TRUYỆN “YÊU” CỦA CHU TỬ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÂM HỌC

 

Với sự phát triển của các ngành khoa học nhân văn, chân trời phê bình văn học được mở rộng. Ngày nay một tác phẩm văn học, nếu là một tác phẩm phong phú, có thể được tiếp cận nhiều cách, được giải thích theo nhiều hướng. Bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học cho thấy xã hội miền Nam, vào những năm 60 của thế kỷ trước, đã tiến hóa như thế nào trong một bối cảnh lịch sử mới. Truyện Yêu cũng có thể được tiếp cận từ góc độ phân tâm học, vì độc giả có thể tự đặt câu hỏi về đời sống tâm lý, tình cảm ngoại lệ của nhân vật Đạt. Đọc một tác phẩm văn học qua lưới phân tâm học là tra vấn tác phẩm để cố tìm một phần nào vô thức của tác giả qua nhân vật, qua cốt truyện, v.v… dù biết rằng vô thức ở trong chiều sâu của con người, khó nắm bắt được.

Nói đến phân tâm học là nói đến vô thức, vì vô thức làm nền tảng cho học thuyết của Freud. Nhưng Freud nhìn nhận ông không phải là người đã phát hiện vô thức. Ông viết : Các nhà thơ và các nhà triết học đã phát hiện vô thức trước tôi : điều mà tôi đã phát hiện, chính là cái phương pháp khoa học cho phép nghiên cứu vô thức (1).

Khi một nhà văn xây dựng một truyện hư cấu, ông (hay bà) cho rằng mình hoàn toàn chủ động trong việc tưởng tượng cốt truyện, miêu tả nhân vật, chủ động trong lối viết, lối chọn từ ngữ, v.v… Tóm lại nhà văn tin chắc mình sáng tạo hoàn toàn theo ý muốn của mình. Có điều nhà văn không nghĩ đến là quyền chủ động của nhà văn thật ra bị vô thức điều khiển. Vai trò của phân tâm học là giải thích rằng đời sống tâm lý con người tùy thuộc vô thức, con người không hoàn toàn tự làm chủ mình được. Chính tác giả Chu Tử trong truyện cũng nhìn nhận sự hiện diện của vô thức mà nhân vật Tuyết của ông gọi là « tiềm thức », khi cô quả quyết chị Diễm của cô yêu thầy Đạt. Khi Diễm cho rằng lời nói : Nhớn lên cháu lấy chú Đạt thốt ra khi nhỏ lúc đi tắm suối với thầy Đạt là chuyện con nít, thì Tuyết nói : Quan hệ lắm chứ ! Câu đó chứng tỏ là chị đã yêu ông ta từ lâu, yêu trong tiềm thức, mà tiềm thức là cái bất trị lắm, không thể coi thường được. Cũng như khi đi dạo phố với Khải, người chồng chưa cưới, Diễm vô tình mặc cái áo dài do Đạt tặng. Vô thức của Diễm qua sự chọn lựa cái áo đã tiết lộ tình yêu âm thầm của Diễm đối với Đạt.

Nội dung truyện Yêu đã được trình bày trong bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học, nay chỉ xin nhắc lại các nhân vật chính trong truyện. Thúc, một giáo sư triết học, có vợ là Hoà và bốn cô con gái đã lớn, đến tuổi lấy chồng : Uyển là sinh viên luật khoa, Diễm sắp vào đại học dược khoa, Huyền dọn thi tú tài và Tuyết học trường Tây, bốn cô gái mỗi người đẹp mỗi vẻ và tính tình khác hẳn nhau. Đạt là bạn của Thúc, cũng là nhà giáo, thường đến dạy thêm cho bốn cô con gái của Thúc. Ngoài các nhân vật này còn có Tuấn, họa sĩ và là học trò cũ của Thúc, Trang, em gái của Tuấn, làm nghề vũ nữ, học trò cũ của Đạt. Khải, một sinh viên y khoa, sắp ra trường, chồng tương lai của Diễm. Vậy trong truyện Yêu có nhiều nhân vật, nhân vật nào cũng có những nét đặc thù, nhưng chỉ có một nhân vật nổi bật, có sức lôi cuốn sự chú ý của độc giả, vì nhân vật này có một đời sống tâm lý lạ lùng, đó là nhân vật Đạt. Tuy sống trong thực tế như mọi người, tham gia vào những sự kiện, những biến cố xảy ra chung quanh mình, nhưng con người Đạt tách rời cái đời sống thực tế đó, để âm thầm sống một cuộc đời khác. Những nhân vật nữ như Hội, bạn của Diễm, như Trang đều cho rằng Đạt ngây thơ, nhút nhát, thiếu tính quyết định, thật ra những tính từ đó được gán cho Đạt là cái bề ngoài che đậy một đời sống nội tâm đang đeo đuổi một ám ảnh, một chủ đích. Đạt sống trong một tâm trạng căng thẳng, chờ đợi, một tâm trạng không bao giờ được giải quyết. Vấn đề hệ trọng của Đạt là một tình yêu ngoại lệ, hay nói theo phân tâm học, một ham muốn, ham muốn một người con gái mãi mãi ở ngoài tầm tay của mình, tức một ham muốn không được thỏa mãn, toại nguyện.

I Con đường quanh co của ham muốn

Trong truyện Yêu, có điều lạ là một lời nói của trẻ con bỗng nhiên có khả năng quyết định cuộc đời tình cảm của một người đàn ông. Cô bé Diễm khi lên bảy tuổi, có lần đi tắm suối với chú Đạt đã nói : Nhớn lên, cháu lấy chú Đạt. Câu nói vô tình và vô tội làm nảy sinh một xung năng, một ham muốn nơi Đạt. Về sau, trong thư gửi cho Diễm, Đạt nói nhớ đến lời của Diễm năm xưa : Tôi nhớ và tôi đợi Diễm nhớn lên !… Và Đạt khẳng định : … sẽ không có ai yêu Diễm như tôi yêu Diễm, từ mười năm nay, từ cái buổi bên dòng suối, tôi bế cái thân hình bé bỏng, trong trắng của Diễm trong lòng và tự nhủ : « Cái kho tàng này là thuộc về phần ta » (tr. 48-49).

Vậy truyện Yêu là truyện của một ham muốn. Ham muốn là tính đặc thù của con người, chỉ có con người mới biết ham muốn, thú vật chỉ có nhu cầu và chỉ tìm cách thỏa mãn nhu cầu. Theo Freud, trong con người có vô số xung năng vô thức. Những xung năng này bị sự kiểm duyệt kìm nén trong vô thức, nhưng một khi được trá hình, chúng có thể được thực hiện qua những giấc mơ, những hành động hụt, những triệu chứng loạn thần kinh. Phân tâm học cho bản năng dục tính một nghĩa rộng, một tầm quan trọng lớn trong đời sống con người. Với khái niệm libido (dục năng), Freud đưa ra một quan niệm mới về ham muốn, về mục tiêu và mục đích của ham muốn.

Đối với mọi người, ham muốn chủ yếu được thực hiện dưới hình thức của bản năng dục tính với tình dục khác giới và nhằm đi đến cực khoái.

Đối với Freud, bản năng dục tính có một nghĩa rộng lớn hơn, nó chỉ định một tổng hợp xung năng, tiếng Đức Trieb có nghĩa là xung năng do động từ treiben có nghĩa là đẩy, vậy xung năng là cái đẩy (thúc đẩy) chúng ta làm điều gì, là cái mà Freud chỉ định bằng từ la tinh libido có nghĩa là ham muốn. Libido là toàn thể những xung năng có dục tính. Libido có đặc tính là có khả năng biến hóa, thay đổi mục tiêu và mục đích của ham muốn. Theo nguyên lý thích thú (Lustprinzip / Principe de plaisir) chi phối đời sống tâm lý con người, thì ham muốn bắt nguồn trong một tâm trạng căng thẳng, và mục đích của nó là làm giảm bớt tâm trạng căng thẳng đó.

Trở lại ham muốn của Đạt. Khi dạy học bốn cô con gái của bạn mình, Đạt có cơ hội theo dõi sự khôn lớn của Diễm, và Đạt không cầm lòng được trước một thiếu nữ có một vẻ đẹp kín đáo, đài các, tính tình lại dịu dàng, thùy mị. Ham muốn của Đạt là một ham muốn chiếm hữu, nhưng nó không đơn giản chỉ là ham muốn dục tình, nó vói cao hơn : Đạt vừa ham muốn Diễm vừa biến Diễm thành một thần tượng để tôn thờ. Trong bức thư thứ hai gửi cho Diễm, Đạt viết : Anh vẫn tôn trọng em như một thần tượng cao xa vòi vọi, mà anh không vói tới (tr. 182). Nhà phân tâm học Jacques Lacan nhấn mạnh rằng mối liên hệ của ham muốn chủ yếu là mối liên hệ với người kia, với tính cách là người kia. Người được ham muốn là một chủ thể, không phải là một vật thể. Liên hệ giữa người ham muốn và người được ham muốn có tính liên chủ thể.

Trong khi ham muốn của Thúc đối với Hằng xảy ra đột ngột, bốc cháy và được thỏa mãn nhanh chóng, thì ham muốn của Đạt xuất hiện từ lâu, lớn dần, mạnh dần qua nhiều giai đoạn, và ham muốn đó tự vạch một con đường bất chấp mọi trở ngại, như sự chênh lệch tuổi tác hay kỷ cương của lễ giáo trong một xã hội vẫn còn tôn ti trật tự, bất chấp những biến cố có tính đe dọa sắp xảy ra, bất chấp thời gian.

Giai đoạn một : bước đầu táo bạo. Xung năng ham muốn của Đạt quá mạnh mẽ khiến Đạt vượt khỏi những định kiến nặng nề của xã hội truyền thống để tỏ ý muốn hỏi Diễm làm vợ, và Đạt gặp ngay sự chống đối quyết liệt của Hoà, mẹ của Diễm. Một mặt Hoà sắp đặt để Diễm thành hôn với Khải, người thanh niên đồng trang lứa với Diễm, có một tương lai đầy hứa hẹn. Mặt khác Hoà cho Diễm về nghỉ hè ở Vĩnh Bình để xa lánh Đạt.

Giai đoạn hai : đỉnh cao của ham muốn. Đạt không sờn lòng. Khi hay tin Diễm đi Vĩnh Bình, Đạt vội vàng về Vĩnh Bình. Phải nói từ ngày biết Đạt có ý định xin được hứa hôn với Diễm, Diễm bàng hoàng nhớ lại kỷ niệm năm xưa và cảm thấy như bị tình yêu của Đạt lôi cuốn, cảm thấy có cái gì ràng buộc cô với thầy Đạt. Nhưng Diễm vẫn còn đủ lý trí để vâng lời mẹ, về Vĩnh Bình để bình tâm suy nghĩ. Không ngờ Đạt xuất hiện. Thắng cảnh ao Bà Om, nơi hai người đến viếng, đánh dấu cao điểm của mối tình ngoại lệ này. Trước cảnh tượng những đứa bé tắm ao, cả hai đều xúc động nhớ đến kỷ niệm xưa. Trong tâm trạng đó, những bước đi của Diễm trở nên lảo đảo, và có một lúc Diễm vấp vào một rể cây, Đạt dang tay đón Diễm, cô ôm chầm lấy Đạt và thốt lên tiếng « Anh ». Đạt sung sướng muốn đặt một nụ hôn lên trán người yêu, nhưng Đạt vụng về, không làm được cử chỉ đó. Dù sao tiếng « Anh » và nỗi sung sướng của Đạt cũng đủ đánh dấu giây phút thần tiên của hai người.

Giai đoạn ba : tình yêu của Diễm vừa làm tăng ham muốn của Đạt vừa gieo sầu muộn. Trước khi đi lấy chồng, Diễm gửi cho Đạt một bức thư tình đầu tiên và cũng là cuối cùng, không còn gọi Đạt là thầy nữa. Diễm thú nhận tình yêu của mình đối với Đạt : … em lại khám phá ra rằng em đã nghĩ tới anh, từ bao nhiêu năm nay, trước khi Ba em cho biết ý của anh, trước khi nhận được thư anh (tr. 163). Còn đối với mẹ thì Diễm nói : … nếu con được làm theo ý riêng con thì con sẽ lấy ông Đạt (tr. 168-169).

Cũng trong thư đó Diễm tỏ ý, trước khi vĩnh biệt Đạt để đi lấy chồng, tặng Đạt một món quà, cô hứa sẽ làm bất cứ điều gì theo ý muốn của Đạt, nhưng với điều kiện Đạt đừng hôn cô để tình yêu đó mãi mãi trong trắng.

Giai đoạn bốn : bức chân dung của vĩnh biệt. Món quà vĩnh biệt Diễm tặng Đạt là ngồi cho Đạt vẽ. Ham muốn của người đang yêu trở thành, trong chốc lát, ham muốn của người nghệ sĩ, cái đẹp thắng cái khổ : Nhưng khi ngồi trước giá vẽ, nhìn vào đôi mắt cố mở to để nước mắt khỏi trào ra của Diễm, nhìn vào đôi mắt não nùng như muốn tan ra thành lệ của Diễm, trong giây phút đó, con người si tình của Đạt hầu như bị con người nghệ sĩ lấn át, khiến Đạt chưa kịp cảm thấy đau xót tuyệt vọng mà chỉ nhìn thấy cái đẹp mông lung, phù du của đôi mắt. Đạt cảm thấy cần phải ghi ngay lên khung vải, cái ánh biệt ly đang dâng lên khoé mắt người yêu ! (tr. 201) Những cố gắng của Diễm chỉ đến chừng đó, cô từ chối, không cho Đạt vẽ vai và ngực trần của mình. Đạt bỗng nảy ra cái ý vẽ một bức tranh khác theo tưởng tượng, một bức tranh vẽ Diễm ngửa mặt đón nước mưa đang chảy ròng trên mặt, trên vai, trên ngực. Diễm nhìn bức tranh thứ hai mà rùng mình : Đạt vẽ Diễm giống quá. Khi nhìn đôi mắt mình trong tranh Diễm hiểu tất cả tình cảm sâu xa của mình đối với Đạt và không dễ gì mà nàng có thể dứt tình được (tr. 203). Trước khi ra về, Diễm xin Đạt bức tranh thứ nhất. Diễm không còn tin vào sự cứng rắn của mình nữa, cô lo sợ và vội vàng từ biệt Đạt. Nghi thức vĩnh biệt không che lấp được ham muốn. Đạt nói : Nhưng em đừng tưởng là anh sẽ mất em, em sẽ quên nổi anh đâu ! Anh nhất định sẽ không để mất em, em nhớ lấy ! … (tr. 206) Khi Diễm ra về, Đạt tự giận mình không có can đảm để tiến thêm một bước trong tình yêu. Đạt nhìn bức tranh Diễm và hét to : « Tôi chỉ muốn ngủ với người tôi yêu », lặp lại câu nói của một nhân vật tiểu thuyết. Ham muốn của Đạt đã đến một mức độ nồng nhiệt quá lớn.

Giai đoạn năm : Ham muốn bị xúc phạm. Trang đến nhà Đạt, thấy Đạt bơ phờ bên cạnh bức tranh vẽ Diễm, Trang đâm ghen tức và hung hăng xé toạt bức tranh. Một xúc phạm quá lớn đối với tình yêu ham muốn của Đạt.

Giai đoạn sáu : Ham muốn chẳng những bị đe dọa, mà còn bị đẩy vào quên lãng với hai cuộc hôn nhân : hôn nhân của Diễm với Khải và hôn nhân của Đạt với Trang. Đạt không cưới được Diễm thì cưới Trang như một người thay thế. Nhưng  người thay thế sẽ không bao giờ là người được thay thế. Hôn nhân Đạt-Trang bề ngoài như một dứt khoát cuối cùng. Nhưng ham muốn của Đạt vẫn còn đấy, Đạt sống trong tâm trạng hững hờ, để mặc cho chị em Diễm tổ chức lễ cưới của mình với Trang, Đạt có cảm tưởng hình như tất cả các việc đứng đắn, quan trọng, đánh dấu một khúc ngoẹo trong đời chàng (…) là việc của ai chứ không phải của chàng. Bởi vì chàng chưa thấy mình sống một cách thật đầy đủ, trọn vẹn cái tâm trạng của một người « đi lấy vợ ». Chàng thấy mình vẫn là mình, chưa có gì thay đổi. Ngay cả khi đứng bên cạnh cô dâu Trang, Đạt càng có cảm tưởng mình chưa có tâm hồn một chú rể, chàng tự nhủ : « Lấy vợ có thế này thôi à ? » (tr. 337).

Giai đoạn bảy : Ham muốn nhanh chóng trổi dậy với một biến cố bất ngờ : tin Khải tử nạn. Kể từ nay cuộc đời của Diễm đã trở lại tự do. Ham muốn của Đạt không còn gặp trở ngại, mặc dù Trang vẫn là vợ Đạt. Sở dĩ ham muốn của Đạt trở nên một ám ảnh kiên trì là vì ham muốn đó có hai mặt : dục tình và thanh cao. Đạt ham muốn thân xác của người yêu : … anh muốn bức chân dung đó là bức chân dung em để trần hở vai và ngực (tr. 182)… khuôn mặt em, làn tóc em, vành môi em (…), từng nét, từng đường của thân hình em… (tr. 183). Nhưng sự ham muốn nồng nhiệt bị tê liệt. Tại sao Đạt không dám hôn Diễm ? Vì Diễm được thanh cao hóa và trở nên một thần tượng mà Đạt tôn thờ. Đạt có thể hôn Trang một cách xác thịt, bừa bãi, nhưng Diễm thì không, Diễm là cái gì sáng chói, cùng lắm Đạt có thể đưa tay đỡ Diễm khi cô vấp ngã ở ao Bà Om. Thần tượng Diễm quá mong manh, trong trắng và quý hóa, đòi hỏi một cách cư xử đầy trân trọng. Cho nên ham muốn dục tình bị thất bại, một lần ở ao Bà Om, lần khác khi hai người vĩnh biệt nhau. Đạt bứt rứt và tự giận mình một cách thê thảm. Hai bức tranh Đạt vẽ chân dung của Diễm là biểu tượng cho hai khía cạnh của ham muốn đó : một bức chân dung u buồn của thần tượng cao xa và bức chân dung để hở một phần thân xác của người yêu. Trong con người Đạt có sự xung đột giữa ham muốn dục tình và ham muốn được thanh cao hóa.

II Viết theo vô thức

Vô thức đưa đẩy ngòi bút của tác giả để vẽ lên một nhân vật giống tác giả ít nhiều, Đạt là nhà giáo giống Chu Tử ; trước khi trở thành nhà báo, nhà văn, Chu Tử đã từng là nhà giáo. Vô tình tác giả đã tự đưa mình vào truyện chăng ? Biến cố sau đây có thể được xem như lời đáp phần nào của tác giả.

Truyện Yêu ra mắt độc giả năm 1963, ba năm sau, một biến cố trầm trọng đã xảy ra khi Chu Tử làm chủ nhiệm nhật báo Sống. Ngày 16-4-1966, Chu Tử bị mưu sát và bị trọng thương. Cả giới trí thức Sài gòn : văn hữu, nghiệp đoàn ký giả, các hội đoàn sinh viên, các nhân vật tôn giáo, chính trị, đều lên tiếng phẫn nộ và bênh vực nhà báo Chu Tử – Chu Văn Bình. Các bài viết, quyết nghị, thư từ, v. v… đều được Chu Tử gom lại thành một cuốn sách mang tựa đề : Không hận thù. Đặc biệt trong chương III : Những suy nghiệm của bản thân, tác giả tâm sự : bốn viên đạn bắn vào người ông đã làm thay đổi cách nhìn đời của ông. Chương này được xem là một tự truyện của tác giả : ông nói về sự sống chết của con người, về con người làm văn nghệ, và về tuổi thơ của ông ; ông là một học sinh xuất sắc, tuy nghèo, quê mùa, nhưng học hành vượt xa những người sống trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn ông, ông đậu tú tài thủ khoa với hạng bình. Tuổi thơ của tác giả được trình bày trong một đoạn văn có cái tựa đề nhỏ : Một kỷ niệm tắm truồng. Chu Tử kể ông sinh ra trong một làng rất quê, rất man rợ, trung cổ, cho nên đàn bà có thói quen tắm truồng mà không ai lấy điều đó làm hổ thẹn (…) Khi tôi lên năm, lên sáu tuổi, mẹ tôi thường đưa tôi ra giếng tắm, tắm chung cùng mọi người đàn bà khác. Tôi thấy điều đó rất tự nhiên, không có gì là xấu hổ nên tôi không biết ngạc nhiên vì tôi vẫn đinh ninh ở mọi nơi khác, đàn bà cũng đều tắm truồng như thế cả (tr. 91). Về sau, khi lên tỉnh học, có vài người bạn biết được chuyện này bèn chế nhạo cậu bé Chu Tử, và cậu bé trở nên một trò cười cho mọi người. Từ đó tôi không ngớt mang tâm trạng đầy mặc cảm, đầy chống đối ngấm ngầm của một đứa nông dân khờ khạo, lạc lõng giữa cái gọi là văn minh đô thị. Trong thâm tâm, tôi vẫn coi rẻ, coi khinh cái bề ngoài hào nhoáng, đạo đức giả của người đô thị… (tr. 92) Điều này giải thích cái « tếu » của  Chu Tử trong mục Ao Thả Vịt của tờ báo. Và nhà báo Chu Tử không quên đề cao sự thực, một cách bất ngờ ông đưa chúng ta trở về với nhân vật Đạt trong truyện Yêu : Rồi sau này, khi tôi viết văn, viết báo, tôi vẫn chỉ tả sự thực. Sự thực trần truồng, trắng trợn, trong tâm hồn con người. Sự thực trần truồng trong xã hội. Để chứng tỏ cho mọi người thấy là sự thực trần truồng tự nó không có gì xấu, rất đẹp là đằng khác. Chỉ có những kẻ đạo đức giả nuôi những ý nghĩ đen tối, nhìn trộm sự trần truồng mới là xấu. Chẳng hạn nhân vật Đạt trong truyện « Yêu » của tôi, trước khi người yêu là Diễm lấy chồng, Đạt chỉ có một ao ước là vẽ một bức tranh Diễm để hở ngực, mặc dầu trong suốt thời gian yêu Diễm, Đạt vẫn tôn thờ Diễm, chưa bao giờ dám hôn Diễm và khi Đạt giải thích tại sao Đạt lại có ý định như trên, Đạt chỉ là phát ngôn nhân của tác giả vẫn sắt đá tin tưởng ngay từ hồi thơ ấu rằng, tắm truồng không có gì là xấu xa ! (tr. 93)

Đọc kỹ đoạn văn trên, có những yếu tố làm rõ thêm nhân vật Đạt. Trước khi Chu Tử bị mưu sát và cho ra cuốn Không hận thù thì Chu Tử đã có ba tiểu thuyết : Sống, Yêu, Loạn, nhưng sao ông chỉ nhắc đến truyện Yêu mà thôi ? Tác giả đã đặc biệt gửi gắm trong truyện này nhiều điều mật thiết của mình chăng ? Tác giả khẳng định Đạt là phát ngôn nhân của mình. Với việc làm của vô thức, chúng ta có thể nghi ngờ và đi xa hơn bằng cách cho rằng Đạt là một hình ảnh của Chu Tử, và chuyện đàn bà tắm trần truồng đương nhiên dẫn đến kỷ niệm cô bé Diễm tắm suối khi xưa với chú Đạt.

Trong truyện Yêu có hai nhân vật sống với tâm trạng ham muốn : Đạt và Thúc. Cả hai đều là nhà giáo, đều ham muốn một người phụ nữ. Nhưng tâm trạng ham muốn của họ không giống nhau. Thúc ham muốn Hằng, một ham muốn xảy đến bất ngờ, cháy ngùn ngụt, biến thành hỏa diệm sơn, và nhất quyết đi đến cùng, tức đi đến xung năng chết mà Freud gọi là Thanatos, do tên thần chết trong thần thoại Hy lạp. Thanatos chỉ định toàn thể những xung năng chết, đối lập với Eros – thần tình yêu – xung năng sống. Ham muốn của Đạt không được thỏa mãn, vẫn trong tình trạng chờ đợi, thuộc về xung năng sống. Đạt và Thúc, hai người bạn cùng đi tìm tình yêu, Thúc gặp Thanatos, Đạt gặp Eros.

