm siêu hình khiến cái nhìn về sự vật của anh ta, như cái rể cây, hòn đá cuội v.v… đã biến đổi. Trong công viên, Roquentin thấy mọi vật đều dư thừa và chính Roquentin cũng tự cảm thấy dư thừa. Anh ta tự hỏi mình có điên không. Khi nhìn những sự vật mà ý nghĩa hoàn toàn đổi mới, Roquentin bị chứng buồn nôn.

Về phần Quảng, Quảng cũng cảm thấy mình dư thừa : Có lúc tôi nghĩ nếu tôi không sinh làm người tôi cũng vậy mà thôi (…) Nếu không có trận giặc tôi cũng vậy, có rồi tôi cũng vậy. (tr. 92-93) Nhưng nếu chúng ta đi sâu vào tâm lý của Quảng thì cảm tưởng dư thừa chỉ có đối với gia đình, với xã hội và với bản thân của Quảng, chứ không do một trải nghiệm siêu hình có tính lý thuyết như Roquentin. Trong gia đình, cha Quảng nói Quảng phải tự lo cho thân và phải tự coi như đã mồ côi, mẹ Quảng bỏ đi. Ngoài xã hội Quảng cũng cảm thấy dư thừa, không ai cần đến Quảng : Trong đời sống, giữa mọi người tôi có hay không cũng được. (tr. 168) Và Quảng nôn mửa chỉ vì Đức nói trong đầu Quảng có con sán. Quảng cũng có những trăn trở siêu hình, nhưng như chúng ta sẽ thấy sau, những trăn trở của Quảng thu hẹp vào sự hiện hữu của mình qua người mẹ là kẻ đã cho Quảng chào đời, tức thu hẹp vào hoàn cảnh của một cá nhân đi tìm lý do sự hiện diện của mình trên đời. Quảng loay hoay với những băn khoăn, ray rứt của mình một cách tuyệt vọng để cuối cùng rơi vào một tình trạng hoang tưởng, đến mức tự hỏi mình có điên hay không. Còn những trải nghiệm siêu hình của Roquentin có những chiều kích trí thức, có thể mở rộng cho con người nói chung ; thoạt đầu Roquentin cũng tưởng mình điên, nhưng sau anh ta nhận thấy mình không điên. Roquentin đã đi đến tận cùng trong trải nghiệm của mình bằng một khám phá cơ bản : cuối cùng có thể tìm được một giải thoát cho sự hiện hữu phi lý, đó là sự sáng tạo nghệ thuật.

Về cái tên con sâu – Quảng tự cho mình là một con sâu – nhưng đây không phải là con sâu trong L’Être et le Néant (Hữu Thể và Hư Vô) của Sartre, hình ảnh con sâu của Sartre biểu hiện cho cái phần hư vô nằm trong hữu thể, là cái khoảng trống ở giữa cái sự lấp đầy. Còn con sâu theo nghĩa của Quảng có phải là loài sâu bọ không đáng kể chăng, trong cái nghĩa có cũng được mà không cũng được ?

Tóm lại, ảnh hưởng của triết học hiện sinh trong truyện Con Sâu chỉ ở trong cái cảm tưởng của nhân vật Quảng rằng sự hiện hữu của mình trên đời là vô lý, là dư thừa. Cơn điên của Quảng không giống cảm tưởng điên của Roquentin, và chuyện Quảng nôn mửa chỉ là cú sốc do nhận xét của Đức.

IV Truyện Con Sâu nhìn từ góc độ phân tâm học

Trong ám ảnh của Quảng về cái chết, điều đáng chú ý nhất là ý muốn tự tử. Pierre Moron, tác giả một biên khảo về vấn đề tự tử, nhắc rằng về phương diện phân tâm học, người tự tử là một người sống cô độc, có hành vi tự tử khi hoàn cảnh sống của mình bị vỡ tung, khi cuộc đời không còn trọn vẹn nữa, nghĩa là thiếu tính tổng thể, và tổng thể mà người tự tử muốn đạt đến là tha nhân. Có thể nói tự tử là phản ứng cuối cùng của một người sống cô lập để tìm lại mối liên hệ đã bị vỡ tung, cho dù có phải tự tiêu diệt mình. Có phải đây là trường hợp của nhân vật Quảng không ? Quảng có đi tìm kiếm một mối liên hệ đã vỡ tung, một sự trao đổi với tha nhân không ? Và tha nhân đó là ai ? Điều này dẫn chúng ta vào lĩnh vực phân tâm học.

Như đã nói, tâm bệnh của Quảng là bệnh khó sống. Không phải chiến tranh, đời sống gian khổ trong quân ngũ hay những cảnh bất công trong xã hội đã khiến Quảng muốn chấm dứt đời mình. Quảng có thừa can đảm để đối phó với những thực trạng khó khăn. Lý do sâu xa ở ngay trong hoàn cảnh gia đình của Quảng, hay đúng hơn ở nơi người mẹ. Ám ảnh về người cha đã dẫn đến ám ảnh về người mẹ, và ám ảnh này sâu xa hơn, quyết liệt hơn. Những khắc khoải siêu hình làm lung lay sự hiện hữu của Quảng ở trên đời là do sự hoài nghi về người mẹ, sự bất lực để hiểu sự thật về người mẹ. Người mẹ đã sinh ra Quảng, và Quảng trăn trở : Tôi sinh ra để làm gì ? Truyện Con Sâu là chuyện tìm kiếm hình ảnh một người mẹ đã bị những lời nhục mạ của người cha làm cho hoen ố.

Trong các độc thoại dài của Quảng, hình ảnh cha mẹ, hoàn cảnh gia đình tan vỡ thường trở đi trở lại như một ám ảnh sâu đậm. Khi nghe bạn bè nhắc đến cha mẹ của họ, Quảng nghĩ : Còn tôi, có đó chứ nhưng tôi có cũng như không, thà như Lực (Lực tuyên bố không cha không mẹ), thà như một vật bỗng thấy mình có đó… (tr. 126)

Trong khi Ngưỡng yêu thầm Thảo và mơ có một gia đình ấm cúng, thì Quảng hoàn toàn dửng dưng trước tình yêu của một người con gái, Quảng không tài nào biết được hạnh phúc của yêu đương vì :

Tôi không xóa được bức màn đen căng lên cuộc sống, bức màn đen phủ lên cảnh vật. (tr. 102) Tôi cảm thấy tôi đui mù hay như kẻ sáng lần qua con đường hầm sâu tối mịt mù… (tr. 122)

Bức màn đen hay đường hầm sâu tối mịt mù là sự ngăn cản của vô thức, vô thức không cho Quảng đi xa hơn để biết tình yêu của nữ giới vì người mẹ biểu tượng cho nữ giới là một bí ẩn, khó hiểu. Quảng bị những lời nguyền rủa của người cha đeo đuổi và tự hỏi : Mẹ tôi đã ngoại tình sao ? (tr. 97)

Có phải đứa em sau chót đó không phải là con của cha tôi. Bằng chứng nào về điều đó. Với hơn bốn mươi tuổi đầu mẹ tôi vẫn còn những thèm khát tình ái nữa sao ? Như thế nào là đủ cho một người đàn bà. Cha tôi đã bất lực sao, thuốc phiện đã khiến ông hao sức lực rồi sao ? Sao tôi không quên đi những điều hết sức kỳ cục đó. (tr. 154)

Người phụ nữ ngự trị trong tâm hồn Quảng có hai bộ mặt : người đàn bà phản bội và người mẹ thương con. Thời gian Quảng ở trong quân lao, một người bạn tù đề nghị xâm một hình vẽ trên cánh tay Quảng, vì Quảng không biết chọn hình gì, người đó bèn xâm hình một con rắn thè lưỡi, vẻ ác độc. Sau đó anh ta đưa cho Quảng xem trên lưng anh ta hình một con rắn bị chặt nhiều khúc. Anh ta giải thích bị tình phụ và dọa sẽ giết người tình tuổi con rắn. Anh ta nói hình con rắn sẽ làm Quảng nhớ rằng bọn đàn bà nó khốn nạn lắm. Thế là vô tình Quảng mang trên tay cái biểu tượng của người đàn bà phản bội. Cái chết của người lính trong kho súng cũng vì lý do có người vợ dâm ô. Và khi gặp người điên Quảng tự hỏi tại sao anh ta điên. Một trong những lý do Quảng tưởng tượng là : Vợ hắn theo trai. Trong thâm tâm Quảng, người phụ nữ phản bội cũng là người mẹ của Quảng : mẹ đã phản bội cha.