Trong cuốn Không hận thù, Chu Tử tuyên bố Đạt là phát ngôn nhân của ông. Thật ra, cả Đạt và Thúc đều là phát ngôn nhân của ông. Cả hai đều phát biểu về ham muốn, và sống dùm tác giả trạng thái đa dạng của ham muốn.

 

Chú thích :

  1. Lionel Trilling, Freud and literature, The liberal imagination, London, 1951. Do Jean Starobinski dẫn.

Tác phẩm và tài liệu tham khảo :

Chu Tử, Yêu, tái bản ở Hoa kỳ

Chu Tử, Không hận thù, Toà soạn Sống, Sài Gòn, trình bày, 1966, Xuân Thu in lại ở Hoa Kỳ

Philippe Cabestan, Le désir, Ellipses, 2005.

 

Advertisements

TRUYỆN “YÊU” CỦA CHU TỬ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC

 

Vào năm 1963, ở miền Nam, một cuốn tiểu thuyết ra đời và được sự đón nhận quá nồng nhiệt của độc giả, nó biến thành một hiện tượng. Tôi muốn nói đến cuốn truyện Yêu của Chu Tử. Trong lời tựa cho lần tái bản thứ hai, tác giả cho biết cuốn Yêu lần đầu tiên ra mắt, được in 5.000 bản và đã bán hết trong vòng hai mươi lăm ngày. Kết quả vượt xa sự chờ đợi của tác giả và nhà xuất bản

Điều gì đã lôi cuốn người đọc ? Chắc chắn là cái tựa đề Yêu, nhưng nếu chỉ là cái tựa đề thì sự lựa chọn quá nông cạn. Phải nói cốt truyện hấp dẫn với những mối tình lãng mạn, ngoài thông lệ, và những nhân vật nữ có cá tính sâu sắc, ăn nói ngỗ ngáo, sống sượng hay dịu dàng, lãng mạn, như ở ngoài đời. Chu Tử đã đem một cái gì mới lạ đến với người đọc, làm người đọc không khỏi kinh ngạc, cảm thấy có điều gì lạ lẫm đang biến đổi cách suy nghĩ, cách nhìn đời, cách hành động của các nhân vật trong truyện. Phải chăng truyện Yêu phản ánh sự chuyển mình của xã hội thời đó ?

Có nhiều cách tiếp cận một tác phẩm văn học. Trường hợp tác phẩm Yêu, chúng ta cần đến cái lưới đọc của xã hội học để xem xét những dấu hiệu nào đã làm nên cái mới lạ của truyện.

I Nội dung truyện

Chu Tử đưa chúng ta vào một thế giới của tình yêu mà theo các nhân vật, đó là thứ tình yêu do số kiếp, do định mệnh an bài. Thúc và Hòa có bốn cô con gái : Uyển, hai mươi hai tuổi, sinh viên luật khoa, có sắc đẹp lộng lẫy, khiêu gợi, Diễm, hai mươi tuổi, đẹp kín đáo, mơ màng, Huyền, mười tám tuổi, có vẻ đẹp lạ lùng nhờ có mắt hơi lác, Tuyết mười sáu tuổi, học trường Tây, có vẻ đẹp Tây phương. Thúc là một giáo sư triết học, đa cảm, phóng khoáng, xuề xòa, Hoà, vợ Thúc, là một phụ nữ tôn trọng đạo giáo truyền thống. Ba cô gái lớn đã đến tuổi lấy chồng nên không thiếu gì đàn ông giàu có lui tới.

Vào truyện, Thúc báo cho gia đình biết Đạt, bạn của Thúc và là thầy dạy học của bốn cô con gái, có ý định hỏi Diễm làm vợ. Cả gia đình kinh ngạc, mỗi người phản ứng mỗi cách. Uyển, tự ái bị tổn thương, mặc dù Uyển dửng dưng với Đạt, vụt hỏi : « Sao ông ấy không hỏi con, Ba nhỉ ? ». Hòa tỏ vẻ khó chịu, bực mình, bà không chấp nhận một người bạn của chồng, gần bằng tuổi chồng, và là thầy dạy học các con mình, lại muốn đi hỏi một đứa con của mình. Vả lại, bà muốn Diễm lấy Khải, một sinh viên y khoa sắp ra trường, đẹp trai, con nhà giàu. Còn Diễm bồi hồi, im lặng. Huyền tính tình đôn hậu, được mọi người tin cậy và tâm sự, kể cả Đạt. Huyền báo cho gia đình biết hai chuyện do Đạt kể. Chuyện thứ nhất là khi Diễm còn bé, có lần chú Đạt bế Diễm đi tắm suối và Diễm nói sau lớn Diễm sẽ lấy chú Đạt. Với thời gian, lời nói ngây thơ đó đã làm cho Đạt yêu Diễm. Diễm cũng bắt đầu nhớ lại chuyện xưa. Chuyện thứ hai là chuyện Đạt thân với bà Hằng. Nhưng giữa hai người chỉ có tình bạn. Vào thời kháng chiến, Hằng mồ côi mẹ, phải tự lo thân, mặc dù đã có tiền của. Hằng dựng lên một quán nước để giúp những anh dân quân đi đường xa. Hằng có vẻ đẹp quyến rũ, lại bồng bột yêu nước bằng cách sẵn sàng « ủng hộ sinh lý » cho những phần tử tranh đấu nếu cần. Thanh, một anh đại đội phó mê Hằng, một đêm mò đến nhà Hằng, liền bị một anh dân quân tên Đa cũng mê Hằng, nổi ghen, tri hô. Thế là cả Hằng và Thanh đều bị bắt, ra tòa. Dạo ấy Đạt làm dự thẩm. Ông chánh án là một người thuộc sắc tộc thiểu số, ông ta cũng thèm muốn Hằng, bèn lập mưu để tên Đa thoả mãn dục tình, rồi đến lượt ông ta. Sau này khi Đạt gặp lại Hằng thì Hằng có một đứa con, để giữ tiếng cho Hằng, Đạt nhận đứa con là con của mình. Hòa muốn triệt hạ uy tín của Đạt trước mặt con cái nên tỏ vẻ nghi ngờ đứa bé là con thật của Đạt. Huyền cũng cho biết hiện Hằng sống ở Sài gòn với đứa con. Càng ngày Đạt càng tỏ tình với Diễm và Diễm cũng bắt đầu cảm thấy yêu Đạt, nhưng biết mẹ mình chống đối, Diễm dè dặt. Tuấn, một người học trò cũ của Thúc, nay là một họa sĩ, rất mê cờ bạc, luôn luôn cần tiền. Huyền vì lòng thương người muốn chạy chọt để giúp Tuấn. Đạt muốn đỡ lấy gánh nặng của Huyền, bèn đến làm quen với Tuấn với ý định khuyên răn Tuấn. Nhưng tại nhà Tuấn, Đạt gặp Trang, em của Tuấn và là một vũ nữ. Đạt khó nhận ra ở người vũ nữ ăn nói bạo dạn, cay cú, có nhiều mánh khóe để làm đàn ông mê say, cô học trò khi xưa của mình, nhút nhát và hay khóc. Vì là nạn nhân của một người bạn của Tuấn, Trang đã hóa thành vũ nữ. Trang thù ghét đàn ông và có tiếng là thứ « rắn hổ mang ». Trang ghét nhất bọn con gái nhà lành, khi được biết Đạt và Diễm yêu nhau, Trang quyết phá tình yêu của hai người. Về phần Tuyết và Huyền, trong lúc Hoà và Uyển đi Đà lạt, hai cô thấy bố mêt mỏi, bơ phờ, mới nảy ra cái ý đưa bố đến nhà bà Hằng để bố vui. Đang lúc tâm hồn trống trải, Thúc nhận lời. Không ngờ khi Thúc và Hằng gặp nhau, hai người bỗng yêu nhau như hỏa diệm sơn bốc lửa. Sau đó Thúc và Hằng lại rủ nhau đi Vũng Tàu để tiếp tục sống một cuộc tình say đắm. Khi Hòa trở về và được biết chồng mình đã ngoại tình, bà có một phản ứng im lặng, lạnh lùng, làm mọi người trong gia đình đâm ra lo sợ. Không khí gia đình không còn êm ấm nữa. Thúc bị thổ huyết, phải vào bệnh viện. Diễm mặc dù yêu Đạt, phải nhận làm lễ cưới gấp với Khải để đem lại niềm vui cho gia đình. Diễm quả quyết với Đạt và mọi người rằng Diễm sẽ tạo hạnh phúc với Khải, và sự quyết định của Diễm không phải là một hành động hy sinh. Về phần Đạt, Đạt đau đớn thấy Diễm đành tâm cắt đứt, Đạt quả quyết với Diễm Đạt vẫn chờ đợi. Còn Trang càng thấy Đạt đau khổ vì Diễm càng tức giận vì Trang đã bắt đầu yêu Đạt. Từ ngày Thúc nằm bệnh viện, gia đình túng quẫn, Uyển, tuy yêu Hướng, một sinh viên nghèo, vẫn muốn làm tiền một trong những người đàn ông giàu có theo đuổi Uyển, để có tiền giúp gia đình. Hướng nghi ngờ, theo dõi đến chỗ hẹn của hai người, và Hướng đã thẳng tay hành hung người đàn ông. Hướng bị bắt, bị vào tù. Bệnh tình của Thúc ngày càng trầm trọng. Nghe lời khuyên của bác sĩ Thoại, bạn của Thúc và là người yêu thầm nhớ trộm Hòa khi xưa, Hòa chẳng những tha thứ cho chồng mà còn mời Hằng đến gặp Thúc. Sau khi Thúc chết, Hằng hạ sinh một đứa con trai. Cũng sau ngày Thúc chết, để gia đình bớt túng quẫn, Huyền xin phép mẹ nghỉ học để đi dạy, Tuyết xin đi hát, Diễm từ khi lấy chồng, mặc dù cố gắng tạo hạnh phúc, nhưng vì Khải ghen nên cảnh gia đình cơm không lành canh không ngọt. Khi Đạt biết Uyển gia nhập hội cờ bạc bịp của Tuấn và lãnh cái việc đi dụ những người đàn ông giàu có bất lương về để Tuấn lột tiền, thì Đạt có ý khuyên nhủ Uyển, trước thái độ hỗn xược của Uyển, Đạt nhận thức vì mình đã yêu Diễm nên mất uy tín với Uyển. Và Đạt có mặc cảm tội lỗi. Uyển và Tuấn bị bắt, bị vào tù. Đối với Uyển, ở tù chung chạ với những cô gái mại dâm là một kinh nghiệm đã biến đổi con ngưòi Uyển, Uyển bắt đầu biết thương những người thiếu may mắn hơn mình. Đạt nhờ luật sư Hoàng, một người bạn, biện hộ cho Uyển. Diễm đã đi lấy chồng, Đạt không còn hy vọng gì nữa, khi Diễm khuyên Đạt nên lấy Trang thì Đạt mệt mỏi để Uyển, lúc đó đã ra tù, và Diễm đứng làm chủ hôn. Sau ngày cưới, Đạt và Trang đi Vũng Tàu một tháng. Còn Diễm và Khải khi ở tiệc cưới ra về, Khải lái xe nhưng vì say rượu, Khải đã gây tai nạn và chết, Diễm bị thương. Một tháng sau, khi hay tin, Đạt sững sờ và có phần quên sự hiện diện của Trang bên cạnh mình. Đạt vẫn còn yêu Diễm.

Thoại đưa Uyển và Huyền vào thăm bệnh viện người cùi và giới thiệu Hội  Bạn những người cùi của ông. Ông ao ước Huyền và Uyển sẽ gia nhập hội, quên cái đau khổ giả tạo của mình để giúp những kẻ đau khổ thật sự. Bất ngờ trong đám bệnh nhân, Uyển nhận ra Trường là người sinh viên trước kia yêu Uyển và đã bị Uyển nhục mạ. Trường từ chối không muốn gặp Uyển, còn Uyển bị sốc và vô cùng hối hận. Trường tự tử sau khi để lại cho Uyển một bức thư đầy oán hờn. Với tư cách là bác sĩ tâm thần, Thoại lập mưu với Hướng vừa ở tù ra, làm một buổi cầu cơ với sự có mặt của Huyền và Uyển với mục đích chửa tâm bệnh cho Uyển. Trong lúc cơ lên, Hướng giả vờ cho Trường lên tiếng nói chuyện với Uyển, Trường khuyên Uyển nên giúp hội Bạn những người cùi, Uyển tin đây là cơ hội để Uyển đền tội. Thế là Uyển nảy ra cái ý gửi thư cho những người đàn ông giàu có đang đeo đuổi mình, và cho họ biết Uyển sẽ nhận làm vợ người nào bằng lòng hiến dâng tài sản của mình cho hội Bạn những người cùi, vì Uyển vẫn tin tưởng vào sắc đẹp đầy sức quyến rũ của mình. Nhưng chẳng có ai trả lời. Uyển chán chường, cảm thấy sắc đẹp của mình là một cái vạ. Nghe tin Tuấn trúng số, Uyển đến gặp Tuấn với mục đích đoạt trọn tiền của Tuấn cho người cùi. Nhưng Tuấn cũng là kẻ tham tiền, cuối cùng Uyển thất thân với Tuấn mà chẳng được gì. Uyển lâm trọng bệnh và từ giã cõi đời.

II Tác phẩm Yêu qua lưới đọc xã hội học

 Khi nhà văn viết một truyện hư cấu, bao giờ nhà văn cũng dựa vào những yếu tố, những chi tiết có thật ngoài đời, nhờ thế truyện hư cấu có tính thuyết phục và lôi cuốn người đọc. Cho nên văn chương, nói rõ hơn truyện văn xuôi, mang dấu ấn của xã hội. Nhà văn Pháp Louis de Bonald, vào thế kỷ 19, đã từng nhận xét : La littérature est l’expression de la société, comme la parole est l’expression de l’homme (Văn chương là sự biểu đạt của xã hội, như lời nói là sự biểu đạt của con người). Lời nhận xét này dọn đường cho ngành phê bình văn học theo xã hội học.

1/ Những bước tiến của phê bình văn học theo xã hội học

Việc hình thành của phê bình văn học theo xã hội học đã qua nhiều giai đoạn. Khởi đầu là những lý luận của hai nhà triết học Mác xít Georg Lukács (1885-1971) và Lucien Goldmann (1913-1970), họ quan niệm tác phẩm văn học như một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, như một « phản ánh » của một bối cảnh hay của một hệ tư tưởng. Thế hệ phê bình Mác xít đến sau gồm có : Louis Althusser, Jacques Dubois, Renée và Etienne Balibar và Pierre Macherey. Họ cố định nghĩa văn chương như hình thức của một hệ tư tưởng có biệt tính. Diễn giải của họ là một diễn giải theo chủ nghĩa duy vật.

Rồi đến phê bình văn học theo xã hội học hiện nay. Các nhà phê bình muốn cách đọc văn bản phải làm nổi bật Lịch sử và xã hội, phải tìm hiểu xã hội đi vào tác phẩm văn học như thế nào, tìm những âm vang của diễn ngôn xã hội và diễn ngôn của Lịch sử. Đọc tác phẩm theo phương pháp của xã hội học là đọc cái minh bạch, rõ ràng và nhất là đọc cái được hiểu ngầm.

Đọc tác phẩm văn học theo phương pháp xã hội học không có nghĩa là đem những lý luận đã có trước ứng dụng vào tác phẩm. Vì những lý luận đó tuy đã có công đi tiên phong trong ngành xã hội học, nhưng chúng đã được đặt trên nền tảng của Lịch sử và những xã hội thời xưa.

Ngày nay, mọi cách đọc đều là một phát minh, một sáng tạo và là một công việc nghiên cứu. Việc đọc ở mức độ của nó, nó góp phần vào việc phong phú hóa và vào sự tiến bộ của tâm thức xã hội và lịch sử, cũng như viết và sáng tạo vậy. Việc giải thích văn bản ngay cả khi nó dựa vào những phát hiện của lý luận xưa, nó có thể góp phần vào việc uốn nắn cái tâm thức về hiện thực dưới nhiều khía cạnh, mặc dù đây là một uốn nắn bấp bênh. Chính ở mức độ của việc giải thích, cũng như ở mức độ của viết và sáng tạo, mới luôn luôn có một tổng hợp mới giữa cơ sở hạ tầng / kiến trúc thượng tầng, giữa tâm thức / phi tâm thức, giữa hình thức cũ được bảo tồn / hình thức mới được tạo nên, v.v…

Vậy cách đọc theo phê bình xã hội học là một vận hành không chỉ khởi đầu bằng những văn bản sáng lập, mà cốt yếu khởi đầu bằng sự nghiên cứu và bằng một cố gắng tìm tòi để làm xuất hiện những vấn đề mới và đặt ra những câu hỏi mới.

2/ Nhìn lại người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa

Truyện Yêu không khỏi làm người đọc kinh ngạc trước những đổi thay của người phụ nữ trong xã hội miền Nam vào những năm 60. Để có cái nhìn đối chiếu chỉ cần xem qua vài tác phẩm văn học trong quá khứ.

Truyện Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng hạn, ra mắt độc giả năm 1936, kể một người phụ nữ tên Nhung góa chồng vào lúc hãy còn rất trẻ, tâm hồn dễ say đắm, khao khát yêu đương, nhưng bị giam cầm trong lễ giáo truyền thống. Tiết hạnh khả phong, Nhung phải thờ chồng, thủ tiết với chồng suốt đời. Khi biết Nhung lén lút yêu Nghĩa, bà Án, bà mẹ chồng, mắng người làm, nhưng thật ra để ám chỉ Nhung. Bà nói với con Nhài : Thôi biết điều thì về với chồng con cho phải đạo vợ chồng. Đừng có học cái thói lăng loàn ấy nữa, làng nước người ta cười cho. Chúng mày tưởng rằng nhà hạ lưu thì không cần gì sao ? Người sang thì tiếng lớn, người hèn thì tiếng nhỏ, nhưng ở đời ai cũng có danh tiếng của mình (1). Trong cách nhìn của bà Án, Nhung không có chút may mắn nào để tìm được hạnh phúc cho đời mình.

Đó là thân phận người phụ nữ bị lễ giáo, đạo đức nghiền nát vào những năm 30. Qua những năm 40 thì sao ? Trong truyện Một người đàn ông đi tìm một người đàn bà của Vũ Bằng, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, năm 1942, người phụ nữ đã được tự do buôn bán, tự do gặp gỡ đàn ông. Trâm yêu Hải, nhưng Trâm phải chấp nhận làm vợ bé của Hải. Một hôm Hải ra đi để xây mộng làm giàu, nhưng cảm thấy không cần cho Trâm biết. Trâm tưởng Hải đã chết, nên khóc lóc đau khổ. Đàn bà chung quanh xúm lại an ủi, có bà nói : Mình là đàn bà, mình buôn bán làm ăn thủ phận. Còn đàn ông phải để cho họ bay nhảy chứ… Một lần nữa, người phụ nữ tuy tương đối được tự do, nhưng vẫn thiệt thòi, vẫn phải an phận, chấp nhận làm vợ bé tức một địa vị không chính thức, chấp nhận sự coi thường của người chồng : đàn bà không xứng đáng chia sẻ những tham vọng của chồng.

Hai thập niên sau, vào những năm 60, ở miền Nam đã có nhiều thay đổi. Học giả Lê Văn Siêu, trong bài nói chuyện Những lối nói Việt-Nam, ngày 25-3-1962, tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài gòn, đã nói về xã hội cũ và xã hội mới : Hai con người mới và cũ ở hai xã hội mới và cũ ấy, hẳn là phải khác nhau, mặc dầu trong những cốt cách vẫn còn nguyên vẹn một con người Việt Nam, không giống một con người nào khác trên thế giới… Tác giả nhận xét sự khác biệt giữa cũ và mới trong lối sống, lối hiểu, lối suy nghĩ và lối nói. Về người phụ nữ thì tác giả nói : Ngày xưa, người con gái chưa chồng, không bao giờ dám nói chuyện đàng hoàng với những người trai không quen biết. Ngay giữa nơi hội hè đình đám cũng e thẹn, có cạy răng ra mới nói nửa lời, mà cũng còn đắn đo chán ra, để tránh sự xuyên tạc, tránh những ký hiệu và biểu tượng gì khiến người ta có thể hiểu sai. Nhưng ngày nay thì các cô giao thiệp bạo dạn lắm (2).

3/ Bối cảnh văn hóa trong truyện Yêu

Đặc tính của phê bình theo xã hội học là thiết lập những liên hệ giữa xã hội và tác phẩm văn học, và miêu tả những liên hệ đó.

Cuốn Yêu ra đời năm 1963, non mười năm sau ngày ký Hiệp định Genève chia đôi đất nước ; xã hội thời tiền chiến đã dần dần lùi vào dĩ vãng, miền Nam đang tin tưởng xây dựng tương lai, và xã hội miền Nam đang chuyển dần từ cái cũ sang cái mới. Xã hội trong truyện Yêu phản ánh xã hội bên ngoài, tuy đây là một truyện hư cấu. Những nhân vật trong truyện thuộc giới trung lưu, trí thức, ngoài luật sư Hoàng và bác sĩ Thoại là những người có chức vị trong xã hội, có tiền của, các nhân vật chính : Đạt, Thúc là những nhà giáo mơ mộng, lãng mạn, giàu chữ nghĩa nhưng nghèo tiền bạc. Cũng cần nhắc lại tác giả Chu Tử trước khi trở thành nhà báo, nhà văn đã từng là nhà giáo.

Về phương diện văn hóa, ảnh hưởng của Pháp vẫn còn sâu đậm. Bài thơ tủ  mà Đạt thường giảng cho học trò của mình là bài thơ La mort du loup (Cái chết của con chó sói) của Alfred de Vigny. Trong một thư của Diễm gửi cho Đạt, Diễm thú thật sở dĩ mê tác giả Pháp Pierre Benoit là vì ông này năm sáu mươi tuổi mới lấy con một người bạn, một cách để Diễm tỏ tình với Đạt. Còn Hằng, người yêu của Thúc, cũng là một nhà giáo, bình luận dong dài về triết lý bi đát (la Philosophie tragique) của Clément Rosset, khi bà nhắc đến tình yêu trong tác phẩm A farewell to arms (Giã từ vũ khí) của Hemingway. Uyển thì khi chết có để lại mấy trang nhật ký kể nội dung kịch phẩm Le malentendu (Ngộ nhận) của Camus, để kết luận rằng : cuộc đời tàn bạo, bi đát.

Ngoài những tác phẩm Tây phương được trích dẫn, các nhân vật trong truyện Yêu có lúc cũng dùng Pháp ngữ xen kẻ vào lời nói của mình. Thúc cho Đạt là một rêveur incorrigible (một người mơ mộng không chữa được). Trang tự cho mình là một thứ voleuse d’amants (một thứ đàn bà cướp người yêu). Trang lại còn pha thêm tiếng Anh : Such is life (Đời là thế).

Không gian của truyện gồm những nơi chốn thể hiện những hoạt động của một xã hội đương đại : trụ sở cảnh sát, nhà tù, bệnh viện người cùi, phòng trà, vũ trường…

Một xã hội do đồng tiền chế ngự. Uyển dùng sắc đẹp của mình để quyến rủ những người đàn ông giàu có. Đặc biệt Tuấn là nhân vật biểu tượng cho sự ham muốn đồng tiền. Anh ta nói : Người ta chỉ triết lý suông khi nào không có tiền, chứ đã có tiền rồi, thì …a-lê-hấp ! sống đã chứ ! (tr. 97)

4/ Từ xã hội cũ đến xã hội mới

Trong tác phẩm Yêu, những dấu ấn của xã hội xưa vẫn tồn tại, như chủ nghĩa gia trưởng (paternalisme), quan niệm thứ bậc giữa thầy trò, hôn nhân phải do cha mẹ sắp đặt. Chủ nghĩa gia trưởng vẫn tồn tại nơi những người đàn ông có tuổi tác, chức vị. Khi Uyển bị bắt và đưa đến ông biện lý, ông này có giọng quở trách như một người cha mắng con : Cô là một thiếu nữ có học, con nhà gia giáo… Cha cô là một giáo sư, vậy mà sao cô hư hỏng sớm thế ? (tr.314)

Và trước thái độ sừng sộ của Uyển, ông biện lý lên giọng nghiêm khắc : Được lắm ! Tôi sẽ dạy cho cô biết tôn trọng mọi người. (tr. 314)

Một nhân vật khác cũng có thái độ và hành vi của một người gia trưởng. Đó là Thoại. Thoại là một bác sĩ tâm thần nhưng lại hướng dẫn chị em Uyển như một gia trưởng. Ông đưa Huyền và Uyển đến một bệnh viện chữa người cùi và giảng cho hai chị em biết là ở đời có những kẻ đau khổ thật sự như những người cùi. Ông khuyến khích hai chị em tham gia vào hội giúp người cùi của ông. Ông giảng rất hăng, và từ vai trò một gia trưởng ông bước sang vai trò một nhà truyền giáo. Khi Uyển ra tù, Thoại muốn cứu Uyển khỏi cái ám ảnh đã vô tình giết Trường. Hành động của Thoại là hành động của một người cha muốn cứu đứa con.

Lễ giáo, kỷ cương của thời xưa đặc biệt được nhân vật Hòa bênh vực mạnh mẽ. Hòa là một phụ nữ đoan chính, luôn luôn làm tròn bổn phận một người vợ, một người mẹ. Trước vụ ngoại tình của chồng, bà nghĩ nếu bà ở trong hoàn cảnh của chồng, bà sẽ có đủ nghị lực để chống trả sự cám dỗ, vì bà đặt bổn phận trên tình cảm. Bà cũng tôn trọng quan niệm thứ bậc giữa thầy trò như trong xã hội xưa. Cho nên khi hay tin Đạt ngõ ý muốn hỏi Diễm làm vợ, bà kinh ngạc, rồi lấy làm bực tức, khó chịu, bà nghiêm khắc chỉ trích Đạt và tìm cách triệt hạ uy tín của Đạt. Bà nói với Đạt : Thời buổi này, thiếu gì những giáo sư đã lợi dụng uy tín, địa vị của mình để quyến rũ học trò mình… Một ông giáo sư mà muốn chiếm đoạt tình yêu của học trò mình thì còn gì dễ dàng bằng, còn gì thuận tiện bằng… Nhưng dù người ta có viện bất cứ lý do gì để bào chữa, tôi vẫn cho rằng làm như vậy tức là lợi dụng, tức là sang đoạt tình cảm, và một người giáo sư dù có yêu thực tình, cũng không có quyền lấy học trò của mình. Một giáo sư dù vô tình hay hữu ý – làm cho học trò của mình say mê mình – tức là có tội rồi… (tr. 106)

Và Hòa đã dùng uy quyền của một người mẹ để buộc Diễm lấy Khải. Khi Diễm xin phép mẹ đến gặp Đạt lần cuối trước khi lấy chồng, Hòa nhắc con :… con cần nhớ là con đến thăm ông ấy để thanh toán tình cảm, chứ không phải để làm cho tình cảm thêm rắc rối. (tr. 193)

Hòa cũng có quan niệm truyền thống về người phụ nữ. Sau khi nghe kể chuyện Hằng thất thân dễ dàng với đàn ông, Hòa cho Hằng là thứ « đàn bà thối thây ».

Khi lãng mạn hóa tình yêu giữa thầy trò, có thể nói Chu Tử đã đánh dấu một cuộc cách mạng trong cách cư xử giữa thầy trò và dọn đường cho những tác phẩm khác cùng chủ đề, như cuốn Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, ra năm 1966. Chu Tử đã xóa bỏ cái ranh giới giữa thầy trò, làm đảo lộn thứ bậc giữa thầy trò, do đó uy tín của người thầy bị suy sụp. Khi Uyển nghe Đạt khuyên can mình đừng gia nhập tổ chức cờ bạc bịp của Tuấn thì cô tức giận, trở nên hỗn xược, cô không còn gọi Đạt là thầy mà là anh : Tôi vẫn đinh ninh là từ khi anh tỏ tình yêu với con Diễm, thì anh cũng tự động chối bỏ cái chức « thầy » đối với chúng tôi, cái địa vị « bạn bè » đối với Ba tôi… Chứ anh vừa muốn yêu con Diễm, vừa muốn đóng vai « thầy» của chúng tôi, bạn của Ba chúng tôi, đâu có được ! (tr. 300)

Còn cô vũ nữ Trang, cũng là học trò của Đạt và yêu Đạt ; khi thấy Đạt đau khổ vì phải đoạn tuyệt với Diễm, mà lại điên cuồng muốn hôn Trang, thì Trang đâm ghen tức, phẫn nộ và thẳng thắn mắng chửi Đạt : Anh là một đứa đê hèn, một đứa khốn nạn, anh biết không ? Anh cao thượng, anh đứng đắn, anh không dám hôn con khốn nạn, anh nhè tôi anh hôn, vì tôi là con đĩ, ai hôn mà chả được ! Tôi ghê tởm cái đứng đắn, cao thượng của anh ! (tr. 211)

Nếu uy tín của người thầy bị sụp đổ trong đời sống tình cảm, thì ngoài xã hội, uy tín đó vẫn tồn tại. Bằng chứng khi Tuyết tập tành làm ca sĩ, ra trình diễn ở một phòng trà, có một nhóm du đãng, bộ hạ của một nữ ca sĩ khác cạnh tranh với Tuyết, lao vào phá đám, hăm dọa Tuyết, thì bất thình lình Đạt xuất hiện, tên du đãng cầm đầu nhóm nhận ra Đạt là thầy cũ của mình, bèn ra lệnh cho đàn em rút lui êm thấm.

Vậy trong truyện Yêu, Hoà là người của xã hội truyền thống, xã hội cũ. Đối diện với Hoà có hai người con gái sống theo thời mới, xã hội mới, đó là Trang và Uyển. Trang vì hoàn cảnh đưa đẩy đã trở thành một vũ nữ, tuy thế Trang căm ghét đàn ông, cô sống một cuộc đời độc lập, đơn độc, cho đến khi gặp lại thầy cũ là Đạt và làm vợ Đạt. Chẳng những Trang xóa thứ bậc thầy trò qua hôn nhân, mà cô còn mắng nhiếc Đạt khi nổi cơn ghen.

Còn Uyển là một cô gái đã thoát xa khuôn phép của lễ giáo xưa. Cô ăn nói tự do, không chút dè dặt ; khi nghe bố báo tin thầy Đạt muốn đi hỏi Diễm làm vợ, Uyển phản ứng ngay : Sao ông ấy không hỏi con, Ba nhỉ ? (tr. 13) Cách ăn nói bộc trực như thế hoàn toàn khác xa sự e lệ, dè dặt của các cô gái thời trước do học giả Lê Văn Siêu miêu tả trong bài nói chuyện của ông. Uyển biết mình đẹp, đầy tự tin, cô sống tự do, sống bất cần đời, cô chưa biết tình yêu thật sự và chỉ xem đàn ông với cái nhìn đầy vụ lợi, vụ lợi không riêng cho cô mà cho những người cô thương. Thật ra Uyển giàu tình thương người, trong thời gian ở tù cô cảm thấy thương những người bạn tù, rồi cô thương người cùi. Nhưng vì những tính toán điên rồ, Uyển đã rơi vào tuyệt vọng và đi đến cái chết.

Hoà và Uyển là hai thái cực, hai biểu tượng đi ngược nhau : Hoà là biểu tượng của xã hội xưa và Uyển là biểu tượng của xã hội hiện đại.

Truyện Yêu tiết lộ một hiện tượng lịch sử, xã hội quan trọng : sự chuyển mình của xã hội miền Nam vào những năm 60. Sự chuyển mình đó trước hết do ảnh hưởng của văn hóa Pháp để lại. Sau nữa xã hội miền Nam là một xã hội tự do, cởi mở, dễ dàng tiếp nhận những tập tục, những học thuyết mới đến từ Tây phương. Do đó dù muốn dù không xã hội miền Nam cũng đổi thay, những ranh giới chia cách thứ bậc giữa cha mẹ, con cái, giữa thầy trò đều bị xóa mờ ; con cái nói chuyện ngang hàng với cha mẹ, bông đùa với cha mẹ, như Tuyết khi cô can thiệp vào những tranh cãi của cha mẹ ; học trò không còn kính nể thầy như trước. Và điều quan trọng nhất là trong cái xã hội mới của miền Nam, bỗng nhiên nữ quyền biểu lộ mạnh mẽ ; người phụ nữ như Uyển trở nên hoàn toàn tự do, tự do trong cách suy nghĩ, ăn nói, đối xử với kẻ khác, tự do lựa chọn đời sống theo ý mình. Yếu tố quyết định của sự biến đổi này là học vấn, học vấn giải phóng người phụ nữ, nhờ học vấn địa vị của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Có thể nói, qua truyện Yêu, nữ quyền là một trong những động lực của sự chuyển mình của xã hội miền Nam.

 

 

Chú thích :

(1)  Nhất Linh, Lạnh lùng, Nxb Hội Nhà Văn, 2010, tr. 103.

(2) Lê Văn Siêu, Văn Minh Việt Nam, tr. 216.

 

MỘT NGHỆ THUẬT DỰNG TRUYỆN CỦA THANH TÂM TUYỀN

 

Thanh Tâm Tuyền nổi tiếng vì đã cách tân thơ ở miền Nam ; ngoài ra ông còn sáng tác kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết, v.v… Về truyện ngắn, ông là tác giả của hai tập truyện : Khuôn Mặt (1964) và Dọc đường (1966). Tập Dọc đường gồm các truyện : Tư, Người gác cổng, Trên mây, Dọc đường, Chim cú, Mỗi người, Sắc trời. Truyện Dọc đường được xem là truyện ngắn xuất sắc nhất, tiêu biểu cho nghệ thuật dựng truyện của Thanh Tâm Tuyền.

Dọc đường kể chuyện một người đàn ông quê mùa, rụt rè, đi thăm người em làm việc trong một đồn điền cao su. Xe đò ngừng lại ở một dãy phố gần rừng cao su, người lơ xe giục người đàn ông xuống xe để xe đò chạy tiếp. Nhưng khi bước xuống khỏi xe, người đàn ông nhận thấy đây không phải là nơi ông ta định đến và muốn trở lên xe. Nhưng người lơ xe ngăn cản không cho ông ta trở lên, vì cái vẻ quờ quạng, ngập ngừng của ông ta có thể làm chậm trễ chuyến xe. Vậy là xe chạy tiếp, bỏ lại người đàn ông đứng ngơ ngác trên hè phố. Người đàn ông ôm khư khư vào người một cái bọc giấy và bắt đầu đi dọc con phố có vài cửa tiệm, vài ngôi nhà, một khoảng đất trống. Người đàn ông dừng lại trước một cửa tiệm sửa xe đạp, hỏi người thợ sửa xe có còn chuyến xe đò nào nữa không. Người này trả lời vắn tắt có lẽ không còn xe nữa. Người đàn ông tiếp tục đi, đến trước một ngôi nhà cửa đóng có cái lu nước trước nhà, người đàn ông dừng chân uống nước và rửa mặt, rồi lại tiếp tục đi và ghé vào một quán nước. Người đàn ông khơi chuyện với người đàn bà chủ quán, kể lể chuyện của mình. Vì biết người đàn ông đang mong có một chuyến xe đò, người đàn bà lắng tai nghe ngóng và báo có chiếc xe be sắp đi qua, người đàn ông vội vã chạy ra đường, có đến hai chiếc xe be đang chậm chạp chạy trên đường, người đàn ông ra dấu xin đi quá giang, nhưng hai người tài xế chỉ vẫy tay chào và hai chiếc xe be vẫn chạy. Người đàn ông trở vào quán, xin ngủ lại đêm. Người đàn bà chủ quán quyết liệt từ chối và dọa sẽ kêu lính đến. Lý do sự từ chối là người đàn ông là kẻ lạ mặt, bà ta sợ lỡ đêm hôm người đó có thể giết bà ta, hoặc sợ nhà chức trách đến xét nhà. Và bà ta xua đưổi người đàn ông. Người này đi trở lên con phố và một lần nữa dừng lại trước tiệm sửa xe đạp. Người thợ đã ngưng làm việc, đã tắm rửa, thay quần áo và đang khẩy đàn ghi ta. Người đàn ông không còn hỏi thăm về các chuyến xe, chỉ nhờ người thợ chỉ dùm một nơi để ngủ tạm qua đêm. Người thợ lúc đầu cười vẻ chế nhạo, sau anh ta đâm ra cáu kỉnh. Người đàn ông lại dừng trước căn nhà cửa đóng có lu nước, và nhẹ nhàng gõ cửa. Trong nhà có tiếng niệm Phật, tiếng mõ, tiếng chuông. Sau mấy lần gõ cửa, có tiếng một bà cụ già từ trong vọng ra, bà cụ hỏi : Ai đó ? và nhìn qua lỗ cửa. Người đàn ông một lần nữa kể chuyện đi thăm người em, nhưng bị lỡ đường, van nài bà cụ cho ngủ lại một đêm. Bà cụ có vẻ nhân đạo hơn bà chủ quán và người thợ sửa xe, bà cụ tin người đàn ông nói thật. Nhưng đến lượt bà cụ van nài người đàn ông hãy thương bà cụ và người cháu và hãy để họ yên. Rồi có tiếng người con gái, cháu bà cụ, cô ta bảo không tin câu chuyện của người đàn ông và hăm dọa sẽ kêu lính. Cô ta quả quyết : không chứa người lạ trong nhà. Đêm đã xuống, có tiếng súng nổ vang trời như một dấu hiệu, tức thì mọi cánh cửa đều vội vàng đóng lại. Người đàn ông dáo dác ngó ra đường.

Trong truyện của Thanh Tâm Tuyền, không gian, thời gian và nhân vật là ba yếu tố được triển khai để làm tăng nỗi sợ hãi đến tột đỉnh của nhân vật.

Không gian

Lessing, nhà văn kiêm nhà phê bình Đức ở thế kỷ 18, quan niệm rằng văn chương và âm nhạc là những môn nghệ thuật gắn liền với thời gian, còn hội họa và điêu khắc là những môn nghệ thuật gắn liền với không gian, vì ngôn ngữ của văn chương trải dài theo thời gian, trong khi các tác phẩm của nghệ thuật tạo hình thì được ngắm nhìn cùng một lúc trong không gian.

Thế nhưng, qua văn chương không gian tuy không được nhận thấy bằng thị giác, nhưng được nhận thức bằng trí tưởng tượng. Trước tiên không gian được nhà văn tưởng tượng và mang dấu ấn chủ quan của nhà văn, rồi không gian đó được người đọc nhận thức qua trí tưởng tượng của mình. Văn chương lại nói về con người, cho nên không gian là một chiều kích mở ra với tha nhân, văn chương tạo nên một không gian có tính xã hội, trong đó con người sống với nhau, sinh hoạt, xây dựng, phá hủy, thương yêu, thù ghét, vui buồn, v. v… rồi chết.

Trong truyện Dọc đường, Thanh Tâm Tuyền vẽ lên một không gian rất rõ ràng, tỉ mỉ như một nhà đo vẽ địa hình, để làm nổi bật tâm lý của nhân vật. Chuyện xảy ra trên một con phố nhỏ, đầu này con phố là quán nước giáp con đường đất và rừng cao su, đầu kia con phố là đồn Dân vệ. Người đọc theo gót người đàn ông đi từ đồn Dân vệ về phía quán nước, để lần lượt thấy những căn nhà hay khoảng đất dọc con phố : cái quán hớt tóc bỏ không, tiệm chạp phô của người Tàu, một căn nhà ở đóng cửa có dán những bích chương, khẩu hiệu, một tiệm trữ Âu dược, một nền nhà đổ, một khoảng đất làm chỗ họp chợ, nhà việc có mái thủng, một nhà bị sập mái trước, tiệm thuốc Bắc có cô gái Tàu lai, tiệm bán sách vở và tạp hóa, một lớp học, tiệm sửa xe đạp, tiệm chạp phô của người di cư, thêm một căn nhà rồi một căn nhà đóng cửa có cái lu nước ở phía trước, cuối cùng đến quán nước.

Lối miêu tả tỉ mỉ con phố như thế, tuy là trong một truyện ngắn, nhưng làm liên tưởng đến nghệ thuật miêu tả của Alain Robbe-Grillet, thủ lĩnh của nhóm Tiểu Thuyết Mới ở Pháp. Với Alain Robbe–Grillet và các tác giả thuộc nhóm Tiểu Thuyết Mới, sự miêu tả thường khi rất dài, rất tỉ mỉ. Tiểu thuyết truyền thống của Pháp, thời Balzac, Zola, Flaubert, đi vào bề sâu của xã hội, của tâm lý, còn Robbe–Grillet thì xây dựng tiểu thuyết trên bề mặt, nhìn thế giới với đôi mắt của một con người đang đi trong thành phố, không có chân trời nào khác hơn là chính cái cảnh trước mắt. Vậy lối miêu tả của Thanh Tâm Tuyền trong truyện này không khỏi làm liên tưởng đến Alain Robbe–Grillet.

Không gian mang những dấu hiệu của chiến tranh với chiếc trực thăng bay nhiều vòng rồi đậu trên khoảng đất trống, vài tiếng đại bác nổ ầm ở xa, những trái hỏa pháo được bắn lên trời. Trong im lặng của không gian, tiếng ve sầu và tiếng côn trùng làm tăng nỗi bơ vơ của người đàn ông, và rồi tiếng đại bác nổ trong đêm gây hoảng sợ cho kẻ lạc đường.

Không gian thu hẹp vào một con phố có tác dụng gây cảm giác ngột ngạt, biểu tượng cho lòng dạ con người hẹp hòi, ích kỷ.

Nhân vật

Trong một không gian được dàn dựng như thế, ống kính của tác giả quay chậm ở quán nước để người đọc thấy rõ những nhân vật nơi đó : người đàn ông chủ quán, hai người đàn ông khác, người đàn bà chủ quán, hai người lính Dân vệ, với cách ăn mặc, đi đứng, nói năng của họ. Quán nước là khởi điểm của truyện. Nơi đây đã có những dấu hiệu bất an : người đàn ông chủ quán chuẩn bị rời quán để đi ngủ đêm ở Biên Hòa, tránh cái nạn bị bắt đi khiêng xác chết ban đêm, để rồi ban ngày bị nhà chức trách hạch hỏi. Một người đàn ông khác trong quán, khi nghe tiếng trực thăng, thì cho rằng đây là một điều chẳng lành. Người đàn ông chủ quán mặc áo lá, quần xà lỏn, một chân co lên mặt ghế… và nói với vợ : Tao là đàn ông mày nghe chưa ?… Đ. m. thứ đồ đàn bà ngu ! Cách ăn nói thô tục, lại thêm giọng nói tàn nhẫn của người này báo hiệu sự tàn nhẫn của những nhân vật ở dọc con phố đối với kẻ lạc đường.

Sau khi cảnh trong quán được dàn dựng, thì nhân vật chính mới xuất hiện ngoài đường, ở trang 6, truyện dài gần 14 trang. Hắn vận bộ bà ba đen, chân đi săng đan, tóc cắt ngắn, mặt mũi gồ ghề xanh xao, tay ôm một cái gói. Từ khi xuất hiện, người đàn ông xa lạ, đi lạc đường đã ở trong tình trạng của kẻ bị xua đuổi : từ trên xe, người lơ xe thúc hối : Xuống lẹ lên cha nội. Rồi đến người đàn bà chủ quán, người thợ sửa xe đạp, bà cụ tụng kinh, niệm Phật, tất cả đều xua đuổi người đàn ông.

Người đàn ông đi lẩn thẩn từ đầu phố này đến đầu phố kia, rồi đi ngưọc trở lại. Không gian càng thu hẹp càng làm nổi bật mối tương phản giữa người và người. Có hai hạng nhân vật : nhân vật câm và nhân vật điếc. Nhân vật câm là những nhân vật dửng dưng, xa vời dưới mắt người đàn ông lạc đường, như cô gái Tàu lai trong tiệm thuốc Bắc đang ngồi đọc báo, người đàn bà di cư trong tiệm chạp phô đưa mắt nhìn trân trân kẻ lạ mặt, và hai người tài xế xe be chỉ đưa tay vẫy chào, không ngừng lại. Bên cạnh những nhân vật câm có những nhân vật điếc. Điếc là làm ngơ trước sự van xin của người lạc đường. Người điếc đầu tiên là người lơ xe, anh ta không cho người khách trở lên xe đi tiếp và không cần biết đến lời kêu xin của người này. Kế đến là bốn cuộc đối thoại giữa người đàn ông lạc đường với những người ở dọc con phố. Đối thoại 1 với người thợ sửa xe đạp. Đáp lại câu hỏi của người lạ mặt, người thợ lạnh nhạt trả lời vắn tắt, rồi tiếp tục làm việc. Đối thoại 2 với người đàn bà chủ quán mà người chồng vừa bỏ đi Biên Hòa. Người đàn bà này nói nhiều hơn người thợ, sự trao đổi lúc đầu bình thường, người đàn bà tò mò muốn biết về người đàn ông lạ mặt ; nhưng khi người này xin ngủ nhờ một đêm thì bà ta từ chối quyết liệt : Chú ở đâu tới tôi không biết. Chú xin ngủ đậu không được. Đi đâu thây kệ chú chớ. Mắc mớ gì tới tôi. Đối thoại 3 : một lần nữa người đàn ông lạc đường tìm cách khơi chuyện với người thợ, người này có vẻ chế riễu rồi phát cáu : Cha này rỡn hoài ta. Tôi đâu quen biết anh. Đối thoại 4 : người đàn ông lạc đường nói chuyện với một bà cụ già đang tụng kinh, qua một cánh cửa đóng kín. Bà cụ hiền lành, đạo đức, tin rằng người đàn ông nói thật. Nhưng trước sự van nài thống thiết của kẻ lỡ đường, bà cụ cũng tỏ thái độ van xin : Trong nhà chỉ có mấy bà cháu không có đàn ông. Lỡ ra tội nghiệp chú ơi… Tựu trung bà cụ cũng từ chối như những người trước, nhưng sự từ chối của bà cụ ẩn dưới hình thức của những lời van lơn, đạo đức. Cuối cùng giọng nói không chút xót thương, đầy hăm dọa của người cháu gái bà cụ đưa người đọc trở về một thực tế tàn nhẫn. Tóm lại, nhân vật điếc là nhân vật có đối thoại, nhưng không lắng nghe người đối diện với mình ; sự xua đuổi người lạ mặt khi thì hung hăng, đầy hăm dọa, khi thì dịu dàng, van lơn, nhưng tựu trung cũng cùng một lý do : mọi người muốn khư khư giữ lấy nếp sống yên ổn của mình, muốn được yên thân và dửng dưng với sự khốn khổ của một kẻ lạc đường ; tất cả đều do tính ích kỷ và hèn của con người.

Qua sự tiếp xúc của các nhân vật điếc với người đàn ông có những biểu tượng của sự xua đuổi. Biểu tượng thứ nhất là nụ cười của người thợ lần đầu tiên thấy người lạ mặt : Anh này (người thợ) chợt ngửng lên loe miệng cười với người đàn ông, nhưng nụ cười tắt ngay tức thời. Biểu tượng thứ hai là cánh cửa đóng kín của nhà bà cụ, cánh cửa đóng có tính xua đuổi, hất hủi, gây ngăn cách giữa người và người, cánh cửa khép kín lòng người. Sau cùng xe cộ là biểu tượng của sự bỏ rơi : sau khi người đàn ông bước xuống xe thì Chiếc xe rồ ga vọt thẳng vào phía rừng cao su. Sau đó : Hai chiếc xe be kềng càng rần rần từ trong rừng cao su, xe chạy chậm… và xe vẫn chạy. Lại một hành động từ khước, bỏ rơi.

Các nhân vật còn có thể vừa điếc vừa vô hình như bà cụ và người cháu ẩn sau cánh cửa đóng kín.