Nhưng hình ảnh người mẹ thương con vẫn mạnh hơn. Người mẹ thương con có thể là một người phụ nữ thiếu đức hạnh, như trong cuốn phim mà Quảng đã xem cái ngày Quảng gieo mình xuống sông. Cuốn phim kể chuyện một cô gái điếm rất thương con. Quảng cũng nghe kể chuyện một người mẹ có con đi lính, vì quá thương con, sợ con chết, bà cầu mong con mình bị cụt tay cụt chân để có thể còn sống mà trở về với bà. Một gương khác về tình mẫu tử là tình thương của người mẹ của Ngưỡng, ngày đêm bà sống trong lo âu vì đứa con trai của bà ở trong cảnh vào sinh ra tử. Dấu hiệu đẹp nhất của người mẹ hiện ra trong cơn hoang tưởng của Quảng là tiếng hát của người mẹ khi đùa giỡn với đứa con trong căn nhà huyễn tưởng trống vắng ở cuối truyện, có lẽ đây là hồn của người đàn bà mang thai đã chết trong căn nhà đó.

Trong cơn mê sảng, Quảng thình lình đổi giọng : Quảng không nói tôi mà nói con  : … Con cũng không biết làm sao con đã có… Có để làm gì. (tr. 202). Rồi Quảng trở lại nói tôi : Thôi rồi, một sự thật chẳng bao giờ tôi tìm kiếm thấy… (…), nào tôi còn biết gì trong những gán gấp những nhận chịu từ những người khác đưa đến, những tiếng nói, những cái nhìn bao phủ, những tiếng nói như một chống đối, mà nào tôi còn gì trong thế giới này. Mẹ ơi, mẹ ơi… (tr. 203)

Một lời thú về sự bất lực trong việc tìm hiểu sự thật, và lời thú kết thúc bằng tiếng kêu cầu cứu với người mẹ.

Trong truyện Con Sâu có hai biểu tượng về người mẹ : nước và ngôi nhà. Nhà triết học Gaston Bachelard phân loại trí tưởng tượng theo các nguyên tố trong vũ trụ : nước, lửa, không khí và đất. Trong truyện Con Sâu, trí tưởng tượng của Dương Nghiễm Mậu thuộc về nước. Đầu truyện, Quảng gieo mình xuống sông, cuối truyện cũng có một con sông chảy qua ngôi nhà huyễn tưởng. Trong khi người điên nói ba hoa thì Quảng trong cơn hoang tưởng, mơ màng : Tôi nhảy xuống dòng sông, không một bóng người nào, nước gì trong quá trời vậy, bóng mây dưới đáy nước, hai bờ sông những cỏ xanh mọc cao trông ngọt ngào êm ả, tôi trôi trên đó dịu dàng phơi phới, tiếng suối đổ từ một nơi nào đó nghe êm đềm (…). Trong dòng nước đó tôi thấy tôi tan đi, tan đi siêu thoát. (tr. 197)

Theo Bachelard, nước là một nguyên tố có nữ tính. Có nhiều thứ nước : nước trong suốt, nước mùa xuân, nước trôi chảy, nước tù hãm. Có thứ nước mà Bachelard gọi là nước của người mẹ, của người nữ ; đặc tính của thứ nước này là ru. Khi Quảng nói : Tôi trôi trên đó dịu dàng phơi phới, Quảng đã được ru, được mẹ ru. Và nếu vào đầu truyện Quảng đã nhảy xuống sông để chết, đó cũng là một cách đi tìm người mẹ.

Mặt khác, Bachelard, trong cuốn La terre et les rêveries de la volonté (Đất và những mơ mộng của ý chí) cho rằng ngôi nhà cũng là một biểu tượng của nữ tính, trong cái nghĩa ngôi nhà là chốn ẩn nương, là người mẹ, là sự che chở, là lòng mẹ.

Trong khi Quảng mất trí : Mình đi đâu ? Trở về căn nhà của mày. Căn nhà nào của tôi ? Trở về nơi mày còn những ràng buộc không bỏ đi được. (tr. 204) Và ngôi nhà huyễn tưởng ở cuối truyện được miêu tả tỉ mỉ, một ngôi nhà được xây cất với đá quý. Đối với Quảng, ngôi nhà là sự kêu gọi trở về lòng mẹ đã cưu mang mình.

Tóm lại, chuyện của Quảng là một chuyện tìm kiếm người mẹ mà những lời thóa mạ của người cha đã làm mất biến. Có thể nào nói đến phức cảm Oedipe không ?

Xin nhắc sơ qua rằng theo học thuyết của Freud, phức cảm Oedipe chỉ định một tập hợp những biểu hiện cảm xúc mạnh mẽ của đứa bé đối với cha mẹ. Vào khoảng 3 tuổi, đứa bé, đặc biệt đứa bé trai có phức cảm đó với mẹ nó. Nó yêu mẹ, muốn chiếm hữu mẹ hoàn toàn cho riêng mình, và nó ganh tị với người cha. Trong phức cảm Oedipe, không phải bản năng nhục dục mà chính tình yêu ở hàng đầu. Khi người con trai lớn lên, phức cảm Oedipe bị kìm nén, và người con trai tự đồng hóa với cha mẹ, chấp nhận những quy tắc đạo đức của cha mẹ. Trong sự tiến hóa tình cảm và đạo đức, người con trai xa rời người mẹ và đi tìm những đối tượng tình yêu khác.

Trong trường hợp của Quảng, một cách vô thức Quảng đã trở về với tuổi thơ : Tôi sinh ra không có cái nôi để nuôi mình. (tr. 100) Tới hai mươi sáu tuổi tôi vẫn thấy tôi còn bé (…) Đứng trước bất cứ ai … tôi thấy tôi nhỏ bé và khờ dại… (tr. 107)

Như đã nói, tuổi thơ là thời kỳ đứa bé trai có phức cảm Oedipe. Chẳng những vô thức của Quảng đưa Quảng về với phức cảm Oedipe mà Quảng còn muốn trở về trong bụng mẹ qua huyễn tưởng người đàn bà mang thai chết trong căn nhà. Phải chăng đây là cái chết của mẹ con Quảng mà Quảng ước mơ, cái chết trước khi Quảng ra đời để khỏi biết những sự thật phũ phàng, và cũng là cái chết để gìn giữ trọn vẹn thanh danh của người mẹ ?

Có thể nghĩ rằng phức cảm Oedipe của Quảng đã bị cản trở bởi những lời buộc tội của người cha, cho nên mới có những hình ảnh xấu về người đàn bà : người đàn bà phản bội mà hình con rắn là biểu tượng. Nhưng chuyện của Quảng không phải chỉ là một chuyện về phức cảm Oedipe. Quảng thiếu một người mẹ : Tôi sinh ra không có cái nôi để nuôi mình. (tr. 100) Và sự tìm kiếm người mẹ qua bao dằn vặt đã đưa đến cơn hoang tưởng ở cuối truyện ; tiếng nói của vô thức đã quá rõ ràng.

Một tác phẩm văn học phong phú là một tác phẩm hàm nhiều ý xếp chồng lên nhau, công việc phê bình là gỡ từng lớp để cố đưa ra ánh sáng một số ý ngầm như một phần nào của cái mà các nhà phê bình theo xu hướng phân tâm học ở Pháp gọi là vô thức của văn bản. Vô thức của văn bản khác với vô thức của tác giả. Tác giả là người đã tạo nên văn bản, nhờ tác giả mới có văn bản, tuy nhiên khi văn bản được hình thành, nó có một đời sống độc lập và có một vô thức riêng của nó.

Truyện Con Sâu có hai đặc điểm : trước hết là nghệ thuật dựng truyện như đã nói : vào đầu truyện Dương Nghiễm Mậu dùng độc thoại của nhiều nhân vật và cho những độc thoại đó đan vào nhau, khiến người đọc nào chưa quen sẽ ngỡ ngàng, tác giả muốn đưa người đọc đi vào nội tâm của từng nhân vật. Đây là một nghệ thuật dựng truyện rất mới đối với văn học miền Nam thời đó. Đặc điểm thứ hai là tác giả có lối miêu tả một cuộc khủng hoảng tâm lý khởi đầu từ thế giới hiện thực rồi lần lần trôi vào thế giới của huyễn tưởng khi cơn khủng hoảng lên đến đỉnh điểm, để chấm dứt bằng một cơn hoang tưởng.

Khi thăm dò chiều sâu tâm lý con người, Dương Nghiễm Mậu đã chọn một hình thức sáng tạo độc đáo, có thể được xem như một đóng góp đáng kể vào văn học miền Nam.

 

 

 

Bạn đọc có thể đọc thêm bài : Dương Nghiễm Mậu Và Mê Lộ Của Người Anh Hùng trên trang mạng này.

 

 

 

 

TRẦN HOÀI THƯ VÀ NỖI ĐAU CỦA CON NGƯỜI

Một nền văn học cần có một thời gian lâu dài để phát triển. Thế nhưng văn học miền Nam chỉ có hai mươi năm để ra đời và trưởng thành. Điều đáng mừng là nền văn học này đã sinh ra nhiều hoa quả, đã trở nên, trong một thời gian ngắn ngủi, một nền văn học phong phú, đa dạng với nhiều nguồn sáng tạo, nhiều khuynh hướng, như các khuynh hướng : Về Nguồn, Duy Mỹ, Xã Hội, Dấu Ấn Của Tây Phương, Tiếng Nói Người Nữ, Phật Giáo, Chiến Tranh, v.v… Khi miền Nam, dưới thời Đệ Nhị Cộng Hoà, dần dần chìm vào khói lửa thì chiến tranh đã nghiễm nhiên đi vào văn chương và chiếm một vị trí hiển nhiên trong nền văn học. Có những nhà văn đầy ưu tư, trăn trở, trước thời cuộc đen tối, đã không ngần ngại viết về thảm kịch của đất nước. Lại có những nhà văn trẻ trong quân đội đã trực tiếp tham chiến và hăm hở cầm bút để làm nhân chứng, trội nhất là Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam và Trần Hoài Thư.