Thời gian

Thời gian trong truyện là một thời gian có tuyến tính, không có sự đi lùi về quá khứ rồi trở lại hiện tại chẳng hạn. Thời gian chỉ đơn giản đi theo mặt trời sắp lặn. Cũng như không gian và nhân vật, thời gian làm tăng nỗi lo sợ của kẻ lạc đường. Trong khi người đàn ông loay hoay tìm chỗ ẩn trú ban đêm thì thời gian từ buổi chiều dần dần đi vào đêm tối. Vào đầu truyện : Buổi chiều vàng rực ở phía đồn Dân vệ… Trong lúc người đàn ông lạ mặt nói chuyện với người đàn bà chủ quán thì Trời bắt đầu tím trên nền bóng núi xa, và người đàn bà thắp cây đèn dầu. Sau khi nói chuyện lần thứ hai với người thợ sửa xe : Người đàn ông quay mặt về phía rừng cao su trong ấy bóng tối đã dầy. Ngoài rừng trời chạng vạng nhá nhem. Cuối cùng khi người đàn ông đứng trước căn nhà có tiếng niệm Phật thì : Trời cứ tối dần.

Đêm đến, tức thời gian đầy đe dọa, gieo kinh hãi cho người lạc đường đang chơi vơi, vẫy vùng trong một không gian lạnh lùng, câm điếc.

Trong truyện Dọc đường, tác giả Thanh Tâm Tuyền đã chọn cho không gian và thời gian những chiều kích hẹp, ngắn : không gian của một con phố, thời gian của một buổi chiều, và những nhân vật điển hình để tạo nên và làm tăng thêm cơn khủng hoảng tâm lý của nhân vật. Nhân vật là một người rụt rè, ôm vào người một cái gói bọc giấy như một cái gì thân thiết, khi xuống xe, anh ta đứng lại bên đường ngơ ngác, rồi lủi thủi đi trong một con phố hoàn toàn xa lạ, gặp những người xa lạ muốn xua đuổi mình. Nhân vật bị hất ra khỏi thế giới con người và phải một mình đương đầu với sự sợ hãi ở một nơi xa lạ, trong đêm tối, không một mái nhà. Vì các nhân vật không có tên cho nên truyện Dọc đường có tính phổ thông, liên quan đến mọi người. Bất cứ ai cũng có thể ở trong tình trạng của người đàn ông lỡ đường. Một cách vô thức, người đọc động lòng trắc ẩn. Tác giả làm nảy sinh nơi người đọc cái bản năng tự đồng hóa với kẻ gặp rủi ro. Thanh Tâm Tuyền cho người đọc thưởng thức một nghệ thuật dựng truyện rất điêu luyện.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THẾ GIỚI NGƯỜI NỮ CỦA TRẦN MỘNG TÚ

 

Trần Mộng Tú là một tên tuổi của văn học hải ngoại. Độc giả còn nhớ những vần thơ của bà đã gây xúc động ngay từ đầu :

Em tặng anh hoa hồng

Chôn trong lòng huyệt mới

Em tặng anh áo cưới

Phủ trên nấm mồ xanh

…………………………

Anh muôn vàn tạ lỗi

Xin hẹn em kiếp sau

Mảnh đạn này em giữ

Làm di vật tìm nhau.      (Quà Tặng Trong Chiến Tranh)

 

Ôi giấc mơ hoà bình

Anh trả bằng sự sống

Em trả bằng tủi hờn

Bằng một đời đơn độc.     (Giấc Mơ Hoà Bình)

Qua thể thơ ngũ ngôn, lời thơ rưng rưng kể lể, độc giả ngỡ như có tiếng nấc và hình dung bóng dáng một thiếu phụ đang ngồi thổn thức bên một ngôi mộ. Trần Mộng Tú không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng ở hải ngoại, bà còn là một nhà văn, tác giả của nhiều truyện ngắn, tùy bút, tạp ghi. Chủ đề tang tóc trong hai bài thơ trích dẫn trên đây trở lại trong một truyện ngắn : Dòng Sông Đứng Lại, đậm đặc tính tự truyện. Tác giả kể khi tuổi xuân vừa chớm nở đã sống một cuộc đời vợ chồng rất ngắn ngủi : chỉ ba tháng. Người chồng lên đường ra chiến trận. Rồi người vợ trẻ bất ngờ nhận được tin chồng tử trận. Cô đi nhận xác chồng mà sao không có được giọt nước mắt, cô quá trẻ, trước tin dữ, hãi hùng, đột ngột, cô ngỡ ngàng, sững sờ. Tôi tự thấy mình bé nhỏ, mỏng manh trong chiếc áo dài màu xanh nhạt, áo nhầu nát, tóc bơ phờ, mặt ngơ ngác đứng nhìn chung quanh mình. Cái sân bay trông sao mênh mông thế mà cái áo quan thì bé tí, tôi đứng bên cạnh trông lại càng bé hơn.

Thế rồi miền Nam sụp đổ. Sau bao vật đổi sao dời, cô từ nơi xa hướng về quê nhà và được biết ngôi mộ của chồng trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi Sài gòn đã bị chuyển dời và thân xác chồng nay còn lại một bình tro đặt ở nhà thờ Tân Định. Nhiều năm sau, khi trở về quê hương, đối diện với bình tro của chồng, bỗng nhiên cô oà khóc, một cơn khóc dữ dội, kéo dài rất lâu, tưởng như bao nhiêu đau đớn bấy lâu dồn dập, tích trữ trong lòng đều tuôn ra như một dòng thác ồ ạt. Lời nói không cần thiết nữa, những giọt nước mắt tuy phải chờ mấy mươi năm sau mới tuôn rơi, nhưng chính những giọt nước mắt đó đủ nói lên nỗi đau của con người.

Khi đọc truyện ngắn và tùy bút của Trần Mộng Tú, độc giả đi vào thế giới tình cảm của người nữ, những người nữ sống xa quê hương và chấp nhận thân phận lưu đày của mình. Nhân vật chính trong truyện hay trong tùy bút là người nữ, người nữ kể chuyện, người nữ tâm tình, người nữ đang ở trong một cảnh sinh hoạt nào đó ; tóm lại, người nữ hiện diện khắp nơi.

Có người nữ muốn đi ngược dòng thời gian để tìm lại tuổi trẻ, sắc đẹp bằng mọi giá, ngõ hầu tìm được một người yêu trẻ trong một chuyến trở về quê nhà, nhưng đó chỉ là một ảo tưởng (Hoa Hồng Nhung Thứ 8).

Có người nữ yêu cây cối, đặc biệt cây hạt dẻ (Hạt Dẻ Mùa Thu). Loại cây này rất gần gũi với đời sống con người : thân cây được dùng để đóng bàn ghế, giường tủ, cánh cửa, nôi trẻ thơ, quan tài. Từ cái nôi đến cái quan tài là đi trọn cuộc đời của con người. Cây hạt dẻ quả thật đồng hành với con người, còn gì quý bằng. Thế nhưng người nữ trong truyện lại yêu nhất hạt dẻ, trong năm chỉ trông đến mùa hạt dẻ. Khi mưa thu, nắng thu thay nhau tới gõ cửa nhà bất ngờ, không báo trước. (…) Lòng chị nôn nao, chị biết mùa đi nhặt hạt dẻ đã tới. Chị đi nhặt hạt dẻ chất đầy nhà. Để làm gì ? Để biếu bạn bè xa gần, để mời bạn bè khi gặp nhau cùng thưởng thức hạt dẻ rang mà chị đã bóc sẵn. Tình bạn thật là ấm cúng. Trong tâm hồn người phụ nữ đầy tình cảm này, có một chỗ nhỏ dành riêng cho quê hương xa vời : vừa nhặt hạt dẻ chị vừa nhớ cảnh hai chị em nhặt lá bàng trong bài Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh, hai chị em từ trong quá khứ xa xôi bỗng hiện về, cùng nhặt hạt dẻ với chị chăng ?

Lại có người nữ yêu cái đẹp của đồ cổ (Những Cánh Mai Trong Tách Trà). Hà đi đến đâu cũng không thể bỏ qua được các tiệm bán đồ cổ, mặc dù chẳng có nhu cầu gì. Khi cầm đến một vật cổ, Hà thường tưởng tượng quá khứ của nó thế này thế nọ, khiến cô càng thêm vương vấn. Một hôm, người chồng đang lái xe trên đường phải dừng lại để chiều lòng vợ. Thế là Hà tất tả đi vào một tiệm bán đồ cổ. Cô phát hiện một tách trà có cành mai rất đẹp bên ngoài, và bên trong có hai bông mai, tách trà có vẻ Á đông, nó không còn nguyên bộ. Trong khi cô ngắm nghía cái tách trà, thì có một giọng đàn ông Á đông sau lưng làm cô giật mình. Người đàn ông nhắc lại lịch sử của cái tách trà, sự trôi nổi của nó đến ngày nay. Ông nói đang chờ Hà đến để trao tách trà cho Hà vì cô là người biết thưởng thức vẻ đẹp của cái tách. Khi đến quầy trả tiền, Hà phát hiện không có người đàn ông nào trong tiệm. Cô ngỡ ngàng, cô có tưởng tượng không ? Cô rợn người mà nghĩ rằng người đàn ông đó là một người Việt Nam, đã trải qua khói lửa chiến tranh, tù đầy, đã sống cuộc đời di tản ở Mỹ và đã chết. Cái tách trà là của gia đình ông, ông muốn trao lại cho cô là người biết trân quý nó.

Một người nữ khác không yêu cây cối, không yêu đồ cổ mà yêu… đá (Chuyện Trò Với Đá). Những hòn đá cô nhặt ngoài biển khi đi dạo với chồng, ban đêm cô đem chúng vào giường. Thế là cuộc đối thoại với đá bắt đầu, đề tài rất linh tinh : Thượng đế, tôn giáo, chiến tranh, Sơn Tinh Thủy Tinh, nghệ thuật… đối với con người và đá. Cuộc đối thoại dí dỏm, và lời phát biểu của đá có phần triết lý.

Bên cạnh cái đẹp của thiên nhiên, của đồ cổ còn có một cái đẹp vô giá, đó là cái đẹp của tâm hồn. Trong truyện Sau Đám Tang, người phụ nữ ngắm nhìn, khâm phục tình yêu thầm kín, cao thượng của một người đàn ông.

Ngoài những người nữ biết yêu cái đẹp dưới nhiều hình thức, lại có người nữ biết khẳng định mạnh mẽ vị trí của mình, quan niệm sống của mình. Trong truyện Một Nửa Người Đàn Ông, một người đàn bà có chồng đến gặp tình địch của mình, định ra tay làm to chuyện. Người đàn bà mở đầu cuộc tấn công bằng một lời tuyên bố sắt đá :

Tôi là vợ của ông Minh.

Bà đưa mắt quan sát. Tình địch của bà là một cô gái rất trẻ, chỉ hơn con bà vài tuổi, tóc ngắn, một chút son thoa trên môi, áo sơ mi, quần jean, vẻ thông minh, bướng bỉnh. Người đàn bà tự hỏi cái gì nơi cô ta đã quyến rũ chồng mình. Cô gái làm biên tập viên cho một nhà xuất bản. Trước khi có sự gặp gỡ bất ngờ với người vợ của Minh, cô có hẹn đi ăn trưa với anh ta. Cô ngồi đối diện với người đàn bà và bình tĩnh nói :

Chắc bà đến đây để cho tôi biết là anh Minh đã có gia đình. Thưa bà, tôi biết điều này đã lâu. Và không bao giờ tôi có ý định kéo anh Minh ra khỏi gia đình của anh ấy.

Người đàn bà đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác, khi cô gái nói tiếp :

Tôi không hiểu được tại sao phần đông những người đàn bà trên mặt đất này lại có thể đặt mình lệ thuộc vào một người đàn ông nguyên một ngày, rồi những ngày đó kéo ra cả suốt đời mình.

Và cô thẳng thắng tuyên bố triết lý sống của cô :

Không, không bao giờ tôi cần nguyên một người đàn ông cả, tôi chỉ cần một nửa thôi. Có nhiều người phải uống nguyên một ly trà mới thấy vị ngon, phải ăn nguyên một trái táo mới hài lòng, phải đến được chân núi, hay trèo lên đỉnh núi để thưởng thức thì mới mãn nguyện, sông thì phải đi hết dòng mới thỏa chí, phải được lấy nguyên một ông chồng và được gọi là vợ thì mới cho là sung sướng. Tôi thì trà uống một ngụm, táo cắn một miếng, núi nhìn một góc, sông yêu một khúc, đàn ông hưởng một nửa. Suốt đời chỉ là người tình thì cũng đã thấy mình dư thừa hạnh phúc. Bà cứ an lòng ra về.

Cô gái trở về văn phòng và hủy bỏ cái hẹn đi ăn với người đàn ông. Người đàn bà ra về với tâm trạng hoang mang, và gần như bị quan niệm sống của cô gái thu hút.

Người phụ nữ Việt Nam lâu ngày tiếp xúc với văn hóa Tây phương, dù muốn dù không cách suy nghĩ cũng đã chịu ít nhiều biến đổi. Vả chăng người nữ trong truyện này có một bản lĩnh quá vững vàng, lại triệt để hướng về cái tôi, với một triết lý hưởng thụ cắt đứt mọi ràng buộc, tự cho mình một vai trò chủ động và xem nam giới như một sở hữu lưng chừng, tạm thời. Tóm lại một triết lý sống bất chấp những quy tắc luân lý cổ truyền Việt Nam. Đây là một hình thức của nữ quyền vào thời hiện đại ở Tây phương. Nhưng cô quên rằng về mặt tâm lý cô cũng cần thương yêu và được thương yêu trọn vẹn chứ không lưng chừng, không nửa vời.

Trong cuộc sống lưu đày, Trần Mộng Tú, cũng như những nhân vật của bà, cố tạo cho mình một đời sống ổn định, bình thường. Nhưng trong lòng vẫn còn một nỗi buồn không bao giờ nguôi, mất mát quê hương là một nỗi đau quá lớn, và cứ mỗi năm, tháng tư khơi lại nỗi đau buồn đó. Trong bài tùy bút Ngụm Cà Phê Tháng Tư, tác giả đang ngồi trong một quán cà phê ở Mỹ, ba mươi tám năm sau ngày 30 tháng tư 1975, ngậm ngùi nhớ lại bao kỷ niệm xót xa :

Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó ! Đứt ra từng đoạn : đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu… Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.

Sự mất mát như một cắt đứt vĩnh viễn, vì giờ đây nếu có trở về quê hương thì cũng tự cảm thấy mình lạc lõng giữa mọi người. Nơi đây cuộc sống bình an, nhưng sao người phụ nữ di tản không thoát được những kỷ niệm khói lửa của quá khứ, những giọt nước mắt thầm lặng rơi trước ly cà phê. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.

Dù sao cuộc sống vẫn còn đó, và con người cần sống, cần xây dựng. Người phụ nữ di tản có cả một kho tàng tình thương để trao cho đời.

Trong truyện Trong Bóng Tối, Phượng làm việc thiện nguyện cho một họ đạo và thường vào một bệnh viện để đem Mình Thánh Chúa cho những bệnh nhân theo đạo Công giáo. Có lần cô để ý trong phòng có một bệnh nhân thứ hai, một thanh niên tên David. Cô gặp David hai lần. Lần kế tiếp cô không còn thấy David nữa, và được biết người thanh niên đã đổi phòng, phòng mới ở trong một dãy nhà xa hơn. Phượng cũng được biết David bị bệnh AIDS mà không chịu chữa trị. Cô liền đến thăm David, anh còn nhớ cô và tử tế chào hỏi, nhưng anh ít nói và thường nhìn ra cửa sổ. Phượng kiên nhẫn, chậm rãi khơi chuyện, dần dà David thổ lộ về đời mình. David có một tuổi thơ bất hạnh, người mẹ thường thay đổi tình nhân, nhưng không có người nào thương yêu David, khi không có tình nhân người mẹ đem David về ở chung để được hưởng trợ cấp xã hội, nhưng khi có được một người đàn ông thì bà bỏ rơi đứa con. Người bố dượng sau cùng say rượu thường đánh đập David, một hôm đang mùa đông giá buốt, người bố dượng lại đánh đập David và đuổi ra khỏi nhà. Cậu bé đành lủi thủi đi ngoài tuyết, khi ra đến đường cậu bé được một chiếc xe ngừng lại, đó là xe của Jason, một thanh niên 19 tuổi. Jason ghiền ma túy và là người đồng tính luyến ái, Jason cho David về ở chung và để David tự do sống, anh cũng giúp David bằng cách đưa cậu bé đến ghi tên ở nhà trưởng, nhưng David bỏ học sớm, David cảm thấy được Jason che chở và xem Jason như một người cha. Chẳng bao lâu Jason lôi cuốn David vào con đường đồng tính luyến ái. Jason chết vì bệnh AIDS đã hai năm, giờ đây David bị nhiễm căn bệnh ngặt nghèo đó. Phượng nghe vậy thì lấy làm thương David, cô muốn khuyên người thanh niên chịu để cho bệnh viện chữa trị, nhưng David không tha thiết về chuyện này, từ ngày Jason chết. Phượng cảm thấy đau lòng, cô tôn trọng lối sống của David và không hề có ý phê phán về chuyện đồng tính luyến ái của David. Khi Phượng trở lại thăm David thì được biết người thanh niên đã trốn đi được hai ngày rồi.

Công việc thiện nguyện được tiếp tục với truyện Mầu Đỏ Trong Sân, tác giả cùng vài người phụ nữ làm việc thiện nguyện cho một họ đạo, họ lo dọn một bữa ăn cho 80 người già nhân ngày Lễ Tình Yêu (Valentine). Vào dịp này những cụ già đều mặt áo màu đỏ ; có người còn mạnh khỏe, đầu óc sáng suốt, có người đã già yếu. Họ kể lại cho nhau những kỷ niệm về Lễ Tình yêu của thời trẻ. Tác giả để ý trong đám người già một ông cụ người Việt Nam và thân mật trò chuyện với ông cụ. Lạc lõng giữa những người khác chủng tộc, khác văn hóa, ông cụ vẫn giữ những suy nghĩ của một người Việt Nam, ông cụ nói : Bên mình trước đây làm gì có Lễ Tình Yêu, bây giờ nghe đâu Việt Nam cũng ăn mừng ngày này đấy (…). Càng vinh danh tình yêu rầm rộ, càng ly dị nhanh. Những ồn ào của ngày Lễ Tình Yêu không làm ông cụ quên một tình cảm cao quý của người Việt Nam : Người mình coi nặng cái « nghĩa » hơn « tình ». Một lời nhắn nhủ từ quê nhà, từ quá khứ xa xôi đến với người phụ nữ di tản.

Truyện Ánh Trăng Và Nhà tù đưa độc giả đến với một thanh niên tên Năm, Năm có khiếu về nghệ thuật, vẽ đẹp, đàn hay, yêu thơ, nhưng Năm khó dạy, 17 tuổi đã bỏ học. Năm nay anh 22 tuổi, thỉnh thoảng bị bắt vì những tội phạm như lái xe quá nhanh, không tuân lệnh cảnh sát dừng lại, hoặc có cần sa trong xe. Lần này Năm bị bắt vì đã bạt tai cô bạn gái. Mẹ Năm thối chí giao cho người bạn là cô Rơm ra vào nhà tù thăm viếng Năm. Một dịp để Rơm phát hiện nơi đứa con trai một tâm hồn phong phú, độc đáo.

Trong truyện Đời Anh Làm Vườn, nhân vật chính là một người đàn ông qua lời kể của 4 người phụ nữ : người mẹ, người em gái, người vợ chưa cưới và người kể truyện. Người kể truyện là một phụ nữ thường thuê người đàn ông đến làm vườn. Vào đầu truyện, người phụ nữ nhường lời cho các nhân vật kia để họ lần lượt nói về người làm vườn. Người mẹ cho biết bà sinh đứa con trai ở Bình Long vào lúc Mùa Hè Đỏ Lửa, năm 1972. Bom đạn rơi ồ ạt khiến con trai bà rách màng nhĩ và bị điếc. Ở Mỹ, các bác sĩ đành bó tay trước bệnh điếc của người con trai, anh đành làm nghề làm vườn. Khi quá bốn mươi tuổi anh có ý định lập gia đình với một người con gái bên nhà. Khi cô gái được bảo lãnh và sang đến Mỹ, và khi việc cưới hỏi đã xong thì người làm vườn mới vỡ lẽ là đã bị gia đình cô này toa rập lừa gạt, và cô gái là một người hung dữ, không có ý định làm vợ anh, chuyện đổ vỡ. Người làm vườn đi tìm một người vợ khác, cô này hiền hơn, anh báo cho người kể truyện biết cô sắp qua Mỹ để cùng anh lập gia đình. Người lên tiếng kế tiếp là cô em gái người làm vườn. Cô báo tin anh cô đã chết vì thở hơi độc trong nhà chứa xe, và người chị dâu thứ hai của cô sang đến Mỹ chỉ vừa kịp để bấm nút máy hỏa thiêu anh. Đến lượt cô dâu thứ hai nói với người kể truyện, cô kể rằng anh làm vườn mỗi năm về thăm cô, hai người sống với nhau như vợ chồng, và như thế đã bốn năm. Cuối cùng người phụ nữ kể truyện an ủi cô dâu thứ hai và nói rằng với thời gian mọi chuyện sẽ nguôi ngoai, cô sẽ xây dựng cuộc đời với một người khác, cô sẽ không còn là một cô dâu không bao giờ cưới mà là một cô dâu được cưới hỏi.

Người làm vườn quả thật là một người đàn ông không may mắn dưới cái nhìn của những người phụ nữ thương anh. Khi vào đời anh đã mang thương tích của chiến tranh, nếu không có thương tích đó cuộc đời của anh chắc chắn sẽ khác đi.

 

Trong thế giới của Trần Mộng Tú chỉ có những người nữ sống xa quê hương, những người nữ mất gốc. Mất gốc đưa đến một tình trạng bất ổn, đầy lo lắng trước tương lai. Người nữ không còn cảm thấy mình thuộc về một quê hương, một đất nước, phải tự đặt lại vấn đề về con người của mình. Trong hoàn cảnh bất an về tâm lý, mỗi người nữ phản ứng mỗi cách, có người sợ già, có người bầu bạn với thiên nhiên hoặc đi tìm quá khứ qua những đồ cổ, có người chỉ biết sống cho mình, lại có người biết thương yêu kẻ khác và cùng lúc mang trong lòng nỗi đau của đất nước. Qua cái thế giới đa dạng đó, độc giả dường như nghe được một tiếng nói dịu dàng, đầy nhân ái.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐI VÀO GIẤC MƠ THỔ VỚI TRẦN VŨ

 

Vào cuối thập niên 80, văn học Việt Nam hải ngoại đang trên đà phát triển. Giữa lúc các nhà văn miền Nam có mặt ở hải ngoại lần lượt cầm bút trở lại với một tâm tư đầy khắc khoải, thì các thế hệ đến sau hăm hở bước vào cuộc phiêu lưu với chữ nghĩa. Trong số các tác giả mới, Trần Vũ là người gây nhiều chú ý trên các tạp chí Văn Học, Làng Văn, Hợp Lưu, với những truyện ngắn sâu sắc, đa dạng. Và khi truyện Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu xuất hiện, không ít người nghĩ rằng Trần Vũ là một trong những nhà văn trẻ tiêu biểu cho văn học hải ngoại. Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu được xây dựng chung quanh chủ đề kẻ song trùng, truyện khéo léo đưa độc giả dần dần vào một không khí kỳ ảo, rờn rợn. Chẳng bao lâu hai tập truyện ngắn được trình làng : Ngôi nhà sau lưng Văn Miếu (Thời Văn xuất bản năm 1988, Hồng Lĩnh tái bản năm 1994) và Cái chết sau quá khứ (Nxb Hồng Lĩnh, 1992). Ngoài ra, những truyện ngắn khác vẫn tiếp tục xuất hiện trên tạp chí Hợp Lưu.