Cũng như Nguyên Vũ và Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư có những tác phẩm xuất bản trước năm 1975 : Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang (1968), Những Vì Sao Vĩnh Biệt (1970), Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (1971), ba tập truyện này do nhà Ý Thức xuất bản, và Một Nơi Nào Để Nhớ (Nxb Con Đuông, 1974). Cũng vào thời đó, Trần Hoài Thư có rất nhiều truyện ngắn đăng trên các tạp chí nổi tiếng. Nếu chỉ kể ba tạp chí : Bách Khoa, Văn, Vấn Đề, thì Trần Hoài Thư đã có trên 50 truyện mà sau này tác giả tập hợp thành những tập truyện gọi là Trần Hoài Thư, Truyện từ Bách Khoa, Truyện từ Văn, Truyện từ Vấn đề. Nếu kể thêm các tạp chí khác thì số lượng truyện ngắn của ông còn nhiều hơn nữa. Ra hải ngoại, Trần Hoài Thư không ngớt sáng tác truyện, ký và thơ, ông có thêm khoảng 10 đầu sách. Với mục đích tìm hiểu vấn đề sáng tạo trong văn học miền Nam, bài này chỉ bàn về những truyện của Trần Hoài Thư sáng tác trước năm 1975.

Trần Hoài Thư sinh năm 1942, đã từng là một Trung đội trưởng thám kích thuộc Đại đội 405, Sư đoàn 22 bộ binh của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, về sau ông làm phóng viên chiến trường. Truyện của ông gồm nhiều yếu tố tự truyện, chẳng hạn người đọc thấy thấp thoáng đây đó bóng dáng một người trung đội trưởng trẻ cận thị, vừa lo âu cho trung đội của mình vừa lo lạc mất cái kính cận thị, sợ e không thấy đường những khi tiến quân, đó là hình ảnh của tác giả.

Trần Hoài Thư là một người lính quá quen thuộc với những cảnh tàn bạo của chiến tranh, thế nhưng truyện của ông không kích động lòng căm thù, mà chỉ hướng về trải nghiệm của người lính, một trải nghiệm mở rộng tầm nhìn để thấy nỗi đau của con người trong chiến tranh, và trong nỗi đau đó bỗng nhiên phát sinh lòng nhân ái. Qua tâm trạng của các nhân vật, người đọc cũng thấy được cái không gian đặc thù của Trần Hoài Thư.

I Trải nghiệm của bản thân người lính

Đọc Trần Hoài Thư là theo dõi người lính trong các cuộc hành quân gian khổ, vượt đèo, leo núi, lội sông, đi qua các làng ấp bị thiêu rụi, nghe dân làng khóc lóc thảm thiết và cảm thấy mình bất lực ; rồi cũng có những cảnh đói lạnh, đi dưới mưa dầm liên miên trong lo sợ những cuộc tấn công bất ngờ của đối phương, và nghĩ rằng chiến tranh không bao giờ chấm dứt.

Đọc Trần Hoài Thư thấy hậu quả chiến tranh rành rành trước mắt, nhưng người đọc như rời khỏi thế giới bên ngoài với tiếng đại bác rền vang khắp nơi, với những chiếc trực thăng đảo qua đảo lại trên trời, để đi vào nội tâm của người lính, để thấy rõ thân phận của người trai thời chiến, vào sinh ra tử nơi trận mạc ; có khi trở về thành phố, thấy người dân sung sướng, an toàn nhờ sự hy sinh xương máu của mình, nhưng ở họ có cái vẻ vô tâm và vô ơn khiến người lính tủi lòng. Khi thả hồn vào dòng suy tư, lắm lúc người lính trở về với tuổi thơ của mình, bất chấp hiện tại với những đòi hỏi thiết thực, với những bất trắc. Trong truyện Trong Đôi Mắt Chúa, người lính tên Sáu trong một cuộc hành quân trở về làng Nho Lâm, qưê hương của anh, lòng đầy xúc động, anh nhớ lại thời thơ ấu cùng mẹ đến nhà thờ cầu nguyện, hay vào thời kháng chiến, những lúc cùng mẹ chạy xuống hầm tránh bom đạn ; rồi cậu bé đứng trên một chiếc cầu đá nhìn xuống mặt nước và mơ một chuyến đi xa. Cũng như người thương binh trong truyện Về Thành nhớ lại khi xưa mình là đứa bé ngồi trên cành đa nhìn xuống con sông cũng mơ ước một chuyến đi xa. Trong bài bút ký chiến trường : Cánh Diều Trên Đồng Cỏ, khi tác giả là một phóng viên chiến trường ngồi trên trực thăng nhìn xuống đồng lúa bao la, thấy một đứa bé thả diều, tác giả nghĩ : Hình ảnh ấy đẩy đưa tôi về những mùa kỷ niệm, và mơ màng nhớ lại mình là đứa bé thả diều ngày xưa.

Nhưng tuổi thơ là thiên đường của quá khứ và hiện tại là địa ngục của chiến tranh. Người lính trải qua bao lo âu, khắc khoải, nhất là khi phải đối diện với cái chết. Trước bao nguy hiểm, người lính biết mạng sống của mình rất mong manh. Trong Nhật Ký Hành Quân II, tác giả ghi : Ngày hôm đó, ngày 9-5 thì phải. Mặt trời thì gay gắt. Chỉ có mặt trời mới thấy bọn tôi. Tôi nằm trong bụi, mặt dầm dề máu và mảnh lựu đạn, đít mông cũng vậy. Tôi, lần đầu tiên, niệm : « Nam mô Quan thế âm Bồ Tát, cứu nạn cứu khổ… » hàng trăm lần. Nhìn mặt trời. Cho con sống. Sống. Sống. Tôi vùng dậy chạy. Đạn bắn dưới chân. Tôi lộn nhào. Chạy. Chạy. Đạn rít trên đầu, tôi nhào xuống bờ suối. Đạn đuổi theo. Nó canh kỹ. Ló đầu ra. Tắc, bùm. Thụt đầu vào. Chạy, lăn. Tội nghiệp thân thể mày chưa, ốm yếu thế kia. Cha mẹ nâng niu thế kia, bây giờ vùng vẫy, bò, chui từng đám bụi, bò hai chân, hai tay. Bò ngửa. Bò sấp. (Văn, tr. 53)

Khi một đồng đội chết : Phòng lạnh. Những ngăn hòm vĩ đại. Số 19. Người lính kéo ngăn. Định đang nằm ngủ. Gương mặt sạm, đầy xương. Đôi mắt khép kín. Thân thể trần. Chỉ có mỗi chiếc quần đùi màu ô liu. Trên ngực 5, 6 vết thủng bầm tím. Miểng mìn. Thằng khóa 24 rơm rớm nước mắt. Thằng khóa 13 đôi mắt đỏ hoe. Chúng đã hiểu là từ đây không còn thằng Định nữa. Nó đã mất, mất hẳn. Dù có phép mầu to tát của Thượng đế, Định vẫn không thể nở lại nụ cười đẹp trên chiếc cằm xương kia nữa. (Người Trở Về, Bách khoa, tr. 166)

Và nếu người lính thoát chết thì cả một sự ngỡ ngàng : Khi nhào xuống vực cạn của con suối, tôi biết mình thoát nạn. Tôi từ từ khép mắt, duỗi thẳng tay chân, thả lỏng cây M16 và kiệt sức nằm bất động. Thú thật tôi chẳng biết mình mừng hay đau đớn. Trạng thái đó quá cực độ bây giờ hạ thấp xuống đến ớn lạnh. Tôi vui mừng quá sao ? Tôi còn sống sao ? Hai chân tôi còn bước đi, tôi còn nói, còn cười, còn trở lại kiếp lưu đày khốn khổ này sao ? (Trưa Địa Ngục, Bách khoa, tr. 99)

Cái chết luôn rình rập, đe dọa, tuy nhiên người lính vẫn còn một tình yêu lãng mạn để bám víu : Trong khi anh sống lên chết xuống cũng gọi tên em. Trong khi anh nằm trên gò mả, trong mương, trong bụi, trên võng trận, trong giao thông hào, cũng nhớ đến em (…). Anh mới hiểu không gì mạnh mẽ, cuồng nộ, si dại, như tình yêu đầu đời. Anh mới biết rằng trong một đời, có một người để mình mang theo vĩnh cửu. (Tình Nhớ, Bách khoa, tr. 51, 53)

Điều mà người lính thiết tha mong ước là được vô sự : Từ tuyến xuất phát, chúng tôi được lệnh cùng một đơn vị bạn, tiếp tục lục soát một chiều dài non hai chục cây số. Chúng tôi phải chiếm lần lượt những ngôi làng bỏ hoang, và có thể di tản một số dân còn lại về vùng an ninh. Chúng tôi đã vô sự (…). Vô sự, hai chữ ấy như một sức hấp dẫn mãnh liệt. Đời chiến binh chỉ mong bao nhiêu đó. Nhưng mấy ai thoát được trên trăm ngàn cuộc ra quân ? Vì thế, lần dừng quân chiều nay, có lẽ chúng tôi là những kẻ sung sướng nhất. (Đêm Chiêm Thành, Bách khoa, tr. 106)

Nỗi niềm của người lính khiến anh nhạy cảm với những hoàn cảnh đau khổ xung quanh.

II Nỗi đau của con người

Chiến tranh do ý thức hệ gây nên và nạn nhân là những con người vô tội. Nỗi đau của con người xảy đến trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, dưới nhiều hình thức. Nó đi từ một nỗi buồn da diết đến những đau xót không có từ ngữ để diễn tả.

Truyện Ga Đêm Quạnh Quẽ kể một người lính bị thương, trốn khỏi quân y viện để tìm về xóm ga xưa, nơi người cha làm nghề xếp tàu, ngày ngày xách chiếc đèn lồng đưa đón những chuyến tàu. Nhưng người lính không tìm lại được cảnh sống khi xưa, chiến tranh đã làm tê liệt mọi sinh hoạt, các đầu tàu, toa tàu đều ngủ yên trong bóng tối, không tìm lại được gia đình thân yêu của mình : người mẹ suốt đời chịu đựng bao gian khổ nay đã bỏ đi, người cha đã làm lại cuộc đời. Người lính trở về xóm cũ mà lòng đau xót vì người mẹ đã vắng bóng.

Trong truyện Những Thẻ Nhang Cho Hoàng Hôn, một người cha mất đứa con trai duy nhất, chỉ vì đứa con không muốn xa cha già để lên tỉnh sống an toàn một mình. Đứa con chưa đến tuổi đi quân dịch, bị xã bắt làm thanh niên chiến đấu giữ ấp. Một đêm, quân giải phóng về chiếm ấp, đôi bên nổ súng, đứa con của ông già tử trận. Ông quá thương con, xây một ngôi mộ đẹp cho con, rồi đào một cái huyệt bên cạnh để khi chết sẽ được nằm bên con.

Nỗi đau của con người có khi vượt sức chịu đựng, nó làm người nghe đau xót lây. Trong Nhật Ký Hành Quân II, làm sao không xúc động trước nỗi đau khổ của một bà già :

Buổi tối đại đội đóng quân đêm tại một ngôi làng cách núi không bao xa. Trung đội tôi phòng thủ mặt Bắc, đối diện với cánh đồng rộng. Tôi bảo lính đào hầm và chia vị trí cho mỗi tổ. Khi về ngôi chùa làng, tôi sửng sốt nhận ra vợ ông già ấp trưởng quấn trên đầu khăn tang. Bà bảo chồng bà bị nẫu chặt đầu tháng trước. Bà vừa nói vừa khóc. Đêm đó nẫu về gọi cửa, tôi mở. Nẫu hỏi ổng. (…) Nẫu bảo nếu ông là ấp trưởng, nói thật nẫu tha. (…) Tôi chạy ra, lạy từng người : « Lạy ông tôi lạy, ổng không có tội. Người ta bắt ổng làm, ổng phải làm. » Nẫu xách báng súng đánh vào màng tang tôi rồi bắn một phát trúng đùi. Tôi ngã xuống. (…)

Bà khóc rống. Tôi nghe quặn đau. Thế này thì quá lắm. Chiến tranh là cái giống gì mà bẩn thỉu quá vậy. (…) Mới đây bọn tôi còn về, ông ấp trưởng còn ngồi hàn huyên bên tách trà nóng, còn kể chuyện sự tình. Khổ lắm ông ơi. Người ta bắt mình phải làm. Đêm nào nó cũng mò về vác loa gọi tên tôi đích danh, đòi chặt đầu. Đêm nào bọn tôi cũng nằm bờ mương bờ ruộng (…) Nghe ông ta nói, tôi bùi ngùi. (VĂN, tr. 46-47)

Truyện Ngày Tháng Xa kể nỗi đau xót của một người sĩ quan tên Hoài, khi những người lính dưới quyền anh đã nổ súng lầm trong đêm tối giết phải một người đàn bà và gây thương tích cho đứa con. Về sau vì chán nản, Hoài bỏ về cô nhi viện nơi anh đã sống tuổi thơ trong tình thương của các nữ tu. Anh xin dạy học cho các em bé cô nhi, nhưng khi gặp lại bé Danh, con của ngưòi đàn bà bị giết lầm, nay bé Danh cụt chân sống trong cô nhi viện, thì Hoài quá đau lòng lại bỏ đi.

Chiến tranh gây chia rẻ giữa những người ruột thịt, biến họ thành những kẻ thù. Trở lại truyện Trong Đôi Mắt Chúa, khi Sáu đi thơ thẩn xung quanh ngôi nhà thờ, anh gặp lại ông Tám, người trông giữ nhà thờ, và được ông cho biết anh Hai của Sáu hoạt động cho bên kia. Người anh đội mũ cối, mang dép Bình Trị Thiên, về Nho Lâm dò hỏi ông Tám về Sáu, vì Sáu là lính Quốc gia, không còn tình anh em ruột thịt nữa.

Trong truyện Về Thành, một gia đình, một dòng họ, cũng bị chia rẽ, trở nên thù nghịch nhau. Người thương binh với một cánh tay cụt trở về quê bên kia bờ sông Tranh. Anh nghĩ anh không còn khả năng cầm súng ra trận nữa, vậy chiến tranh đã chấm dứt đối với anh. Anh nôn nao mong gặp lại những người thân trong làng, nhớ nhất là chị Hai, người chị nhút nhát, gì cũng sợ. Nhưng khi gặp lại người ông, anh được biết trong làng chỉ có anh và một người trong gia đình đi lính Quốc gia, còn tất cả đều theo bên kia, chị Hai, chú Ba, dượng Tư đều lên chiến khu. Chị Hai đã trở nên một người gan dạ, chị đã tổ chức những vụ ám sát, ném lựu đạn. Nhưng một đêm, chị bị lính Quốc gia phục kích bắn chết. Ông nội khuyên anh thương binh đừng ra mắt người dân trong làng, vì anh đã bị mọi người li khai. Người thương binh lủi thủi ra về, anh lội qua sông để trở về thành, nhưng một chiếc trực thăng bay trên đầu nổ súng, anh đưa cánh tay cụt lên chới với kêu : Tôi là thương binh đừng bắn tôi. Liệu những người lính trên trực thăng có nghe anh nói gì không, hay họ cho anh là kẻ thù cần tiêu diệt ?

Nhưng có nỗi đau nào thảm thiết, hãi hùng đến nỗi không có từ ngữ nào diễn tả nổi như trong truyện Quán Biên Thùy ? Truyện bắt đầu trong một bầu không khí vui vẻ. Một đại đội đóng quân trên ngọn đồi 101 được gọi là « Quán Biên Thùy ». Khi đại đội sắp sửa mừng đón giao thừa thì có tin cô em của người đại đội trưởng tên Hải sắp đến từ Sài gòn thăm anh, vì nghe anh thường nói đến « Quán Biên Thùy ». Người anh lo âu vì tình hình không mấy yên ổn mà đứa em của mình lại quen sống cảnh an bình ở Sài gòn, nhưng cô em bướng bỉnh đặt người anh trước một chuyện đã rồi. Vậy người đại đội trưởng cùng với một người trung đội trưởng rất thân thiết tên Trọng đến phi trường đón Mỵ, tên cô em. Trên đường trở về, chiếc xe jeep do Hải lái chạy qua một cánh rừng thưa, Hải bèn tăng tốc độ, còn Trọng lên súng trước sự ngạc nhiên của Mỵ, thì ra nơi đó có tiếng nguy hiểm, Việt Cộng thường ra chận đường xe cộ. Ở « Quán Biên Thùy », trong đêm giao thừa không khí vui nhộn nhờ sự hiện diện của một thiếu nữ xinh đẹp, khả ái, từ Sài gòn đến, đem lại cho đám lính một cái gì thật tươi mát. Mọi người đều đòi cô Mỵ hát. Người anh thì tìm thấy qua đứa em gái hình ảnh của gia đình thân yêu. Còn Trọng và Mỵ khi gặp nhau thì giữa hai người có một mối giao cảm đã nhanh chóng trở thành tình yêu. Một chân trời hạnh phúc dường như bừng sáng trước mắt họ.