Trần Vũ có lối viết già dặn, cốt truyện thường đi sâu vào những ngõ ngách của mỗi cảnh sống, cảnh sống bất thường (Mưa bên chồng, Phố cổ Hội An), cảnh sống quá đen tối, khủng khiếp (Pháo thuyền trên dòng Yang-Tsé), v.v… Bởi thế người ta có cảm tưởng đây là một nhà văn từng trải. Thật ra trong những năm 80, Trần Vũ hãy còn rất trẻ, tuổi chỉ ngoài 20. Anh vượt biên sang Pháp tị nạn vào khoảng 17 tuổi, hành lý của anh là những kỷ niệm của quê hương miền Nam vào thời đổi đời, với một tuổi trẻ khốn khổ, sống lăn lóc, và những cảnh hãi hùng của cuộc vượt biên. Với một hành lý đau thương như thế, người con trai mới lớn, bơ vơ nơi xứ người, chỉ còn biết tìm an ủi bằng ngòi bút. Và ngòi bút giàu tưởng tượng của Trần Vũ đã đem lại cho tác giả một tên tuổi.

Nhưng rồi trong các truyện, Trần Vũ tỏ ra ngày càng bạo dạn, chẳng bao lâu hư cấu của Trần Vũ đi quá xa, về những vấn đề lớn lao như lịch sử, tôn giáo, hoặc quá thẳng, vượt qua hàng rào cấm kỵ trong vấn đề tình dục, gây nhiều động chạm, công phẫn trong giới độc giả. Phải chăng vì lúc đó Trần Vũ còn quá trẻ ? Tuổi trẻ thường có những xu hướng cực đoan. Phải chăng Trần Vũ chịu ảnh hưởng của Tây phương ? Xã hội Pháp, sau biến cố tháng năm sáu mươi tám, sau một cuộc cách mạng văn hóa, đã mất mát nhiều về kỷ cương đạo đức, tuổi trẻ ở Tây phương quá tự do, xem thường tất cả. Tuy nhiên, những điều trên đây chỉ là những nghi vấn.

Truyện Giấc Mơ Thổ, viết năm 1994, đã chịu nhiều phê bình nghiêm khắc. Có phải những cảnh khoái dâm sống sượng đã động chạm đến mỹ cảm của độc giả ? Nhà văn hóa Phạm Quỳnh khi xưa đã đề cập đến vấn đề mỹ cảm, trong bài Đẹp là gì ? Mấy lời bàn về mỹ học. Ông nhìn nhận cái đẹp và cái lành không giống nhau, mỹ thuật với đạo đức không thể lẫn được. Tuy nhiên, một tác phẩm mỹ thuật cũng cần phải giữ cho không hại đến phong tục trong nước, lương tâm người ta ; cái thú của mỹ thuật phải là cái thú chính đại quang minh ; không nên là cái thú thiên tà khuất khúc. Nhận xét của Phạm Quỳnh tuy viết vào năm 1917, vẫn phản ánh phần nào mỹ cảm của một số độc giả ngày nay, quen đọc truyện một cách hồn nhiên, dễ tin, tức đọc truyện ở mức độ 1, sát với văn bản, và không quen thấy cái xấu, cái ác trong những tác phẩm văn học hiện đại, Thiện có phần nặng hơn Mỹ. Tuy nhiên, chúng ta nên nhớ rằng đây là một giấc mơ, và theo phân tâm học, trong giấc mơ vô thức tự do hiển hiện, không bị kiềm chế.

Sau khi mọi xôn xao đã lắng xuống, chúng ta thử đọc lại truyện Giấc Mơ Thổ. Cũng cần thưa rõ với bạn đọc ngoài nguyên bản của Giấc Mơ Thổ đăng trên Hợp Lưu số 19, còn có một bản khác đăng trong bộ sách 20 năm Văn học Việt Nam Hải ngoại 1975-1995, do Trương Đình Nho chủ trương, Đại Nam xuất bản, năm 1995, văn bản thứ hai này bị cắt xén một phần, như thế thiếu đi một chiều kích của truyện. Đương nhiên tôi chọn nguyên bản của Hợp Lưu để có một cái nhìn toàn diện.

Giấc Mơ Thổ cần được giải mã, để hiểu ý nghĩa truyện và nghệ thuật hư cấu của tác giả.

Giấc Mơ Thổ, một giấc mơ có cấu trúc

Trong cuốn L’interprétation des rêves (Giải thích những giấc mơ) (1899), Freud trình bày lý luận của ông về những giấc mơ. Ông định nghĩa giấc mơ như sau : Giấc mơ là sự thực hiện ngụy trang của một ham muốn, hoặc : Giấc mơ là con đường vương giả của vô thức. Giấc mơ là một lối thoát của vô thức. Con người có nhiều ham muốn, thế nhưng có những ham muốn đi ngược lại với kỷ cương của đời sống trong xã hội, với những điều răn dạy của đạo đức. Cho nên trong đời sống ban ngày, những ham muốn của vô thức bị ý thức kiểm duyệt, kìm nén. Nhưng ban đêm, trong giấc mơ, vô thức tha hồ tung hoành, những ham muốn điên rồ nhất, quái gở nhất, đều được tự do thực hiện, dưới hình thức này hay hình thức khác. Và lý luận của Freud cho phép giải thích phần nhiều những giấc mơ đó.

Vậy không có gì đáng ngạc nhiên, nếu trong Giấc Mơ Thổ có những chuyện không thể xảy ra được trong đời sống hiện thực, vì đây là một giấc mơ ; không phải giấc mơ của tác giả mà chỉ là một giấc mơ hư cấu, một giấc mơ có cấu trúc hẳn hòi. Truyện mở đầu bằng câu : Chúng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy ở khuôn mặt, trong đôi mắt, nhưng ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Câu này được lặp lại bốn lần, trở thành một câu nhạc chủ đạo, một leitmotiv. Mỗi leitmotiv đưa vào một cảnh mới trong giấc mơ. Và cái sườn của giấc mơ được phác họa như sau :

Cảnh 1 : Tiệc rồng.

Cảnh 2 : Cái chết của tuổi thơ và khoái lạc.

Cảnh 3 : Cái chết của hội họa.

Cảnh 4 : Tội ác và trừng phạt.

Trước khi đi vào giấc mơ, chúng ta cần làm quen với các nhân vật. Quý có vợ là Quỳ và con gái là Nữ. Ngoài gia đình của Quý còn có những người bạn : Chiến, Vĩnh, người kể truyện, cái tên Vĩnh chỉ xuất hiện lần đầu tiên ở trang 14, và một họa sĩ tên Đình. Đình sống biệt lập trong xưởng vẽ. Mỗi nhân vật có những nét đặc thù.

Quý trước kia gương mặt cằn cỗi, môi thâm, má hóp, có chứng sốt rét rừng vì đã từng đi B, đã có mười năm vượt Trường Sơn. Nhưng từ khi có cơ ngơi, mặt anh ta tươi hẳn lên.

Chiến thì mang trong lòng kỷ niệm của chiến tranh, là kẻ bại trận, bị lịch sử xóa bỏ, luôn luôn im lặng. Thỉnh thoảng giữa Quý và Chiến có những căng thẳng. Nếu Quý hô : Mười năm chống Mỹ ! thì Chiến hô : Mười năm kháng Cộng ! 

Quỳ có vẻ đẹp lẳng lơ, khêu gợi, là một người đàn bà hoang dâm.

Nữ, đứa con gái mới lớn, đẹp giống mẹ, bị Tây hóa, chỉ nói tiếng Pháp, thích nhạc Rock và đòi hỏi được tự do. Nữ từ chối cái căn cước Việt Nam, từ chối cái tên Nữ, mà cô đọc là Nue (con gái trần truồng), và khẳng định cái tên Marie của cô. Quý càng bảo thủ chừng nào thì con gái càng nhiễm văn hóa Tây phương chừng đó. Trong khi Quý cấm con gái ngủ với người Thổ, thì Nữ đòi sang Đức sống với Mohamed, và cho rằng cha mẹ của cô cũng là những người di dân, những người Thổ. Tóm lại giữa Quý và con gái có một bức tường dày đặc.

Vĩnh bị kỷ niệm cuộc vượt biên dằn vặt. Vĩnh vừa là nhân chứng của tội ác vừa là đồng lõa ; vả chăng Vĩnh có nhiều ham muốn xác thịt, vừa muốn ngủ với Quỳ vừa thèm muốn Nữ, và cũng đã phạm tội ác.

Cảnh 1 : người kể truyện kể Tết Giáp Tuất về sống ở ngôi nhà của Quý. Quý sở hữu một cơ ngơi vĩ đại, sừng sững với 50 gian nhà, xây cất như một lăng vua khi xưa.

Mỗi buổi trưa vợ chồng Quý bày ra tiệc rượu mà đồ nhắm là tim phượng, thịt rồng, rồng luộc có, rồng nướng có. Quý cho rằng bên này muốn ăn thịt rồng bao nhiêu cũng được vì là thịt rồng đông lạnh. Những cử chỉ của Quý tiết lộ sự thèm muốn thịt rồng của anh ta : Quý vươn tay gắp một mẩu lòng, cắn vào chính giữa chỗ dai dai tựa đầu nấm vú. (tr. 106) Quý đang chặt rồng. Vừa nhổ những chiếc vẩy bạc, tiện tay nhón một mẩu bầu dục còn sống ở bià thớt, chưa xiên, chưa nướng, bỏ tọt vào miệng. (tr. 107) Chiến và Vĩnh ăn uống thỏa thuê. Vĩnh thưởng thức tận cùng tác dụng của rượu hồi : Hồi nguyên chất đậm đặc. Nồng. Pha thêm nước lã thơm ngai ngái, vàng khói phất lên khứu giác ngất ngưởng. Cốc hồi tan vào máu làm thịt gân tôi nẩy giật. Nghe được cả những âm thanh của búp hồi nở ở gan bàn chân. (tr. 107)

Sau thịt rồng và rượu hồi, Quý bày ra đánh bài. Nữ đi học về, bị Quý mắng là vô lễ, không chào hỏi ai. Quý nói : Con gái bên này mất nết. Rồi Quý khui thêm rượu đỏ Pomérol.

Vĩnh say rượu và bị bội thực, ngã lăn ra. Chiến cố làm những động tác để ngăn Vĩnh nôn mửa, Quỳ thì cho Vĩnh uống trà Thổ đậm đặc, nóng bỏng. Trong cơn say, Vĩnh thấy đuôi rồng, vòi rồng uốn lượn quanh cơ ngơi.

Cảnh 2 : Cũng trong cơn say, Vĩnh lạc vào giấc mơ vượt biên. Một giấc mơ trong giấc mơ. Vĩnh xuống tàu vượt biên, có mẹ đưa tiễn, mẹ không giữ con lại để che chở. Đứa con đối diện với cái chết, cái chết của bạn bè ngoài khơi, cái chết của chính mình. Vượt biên là những cuộc tự sát tập thể. Vĩnh bị đám thủy thủ hành hung, cắt lưỡi để không còn nói được tiếng mẹ đẻ, thọc mắt để không còn thấy được quê hương.

Khi Vĩnh tỉnh dậy, nghe tiếng thắt bóp của mạch máu trong người và cảm thấy một sự thèm muốn. Vừa lúc đó Quỳ xuất hiện, giở trò cám dỗ Vĩnh. Người đàn bà thông dâm này có một ham muốn như thú vật. Trong cơn khoái lạc, Vĩnh lại trở về kỷ niệm tuổi thơ tự sát ngoài biển. Vĩnh thấy lại quê hương, muốn trở về nhà, muốn ngã vào lòng mẹ, nhưng bị Quỳ ghì siết.

Cảnh 3 : Vĩnh vào xưởng vẽ của Đình, có rất nhiều tranh, nhưng điều lạ là chỉ có màu trắng. Không những các bức tranh toàn là màu trắng, mà cả xưởng đều trắng : … trắng ngát khắp gian phòng. Tường, thảm, bàn, ghế, trần, nền, cũng toàn trắng. (…) Màu trắng lan chiếm tất cả : Bao nhiêu dầu thông, týp màu, Đình bóp, trét, rồi vẩy, ném trát lên khung vải từng mảng, từng bệt, từng đùm, từng palette xanh, xám, đỏ, tím, đen, vàng, chỉ khắc trước khắc sau là biến mất. Trở y màu trắng. (…) Bàn tay Đình lún vào mặt vải, vùng vẫy. Cả thân mình dằn co với tấm tranh. (…) Giống Đình đang giết người, đâm vào bụng kết liễu một kẻ nào đó, rồi bị đâm trả lại, người anh co gập tự vệ, chống chỏi trước một lực vô hình. (tr. 115)

Vĩnh muốn cứu Đình nhưng lại bị kéo vào một bức tranh kỳ dị làm cho  thần trí bị tê liệt. Khi Đình kéo Vĩnh ra khỏi bức tranh như thể kéo Vĩnh ra khỏi gia đình và người thân, Vĩnh lại trở về với ám ảnh của cuộc vượt biên.

Đình thú nhận sự bất lực của mình : Mấy tháng nay không vẽ được. Ý có nhiều mà tranh không lên hình. Rồi thình lình Đình bỏ đi.

Cảnh 4 : Câu leitmotiv đưa vào cảnh này đặc biệt dài hơn, không nói đến tuổi trẻ mà nói đến tuổi thơ vô tội, lúc Vĩnh chưa phạm tội với Quỳ.

Chiến mê Quỳ, đưa Quỳ đi sắm sửa với chiếc xe Jeep của quân đội.

Có sự cãi cọ giữa Quý và con gái vì văn hóa dị biệt. Nữ nói không thể thích ứng được với một thế giới mà cô không hiểu. Quý tức giận, mắng con là Đồ đĩ

Quý dẫn Vĩnh đi xem Phật Điện mà anh ta cho xây cất như chùa Keo, vì anh ta quá nhớ quê nhà, anh ta uống rượu Armagnac với Vĩnh rồi rũ Vĩnh đi săn sơn dương.

Đến đây cuộc săn rồng bắt đầu. Dưới mắt Vĩnh, một cảnh huyền thoại hiện ra : một bầy rồng đẹp đang uốn lượn, đậu trên nóc Đền Hùng. Vĩnh tìm lại được bầy rồng của tuổi thơ, trong sách sử. Nhưng Quý đã đưa cao súng bắn xối xả vào bầy rồng, Vĩnh la gào, níu kéo bị Quý đạp ngã lăn. Bầy rồng chết. Vĩnh là chứng nhân cuộc tàn sát, anh ta mang mặc cảm tội lỗi.

Có tin Đình chết.

Sau buổi săn rồng, cơ ngơi của Quý có phần lạnh lẽo, Quý như một kẻ đánh mất gia phả.

Tối 30 Tết, mọi người bắt tay vào làm các món ngon với thịt rồng vừa săn. Vĩnh cuối cùng cũng thích ăn thịt rồng tươi, ngon hơn rồng đông lạnh. Họ luộc thịt, nướng chả, làm các món lẩu, lòng, gỏi bao tử trộn bưởi, v. v… Mọi người ăn uống thỏa thích. Đến sáng mồng một mới cảm thấy một nỗi buồn tê tái, tự biết mình phạm tội tổ tông và chờ hình phạt. Và hình phạt đã đến.

Nữ đi biểu tình chống kỳ thị trở về báo cho mọi người biết cô muốn bỏ nhà đi, đi với bồ. Quý không đồng ý, đánh Nữ một trận nên thân và nhốt con gái trong phòng.

Rồi cuộc chiến tái diễn giữa Quý và Chiến là hai nhân vật điển hình của đôi bên Bắc Nam ; tên khí giới và những ngày lịch sử cũng nói lên nguồn gốc Bắc Nam : Tiếng M-16 chen lẫn tiếng AK. Tiếng đại bác 155 ly pháo cùng lúc với sơn pháo 130 ly từ trong núi thúc xuống. (…) Ngày hôm nay là ngày 19 tháng 6 Quân lực VNCH, cũng là ngày 2 tháng 9 Tuyên Ngôn Ba Đình lịh sử. (tr. 124)

Trong khi Quý và Chiến giao tranh khiến cơ ngơi của Quý cháy rụi, thì Vĩnh  có một ham muốn mới, đầy kích thích : ham muốn tuổi thơ qua con người của Nữ.  Vĩnh mê vẻ đẹp thơ ngây của Nữ và đã hiếp nữ một cách tàn bạo, đi tận cùng tội ác.

Vào cuối giấc mơ, Quý và Chiến lãnh án 20 năm tù vì tội đốt rừng, Vĩnh bị án 10 năm tù vì tội hiếp dâm vị thành niên. Quỳ đi lấy ngoại kiều. Nữ sống hạnh phúc với Mohamed.

Nhiều năm sau Tết Giáp Tuất, Vĩnh trở lại nơi chốn cũ, cơ ngơi của Quý không còn nữa, rừng núi, bãi biển biến mất, chỉ có khách sạn và nhà hàng mọc lên.

Ảo và Thực

Trong Giấc Mơ Thổ cái ảo và cái thực hoà lẫn nhau. Trước hết không gian và thời gian được ảo hóa. Thời gian không trôi, thời gian dừng lại ở Tết Giáp Tuất. Còn không gian thì hiển nhiên là một không gian ảo, không có thật ở ngoài đời : một cơ ngơi quá đồ sộ : 50 gian nhà có cổng Đại Môn, với Phật Điện, tháp Bảo Nghiêm, sân trước có chín đỉnh đồng, sân sau có hồ Ba Bể, hồ Ba Bể của truyện truyền kỳ làm tăng ảo tính của truyện. Cơ ngơi quá mênh mông đến nỗi rừng tràn đến thềm nhà.

Tác giả đưa vào cái không gian chiêm bao đó những yếu tố ảo khác như cuộc săn rồng, tiệc rồng, hiện tượng mất hình vẽ. Rồng là một vật thần thoại, làm sao ăn được thịt của một con vật thần thoại ? Cũng như sự chống chọi tuyệt vọng của một họa sĩ bất lực trước một màu trắng đầy đe dọa, lan tràn khắp nơi. Và rồi cuộc vượt biên hãi hùng vượt xa một cơn ác mộng.

Trong cái thế giới ảo làm rợn người đó, bỗng nhiên xuất hiện những cảnh của thế giới thực, thế giới bình thường : Nữ đi học về không chào hỏi ai bị Quý mắng, Nữ đi biểu tình chống kỳ thị. Cha con cãi vã nhau bằng hai thứ tiếng, với cách nhìn tương phản của hai nền văn hóa Việt-Pháp. Nữ tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam lớn lên ở xứ người, bị cắt đứt với nguồn gốc, ngày càng xa cha mẹ. Quý thường nhắc « bên này » tức ở hải ngoại, một không gian xa quê hương. « Bên này» có thịt rồng đông lạnh, « bên này » con gái mất nết. Rồi Quý lại bảo lãnh cho những người thân qua bên này, họ sống lúc nhúc trong dinh cơ, bày trò buôn lậu. Chính con người của Quý cũng nhắc nhở một quá khứ có thật : Quý là một bộ đội má hóp, môi thâm, đã từng vượt Trường Sơn, Quý vẫn còn những khí giới của miền Bắc : súng AK, thượng liên 12 ly 7, súng chống tăng B40… Còn Chiến là lính miền Nam, đã từng có mặt ở căn cứ hỏa lực Hạ Lào năm 71, Chiến muốn sống lại chiến tranh, anh ta vẫn còn chiếc Jeep của quân đội miền Nam.

Nghệ thuật xây dựng giấc mơ của Trần Vũ làm cho cái ảo và cái thực đan vào nhau, khiến người đọc đôi khi bỡ ngỡ, mất hướng.

Giấc Mơ Thổ qua lăng kính của biểu tượng

Truyện Giấc Mơ Thổ hàm nhiều biểu tượng và cần được đọc ở mức biểu tượng để làm nổi bật những nghĩa chính.

Biểu tượng trước hết là một ký hiệu. Biểu tượng có một tương quan với cái nó biểu tượng. Theo bản chất, biểu tượng có tính lập lờ. Một đồ vật có thể có nhiều ý nghĩa và là biểu tượng của nhiều ý nghĩa đó. Một con sư tử trước hết chỉ là một con thú vật. Khi nó trở thành biểu tượng, sức mạnh và can đảm của nó khiến nó thành biểu tượng của người anh hùng ; cái dáng uy nghi của nó làm nó trở nên biểu tượng của vương quyền.

Nhà triết học Đức Hegel khẳng định rằng biểu tượng không phải là kết quả của một lựa chọn tùy tiện và không phải là một chỉ định theo quy ước, mà nó là một đơn nhất hàm nhiều nghĩa bên trong.

Biểu tượng có khả năng quy tụ những con người trong cùng một cộng đồng và do đó loại trừ những cộng đồng khác. Biểu tượng làm cho cộng đồng vững mạnh. Việc khẳng định sự thuộc về một cộng đồng xây dựng lai lịch của cộng đồng đó.

Biểu tượng không chỉ có một ý nghĩa, một vai trò nhận thức mà nó còn có một sức mạnh và có tính hiệu nghiệm. Chẳng hạn việc kéo lá cờ lên cao bắt buộc cách chào nghiêm theo quân đội, một dòng tu đòi hỏi im lặng và sự tĩnh tâm.

Đọc Giấc Mơ Thổ qua lăng kính của biểu tượng để thấy chủ đề duy nhất là cái chết. Ngay từ đầu đã có dấu hiệu của cái chết : cơ ngơi của Quý được kiến trúc như một lăng vua khi xưa. Có ba biểu tượng để minh họa chủ đề chết : thịt rồng biểu tượng cho cái chết của dân tộc, màu trắng biểu tượng cho cái chết của nghệ thuật và cuộc vượt biên biểu tượng cho cái chết của tuổi thơ.

Cái chết của dân tộc được diễn đạt qua việc giết rồng và ăn thịt rồng. Như chúng ta đã biết, nguồn gốc của dân tộc Việt Nam khởi đầu bằng huyền thoại Rồng Tiên.

Các nước trên thế giới đều có một thời tiền sử với những huyền thoại lập nước.

Huyền thoại là một truyện kể có tính biểu tượng và được phổ biến bằng truyền khẩu, từ đời này sang đời kia ; truyện dựa vào những quyền lực siêu tự nhiên và hy vọng những quyền lực đó làm sáng tỏ thân phận con người, đáp lại những câu hỏi căn bản mà con người tự đặt ra : Con người là gì ? Thế giới từ đâu đến ? Có cái gì sau cái chết ? Sức gợi cảm thi vị của huyền thoại gây thích thú và làm cho con người có nhiều mơ ước. Những hình tượng của huyền thoại nuôi dưỡng tư duy của con người và tạo nên một liên hệ căn bản trong mọi cộng đồng.

Ở nước ta, vào thời huyền thoại, Lạc Long Quân nối ngôi cha là Kinh Dương Vương. Lạc Long Quân lấy Bà Âu Cơ sinh một trăm cái trứng, tức một trăm con. Lạc Long Quân là Rồng, đem năm mươi con xuống biển phía Nam. Âu Cơ là Tiên đem năm mươi con lên ở vùng đất Việt Trì. Người anh cả là vua Hùng. Các vua Hùng của bộ lạc Văn Lang tiếp nối nhau giữ ngôi vua.

Huyền thoại phát xuất từ Âm Dương. Cha là Rồng, là Dương, biểu tượng cho sức mạnh. Rồng là vật thần thoại, nhưng trong quan niệm của người Việt Nam, Rồng tượng trưng cho kiêu hùng, Rồng là chúa tể của biển cả. Nhà biên khảo Vũ Ký viết : Rồng gặp Tiên là Âm Dương kết tụ, là sự kiêu hùng của sức mạnh trần thế kết hợp với Chân, Thiện, Mỹ ở nơi non Bồng nước Nhuợc, tức thế giới vĩnh cửu, mà Thiên Chúa giáo gọi là Thiên đàng, Phật giáo gọi là Cực lạc. Người Việt Nam rất tự hào là con Rồng cháu Tiên, có nghĩa là tự hào về sự kiên cường, anh dũng của dân tộc, về sức mạnh của dân tộc, về vẻ đẹp tuyệt vời của Mẹ Việt, vẻ đẹp của tinh thần.