Nhưng rồi cuộc vui chấm dứt. Khi Mỵ sửa soạn trở về Sài gòn thì có lệnh đại đội phải di chuyển khẩn cấp, vì có tin địch đã chiếm một quận lỵ gần đó và người quận trưởng đã bị giết. Một đoàn xe GMC lên đỉnh đồi để đưa đại đội đi gấp. Người anh từ giã cô em, Trọng cũng chia tay với người yêu. Mỵ nhìn đăm đăm Trọng : Dáng Trọng gầy, chiếc mũ rừng chụp xuống, mái tóc dài, những ngón tay khẳng khiu. Chiếc quần trận màu xanh đã bạc, thấy có chỗ tươm rách. Mỵ thương chàng đến độ muốn ôm chầm chàng để khóc oà như con nít. (Bách Khoa, tr. 93)

Rồi Mỵ cũng chờ một chuyến xe đò chạy thẳng về thành phố. Trên xe đò, mọi người xung quanh Mỵ đều vô tư, bình thản. Hôm nay là ngày mồng một Tết, ngày thiêng liêng, ngày hưu chiến. Mỵ ăn mặc như những cô gái Sài gòn : quần jean, áo pull, đeo kính mát. Khi chiếc xe đò chạy qua cánh rừng thưa, nơi anh của Mỵ đã tăng tốc độ chiếc xe jeep, thì một nhóm người mặc bà ba đen, đeo khí giới đứng chận xe đò. Mọi người trên xe bước xuống, có bốn người thanh niên bị bắt trói. Một kẻ chỉ huy nhìn Mỵ chăm chăm quát : Con này trước Cách Mạng mà còn mang kính đen của tư bản đế quốc đĩ điếm phản động. Vì quá sợ hãi Mỵ quên gỡ kính mát. Mỵ bị bắt với bốn người thanh niên. Sau khi nghe bài học tuyên truyền, bốn người thanh niên bị buộc tội là lính đánh thuê, họ bị bắn tại chỗ. Còn Mỵ bị dẫn vào một ngôi nhà đổ nát, tên chỉ huy nói với người dưới quyền mình : Đồng chí ở ngoài canh chừng. Tôi phải làm việc với con bé này. Nó chắc là tay sai gián điệp Sài gòn không chừng.

Trong khi đó đoàn xe đưa đại đội lên đèo An Khê. Trọng còn đang say đắm trong niềm hạnh phúc, nhưng sao có đàn chim bỗng sà xuống đoàn xe, Trọng nghe một tiếng rú như xé dội cả trùng trùng điệp điệp núi đèo, đẩy bật cả mấy tầng trời, gốc cây đại thụ, bạt cả bờ vách đá… Trọng bủn rủn cả người, hối hả bảo tài xế ngừng xe, rồi tin cho Đại bàng (cấp chỉ huy) biết, Đại bàng ra lệnh cho đại đội xuống xe, bố trí hai bên đường. Sau đó một đoàn xe chở đạn của Đồng Minh chạy qua, trong chốc lát bị mìn nổ tung, lửa bốc cháy ngợp trời.

Phải chăng tiếng rú ghê rợn của Mỵ khi cô chết đã cứu sống được người yêu ? Chỉ một tiếng rú hãi hùng trong linh cảm của Trọng.

Nỗi đau của con người không bao giờ hết. Nhưng đã có tình thương bù đắp. Tình thương giữa người và người. Và cái tình người đó đã được một người lính ở tù, làm lao công đào binh lo chăm sóc sân cỏ của một biệt điện, trong truyện Cõi Mù Tăm, nói lên : Tôi không thể can đảm nhìn những nỗi đau khổ của kẻ khác. Chính điều đó đã khiến tôi trở nên một kẻ tù tội như thế này. Những nỗi đau khổ của tha nhân mà tôi đã gặp, có phải chăng ở trên những quảng đường tôi vác súng đi qua, trong những ngôi làng chúng tôi xung phong vào chiếm, ở những người tôi bắt trong một chuyến lục soát. (Vấn Đề, tr. 80)

Truyện của Trần Hoài Thư tràn đầy lòng nhân ái của đủ hạng người. Trước hết tình đồng đội của một người chỉ huy. Trong Đỉnh Xuân Buồn, lính của trung đội Hạo phải đi canh gác trong đêm giao thừa, Hạo thân mật nói với họ : Lệnh bắt mình phải làm vậy, chứ tôi nào có muốn làm khổ anh em đâu. Trong khi Hạo lo canh gác, anh nghĩ đến những người lính của mình : Còn những người lính kia nữa. Chúng bắt chàng phải sa nước mắt. Cứ chửi thề. Cứ than thở. Rồi sau đó, cuối cùng là rủ nhau lao vào cõi chết. Để cho thiên hạ được sống. (…) Bỗng nhiên chàng ước kêu cả trung đội về ngồi trên sân gạch này, để cùng chuyển nhau cốc rượu. (…) Đêm giao thừa mà. Đêm linh thiêng mà. Phải siết chặt tay từng thằng, mừng thêm một năm thoát chết, thoát đạp mìn, thoát bị bắn trả, thoát bị phục kích, thoát bị pháo kích, thoát biển người, thoát chốt… Nhưng chàng không dám. Rồi giao thừa đến, bỗng nhiên chàng la lên cuồng nhiệt : Anh em ơi, giao thừa rồi ! Ngồi dậy chúc mừng nhau đi, anh em ơi ! (Bách Khoa, tr. 125-126)

Tình người nảy sinh trước một người nông dân rơi vào cảnh trên đe dưới búa. Trong Những Kẻ Trốn Chạy, một người trung đội trưởng kể trong một cuộc tảo thanh một ngôi làng, lính bắt được một người đàn ông mặc bà ba đen quần đùi. Lính chĩa súng vào hông hắn giục : « Mày Việt Cộng hả, nói đi ! » Tôi thấy hắn run run :

– Dạ, tại tôi sợ.

– Mày sợ ai ? Lính Cộng hòa chớ phải Việt Cộng đâu !

– Dạ, sợ mấy ông bắt tôi đi lính. Tôi có cha mẹ già và bốn đứa con.

Tôi bâng khuâng trong giây phút. Tôi nghĩ đến một gia đình khi kẻ rường cột ra đi. Tội nghiệp ! Nhưng nếu không bắt, bên kia sẽ bắt hắn lên núi. Hắn là một con bù nhìn đáng thương, đang sửa soạn lao vào giòng cuồng lưu tàn bạo. (…) Những con người vô tội ở nông thôn, bị giành giựt xâu xé. (…) Tôi trả lại thẻ cho hắn, nói : « Mày về đi ! ». (Bách Khoa, tr. 31)

Trong truyện Người Thầy Trẻ, tình thầy trò trở nên tình thương binh. Minh, một giáo sư cầm súng đi tác chiến như mọi người, và bị thương đang điều trị ở quân y viện. Một hôm, anh thấy một người thương binh cụt chân rất trẻ, khoảng 21-22 tuổi, đi đến phía anh và hỏi :

– Có phải ông là thầy Minh, dạy TCV ngày trước ?

Minh gật đầu. Hắn cười hớn hở :

– Em là Lê Văn Dự. Thầy biết không ?

Minh nhớ ra rồi. Hai thầy trò cảm động ôm nhau. Minh nhìn : Người học trò của ngày xưa, trẻ trung và trong sáng, dệt bao nhiêu mộng mơ êm đềm nhất, bây giờ trở nên một tên thương binh già trước tuổi, với đôi mắt buồn bã, như đã thấy cái tương lai đen tối ở trước cuộc đời : nhất là cái ống quần phất phơ trong gió. Hai thầy trò kể cho nhau hoạn nạn của mình. Minh bị những mảnh lựu đạn ghim ở đùi. Dự thì xui xẻo hơn, anh bị trúng mìn trong trận Phú Nhơn, và nằm ở quân y viện này đã nửa năm. Minh nhìn người học trò cũ của mình, lòng bỗng dưng xúc động. Thế hệ chàng thì xem như bỏ đi. Nhưng bây giờ đám học trò của chàng lại tiếp nối. Minh nói : « Dự cần gì tôi giúp cho (…) Chẳng hạn xách một chai nước, cầm một khay cơm. Ở chốn này chúng ta là bạn, là thương binh… » (Bách Khoa, tr. 150, 153)

Truyện Bến Sông, Người Về cho thấy một hình thức khác của lòng nhân ái : tình thương người ở phía bên kia. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, một số đông tù Cộng sản được phóng thích, ai nấy vội vàng tìm xe cộ, hay chen nhau chờ lên phà qua sông để mau về đoàn tụ với gia đình. Riêng chỉ có một người đàn ông bơ vơ, không biết đi về đâu. Anh ta đi thất thểu ngoài đường, thấy nhà nhà đang rộn ràng chuẩn bị đón giao thừa. Anh ta quá buồn tạt bừa vào một ngôi nhà. Chủ nhà là một thương binh, cùng với gia đình sắp sửa cúng giao thừa. Người thương binh thấy người đàn ông bèn hỏi :

– Xin lỗi, anh muốn tìm ai ?

Anh ta lắp bắp :

– Không. Xin lỗi. Xin lỗi… Tôi lầm nhà.

Rồi anh quay lưng tính bước đi. Nhưng người thương binh đã cầm ngay lấy tay anh, nói thật tha thiết :

– Nhìn bộ quần áo của anh, tôi biết anh vừa được phóng thích. Đêm nay là đêm giao thừa, trời lại tối, xe không còn nữa. Tôi mong anh ở lại ăn Tết cùng chúng tôi nhé. Hòa bình ngưng bắn rồi, bọn mình đều là anh em… (Bách Khoa, tr. 118)

III Không gian trong truyện của Trần Hoài Thư

Trần Hoài Thư viết theo cảm xúc, truyện của ông là những mảnh đời được ông soi rọi bằng tình cảm, bằng vẻ đẹp của thiên nhiên. Cách miêu tả không gian không phải để khỏa lấp những khoảng trống trong truyện, hoặc để dùng làm một yếu tố trang hoàng. Ở đây không gian mở rộng để tiếp đón con người đáng thương : … anh mang ba-lô súng đạn cùng đơn vị, hết di chuyển từ hướng Bắc về hướng Đông tỉnh lỵ rồi lại được tăng phái lên cao nguyên, trèo những ngọn núi cao hơn một ngàn thước, rồi vượt qua biên giới vào những mật khu xa xăm. Đi, đi mãi. Đi, gạo, lương khô và những bi-đông nước lủng củng bên mình. Đi phờ cả râu, cả tóc. Đi, như sinh ra để mà đi, mà lội, mà trèo. Đi trong khi ngủ, trong khi tiếng đại bác mở đường, những chiếc B52 dọn sạch mục tiêu trước, để lại những khu rừng tàn rụi. (Điếu thuốc cho tình si, Bách Khoa, tr. 65) Động từ « Đi » được lặp lại nhiều lần cho thấy sự mênh mông của không gian và sức nhỏ nhoi của người lính.

Trong không gian có thiên nhiên hoà hợp với tâm trạng con người. Trong một cảnh ráng chiều, thiên nhiên đem lại cho con người bình an và hạnh phúc : Hoàng hôn đã về rất chậm (…) Phía xa, nền trời đỏ ửng, và một mặt trời hiện sau các nhánh phượng khẳng khiu. Thật là một hoàng hôn kỳ diệu. Những cơn gió mát đầu tiên của một ngày mùa hạ đã bắt đầu trở lại, lung lay những khóm lá giáng hương. Ở chóp những cây trâm đang độ nở hoa, bướm vàng từng đàn dập dìu bay lượn. Tôi chết ngất trong thiên nhiên tuyệt vời ấy (…). Thế giới của riêng tư đã đột nhiên trở về cùng tôi trong buổi chiều sắp chết. Dưới mắt tôi, bầu trời vẫn còn sót lại bởi những đám mây trắng lẻ loi, và ở phương Tây, ráng đỏ vẫn còn in một màu hấp hối… (…) Những nỗi nhọc mệt trong ngày coi như đã thành mây khói và cả cái dĩ vảng khổ nhục của một kiếp lao công thì cũng coi như là một giấc mơ mà thôi để một buổi chiều như chiều nay, tôi bỗng trở nên thấy mình là một kẻ hạnh phúc nhất. (…) Tôi mới nhận ra thiên nhiên quả thật bao dung. Thiên nhiên đã sáng tạo bao nhiêu vẻ đẹp cho những đứa con của Thượng Đế. Thiên nhiên âu yếm và trìu mến đối với những kẻ biết hưởng thụ thiên nhiên. (Cõi Mù Tăm, Vấn đề, tr. 78-79-80). Trong cách miêu tả của một tác giả, bao giờ cũng có một sự lựa chọn về thẩm mỹ hoặc về tư duy. Trong cảnh ráng chiều trên đây, Trần Hoài Thư gợi lên hình ảnh tàn tạ của một ngày đẹp : trong buổi chiều chết… ráng đỏ vẫn còn in một màu hấp hối, để đưa đến ý niệm về thời gian trôi mau : ta hãy mau mau tận hưởng vẻ đẹp của cuối ngày vì nó chóng tàn. Còn tôi chết ngất trong thiên nhiên tuyệt vời ấy, vì tôi quá hạnh phúc trong cái đẹp của thiên nhiên.

Trong truyện Về Thành, không gian mang dấu vết của lịch sử và có một giá trị biểu tượng. Làng quê của anh thương binh ở giữa núi và sông, bên kia núi là biển. Chính dãy núi đã che chở dân làng khi xưa, khi Pháp đổ bộ ngoài biển. Chính núi cho người dân làng những thứ gỗ quý, còn sông làm cho ruộng lúa thêm mầu mỡ và những con thuyền đầy cá tươi. Ngày nay núi quyến rũ bà con hàng xóm cùng với chị Hai, chú Ba, dượng Tư của anh thương binh đi lên chiến khu, và sông đưa những kẻ như anh, dì Quít, chị T về bên kia thành, anh đi lính, dì Quít bán bar, chị T có chồng tử trận. Ngày nay núi sông đã chia cách lòng người. Lại nữa cuối cùng con sông gây hiểu lầm khiến anh thương binh bị xem là người của bên kia và bị nã súng. Con sông biến người bên này thành người bên kia. Phải chăng con sông muốn dung hoà đôi bên ?

Truyện Khu Chiến cũng có con sông được dùng làm trận tuyến khiến ông Tư chèo đò không còn làm ăn sinh sống được nữa.

Trong không gian, nước là một yếu tố không thể rời khỏi đời sống con người, nước nuôi dưỡng con người. Có khi nước đem lại niềm vui, hạnh phúc : Nước. Nước lên quá háng. Nước mân mê cơ thể một cách kỳ cục. Nước làm đôi mắt nhắm lại và sững sờ trong giây phút. Nước lấp lửng lên tới ngực. Đôi gót chân nhón lên. Thân người rẽ nước, cuống quít hướng về bên kia sông. Hai tay nâng súng lên trời. Giây nịt đạn choàng quanh cổ. Tôi lội và bỗng nhiên rộn ràng với nỗi sung sướng không đâu. Tiếng nói cười rộn rã của đám lính, tiếng khoát nước, tiếng chửi thề, tiếng pha khôi hài, khuấy động cả lòng sông. Và tôi chẳng khác đứa trẻ đang hăm hở vượt sông cùng đám bạn. (Sông sâu cũng lội, Bách khoa, tr. 33)

Nước sông thì thế, nó làm người lính quên đi trong chốc lát những hiểm nguy, gian khổ, còn nước mưa có tính tiêu cực, mưa đe dọa, mưa cản trở, mưa bất lợi cho người lính. Khi lính đào hầm phòng thủ : Họ đào gấp rút, hối hả, dưới cơn mưa triền miên của một ngày tháng chạp (…). Nước mưa chảy theo từng nhát xẻng ; nước mưa theo những luống đất, tuôn vào hố hầm (…). Chỉ có mưa, mưa trắng xóa, mưa phủ cả đỉnh núi mờ một màu trắng giải (…). Họ đến ấp vào buổi chiều khi mưa đuổi theo sau lưng và gào thét trước mặt. (Vì sao của đêm Giáng sinh, Vấn đề, tr. 7, 10)

Tiếng súng đại bác lại rền vang từ căn cứ bên kia sông. (…) Mưa vẫn gào thét, như thể đổ xuống bao nhiêu lời hờn giận, trong tiếng rít của những hàng tre xung quanh vườn. (Điếu thuốc cho tình si, Bách khoa, tr. 63)

Trần Hoài Thư xây dựng một không gian đầy cảm tính, thích hợp với tâm trạng của các nhân vật.

Qua những truyện của Trần Hoài Thư, chân dung của người lính miền Nam được vẽ lên, đó là chân dung của một chứng nhân của lịch sử, của nỗi thống khổ của người dân trong một thời khói lửa điêu linh.

TRUYỆN NGẮN “THƯ TÌNH” CỦA TÚY HỒNG

 

                                      Nhà văn Túy Hồng vừa ra đi ngày 19-7-2020.

                                      Xin đăng bài này như một nén hương đưa tiễn

                                     một tài năng đã đóng góp và làm đẹp nền văn học miền Nam.

                                     Paris, 28-7-2020

                                      Liễu Trương

 

Năm 1973, Giai phẩm VĂN Xuân Quý Sửu, ở Sài gòn, có đăng một truyện của Túy Hồng tựa đề : Thư Tình. Hình thức của truyện ngắn này nhắc nhở một thể loại đã có từ lâu ở Tây phương, đó là văn thư tín. Trong thư tín có nhiều đề tài, nhưng nếu nói về tình yêu thì phải kể đến tác phẩm Lettres portugaises (Thư tình viết từ Bồ Đào Nha) (1669) của Guilleragues, ở Pháp, năm lá thư nói lên tình yêu say đắm của một nữ tu viết cho người tình. Ngay từ đầu, tác phẩm này đã được vô số độc giả yêu thích. Do đó thể loại văn thư tín ngày càng phát triển, và qua thế kỷ 18-19 được nhiều nhà văn danh tiếng dùng đến. Nhưng rồi dần dần thể loại này nhường chỗ cho tiểu thuyết và nhập vào tiểu thuyết là một thể loại ngày càng được phong phú hóa.