Trong Giấc Mơ Thổ, Quý giết rồng, Quỳ nướng thịt rồng, mọi người ăn thịt rồng, tức phạm tội diệt tổ tiên, diệt nòi giống Rồng Tiên. Khi chọn hai cái tên Quý và Quỳ, tác giả muốn chơi chữ chăng ? Theo Hán Việt Tự Điển của Đào Duy Anh thì trong thần thoại xưa quỷ có chín đầu gọi là quỳ. Quý và Quỳ là hai bộ mặt của ác quỷ và là biểu tượng của tội ác. Cái tên Chiến cũng có giá trị biểu tượng, vì là tên của một người mang nặng ám ảnh của chiến tranh. Trong Giấc Mơ Thổ, chiến tranh Việt Nam vẫn còn đấy. Quý, biểu tượng của người lính miền Bắc, và Chiến, biểu tượng của người lính miền Nam, hai bên xả súng bắn nhau, làm tái diễn cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, gây nên tội ác diệt chủng.

Biểu tượng thứ hai là màu trắng. Màu trắng xóa sạch hình vẽ và màu sắc. Màu trắng là sự trống rỗng, là độ không của sáng tạo. Trong Giấc Mơ Thổ, hội họa của Đình biểu tượng cho nghệ thuật nói chung, và nghệ thuật là sự sáng tạo cái đẹp. Một khi dòng giống con Rồng cháu Tiên đã chết, thì cái Đẹp của con Rồng cháu Tiên không còn lý do để tồn tại, cái Đẹp và nghệ thuật tạo ra cái Đẹp cũng chết theo.

Biểu tượng thứ ba là cuộc vượt biên, biểu tượng cho cái chết của tuổi thơ. Tuổi thơ của Vĩnh và nhiều tuổi thơ khác đã bị giết hại trong cuộc vượt biên. Vĩnh mang trong lòng hình ảnh cuộc tàn sát tập thể. Tuổi thơ ngoài biển đã trở nên câm và mù, không còn nói được tiếng quê hương, không còn tìm được đường về quê hương. Trong lúc thông dâm với Quỳ, Vĩnh hướng về tuổi thơ, về người mẹ để cầu cứu. Nhưng bị Quỳ níu kéo. Vĩnh bị giằng xé giữa hai mẫu người phụ nữ : người mẹ, biểu tượng của tình mẫu tử, của sự hy sinh, của sự sống và của cái Thiện ; và Quỳ, người phụ nữ dâm dật, ngoại tình, biến thịt rồng thành của ăn, là biểu tượng của sự chết, của cái Ác. Tóm lại, Vĩnh bị giằng xé giữa cái Thiện và cái Ác, và đã trượt ngã qua cái Ác. Từ một nạn nhân trong cuộc vượt biên, Vĩnh trở nên một tên đao phủ để trở lại giết tuổi thơ, bằng cách hãm hiếp Nữ. Nữ là một cô gái mới lớn, còn ngây thơ, trong trắng, là biểu tượng của tuổi thơ.

Ba cái chết liên kết với nhau, cái chết của cái Đẹp, của Tuổi Thơ là hậu quả của cái chết của nòi giống Tiên Rồng.

Các nhân vật trong Giấc Mơ Thổ thuộc ba thế hệ : thế hệ chiến tranh (Quý, Chiến), thế hệ thoát chiến tranh với những chấn thương tâm thần (Vĩnh) và thế hệ hậu chiến trôi dạt xa quê hương, mất nguồn gốc (Nữ). Con cháu Tiên Rồng vào thời hiện đại đã hoàn toàn mất trí nhớ, quên công ơn của những bậc anh hùng dựng nước thời xưa, để lao vào lửa, để tàn phá, chém giết nhau. Hiện tượng mất trí nhớ khiến tuổi trẻ không còn biết dòng dõi Tiên Rồng nữa.

Cũng trong giấc mơ, Tết Giáp Tuất được nhắc lại nhiều lần, tất cả các biến cố đều xảy vào Tết Giáp Tuất. Tại sao ? Năm Giáp Tuất là năm 1994, vào thời điểm đó, chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt từ lâu. Tác giả như muốn nhắc nhở rằng gần hai thập niên sau, những vết thương do chiến tranh và cuộc vượt biên gây nên vẫn còn là một ám ảnh đau đớn, dai dẳng, một ám ảnh mà nghệ thuật dựng truyện kỳ ảo và bút pháp của Trần Vũ làm cho nặng nề, ngạt thở. Hệ thống biểu tượng cho thấy dưới hình thức một giấc mơ, một cơn ác mộng, Trần Vũ đã kể lại một thời kỳ bi thảm của lịch sử Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo :

1/ Le symbole et son interprétattion, sous la direction de Françoise Raffin et Michel Antiquet, Vol. I, Éditions Delagrave, 2004.

2/ Phạm Quỳnh, Tuyển tập và Di cảo, An Tiêm, Paris, 1992.

3/ Vũ Ký, Luận cương về Văn Hóa Việt Nam, Tập I, Trung tâm Văn Hóa Xã Hội Việt Nam tại Bruxelles, 1995.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BẾP LỬA CỦA THANH TÂM TUYỀN, MỘT TÁC PHẨM CỦA TUỔI ĐÔI MƯƠI

 

Có một thời báo chí Pháp đã rầm rộ biểu dương hiện tượng Sagan. Cô gái Françoise Quoirez – về sau lấy bút danh Françoise Sagan – trong kỳ nghỉ hè năm 1953, sau khi thi đỗ tú tài, đã viết một mạch trong sáu tuần lễ truyện Bonjour tristesse. Cuốn sách được xuất bản năm 1954, chẳng mấy chốc tên tuổi của Françoise Sagan lẫy lừng. Cốt truyện gây sốc cho các nhà đạo đức, nhưng cuốn sách là một thành công bất ngờ, đã đưa tác giả lên đài vinh quang.
Ở ta cũng vào thời đó, cách nhau hai năm, tức vào năm 1956, cũng có một hiện tượng, tuy không ồn ào như bên trời Tây, nhưng nó đã đưa vào văn học sử Việt Nam một tên tuổi lớn, tôi muốn nói đến hiện tượng Thanh Tâm Tuyền. Không gọi hiện tượng sao được khi một chàng trai vừa mới lớn đã góp mặt với đời bằng một tập thơ độc đáo và một truyện dài. Quả thật Thanh Tâm Tuyền với tập thơ Tôi không còn cô độc ra năm 1956, năm ông hai mươi tuổi, đã gây một biến cố trong nền thi ca Việt Nam, và cuốn truyện Bếp Lửa xuất bản năm 1957 không để người đọc dửng dưng.
Tôi mong sẽ có dịp bàn về thơ Thanh Tâm Tuyền. Giờ đây chỉ xin đọc truyện Bếp Lửa. Cũng như Françoise Sagan viết Bonjour tristesse một mạch trong sáu tuần lễ, Thanh Tâm Tuyền cho biết, trong Lời Tựa năm 1973, nhân dịp cuốn sách được in lần thứ tư, rằng ông viết Bếp Lửa một hơi khoảng hai ba tháng. Tác giả viết truyện này ở tuổi đôi mươi, khi chưa có kinh nghiệm sống, nhưng đã bày tỏ một cách chân thật tâm trạng của một thế hệ trẻ trước vận mệnh của đất nước, và đã phác họa một nghệ thuật viết tinh tế. Ngày nay đọc lại Bếp Lửa để thấy truyện vừa đánh dấu một thời lịch sử đen tối vừa tiết lộ một tài năng đầy hứa hẹn.

Hà Nội trong tình trạng chờ đợi
Truyện Bếp lửa gồm 7 chương. Hà Nội, Bắc Ninh, Đáp Cầu, Hải Phòng là những không gian của truyện. Nhân vật Tâm, tức người kể truyện, đang sống ở Hà Nội, trước ngày đất nước chia đôi. Tâm có một cô em họ xa tên Thanh mà Tâm đem lòng yêu mến, cô gái này sống trong một hoàn cảnh khó khăn, ngoài việc thêu may cô còn đi hát ở đài phát thanh để nuôi đứa em gái tên Minh đi học. Tâm mồ côi mẹ, sống với người bố dượng : ông Chính. Hình ảnh người mẹ quá cố thắt chặt tình thân giữa ông Chính và Tâm. Đây đó vẫn còn tiếng súng, chiến tranh chưa chấm dứt ; thành phố Hà Nội sống trong tình trạng mập mờ, như đang chờ đợi những thay đổi lớn. Con người cảm thấy khắc khoải, lo âu. Riêng Tâm, cũng như các bạn của anh, tâm hồn đầy trăn trở, tự đặt nhiều câu hỏi mà không có lời đáp. Tâm và một người bạn là Đại đọc sách nhiều, tìm hiểu thuyết Mác xít. Đại bị đảng Cộng sản lôi cuốn, nên anh có ý định ra ngoài, tức đi theo cộng sản. Tâm không đồng ý với Đại. Để thay đổi không khí, Tâm xin một chỗ dạy học trong một trường Công giáo ở Bắc Ninh. Tại trường này, Tâm quen một tu sĩ trẻ tên Nhiên, bạn mới của Tâm. Nhiên tỏ ra ân cần, cởi mở đối với Tâm, và giữa đôi bạn đã có sự bàn luận về Thượng Đế, nhưng chẳng đi đến đâu. Tâm gặp lại Long, một người bạn của thời đi học. Long vẫn ở lại Đáp Cầu, một thị trấn bị chiến tranh tàn phá. Đáp Cầu nhắc cho Tâm nhiều kỷ niệm của tuồi thơ, nơi đây mẹ đi buôn xa, Tâm sống với bà ngoại. Tâm dự đám cưới của Long ; gặp lại Hạnh, cô bạn thuở nhỏ, nay đã góa chồng, cảnh sống khó khăn. Chẳng bao lâu Hạnh và Tâm gần gũi nhau ; đã nhiều lần hai người cùng về Hà Nội, ngủ chung ở khách sạn. Chiến tranh và những căng thẳng tinh thần khiến Hạnh lao mình vào đam mê của tình yêu. Ngoài những chuyến về Hà Nội riêng với Hạnh, cũng có những lúc Tâm đến thăm chị em Thanh, Tâm vui vì Không khí gia đình ấm cúng suốt bữa cơm. Tâm thường đến ngủ nhà Bảo, một người bạn thân. Bảo cùng vợ buôn bán lặt vặt để sống cho qua ngày. Tâm và Bảo được tin Ngọc đã tìm được một giải pháp là lên đường đi xa. Phần Đại dọn đến ở nhà ông Chính và dan díu với Thịnh, con gái của ông. Tâm khinh Đại và cho rằng Đại là một người hèn. Tâm giúp Thanh sắp đặt đám cưới của em Minh với Chu. Sau khi đứa em đi lấy chồng, Thanh thấy không còn lý do gì để đi hát nữa, cô quyết định ngưng hát. Trở lại Đáp Cầu, Tâm được biết Hạnh đã ra ngoài và có lẽ đã bị giữ lại. Tâm nghĩ sẽ không còn bao giờ gặp lại Hạnh nữa. Ngọc viết thư cho Tâm thúc dục Tâm đi Hải Phòng để đôi bạn sống với nhau ít ngày, trước khi Ngọc lên đường. Tâm xin phép cha Tân, linh mục phụ trách nhà trường, nghỉ hai tuần. Nhưng một cách bất ngờ cha Tân cho Tâm nghỉ luôn mà không nêu lý do. Về đến Hà Nội, Tâm được biết ông Chính vừa mới mất, Tâm khóc nhiều khi trông thấy mặt ông. Đại vắng mặt trong tang lễ. Tâm nhận thấy Thịnh có thai mà Đại lại bỏ đi. Thịnh cho biết Đại đã ra ngoài, cô muốn trả nhà lại cho Tâm và định đi làm vú em nơi xa. Tâm khuyên Thịnh bán hết đồ đạt trong nhà để làm vốn. Tâm về nhà Bảo, tin cho bạn biết ngày hôm sau sẽ đi Hải Phòng. Nhưng Tâm vẫn sống trong tâm trạng lạc lõng. Trước giờ xe chạy Tâm lại có ý định bỏ chuyến đi. Tôi không biết xuống Ngọc xong tôi sẽ làm gì hoặc đi đâu. Đến Hải Phòng Tâm được biết Ngọc đã xuống tàu đi đã hai ngày rồi.
Ngọc và Đại đã ra đi, ông Chính chết, Tâm rơi vào tâm trạng tuyệt vọng, nghĩ đến việc tự tử, nhưng nhận thấy tự tử không giải quyết được gì.
Vào cuối truyện, Tâm đang ở miền Nam, nhận được thư của Thanh từ miền Bắc và được nghe tiếng hát của Thanh trên đài, Thanh vẫn hát bản nhạc Trờ về mái nhà xưa như năm nào. Tâm cảm thấy yêu quê hương đã rời bỏ và yêu Thanh vô cùng. Làm sao đừng mơ một bếp lửa ấm áp trong mái nhà xưa, một hình ảnh biểu tượng cho quê hương đã mất.

Lý tưởng nào cho tuổi trẻ trong một đất nước ngả nghiêng ?
Trong Lời Tựa viết năm 1965, khi cuốn Bếp Lửa được tái bản, Thanh Tâm Tuyền nói lúc viết cuốn sách, ông chưa phải là nhà văn. Thế nhưng ông đã nói lên được những trăn trở, buồn phiền của một tuổi trẻ mà do sự tình cờ của lịch sử đưa đẩy, đã bị bắt buộc phải lựa chọn cho mình một hướng đi, và sự lựa chọn đó có tính quyết định cho cả một đời.
Họ là sáu người thanh niên : Tâm, Đại, Long, Nhiên, Bảo và Ngọc, sống vào thời điểm gay cấn của năm 1954 ; con sông Bến Hải sắp sửa lãnh nhận một vai trò lịch sử quá nặng nề. Trong số các bạn của Tâm, Long là người không hề thắc mắc cho tương lai, không hề tự đặt những câu hỏi rắc rối. Long chấp nhận sống ở Đáp Cầu, nơi chốn của tuổi thơ. Long lấy vợ, sắp có con, làm hương sư cho đám học trò nghèo. Long có một cuộc đời khiêm tốn, không tham vọng. Nhiên, người bạn mới của Tâm, thì chọn lựa cho đời mình con đường thiêng liêng do Thiên Chúa dìu dắt. Nhiên có đức tin và ơn gọi nên rất bình an trong tâm hồn. Còn lại Tâm, Đại, Bảo và Ngọc. Có ít nhiều trao đổi, bàn luận, giữa các người bạn này.
Đại và Tâm có những hiểu biết về đảng Cộng sản, nhưng Tâm chưa thấy gì rõ ràng, vẫn sống trong tâm trạng mù mờ, chơi vơi. Khi Đại báo tin có ý định ra ngoài, thì Tâm nói :
– Nhưng cậu hẳn biết tôi không đồng ý với cậu. Nhưng tôi không thể phản đối cũng như khuyên cậu điều gì cả. Ở lại đây ư ? Để làm gì mới được ? Bằng chứng là tôi cũng không giải quyết nổi cho tôi. Còn đi ? Nhưng cũng để làm gì mới được ?
– Hẳn phải có việc để mà làm. Tất cả những người ở bên kia, người ta không biết người ta đang làm gì hay sao ?
– Tôi biết như thế : cậu sẽ đi. Cái chua xót là tất cả chúng ta đều thành thật, thành thật đến cái độ có thể chết. Tôi cũng mong cậu làm được điều gì ở đây.
Đại nói :
– Tôi không thể tưởng tượng được cậu có thể tìm thấy lòng tin ở một chỗ vô lý đến như thế. Tin rằng mình làm được cái gì ở đây, tôi nhất định không thể được, đừng vì cá nhân mình.
– Cậu vẫn nghĩ rằng chỉ vì cá nhân thôi ư ? Có lẽ tôi hiểu cậu hơn cậu hiểu tôi.
Vấn đề Thanh đi hát ở đài phát thanh cũng là một đề tài để Đại và Tâm cãi nhau, việc cãi nhau chóng trượt qua lĩnh vực chính trị. Đại tuy đọc sách nhiều nhưng đầu óc vẫn đầy thành kiến, Đại nói với Tâm rằng Thanh đi hát gây nhiều tai tiếng, rằng Thanh không đứng đắn. Nhưng Tâm biết rõ tâm hồn trong trắng, cao thượng của Thanh, Tâm tức giận :
– … Làm thế nào ở giữa một xã hội hư hỏng như thế này, bị tước đoạt hết khí giới, bị ném vào vũng bùn ? Cậu thử nghĩ nếu tôi và cậu cũng là con gái, chúng ta sẽ làm gì ?…. Cậu sẽ bảo tôi bỏ ra ngoài ấy. Bỏ ra ngoài cũng là một lối đánh đĩ, đánh đĩ tinh thần mình.
Ngọc thì muốn rời xa cái đất nước nhục nhã này. Ngọc tuyên bố : Thế nào tao cũng bỏ đất này đi, tao can đảm thú thực như thế, chết ở chỗ khác yên thân hơn. Còn hơn chúng mày lòng tin đã mất mà không dám thú thực, mà vẫn cố gắng giả tin.
Tâm viết cho Ngọc : … Đi đâu cũng vẫn chỉ là mày – đau khổ và nhục nhã. Mà nào riêng có đất nước này hổ nhục thôi đâu, mọi nơi mắt mày cũng chỉ nhìn thấy như đây. Không trốn được đâu, trừ khi mày trốn được lòng mày.
Phần Bảo thì than thở về cuộc sống tầm thường, nhàm chán của mình. Bảo tự hỏi : … có phải mình đang kiên nhẫn chịu đựng hay mình đang chết đi ? Hay đã chết rồi ? Nếu thật chết rồi thì cái hành động nổi loạn vô ý thức của nó (Ngọc) có nghĩa hơn cái cuộc đời bên cái hàng tạp hóa và vợ con này của tôi.
Đối với Bảo một cuộc sống vô nghĩa là một hình thức chết.
Vậy sáu người bạn, sáu chọn lựa khác nhau. Tâm trăn trở, phân vân đã lâu, rồi cuối cùng cũng đã lựa chọn. Thanh Tâm Tuyền gọi tuổi trẻ của thời đó, tức tuổi trẻ của ông, là tuổi trẻ bị tước đoạt, bị tước đoạt quê hương, bị tước đoạt tự do.

Viết về im lặng
Bếp Lửa là một truyện không dài, với nhiều nhân vật, nhiều trao đổi, có hai đám cưới, một đám tang, tưởng như trong thế giới truyện có nhiều tiếng nói ồn ào, có đám đông ầm ĩ. Nhưng không. Đặc điểm của Bếp Lửa là im lặng. Thế giới truyện là một thế giới có nhiều im lặng.
Cách miêu tả đôi khi rất vắn tắt, chẳng hạn : Bữa cơm ăn với vợ chồng Long trong một gian buồng hẹp ấm. Mâm bằng gỗ. Chi tiết hiếm hoi là một hình thức của im lặng.
Hoặc cách miêu tả một cảnh tượng hoang tàn, không thích hợp với hoàn cảnh của một ngày vui, như cảnh rước dâu sau đây : Đám cưới đi trên đường chính của thị trấn Đáp Cầu, một bên đường cỏ hoang và núi…, một bên là nhà cửa đổ nát ít dấu hiệu của sự sống, ngoài những đứa trẻ nghèo nàn chạy theo trông. Người ta rẽ vào một đống gạch vụn cao, vòng ra sau lưng một bức tường chưa đổ hết, và bước vào gian nhà tối… Một cảnh tượng như thế đưa đến cảm giác vắng vẻ, im lặng.
Trong không gian vắng lặng, Tâm thường lắng tai nghe những tiếng động. Khi đến Bắc Ninh, anh được ông già gác trường và cha Tân tiếp đón : Khi chúng tôi hết nói chuyện, tôi nghe tiếng sột soạt của bộ áo nhà tu bên cạnh và tiếng chân không đều của ông già gác. Hoặc khi Tâm nhận thấy Nhiên ít đến thăm vì đôi bạn không đồng quan điểm : … tôi nằm nghe tiếng động ngoài hành lang và lòng mình. Có sự qua lại giữa không gian bên ngoài và nội tâm.
Vì luôn sống với nỗi cô đơn, với khắc khoải, dằn vặt, Tâm thường thu mình vào nội giới. Anh đâm ra ít nói với mọi người. Chẳng hạn khi Tâm đến thăm Thanh, nhằm lúc Thanh bị bệnh, phải nằm nghỉ. Sau khi hỏi thăm sức khỏe của Thanh tôi ngồi im và không biết nói chuyện gì. Sau đó hai nhân vật trao đổi với nhau vài câu ngắn. Rồi : Chúng tôi cùng im lặng, tôi thì nhìn khói thuốc.
Hoặc khi dự đám cưới của Minh, Tâm kéo Chu, chú rể, ra ngoài. Chu trước kia là bạn thân của Tâm. Tâm nói :
– Tôi cần nói chuyện với anh một lát.
Nhưng khi ra ngoài, gió hơi lạnh, nhìn sang hồ nước im lặng và thấp thoáng phản chiếu ánh đèn, tôi không biết tôi muốn nói gì với Chu.
Còn giữa Tâm và Thịnh, sau đám tang ông Chính : Chúng tôi im lặng. Ở giữa chúng tôi không còn gì ngoài người đã chết.
Trong không khí của tình hình nghiêm trọng gây nhiều lo âu, con người trở nên trầm lặng, ít nói. Trên chuyến xe đi về Bắc Ninh : Không ai nói với nhau lời nào (…). Không ai nói một lời nào. Mọi người đều lạ nhau.
Những mẩu đối thoại trở nên rất ngắn, rơi vào im lặng, như có sự hiểu ngầm. Khi Tâm đến thăm Đại:
Đại cầm ở tay cuốn Crime et châtiment. Tôi hỏi :
– Cậu đến trường luôn không ? 
– Không. 
– Làm gì ở nhà ? 
– Đọc sách và suy nghĩ. 
– Suy nghĩ về phép giết người chăng ? tôi nói đùa. 
Đại không đáp. Chúng tôi đứng nhìn xuống khu xóm lao động phía dưới. Đại bỗng nói :
– Nó đến trường tìm mình dữ lắm. 
– Cậu quyết định thế nào ? 
Đại trầm ngâm một phút :
– Chưa. 
Đại là sinh viên khoa học…. Hắn bị gọi động viên và đang trốn.
– Nghĩ gì về Dostoïevski ? Tôi hỏi. 
– Bệnh. 
Ngay cả khi bàn đến một vấn đề quan trọng, đối thoại giữa hai nhân vật vẫn vắn tắt, đầy hiểu ngầm ; như khi Tâm nói chuyện với cha Tân, giám đốc trường : Tôi nằm rất lâu trong bóng tối. Hình như tôi sốt. Cho đến khi cha Tân vào phòng. Ông nói :
– Thầy không bật đèn ? 
(…)
– Hình như thầy không được khỏe ? 
Tôi vẽ một nụ cười :
– Bị sốt xoàng thôi, cám ơn cha. 
Một lát cha Tân vẫn chưa nói thêm. Tôi bỗng nói :
– Tôi muốn xin phép cha nghỉ độ nửa tháng. 
– Thầy có thể nghỉ dài hạn cũng được. 
– Vâng thế cũng được. 
Thế là Tâm mất việc, mà không biết lý do.
Đặc biệt nhất là cuộc đối thoại giữa ông Chính và Tâm. Hai người thương nhau, nhưng hiếm khi nói chuyện với nhau. Cả ông Chính và Tâm cùng làm việc tại một trường học, họ không tỏ ra gần gũi nhau, đến nỗi ở trường ít ai biết hai người có liên hệ gia đình với nhau. Một lần, trên đường Hàng Trống họ đi ngược chiều nhau, nhưng họ làm như không thấy nhau. Phải chăng bẩm tính của người đàn ông là ít bộc lộ về tình cảm ? Lại nữa giữa ông Chính và Tâm có hình ảnh ngưòi mẹ khuất bóng mà họ tôn thờ, lời nói giữa hai người có thể khơi lại niềm đau chăng ? Nhưng một sự việc xảy ra buộc họ ngồi lại với nhau : Tâm muốn rời Hà Nội để về dạy học ở Bắc Ninh, điều này làm ông Chính băn khoăn, ông không biết Tâm có buồn gì về ông không. Đối thoại giữa đôi bên có nhiều im lặng, lời nói được cân nhắc, biểu lộ giây phút nghiêm trọng. Tác giả đã khéo léo dùng một hiện tượng của thiên nhiên là mưa chẳng những để khỏa lấp những im lặng, mà còn để biểu hiện sự xúc động của Tâm khi mãnh liệt, khi lắng xuống. Trong đoạn văn sau đây mưa được nhắc đến bảy lần, mỗi lần mưa đều đổi dạng, làm như mưa biến đổi theo tâm trạng của Tâm :
Ông Chính đứng lên khép cửa và cửa sổ. Bóng ông in lên vách. Ông dừng một phút nhìn qua cửa sổ ra ngoài và hỏi tôi – mưa lúc ấy đổ mạnh khiến tiếng ông thấp thoáng…
– Anh Tâm. Tôi muốn anh thành thật trả lời câu hỏi này của tôi.  Vài giây cách quãng, mưa to hơn.  Giữa chúng ta có xảy ra một chuyện gì không đẹp không ? Anh cứ nói thẳng với tôi. 
Tôi muốn đứng dậy, nhưng không rời chỗ. Tôi nghe trong tiếng mưa vẫn còn vang tiếng của ông Chính khắp gian phòng.
– Thưa thầy không bao giờ tôi nghĩ lại có thể có câu hỏi ấy giữa thầy và tôi.  Tôi bị xúc động mạnh.
Ông Chính đã quay người lại. Mắt ông chớp nhanh, ông nói :
– Tôi muốn giữa chúng ta có được sự thẳng thắn.  Ông nuốt nước bọt.  Dù thế nào chúng ta cũng đã sống với nhau hơn mười lăm năm, lúc có mẹ cũng như lúc không… 
– Thầy đừng nên có ý nghĩ ấy (…) bao giờ tôi vẫn là con thầy như khi còn mẹ… 
Mưa dịu hơn lúc trước. Ông Chính ngồi xuống.
Chúng tôi đi nằm vào lúc mười một giờ. Tôi thao thức không sao ngủ được. Mưa dầm và lạnh. Ông Chính chong đèn đọc sách. Tôi biết ông cũng không ngủ được. Tôi thương ông vô cùng…
Gần ba giờ sáng. Mưa rơi sâu vào giấc mơ.
Lúc đầu những cử chỉ của ông Chính như khép cửa lại, ngừng một phút, nhìn ra ngoài, là những cử chỉ chậm rãi chuẩn bị cho cuộc trao đổi tế nhị giữa đôi bên. Nhưng mưa đổ mạnh át tiếng ông Chính, hay vô thức của Tâm sợ nghe những điều ông Chính sắp nói chăng ? Rồi mưa càng to hơn để biểu hiện sự xúc động mãnh liệt của Tâm khi Tâm trả lời ông Chính. Và khi sự hiểu lầm của ông Chính đã tan biến và cả đôi bên đã tỏ tình thương đối với nhau thì mưa dịu lại, rồi trở nên mưa dầm. Đối thoại chấm dứt, nhưng cơn xúc động vẫn theo Tâm vào giấc ngủ, vì Mưa rơi sâu vào giấc mơ.
Một yếu tố khác của thiên nhiên là núi cũng được ghép với tâm trạng của Tâm : Chuyến xe đã đến gặp núi. Núi tím lớn làm nhỏ cả thế giới hiện có của chúng tôi. Gặp núi, động từ gặp nói lên sự bất ngờ đối diện với núi ; và cảnh hùng vĩ của núi làm cho đời sống nội tâm với những suy tư, cảm xúc trở nên bé nhỏ, mất hết tính quan trọng.
Mưa rơi sâu vào giấc mơ, Chuyến xe gặp núi… cách cảm nghĩ như thế là dấu hiệu của nguồn thơ Thanh Tâm Tuyền.

Cũng trong Lời Tựa năm 1965, Thanh Tâm Tuyền viết : Cuốn sách mỏng manh, non nớt và chưa thành hình dáng này của một người mới lớn lên. Đúng là tác giả vừa mới lớn lên, nhưng cuốn sách không non nớt, phải xem Bếp Lửa là một tác phẩm. Nó mang dấu ấn của cái thời mà những người trai trẻ của miền Bắc ở trong hoàn cảnh phải chọn lựa, phải rứt áo ra đi, một nỗi đau ăn sâu vào tâm hồn của họ. Bên cạnh Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền còn có Đêm giã từ Hà Nội của Mai Thảo, Trương Chi của Vũ Khắc Khoan, cùng nói về thời kỳ chọn lựa đó.
Ngoài khía cạnh lịch sử, Bếp Lửa còn có khía cạnh nghệ thuật. Viết về tiếng động, về sự ồn ào, náo nhiệt để diễn tả một cốt truyện là lẽ thường, nhưng viết về im lặng không dễ, vì nghệ thuật này tùy thuộc đời sống nội tâm của tác giả. Joë Bousquet, một nhà văn Pháp, đã viết : Pour traduire le silence, il faut vivre au-delà de son propre silence, entendre et retenir toutes les voix qui se taisent en nous. Để nói lên sự im lặng thì phải sống vượt xa sự im lặng của chính mình, phải lắng nghe và nhớ tất cả những tiếng nói im bặt trong chúng ta. Qua những im lặng trong truyện, ngòi bút của Thanh Tâm Tuyền đã tạo nên một không khí lo âu trước một tương lai vô định, làm cho đối thoại giữa con người với nhau hàm nhiều hiểu ngầm, phức tạp, khó khăn ; và vẻ đẹp của thiên nhiên được dùng để im lặng bớt nặng nề. Bếp Lửa mở đầu cho những truyện ngắn, truyện dài đến sau, sẽ làm rõ nét hơn tài năng của Thanh Tâm Tuyền.

 

Tiếp tục đọc

VIẾT VỚI THÂN XÁC NHƯ TÚY HỒNG

 

 Trước khi văn học miền Nam hình thành, đã có hai nhà văn nữ được độc giả biết đến : Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo. Nguyễn Thị Vinh là cây bút nữ duy nhất thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Hai chị em là tác phẩm đầu tay của bà xuất bản năm 1953. Cũng năm 1953, Linh Bảo có truyện dài Gió Bấc và một tập truyện nhi đồng, Chiếc áo nhung lam ra mắt độc giả ; ngoài ra, tập truyện ngắn Tầu ngựa cũ (1961) được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1962. Cả Nguyễn Thị Vinh và Linh Bảo đều tiếp tục sáng tác vào những năm 60-70. Nhưng với cái đà tiến hóa của xã hội miền Nam, họ bắt đầu mờ dần. Một thế hệ trẻ xuất hiện với những cái tên như Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ và cô em út Lệ Hằng. Các cây bút trẻ này không như các bậc đàn chị vẫn còn giữ nếp truyền thống vào cái thời còn lưng chừng giữa nền phong kiến tàn tạ và nền văn minh tiến bộ đầy hứa hẹn. Họ ồ ạt đến với độc giả, mỗi người một phong cách đã khẳng định vị trí của người nữ trong gia đình, ngoài xã hội, nhưng chưa đủ, họ còn đòi quyền sống theo ý muốn của mình ; cũng có người như Nhã Ca, tuy tha thiết với những hoài bão của nữ giới, nhưng không làm ngơ trước thời cuộc và đã khóc vì những tai họa của chiến tranh.

Túy Hồng là người đến với độc giả sớm nhất, với cuốn truyện đầu tay, Thở dài, ra mắt năm 1963, tiếp đến là Vết thương dậy thì (1966). Túy Hồng gốc Huế, như Nhã Ca và Nguyễn Thị Hoàng. Bà sinh năm 1938, tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, giáo sư môn Việt văn. Đây là một nhà giáo cầm bút, nhưng không để gửi đến đám học trò những lời nhắn nhủ của một nhà mô phạm. Cây bút Túy Hồng xông xáo đi vào cuộc đời, dám nói lên những điều vẫn còn ngủ yên trong tâm thức hay vô thức của người nữ. Năm 1970, văn nghiệp của Túy Hồng được khởi sắc : bà đoạt Giải Nhất Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc với tác phẩm Những sợi sắc không. Cũng năm 1970, một tác phẩm khác của bà ra đời, cuốn Tôi nhìn tôi trên vách.

Cái tựa đề Tôi nhìn tôi trên vách kích thích tính tò mò của độc giả. Lại nữa trong truyện xôn xao tiếng nói của những người con gái Huế ; chẳng mấy khi độc giả được nghe con gái Huế nói chuyện. Ở đây không có hình ảnh người con gái Huế đội chiếc nón bài thơ, yểu điệu đi qua cầu Tràng Tiền. Cũng không có những cô nữ sinh cảm thấy ngột ngạt trong một thành phố Huế cổ xưa, đầy thành kiến, và nuôi mộng thoát ly, như cô nữ sinh Phù Dung của Nhã Ca trong Cổng trường vôi tím. Không. Những cô gái Huế ở đây là những người con gái sông Hương lạc loài trong thủ đô Sài Gòn, giữa vô số người đến từ bốn phương, ăn mặc xuề xoà, thoải mái, nói năng lẫn lộn ba thứ tiếng : Bắc, Trung, Nam ; thủ đô Sài gòn quả là một biểu tượng của sự thống nhất đất nưóc.

Tôi nhìn tôi trên vách là truyện kể một mối tình khởi đầu rực rỡ để cuối cùng đi đến sự tàn tạ. Nhưng tác phẩm của Túy Hồng không chỉ đơn giản có thế thôi. Truyện Tôi nhìn tôi trên vách là tấm gương phản chiếu xã hội miền Nam sau biến cố Tết Mậu Thân, với sự hiện diện của những lớp người mới ở Sài gòn, và, trong khung cảnh một gia đình, truyện phản ánh sự va chạm văn hóa các miền, sự giằn vặt của người vợ trước thái độ ích kỷ, độc tài của người chồng, gây nổi loạn nơi các cô em, dấu hiệu của một nữ quyền chớm nở. Quan trọng hơn nữa là Tôi nhìn tôi trên vách cho thấy một nhà văn nữ độc đáo, có một ngôn ngữ mới lạ.

I   Truyện Tôi nhìn tôi trên vách

Khanh, người kể truyện, là một cô gái Huế rời đất Thần Kinh vào Sài gòn sau Tết Mậu thân để chung sống với gia đình. Cô làm nghề chào dược phẩm để giúp cha mẹ nuôi các em. Gia đình Khanh đông chị em gái : Sương, người chị dạy học ở Đà lạt, đã có chồng, và bốn em gái : Trâm, Thảo, Cúc, Út. Khanh yêu Nghiễm, một thanh niên người Bắc, viết văn, làm báo. Nghiễm nhiều bạn bè, thích uống rượu, lui tới những nơi chơi bời. Sau đám cưới, Khanh về sống với Nghiễm trong một cao ốc, nơi có nhiều vũ nữ sống về đêm. Vì Nghiễm không cho Khanh tiếp tục đi làm nên ngày ngày cô lo công việc nội trợ, chẳng bao lâu cô cảm thấy buồn chán và đòi dọn đi nơi khác. Trong khi chờ kiếm được nhà mới, cặp vợ chồng về sống tạm với gia đình Khanh. Cuộc sống chung này gây va chạm, tranh cãi giữa Nghiễm và các cô em vợ về phong tục, ẩm thực và ngôn ngữ Bắc-Trung. Nghiễm tỏ ra độc tài, khắc khe đối với vợ, chỉ trích vợ về những vấn đề nội trợ, thức ăn trong gia đình. Khanh vốn tính hiền lành, dễ mềm yếu lại yêu chồng tha thiết nên hết lòng chiều chồng. Trong số các bạn Huế Khanh gặp lại có Bích Khuê, một cô bạn thân góa chồng, thích buôn hột xoàn, đánh bạc và lui tới với hạng người giàu. Trong thời gian ở chung với cha mẹ và các em, Khanh sinh đứa con gái đầu lòng rồi đến đứa con gái thứ hai. Khanh đòi chồng phải cho cô đi học Văn khoa trở lại. Phần Nghiễm vẫn uống rượu, đi về thất thường, chẳng bao lâu bị bệnh sưng gan, phải vào nằm bệnh viện hai tháng. Khanh đi dạy học để gia đình đỡ túng thiếu. Một người bạn cho Nghiễm mượn một căn phòng riêng để dưỡng bệnh khi xuất viện, ngày ngày Khanh đem cơm đến cho chồng. Ở đại học, có một thanh niên híp-pi tên Phi không ngớt tán tỉnh, quấy rầy Khanh, bị Khanh tẩy chay, Phi toa rập với Ninh, một bạn trai Khanh quen từ thời ở Huế, yêu Khanh nhưng không được Khanh đáp lại. Khanh rơi vào bẫy của Ninh và bị Phi và Ninh đánh đập tàn nhẫn để trả thù. Ngay lúc đó Sanh, anh của Bích Khuê và là người đã yêu Khanh từ trước, xuất hiện và cứu Khanh. Một hôm đi dạy về sớm, Khanh mục kích, tại căn phòng dưỡng bệnh, chồng cô ngoại tình với một nữ sĩ trẻ : Bích Vân. Khi hay tin, Bích Khuê xúi Khanh trả thù chồng bằng cách ăn diện, đi chơi tự do. Bích Khuê rủ Khanh đi Vũng Tàu chơi, mời Khanh đến nhà để quen biết với hạng người giàu có, cờ bạc ; một người đàn bà trong số này vu cáo Khanh ăn cắp chiếc nhẫn hột xoàn của bà ta ; Khanh cảm thấy tự ái và phẩm giá của mình bị xúc phạm, thế là một cuộc ấu đả xảy ra. Nghiễm trở về nhà cha mẹ Khanh, thấy vợ mang thương tích liền nghiêm khắc hạch hỏi. Khanh vốn đã căm phẫn về việc ngoại tình của Nghiễm, lần này cô không còn nhịn nữa, cô vạch mặt người chồng phản bội và cho biết ý định ly dị của cô. Vừa lúc đó Khanh phát hiện mình có thai lần thứ ba. Khanh chán ngán nghĩ rằng chính ba đứa con của cô sẽ không cho phép cô ly dị, tâm hồn ê chề, cô theo Nghiễm dọn về căn nhà mới. Khanh nghiệm rằng người đàn bà sống với một người chồng tội lỗi là một người anh hùng.

II   Xã hội miền Nam dưới ngòi bút của Túy Hồng

 Trong một bài đăng trên tạp chí Pháp Mercure de France, vào đầu thế kỷ 19, tác giả Louis de Bonald đã viết : La littérature est l’expression de la société (Văn chương là sự biểu lộ của xã hội). Lời tuyên bố đến ngày nay vẫn có giá trị. Tiểu thuyết là một trong những thể loại phản ánh cái xã hội thuộc thời đại của tác giả. Một cách ý thức hay vô thức, tác giả trình bày ít nhiều cái xã hội mình đang sống trong tác phẩm. Như đã nói, Tôi nhìn tôi trên vách không chỉ đơn thuần là truyện của một người phụ nữ trước những thất vọng về tình cảm đã xảy đến cho đời mình, Tôi nhìn tôi trên vách còn là bức họa của xã hội miền Nam sau Tết Mậu Thân, một xã hội đã biến đổi sâu xa, trong đó con người cũng đã biến đổi sâu xa. Với Túy Hồng không có những mơ mộng lãng mạng, những khắc khoải siêu hình, tác giả dẫn người đọc đi thẳng vào cuộc sống hiện thực, với những lo âu về nhà cửa, những thèm muốn các thức ăn, những cuộc cãi vã trong gia đình, tình thương giữa chị em và tình bạn.

1/ Những tầng lớp mới trong xã hội

 Từ xưa đến nay, do hình thái địa lý và sự đưa đẩy của lịch sử, nước Việt Nam chia làm ba miền Bắc, Trung, Nam, có ba giọng nói khác nhau với một số từ ngữ và phong tục tập quán đặc biệt của mỗi miền. Thế nhưng, hai cuộc di dân lịch sử, một cuộc di dân lớn đưa gần một triệu người dân miền Bắc vào Nam, sau Hiệp định Genève 1954, và một cuộc di dân nhỏ đưa người dân Huế vào Sài gòn, sau biến cố Tết Mậu thân 1968, đã gây xáo trộn và biến đổi cuộc sống của người dân ở miền Nam. Kể từ năm 1954, người dân Nam Bắc tập sống hòa hợp với nhau ; ngôn ngữ đôi bên có phần nhẹ bớt tính địa phương. Tiếp đến biến cố Tết Mậu thân, với cuộc tàn sát không ít người dân xứ Huế, đã xua nhiều gia đình vào Nam. Các nhân vật người Huế trong truyện nhìn nhận họ đã ồ ạt tràn vào đất Sài gòn :

Người Huế tưởng ít té ra nhiều chi lạ, đi đâu rồi cũng gặp nhau cái rầm.

–  Ờ ờ, người Huế mình vô Sài gòn nhiều lắm, cứ đi hai vòng chợ Bến Thành là đủ làm một bản thống kê nhỏ. (tr. 60)

Một lần nữa bộ mặt Sài gòn lại biến đổi. Sự hội nhập của người Huế dù sao cũng có giới hạn :

Dân Huế sống giữa Sài gòn… một lũ người bí mật và bất mãn. Dân Huế sống giữa Sài gòn một lũ người dễ biến dạng, nói tiếng Bắc và nói tiếng Nam đều được. (tr. 60)

Tuy nhiên ở cái thành phố Sài gòn dân cư đông đúc, hỗn tạp này, người Huế cảm thấy tự do, thoải mái, không còn phải ý từ về cách ăn mặc như khi còn ở Huế, một thành phố cổ, nề nếp :

Sài gòn có một điểm sung sướng là bất cứ người dân nào cũng có thể mặc áo cụt bà ba đi khắp thành phố, còn Huế thì chịu, Huế có mấy hạng người không được mặc áo ngắn ra ngoài đường phố. Ra đường thì phải áo dài quần dài, ra đường thì phải sơ mi quần tây. (tr. 206)

Rời khỏi đất Thần kinh với con sông Hương thơ mộng, với những ngôi chùa cổ kính, trầm lặng, người Huế sống và cảm nghĩ như thế nào trong một thành phố Sài gòn ồn ào với nạn kẹt xe ngoài đường và vấn đề nhà cửa đắt đỏ, khan hiếm ? Xem ra họ có vẻ thích nghi dễ dàng với cuộc sống mới, nhưng vẫn không quên nguồn gốc của mình, tình yêu Huế làm nổi bật một niềm kiêu hãnh về cung cách của người con gái Huế :

– Xứ Huế nhiều chùa chiền nên gái Huế đứng đắn lắm. Không có chuyện tình vu vơ. Ai hỏi thì lấy, ai không hỏi thì thôi. (tr. 138)

– Gái Huế quý như trầm, như quế, nên cha mẹ vừa gả chồng vừa tiếc… (tr. 80)

Mặc dù chiến tranh đe dọa hằng ngày, trong xã hội có hạng người chơi bời lui tới vũ trường, phòng trà, lại có hạng người giàu nhờ buôn hột xoàn, đánh bạc. Nhà của Bích Khuê là một ổ chứa bạc, triệu phú, thương gia, tướng tá, nghị sĩ, dân biểu đều có mặt. Đối với Bích Khuê, đồng tiền trở nên một trò chơi:

Khi tau ngồi trên chiếc chiếu đỏ đen, lập tức tau vô nghĩa hóa đồng tiền, tau tận diệt lòng tham, tau bừng sáng (…). Đồng tiền là giấy (…) ; đồng tiền là lá rụng để bàn tay bừng sáng của tau hốt xong rồi vung. (tr. 386)

Bên cạnh những kẻ sống vô dụng, có những người ngày đêm đi giữ gìn bờ cõi, như chồng của Phượng. Một cách mâu thuẫn, sự vắng mặt của những người lính là một hiện diện đối với những người sống trong sự chờ đợi não nuột :

Những người đàn ông Việt Nam ra đi như những hình sương bóng khói (…) Người đàn ông ra đi, cả nhà lén lau những giọt lệ, cả nhà khắc khoải đợi trông, đêm đêm bốn cây hương thắp lên khấn vái bốn phương trời. Người đàn ông ra đi cho nguồn sống cả nhà, một tháng không về, hai tháng không về, ba tháng không về…, thế là hết, nỗi lo lắng nát bấy lòng ruột… và thế cũng là chết. (tr. 369)

Xã hội miền Nam là một xã hội mở, đón nhận những cái mới của Tây phương, cho nên có một hiện tượng nhanh chóng du nhập vào miền Nam : phong trào híp pi, được tác giả miêu tả qua nhân vật điển hình Phi :

Một gã híp pi tóc râu tiền sử xồm xoàm như ông cố đạo người Pháp trong tự điển Larousse… (tr.149)

Phong trào Híp pi là một phong trào chống đối văn hóa đương đại, xuất hiện trong những năm sáu mươi của thế kỷ trước, ở Hoa kỳ. Những người trẻ theo phong trào này tóc râu bờm xờm, ăn mặc cẩu thả, họ bác bỏ những giá trị truyền thống, lối sống của các thế hệ đi trước và chống đối xã hội tiêu thụ, họ muốn đi đến với những nền văn hóa khác, muốn tự giải phóng và họ sống một cách tự do quá mức trong quan hệ tình ái.

Thiết tưởng trường hợp của nhân vật Phi trong truyện chỉ là một hiện tượng vọng ngoại, thời thượng hơn là một thái độ nổi loạn, chống xã hội, chống văn hóa như các lớp trẻ ở Âu Mỹ.

Chiến tranh đến gần, nhưng người phụ nữ vẫn trau chuốt cái đẹp của mình. Phòng mạch của bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ vẫn đông khách ; chiếc áo dài thời trang được tác giả miêu tả tỉ mỉ : vạt áo ngắn, vai raglan, thân áo ôm sát người, không cần bốn đường nhíp ở bụng và ở lưng như thời trước.

2/  Va chạm văn hóa

Những vần đề ngoài xã hội phản ánh trong gia đình, vì gia đình là một xã hội thu nhỏ. Trong gia đình Khanh, sự va chạm xảy ra giữa Huế và miền Bắc, vì đôi bên chung sống với nhau dưới một mái nhà, và cả đôi bên đều có lập trường vững vàng. Những va chạm về văn hóa như địa vị của người rể trong gia đình, ẩm thực Bắc Trung, ngôn ngữ dị biệt, thường xảy ra hằng ngày.

Nghiễm về ở tạm bên gia đình vợ, nhưng anh cho như thế là ở rể, là nhục. Anh nói :

– Anh cũng bị người ta bắt rể !

(…) Ở ngoài Bắc người ta quan niệm thằng đàn ông ở rể là một điều điếm nhục, ở nhà vợ là một thằng rể hèn.

– Người Huế quan niệm đó là một thằng rể hân hạnh.

– Ở Bắc chỉ thằng nào tồi lắm mới ở rể.

– Ở Huế thằng nào sang lắm mới ở rể được.

– Anh ở cái nhà này bao nhiêu thằng nghĩ là anh ở rể, chúng nó chế anh ghê quá.

– Anh ở cái nhà này bao nhiêu người tôn anh lên làm lãnh chúa.

– Đường đường một đấng như thế này mà đi ở rể.  (tr. 79)

Giữa Nghiễm, người anh rể, và hai cô em vợ, Trâm và Thảo, có nhiều cuộc đấu khẩu nảy lửa :

Tiếng Nghiễm cất lên :

– Người Huế thật dốt, cá chép mà không ăn được, món ngon nhất lại đi vứt.

– Người Bắc u mê mới đi ăn cá gáy. Xứ Huế ai cũng thờ Phật… cá gáy là cá sẽ hóa rồng, ai mà dám ăn.

Mẹ nói tiếp :

– Đất Huế là đất vua chúa. Mình vua là mình rồng, cốt vua là cốt rồng, nên người Huế không dám ăn cá gáy sợ phạm tội khi quân.

  Thảo ngon lành :

– Huế là chốn kinh kỳ vua chúa nên người Huế nào cũng thông minh.

 Nghiễm vỗ vai vợ :

– Người Huế chỉ là một ngón tay của người Bắc. Người Huế chính là người Bắc bị trục xuất ra khỏi Bắc kỳ. Nguyễn Hoàng đánh không lại Trịnh Kiểm mới đào tẩu… (tr. 85)

Trong bữa ăn, có món thịt gà Huế xé phay bóp muối tiêu rau răm. Trâm và Thảo :

– Trời ơi, người Huế ăn thịt gà xé thật sang trọng quí phái… chứng tỏ người Huế không thèm ăn xương.