Văn thư tín tạo nên một ảo tưởng, chủ yếu cho người đọc cái cảm tưởng là « thật » hơn, « thành thật » hơn mọi hình thức viết khác, đến nỗi người đọc cảm thấy mình tò mò một cách táo bạo, mình đã xen vào một cuộc đối thoại riêng tư.

Thư tín trong văn chương có hai mặt phát biểu, phát biểu giữa người viết thư và người nhận thư, và phát biểu toàn diện hướng về người đọc. Cấu trúc phát biểu đôi này cho phép người đọc có cái ảo tưởng mình tiếp nhận những lời lẽ có thật. Khi chỉ có một người viết thư cho một người nhận, thì có hai trường hợp xảy ra tùy có hồi âm hay không.  Trường hợp thứ nhất, những lời hồi âm không được nhắc lại nhưng vẫn có, vậy có sự trao đổi, nhưng chỉ có một người lên tiếng. Trường hợp thứ hai không có hồi âm, lá thư chỉ là một độc thoại.

Truyện Thư Tình của Túy Hồng ở trong trường hợp nào ? Và người đọc hiểu ra sao ?

Đây là một truyện tình dưới hình thức sáu lá thư mà tác giả là một phụ nữ tên Nhàn, làm công chức ở Quảng Trị. Người cô yêu là một ca sĩ tên Phi Ngạc ở Sài gòn. Tình yêu của cô say đắm, nồng nhiệt, cô muốn rời bỏ cái thành phố Quảng Trị buồn bã, nghèo nàn, lại có con sông Thạch Hãn hứa hẹn một lịch sử đẫm máu, và cô mơ đi Sài gòn để gặp người yêu. Từ đầu đến cuối, cô gái sống trong một tâm trạng căng thẳng, hồn xác hướng về Sài gòn, nhưng cô có một số phận cay nghiệt : cô là một cô gái xấu xí. Vậy người con gái Quảng Trị sẽ làm thế nào để chinh phục được người yêu vốn là một người nghệ sĩ có số đào hoa, quen sống trong một thành phố xa hoa có nhiều quyến rũ?  Chúng ta hãy lần lượt theo dõi tình yêu của cô gái qua sáu lá thư sau đây.

I Tâm trạng của cô gái qua những lá thư tình

Thư 1 : Cô gái nhất quyết ly thân, ly dị với Quảng Trị. Cô sống trong một tâm trạng đầy hứng khởi, sung sướng khi cô tưởng tượng gặp người yêu ở Sài gòn : Em vào Sài gòn. Em gặp anh. Trời ơi… Tất cả hạnh phúc thoát ra từ hai chữ « Trời ơi ». Cô gái vừa sung sướng vừa đòi hỏi người yêu phải mặn nồng : Hãy yêu em thật tham, thật sân, thật si. Từ « thật » lặp lại ba lần nói lên sự tham lam, vồ vập của cô gái.

Nhưng rồi cô không thỏa mãn, cô thất vọng và hoài nghi : Ái tình gì chỉ toàn viết thư ? Viết thư rồi có thương nhau thật như trong thư không nhỉ ?

Thư 2 : Cô gái trở lại cơn sốt tình yêu và gọi người yêu bằng đủ thứ tên : Mon Trésor, Cá sấu thần của em (Ngạc có nghĩa là cá sấu), Nguồn tình, Giấy bạc của em, Bánh kẹo của em, Anh-hùng-náo đời em. Trong thư trước cô đòi hỏi người yêu phải mặn nồng, thì thư này cô cũng mặn nồng không kém : Em yêu anh thật tham, thật sân, thật si. Yêu bằng tất cả cái cốt đa tình.

Cô cho biết đã làm nhiều đơn xin đổi vào Sài gòn.

Lần đầu tiên cô thổ lộ một điều quan trọng : Em là một cô gái xấu xí, không có vốn trời nhưng vẫn bằng lòng mình. Và cô lo sợ giây phút gặp người yêu : Em mang một bộ mặt vô sản sạt nghiệp vào triều cống anh đó ! Đừng để em trở về như một sứ giả tiu nghỉu anh nhé !

Rồi có tin mừng : cô báo với người yêu có lẽ được đi công tác ở Sài gòn. Kể từ đây, cô sống trong vui mừng, lo âu, hồi hộp. Khi nghe người yêu hát (trên đài phát thanh) cô bỗng nghĩ đến quá khứ của chàng, chàng đã từng có nhiều phụ nữ đẹp, giàu sang, có tài, nhưng là những mối tình không lâu dài. Cô hỏi người yêu có phải cô là mối tình cuối cùng không ? Cô sẵn sàng làm vợ anh ta. Lần đầu tiên cô nói đến chuyện vợ chồng.

Vì quá lo âu cho giây phút gặp gỡ, cuối thư cô lại nản chí và đi thụt lùi : Thôi em đừng vào Sài gòn nữa cho rồi phải không anh ?

Thư 3 : Cô gái hối hận, xin lỗi vì trong thư trước đã động chạm đến quá khứ của người yêu. Tâm trạng trong thư này mâu thuẫn. Đầu thư cô tỏ ra bao dung vì yêu : Mặc kệ trường thiên tiểu thuyết đời anh, em không buồn đâu. Nhưng cuối thư thì lại gọi người yêu là Sở khanh già !

Cô vẫn lo âu cho chuyến đi Sài gòn sắp đến : Người ta đi Sài gòn sao mà dễ, như vụt bay, như vỗ cánh, em đi Sài gòn sao như bỏ quả đất để lên một hành tinh mới. Em cuống quýt run rẩy, em thao thức lơ đãng, vui buồn đờ đẫn không ra cái gì cả. Rồi cô đâm ra khôi hài : Lo quá, đi tu cho rồi ! Và cô chế nhạo tên người yêu : Phi Ngạc, cá sấu bay… nhãn hiệu nước mắm.

Vì quá lo âu, cô lại đi thụt lùi như cuối thư trước : … chuyến đi vĩ đại quá lật đổ một đời người (…) Em không muốn đi nữa, em không dám đi nữa.

Thư 4 : Thư này rất ngắn. Cô gái sống trong tâm trạng hoài nghi. Trong thư trước cô gọi người yêu là Sở khanh già, thư này cô gọi anh ta là Xạo, Xạo của em ơi. Cô nhìn nhận tình yêu đang ở cái mức lý thuyết : Chưa thực hành một cái hôn.

Ngày lên đường sắp đến. Tất cả đều sẵn sàng. Lần thứ hai cô nhắc đến sự xấu xí của mình : Ba ngày nữa con chim Mỏ Giác xấu xí này sẽ bay. Em tự ví em như con chim Mỏ Giác là anh đủ biết em xí gái đến mức độ nào rồi. Bị ám ảnh về sự xấu xí của mình, cô gái không mấy tin tưởng vào hạnh phúc khi đến Sài gòn. Cô tưởng tượng sự thất bại của tình yêu và nói đến cái chết.

Thư 5 : Trong thư này cô gái lại thèm khát, rạo rực. Từ Sở Khanh, Xạo, người đàn ông bỗng nhiên được phong làm Bụt, làm Bồ Tát lãng mạn. Cô gái thả hồn theo dòng tưởng tượng và dàn dựng cảnh yêu đương sau đây. Cô tự gọi mình là Tiểu thư Quảng Trị, đứng bên dòng sông Thạch Hãn, con sông lịch sử, có kẻ thù bên kia và quân ta bên này, dòng sông báo hiệu bao tàn phá, đổ nát, bao chết chóc, và cũng báo hiệu cái chết của tình yêu mà bài hát : Kiếp nào có yêu nhau thì xin chờ đến mai sau… là một linh cảm. Cô gái cho rằng bài hát này là Bài hát trối trăn, bài hát tắt thở, bài hát từ trần, bài hát mạng vong. Tử thần mê bài hát đó. Chẳng những cô nhân cách hóa bài hát : trối trăn, tắt thở, từ trần, mạng vong mà cô còn tự đồng hóa với bài hát. Rồi cô khóc và tưởng tượng Bụt hiện ra, yêu cô nồng nàn : Anh lau nước mắt cho em, anh vuốt mái tóc loạn của em, anh ôm em, vuốt rất nhẹ, rồi vuốt mạnh, rồi ghì, rồi trói, rồi nén em như nén cà. Từng cái hôn bổ xuống trán, từng cái hôn vun vãi trên vai, trên ngực… Anh bế em đi vào mênh mông cuộc đời. Rồi cuối thư : Hãy hôn em bằng râu.

Dòng tưởng tượng trong thư 5 này làm tan biến những do dự, hoài nghi, bi quan trong các thư trước để chuẩn bị một chuyến đi đã từng mơ ước bấy lâu.