Nghiễm :

– Người Bắc ăn miếng thịt gà chặt chứng tỏ người Bắc ăn một con gà vừa to vừa béo, miếng thịt chặt vừa vàng vừa dày… còn thịt gà xé nhỏ ra, xé vụn ra… ôi, người ta có thể làm một con gà mới nở rồi xé vụn ra, ai biết. (tr 196)

Ngôn ngữ dị biệt cũng là một vấn đề khó giải quyết. Nghiễm nói với vợ :

– Tại vì mình không có một căn nhà riêng nên con mình chậm biết nói. Cha thì nói tiếng Bắc, bà ngoại, ông ngoại, mấy dì… thì nói tiếng Huế, mẹ thì nói lơ lớ lung tung, khi Bắc khi Huế, hàng xóm thì nói tiếng Nam… Con bé bỡ ngỡ không biết lựa thứ ngôn ngữ nào. Mỗi lần nó chạy chơi, cha nó kêu : đừng chạy ngã, bà ngoại mấy dì kêu : khéo bổ, đừng chạy bổ, ông hàng xóm thì nói vói sang : té, con ơi, té, té… Con bé phải học đến ba thứ chữ… Rồi thì : bẩn, dơ, nhớp… Anh muốn có nhà riêng ngay để tập cho con nói duy nhất một thứ tiếng. (tr. 379)

3/  Ẩm thực : một yếu tố của cội nguồn

Đọc Tôi nhìn tôi trên vách người ta không khỏi kinh ngạc về sự thèm muốn  món ăn Huế của các nhân vật. Món ăn là đề tài của những vụ tranh cãi trong gia đình, và của những câu chuyện giữa bạn bè. Người đọc biết rõ bữa ăn trong gia đình gồm những món gì, biết nhân vật Nghiễm thích món cá rô chiên và dị ứng với món cá nục của người Huế, biết người mẹ vợ tỏ tình thương đối với con rể bằng cách nấu chè kê cho rể ăn. Tuy nhiên món ăn của mỗi miền đã ăn sâu vào con người khó lòng mà nhân nhượng, trong một mâm cơm có hai món Huế, một món Bắc, Người xứ nào ăn món xứ đó… . Người mẹ, khi thấy Khanh nấu những món Bắc cho chồng thì phản đối :

– Bắc kỳ, Bắc kỳ, Bắc kỳ… tao dạy cho mi từ nhỏ bao nhiêu công phu thượng thừa về cách nấu ăn món Huế, bây giờ mi xóa bỏ tất cả những công phu cũ, để học những công phu của người ta… (tr. 72)

Túy Hồng khéo tả cách làm món mứt khế và sự thích thú của vị giác khi thưởng thức món mứt này. Có lẽ vì người nữ có tài nấu nướng nên chỉ có ngòi bút nữ mới cho người đọc cảm thấy được sự thích thú đó. Và phải nghe tác giả tôn vinh hạt sen Huế như thế nào mới biết cái tính quý phái, đài các của hạt sen. Cái gì của Huế cũng ngon :

Tết ra là me bắt đầu chín rồi đó, đất Huế mình đủ mưa, đủ gió, đủ nắng cho trái me chín ngon, me Sài gòn chua lè như quít, khô khô ăn không ra mùi me. (tr. 339)

Cái món mít trộn người ta luộc chín cả trái mít sống, thái mỏng ra rồi trộn với tôm thịt, vừng rang giã nát hoặc đậu phọng rang. Món ăn đó chỉ ăn ở Huế mới ngon vì mít Huế ngọt hơn mít Sài gòn (…), tôm Huế tươi hơn tôm Sài gòn, (…), thịt heo Huế cũng đậm đà hơn thịt heo Sài gòn. (tr. 151)

Cho nên khẩu vị của người Huế không dễ được thỏa mãn ngoài xứ Huế. Điều gây ấn tượng cho người đọc là các nhân vật nữ đều thèm ăn, và chỉ thèm ăn món Huế mà thôi, thèm ăn không phải vì đói mà vì một lý do tâm lý sâu xa, sự thèm ăn quá mãnh liệt, trở nên một ám ảnh, đòi hỏi phải được thỏa mãn. Cô bạn Bích Khuê của Khanh sắp trở về Huế, việc đầu tiên cô dự định là… ăn :

… về tới Huế trước tiên là tau qua Gia hội ăn một bụng bánh khoái, xuống Tây thương ních bốn đĩa bánh bèo cho đã đời, buồi sáng phải ăn ba đọi cơm hến, ăn một mớ bánh nậm, ăn xong xả mới đi công chuyện. (tr. 339-340)

Bích Khuê không ăn thong thả để thưởng thức từng món ăn, cô « ăn một bụng… », « ních bốn đĩa… », « ăn ba đọi… », « ăn một mớ… », rõ là Bích Khuê háu ăn, ăn vồ vập, ăn nhanh, ăn nhiều món, ăn cho đã đời đề bù lại cái thời gian thèm khát ở Sài gòn.

Có điều đáng chú ý là những món ăn được nhắc đến trong truyện thuộc hai loại : những món ăn mà các nhân vật đang ăn và những món ăn trong trí tưởng tượng, trong ký ức của nhân vật : tôi hình dung một đĩa bánh bèo đổ bằng bột La Khê… . Một nỗi thèm thuồng có tính ám ảnh như thế ắt phải có một lý do tâm lý, và lý do tâm lý đó là tình yêu quê hương, nỗi tha thiết với cội nguồn. Món ăn Huế gắn liền với xứ Huế, Huế không chỉ là sông Hương, núi Ngự, cung điện, lăng tẩm vua chúa, Huế còn là bánh khoái, bánh nậm, cơm hến, món mít trộn, chè kê…

Người con gái Huế mang trong lòng một tình yêu Huế không bờ bến :

Bỏ Huế mà đi lòng tôi nhớ trời, nhớ khoảng thiên nhiên… Huế đẹp từ một vũng nước đọng bên đường đến lượng cả con Hương giang, từ cọng rau muống bờ hồ đến cây phượng già xanh lục. (tr. 10-11)

Và… Giọng nói đàn ông Huế nghe giữa Sài gòn cho tôi mường tượng như là ngôn ngữ của một kỷ niệm. (tr. 249)

Khi Khanh và chồng tạm dọn về ở chung với cha mẹ, Khanh mừng rỡ như tìm lại được xứ Huế :

Tôi nói lại tiếng Huế ríu ra ríu rít, mấy chị em hát hò gây gổ om sòm… Tôi ăn lại những món tôi đã từng ăn suốt hai mươi tám năm : bún bò, bánh lá chả tôm, bánh nậm, bánh khoái… Buổi sáng mẹ lại bắt lót lòng chén cháo đậu xanh… (tr.62)

Nói tóm lại, thèm những món ăn Huế là tiếc nhớ cội nguồn. Nỗi gắn bó với xứ Huế không trừu tượng, không chỉ ở trong tâm hồn, nó còn ở trong thân xác và đòi hỏi được thỏa mãn.

4/  Những dấu hiệu đầu tiên của nữ quyền

Truyện Tôi nhìn tôi trên vách tiết lộ một sự biến đổi lớn lao của người phụ nữ miền Nam. Trong xã hội Việt Nam truyền thống, người đàn ông với tư cách gia trưởng có những quyền hành rộng rãi. Quan niệm trọng nam khinh nữ của nền luân lý cổ truyền càng làm cho địa vị của người phụ nữ thêm yếu kém, người phụ nữ bị giam hãm trong tình trạng của một người vị thành niên, phải tùy thuộc người chồng về mọi mặt. Nhưng ở thế kỷ 20, với ảnh hưởng của văn hóa Tây phương, những thiệt thòi, những sự bất bình đẳng mà người phụ nữ là nạn nhân đã dần dà giảm bớt.

Ở Tây phương, phong trào nữ quyền đòi hỏi việc mở rộng quyền hành và vai trò của người nữ trong xã hội, đòi hỏi sự bình đẳng với nam giới, phong trào đó rất thịnh hành trong những năm 60 của thế kỷ trước. Vì xã hội miền Nam là một xã hội mở trước những trào lưu của Tây phương, cho nên việc du nhập những tư tưởng về nữ quyền vào nước ta không mấy khó khăn. Dần dần người phụ nữ Việt Nam được giải phóng, một cuộc giải phóng lặng lẽ, sâu xa.

Tuy nhiên, giữa lúc cái mới đang lấp ló, thì cái cũ vẫn còn khựng lại. Tâm trạng của nhiều người vẫn còn ở lưng chừng giữa cái cũ và cái mới. Theo quan niệm xưa, cô gái lỡ thì là một điều xấu hổ cho gia đình và cho riêng mình. Trong truyện, nhân vật Khanh không dám phản đối ý định của người chồng tương lai buộc cô phải bỏ việc làm sau ngày cưới, mặc dù cô bất bình. Cô nhượng bộ ngay từ đầu,  cô nói với mẹ :

– Nếu con không bỏ nghề lỡ anh ấy không chịu cưới con thì sao ? (tr. 36)

Người con gái Việt Nam vào nửa sau thế kỷ 20 vẫn còn bị ràng buộc bởi những thành kiến xưa : có chồng là một danh dự lớn trong xã hội dẫu có phải hy sinh những quyền lợi thiết yếu của đời mình. Về phía nam giới, họ vẫn bám vào uy quyền của họ đã có trong xã hội cũ. Nghiễm xem vợ như một con người thua kém mà mình có thể điều khiển, chi phối theo ý mình. Anh ta vẫn giữ đầu óc chồng chúa vợ tôi và có nhiều tự tôn mặc cảm :

Người Bắc là người khả ái nhất… bởi đó mới có câu : « Gái miền Trung thương trai xứ Bắc, trai Cửu Long mê gái sông Hồng ». (tr. 85-86)

Sau này em gặp một hoàn cảnh không may nào đó, em mới thấy tiếc nuối những năm sống bên anh. (tr. 189)

Nếu cô biết rằng cô lấy được một người chồng như tôi là nhất cho cô rồi thì cô không bao giờ nói vậy. (tr. 354)

Nghiễm tự cho mình cái vai trò giáo dục vợ :

– Anh phải tìm tòi một phương pháp để trị dạy em mới được. (tr. 162)

Và Nghiễm quan niệm người đàn bà đã có chồng không cần đẹp và phải cắt đứt mọi giao tiếp :

Luôn luôn Nghiễm bảo : Có chồng rồi không cần mang soutien ở nhà, có chồng rồi ra đường khỏi cần đánh phấn, có chồng rồi không cần duyên, không cần diện, không cần làm dáng, phải từ biệt tất cả bạn bè, đừng để ai đến thăm, đừng nói chuyện dông dài với ai hết… (tr. 360)

– Lấy anh rồi em phải bỏ nghề. Nếu em làm nghề dạy học thì phải bỏ nghề dạy học, nghề thư ký thì phải bỏ nghề thư ký, nghề kế toán… anh thủ tiêu hết. (tr. 31)

Trong khi Nghiễm tự do đi về thất thường thì anh xem nhẹ sự tự do của vợ :

– Mấy lâu nay chắc là nhiều lúc anh đi làm em bỏ nhà đi chơi nhiều lần lắm.

(…)

– Nói rồi đó, ở nhà trông con. (tr. 123)

Khanh ấm ức nhưng vì yêu chồng cô đành cam chịu. Hai cô em Trâm và Thảo thì không chấp nhận tình trạng đó. Tiếng nói của hai cô em là tiếng nói ngổ ngáo, xấc xược của công phẫn, tiếng nói của nữ quyền :

Trâm buông lời ẩu tả :

– Nếu hắn không cưới chị thì chị dọa như thế này : Anh không cưới tôi hả ? Tôi sẽ đồn đãi cùng thiên hạ là anh bất lực liệt dương.

Người mẹ nói :

– Khanh này, khi hắn nói bắt mi thôi đi làm mi có cãi lại không ?

– Con mần thinh chưa cãi cọ lại gì cả.

Trâm :

– Cái bà nhỏ này ngu không ngửi được, phải cãi lại chứ, đừng có nhịn, nhịn một lần rồi thành thói quen. (tr. 36)

Thảo rướn giọng :

– Tui mà lấy phải thằng chồng Bắc kỳ chắc là tui ly dị ngay đêm tân hôn. (tr. 86)

Thảo vì thương chị quá hiền nên lên tiếng chỉ trích :

… Tự nhiên đang làm nghề chào thuốc lại phải thôi ngay. Trước kia chị là một loại đàn bà sống động ngoài xã hội, nhanh nhẹn, liến thoắng, giờ đây bỗng biến thành một con cù lần (…) Chồng của chị là một lãnh chúa ở nhà này… (tr. 130)

Còn Trâm thì nhận xét :

Lấy chồng là một sự học tập dài suốt đời, họ chiếm cứ, họ nô lệ hóa mình bằng cách đánh du kích, du kích mỗi ngày một miếng. (tr. 215)

Những đòi hỏi nữ quyền của Trâm và Thảo còn ở trong giới hạn của ngôn từ, của lý thuyết, trong khi đối với Sương, người chị cả, nữ quyền đã được áp dụng thẳng thừng :

… Ngày nào cũng phải quát tháo cho thần kinh thằng cha yếu đi, phải hò hét luôn mồm cho chân cẳng thằng cha cuống cuồng không biết chạy ngả nào. Tau đẻ con ra, rồi nằm ngủ, vứt đó cho thằng cha với con vú lo sao thì lo… mặc kệ ! (tr. 254-255)

Nói tóm lại, trong Tôi nhìn tôi trên vách, hình ảnh của nam giới, do các nhân vật Ninh, Phi và nhất là Nghiễm đại diện, là một hình ảnh tiêu cực, gây những phản ứng của người nữ và làm nảy sinh tiếng nói của nữ quyền.

III  Thân xác, nền tảng của ngôn ngữ sáng tạo

Chiến tranh ngày càng đến gần, cuộc sống trong một thành phố lớn như Sài gòn, dân cư đông đúc, xe cộ ngập đường phố, trở nên khó khăn đối với mọi người ; cái không gian còn lại là những căn nhà chật hẹp. Phải chăng trong bối cảnh đó con người sống thu mình trong thân xác như một tháp ngà cuối cùng ? Điều mới lạ là Túy Hồng có một ngôn ngữ bắt nguồn từ thân xác. Nhà triết học Pháp Maurice Merleau-Ponty, tác giả cuốn Phénoménologie de la perception (Hiện tượng luận về tri giác), cho rằng thân xác không phải là một vật thể, thân xác kết hợp với ý thức  để tri giác ngoại giới. Theo ông, thân xác chuyển tải ý thức hay ngược lại ý thức chuyển tải thân xác. Ở Túy Hồng ngôn ngữ chuyển tải thân xác, điều này không đối nghịch với tư tưởng của Merleau-Ponty, vì ngôn ngử thuộc về ý thức. Có điều trong ngôn ngữ của Túy Hồng, thân xác có một trọng lượng hiển nhiên. Khanh, người phụ nữ trong truyện, hiện hữu qua thân xác của mình. Cuộc sống hằng ngày buộc chúng ta nghĩ đến thân xác, qua thân xác và trong thân xác chúng ta có những cảm giác, những ham muốn, chúng ta hành động, biểu lộ và sáng tạo. Vả chăng bất cứ hiện thực nào đến với chúng ta cũng đều dưới hình thức cụ thể của một thân xác. Do đó chúng ta sống với một thân xác có những cấu trúc, những chức năng và năng lực cho phép chúng ta đến với thế giới bên ngoài, đến với thân xác của kẻ khác. Tuy nhiên sống với thân xác của mình không phải chỉ có thể dùng chức năng, năng lực của mình để chế ngự thế giới bên ngoài, sống với thân xác còn có nghĩa bị hạn chế, phải nhìn nhận sự yếu đuối của mình. Nếu thân xác chúng ta biết thích thú món ăn ngon, sự mơn trớn, những khoái lạc, thì thân xác chúng ta cũng có thể chịu nhiều khổ hình như đói, lạnh, bệnh tật, những thương tích do những tai nạn hoặc hành động tàn bạo gây nên v.v… Vậy nếu thân xác cho chúng ta thấy sự sung sướng của cuộc đời, nó cũng tuyên bố tính hữu hạn của chúng ta và cái chết trong tương lai. Cho nên cuối cùng, ám ảnh thật sự trong Tôi nhìn tôi trên vách không phải là thức ăn mà là thân xác. Các thức ăn lan tràn trong truyện, ngoài việc gợi lên niềm luyến tiếc quê hương Huế, là sự thích thú của thân xác, sự nuôi dưỡng thân xác. Ngay trong những chi tiết kể truyện đơn giản nhất, tác giả cũng nghĩ đến thân xác. Chẳng hạn thay vì viết « Thảo nói » hay « Thảo than phiền », tác giả viết : « Thảo chu mõm » vừa linh động vừa tô đậm cá tính của nhân vật Thảo. Trong truyện, Túy Hồng không khai thác thân xác như một phương tiện của ham muốn nhục dục ; qua thân xác, Túy Hồng khẳng định sự tồn tại của người nữ.

Thân xác dễ bị tổn thương. Sau khi bị tên híp pi xúc phạm bằng những cử chỉ hỗn láo, Khanh cảm thấy thân xác mình dơ bẩn, tanh tưởi.

Thân xác cũng có thể bị bản năng thúc đẩy để gây nên bạo tàn. Khi Khanh bị vu khống, cô không ngần ngại ra tay đánh đập kẻ đã vu khống cô, ngược lại cô cũng từng bị hai gã đàn ông mà cô khước từ hành hung, trong hai trường hợp thân xác đều mang thương tích.

Thân xác có những đòi hỏi ăn ngon, đúng khẩu vị :

Tôi rên :

Thèm ăn món Huế quá ! (tr. 109)

Tôi rên là tiếng nói của thân xác.

Có khi thân xác cho Khanh một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu, như sau khi sanh đứa con :

Sau bốn lăm ngày ăn kiêng ở cữ, băng trên nịt dưới, tôi cảm thấy tôi sạch, tôi nhẹ, tôi mát, tôi tươi, tôi dễ chịu. (tr. 376)

Cảm giác có thể mạnh mẽ, dữ dằn :

Tôi lủi thủi đi về, mặt trời chiều nóng rát quá nhìn lên tưởng đui mắt.  (tr. 346)

Trăn trở, vui mừng, yêu thương, giận hờn, phẫn nộ trong truyện đều được biểu lộ bằng thân xác. Vào đầu truyện, Khanh sắp mừng sinh nhật thứ ba mươi của mình ; việc đầu tiên là cô lên gác nhìn mình trong gương. Cô thấy gì trên gương mặt ? Một chùm tóc cong, một nốt ruồi làm thành cái chấm. Phải chăng là một dấu hỏi, một câu hỏi về tương lai của cô ?

Thân xác cũng có ngôn ngữ riêng của nó :

Tôi đưa bàn tay che miệng cười khúc khích, chiếc miệng và bàn tay cười với nhau… (tr.343)

Khi nghe người chị kể chuyện bắt nạt chồng, Khanh, vốn tính hiền lành bị chồng bắt nạt, cảm thấy thích thú :

Tôi cười, cả chiếc bụng của tôi cũng rất sung sướng. (tr.255)

Nỗi sung sướng không ở trong lòng, trong tâm hồn mà ở trong « chiếc bụng ».

Thân xác của người nữ còn có một chức năng vô cùng quý giá, đó là tạo nên sự sống. Khi Khanh có thai, cô sung sướng mơn trớn bụng mình như một báu vật :

Tôi đưa tay thoa khắp miền bụng dày thật thân yêu, thật trìu mến dịu dàng mơn trớn như thể bàn tay tôi là bàn tay Nghiễm. Miền da bụng quê hương, quê hương có một tử cung với hai buồng trứng từ đó lọt lòng những đứa con. Đôi mắt ướt sũng tôi nhìn Nghiễm, bàn tay cồn cào tôi xoa bụng, tôi thương quý con cực độ dù con đang còn là máu. (tr.205-206)

Nhưng trong nỗi sung sướng có một sự chờ đợi, bàn tay nói lên sự chờ đợi những mớn trớn của người chồng, một sự chờ đợi không được thỏa mãn. Và cuối cùng nỗi sung sướng đã tạo nên một mầm sống là một nỗi sung sướng không được chia sẻ.

Sau niềm vui, có nỗi đau khổ. Khi bị chồng phản bội, cơn phẫn nộ của Khanh làm biến đổi gương mặt của cô :

Tôi nhìn tôi trong gương (…) : hai con mắt long sòng sọc to một cách kỳ lạ, hai hàm răng nghiến trèo trẹo, xương mặt bạnh ra như người tiền sử, hai má trắng bệch bạc, chót mũi đỏ ngầu (…). Tôi nhìn tôi trong gương. Sao tôi xấu thế này, xấu đoản, xấu xa xấu xí. (tr.322)

Khanh khổ đau nhưng vẫn giữ được niềm kiêu hãnh của thân xác :

Xác thịt có danh dự của xác thịt, xác thịt của tôi phản đối công phẫn, xác thịt của tôi kêu rên, chống trả. Những khúc xương của tôi bất khuất, những bắp thịt gan lì, từng tảng da căm giận, tôi quặn đau tới chín chiều gan ruột (…). Nghiễm ngoại tình có tôi chứng kiến và tôi có chứng cớ. Nghiễm làm cho tôi mất niềm tin rồi và Nghiễm cũng làm cho xác thịt của tôi mất niềm tin rồi. (tr. 335)

Do ám ảnh của thân xác, bút pháp của Túy Hồng mang dấu ấn của thân xác :

– Nói tầm bậy tầm bạ hồi nào đâu, nói trúng lỗ rốn cái phóc. Chị đẹp thì phải khen chị đẹp chứ. (tr. 170)

Bích Khuê cười hì hì bày hai cái răng chó dễ thương chi lạ. (tr. 340)

Điều lạ lùng là ý thức về thời gian hay về một nụ cười được gắn liền với thức ăn là yếu tố thuộc về thân xác :

Buổi sáng dễ dàng qua đi như người ta ăn hết nửa trái mít. (tr. 241)

Nghiễm cười nhạt như tô canh quên nêm muối. (tr. 228)

Tôi cười giòn như mẩu bánh mì nóng tôi ăn hồi sáng. (tr. 271)

Bút pháp cũng biểu lộ cảm tính của thân xác, những gì có tính cứng, nhọn, sắt, dễ gây thương tích, tức đe dọa thân xác, đều biểu tượng cho những cái không hay :

Sài gòn đanh thép như kim khí, Sài gòn cứng như đá mà gái Huế là trứng gà trứng vịt mỏng manh. (tr. 264)

– Đàn ông độc địa lắm, mi ạ… lòng họ có nhiều đá ngầm, có nhiều mõm nhọn. (tr. 341)

đàn ông chỉ là một cái túi chứa đầy dao găm, thuốc súng, đá ngầm, mõm nhọn. (tr. 342)

Với Tôi nhìn tôi trên vách độc giả phát hiện một nhà văn hiện thực, đã vẽ lên cái xã hội của thời đại mình, đồng thời độc giả phát hiện tiếng nói của một nhà văn nữ hiện đại, phát ngôn cho một nữ giới bắt đầu ý thức về quyền lợi và địa vị của mình. Chính những thiệt thòi của nhân vật Khanh trước một người chồng độc tài, ích kỷ, chính những thất bại về tình cảm của cô có sức gây phẫn nộ và biến thành mầm mống cho sự đấu tranh của nữ quyền. Là một nhà văn hiện thực, Túy Hồng đã tìm được một ngôn ngữ cho sự sáng tạo của mình, qua thân xác của người nữ. Cuối cùng, Tôi nhìn tôi trên vách không làm liên tưởng đến người thiếu phụ Nam Xương khi xưa nhìn bóng mình trên vách để thương nhớ chồng, mà Tôi nhìn tôi trên vách gợi cái ý tôi nhìn thân xác tôi trên vách, hay như tác giả nói trong truyện : Tôi nhìn tôi trong gương, tức tôi nhìn thân xác tôi trong gương.