Thư 6 : Từ Bụt người yêu trở thành Mũi tên độc. Trọn thư này là cái chết của tình yêu. Cô gái vừa hạ cánh xuống sân bay. Gặp nhau, nhìn chưa rõ mặt nhau đã vĩnh biệt.

Và rồi cô nổi cơn thịnh nộ, cô mắng nhiếc, trách móc người yêu : Vô giáo dục, tàn nhẫn, không nhân đạo là anh ! Nỡ ngoảnh mặt, nỡ trở lòng, nỡ phủ nhận, nỡ chối bỏ… Tình chết khi em xuống tàu bay, tình chết ngay trên phi đạo, không cáo phó, không thiệp tang, không ai điếu. (…) rồi mặt anh trơ như đá tảng, rồi lòng anh lạnh như tượng đồng … từ tình yêu qua sự phản bội chỉ một cái trở mình… Tình người ta tàn theo năm tháng, tình của mình tắt cái phụt ngay phút đầu gặp mặt.

Nguyên do cái chết của tình yêu là sự xấu xí của cô gái : Em chết vì em xấu đó anh (…) Tôi kêu tên anh, tôi hỏi anh, có nhận ra tôi, giờ phút đó tai tôi bỗng dưng nghe một câu nguyền rủa : « không nhan sắc hãy tự sát cho rồi, không nhan sắc hãy tự sát cho rồi ! ” (…) Tôi vuốt cái mặt xấu xí của tôi mà hỏi anh lần nữa có nhận ra em không ?

Cuối cùng cô nghĩ đến việc tự tử. Cô nói với người yêu chết rồi cô sẽ độ trì cho anh ta, phù hộ cho anh ta hát hay và mãi mãi bách thắng trong tình yêu.

II Một độc thoại dài trở thành một giấc mơ

Có thể đọc sáu lá thư tình trên đây như một truyện tình bi đát của một cô gái không nhan sắc. Nhưng cũng có một cách đọc thứ hai là xem sáu lá thư tình như một độc thoại dài, và nếu nhìn xa hơn, đây là một giấc mơ. Thông thường thư tình phản ánh một đối thoại giữa hai người yêu nhau : tuy người nhận thư vắng mặt, nhưng người viết thư nhắc lại những lời của người nhận thư, và trả lời những gì người đó đã nêu lên. Trong trường hợp sáu lá thư này, chỉ có tiếng nói độc nhất của cô gái, người đọc không hề biết gì nhiều về người yêu của cô ta, chỉ biết qua loa rằng anh ta có giọng hát óng ả bảy sắc cầu vồng, cô gái nghe anh ta hát từ xa, qua đài phát thanh, bài Bên cầu biên giới ; và anh ta có tặng cô một cái máy magnétophone. Không thấy anh ta phản ứng trước tình yêu say đắm của cô, ngay cả khi gặp gỡ ở sân bay cũng không nghe anh ta lên tiếng, chỉ thấy anh ta hóa đá. Tóm lại, người yêu của cô gái là người không có tiếng nói, không phải là một con người bằng xương, bằng thịt, có một chân dung cụ thể, đó là một pho tượng hay đúng hơn một bóng ma.

Chuyến đi Sài gòn của cô gái cũng có thể đáng nghi ngờ, cô có thật sự bay vào Sài gòn không ? Ngay cả khi cô miêu tả sự gặp gỡ bi đát ở sân bay, người đọc cũng có thể ngờ là một cuộc gặp gỡ tưởng tượng. Lá thư cuối cùng cũng được viết từ Quảng Trị như các thư trưóc, khiến người đọc có cảm tưởng cô chưa bao giờ rời Quảng Trị. Chuyện cái máy magnétophone cũng bí ẩn, có thật người tình tặng cô không ? Vào lúc nào ?

Vậy đây là một độc thoại, người đọc có thể nghi ngờ không phải là một tình yêu thật sự mà chỉ là một giấc mơ của cô gái. Giấc mơ thèm khát yêu đương được xây dựng trên những mâu thuẫn quá lớn.

Mâu thuẫn về không gian : tình yêu căng thẳng giữa một thành phố Quảng Trị nghèo nàn, buồn tẻ, và một thành phố lớn là Sài gòn xa hoa, nhộn nhịp với muôn nghìn màu sắc, muôn nghìn thú vui.

Mâu thuẫn về nhân vật. Sự lựa chọn hai nhân vật, hai hoàn cảnh sống hoàn toàn đối lập nhau : một bên là người con gái xấu xí, sống cô đơn, làm công chức trong một thành phố nhỏ, cưộc đời công chức chừng mực, đơn điệu và nhàm chán, đối diện với một người đàn ông nghệ sĩ, chắc chắn là đẹp trai vì có số đào hoa, lui tới nhiều phụ nữ đẹp, và quen sống dưới ánh đèn màu, dễ được công chúng ngưỡng mộ, hoan nghênh. Một bên là đời sống thầm lặng, vô danh, và một bên là đời sống xa hoa, ồn ào, tên tuổi được thiên hạ biết đến.

Lại thêm giữa hai nhân vật có một sự thiếu cân bằng hiển nhiên, trong khi người đàn ông có tài ca hát thì cô gái nhìn nhận : Em đã xấu lại không có tài đem ra gỡ.

Những mâu thuẫn trên đây tạo nên sự căng thẳng giữa hai thái cực : Quảng Trị nghèo, buồn – Sài gòn giàu, vui. Công chức tầm thường – Ca sĩ hấp dẫn. Sự xấu xí của người con gái – cái đẹp của tình yêu.

Ngoài những mâu thuẫn, ngôn ngữ cũng là một chứng cớ của giấc mơ, là tiếng nói của vô thức, vô thức của văn bản chứ không phải vô thức của tác giả truyện ngắn này.

Vào những năm 1970 ở miền Nam, một người con gái dù có văn minh, tân tiến đến đâu cũng tỏ ra – do lòng tự trọng – dè dặt, đoan chính đối với một người đàn ông chưa từng gặp mặt, dẫu cho có yêu người này. Người con gái không ăn nói bừa bãi, thô lỗ như cô gái nói trong thư 2 : Em đang thời kỳ xài giấy viết thư nhưng em vẫn tru tréo đời buồn như cuộn giấy đi cầu. Một người con gái tự trọng không nói thẳng tuồn tuột sự thèm khát ái ân của mình, nhất là khi chưa bao giờ gặp người mình yêu, như cô gái thổ lộ trong thư 5 : … anh ôm em, vuốt rất nhẹ, rồi vuốt mạnh, rồi ghì, rồi trói, rồi nén em…, em thất thủ trên vai anh mềm lịm. Hoặc : Hãy hôn em bằng râu. Và cô gái thiếu tự ái đã táo bạo đi thẳng đến mục đích mà mình đã nhắm : Anh chịu lấy em chứ ? Thông thường người đàn ông đi trước trong việc cầu hôn, nhưng ở đây chính cô gái xông xáo đi trước.

Cho nên phải hiểu đây là một giấc mơ trong đó vô thức của người con gái tự do phát biểu, giấc mơ kết thúc bằng sự tan vỡ của tình yêu, bằng một cơn mê sảng.

III Lối viết của Túy Hồng

Khi bàn về tiểu thuyết Tôi nhìn tôi trên vách của Túy Hồng, tôi đã có dịp nhận xét nhà văn Túy Hồng viết với thân xác, đó là nét đặc thù của bút pháp Túy Hồng. Nhận xét đó, một lần nữa, được xác định trong truyện ngắn này. Bao nhiêu xúc động của cô gái đều được biểu đạt qua thân xác.

Khi cô gái cảm thấy hạnh phúc :

Máu trong người chúng ta lúc đó sẽ biến thành rượu chát.

Răng em cắn răng em anh ơi ! Môi em ghì môi em anh ơi !

Ngày chúng ta gặp nhau ở Sài gòn. Động mạch, tĩnh mạch, mao quản vỡ tung ra hết.

Khi lo lắng cho ngày gặp gỡ :

Em đang lo lắng tưởng nhão hết gân cốt trong người ra đây.

Lo quá ruột xoắn như cái lò xo đây.

Càng gần đến ngày khởi hành em càng run, ruột run, tim run, phổi lao đao.

Và khi tuyệt vọng :

Tình yêu… máu tôi đổ như thác đổ ; tim tôi mọc vòi, tim tôi làm băng ; mắt tôi loà đi

Cuối cùng khi cô gái thương cái tài của người yêu : Em thương cái tài của anh như cái đầu thương cái gối, như bàn chân thương đôi guốc, như chiếc cổ mơ một món đồ trang sức.

Tóm lại, Thư Tình của Túy Hồng tạo một ảo tưởng cho người đọc, người đọc chăm chú theo dõi một mối tình say đắm qua bao sôi nổi, ngôn từ của thân xác khiến ảo tưởng có tính thuyết phục, nhưng hóa ra là một giấc mơ của người con gái tên Nhàn.