TÌNH YÊU THỜI CHIẾN DƯỚI NGÒI BÚT CỦA NGUYỄN THỊ HOÀNG

 

Vào thời chinh chiến mấy ai được sống trọn vẹn tình yêu của mình. Chinh chiến là chia ly, là người tình xa người tình, là chồng xa vợ, cha xa con, là chết chóc đau thương. Thế nhưng Nguyễn Thị Hoàng muốn đối đầu với nghịch cảnh để giành cho nhân vật nữ của mình trong truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất một thoáng hạnh phúc huy hoàng, chói lọi.

Cuộc Tình Trong Ngục Thất là một trong những tác phẩm cuối cùng, nếu không nói là tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Thị Hoàng vào thời văn học miền Nam, do nhà Nguyễn Đình Vượng xuất bản năm 1974.

Độc giả nào thích đọc những tiểu thuyết có cốt truyện với những đoạn, những biến cố luôn đổi mới, dồn dập, gay cấn, sẽ không được toại nguyện khi đọc Cuộc Tình Trong Ngục Thất, vì càng đọc độc giả càng sốt ruột, có cảm tưởng thời gian cứ kéo dài trong truyện, trong khi không có gì đặc biệt xảy ra, chỉ đến đoạn kết mới được dự lễ hội của tình yêu.

Sự thật, Cuộc Tình Trong Ngục Thất không phải là một truyện dài với lối kể truyện hiện thực nhìn từ bên ngoài, như phần nhiều những tiểu thuyết thông thường. Trong Cuộc Tình Trong Ngục Thất, tác giả chủ yếu dùng độc thoại nội tâm : đang kể truyện về thế giới hiện thực bên ngoài, tác giả trượt vào nội tâm của nhân vật và tiếp tục kể, từ đó truyện được diễn tiến qua tâm trạng của nhân vật. Có thể xem đây là một truyện dài tâm lý đưa độc giả vào trạng thái tâm hồn của hai nhân vật, hai vợ chồng, vào một cơn khủng hoảng tinh thần. Truyện gồm 16 chương, nhưng các chương không được đánh số, chỉ có một khoảng cách phân chia chương trước với chương sau. Để việc phân tích truyện được dễ dàng, thiết tưởng cần đánh số các chương, vậy chúng ta sẽ gọi chương 1… đến chương 16.

Truyện kể hai vợ chồng thương yêu nhau, nhưng xa cách nhau vì chiến tranh. Không gian truyện là Huế và Sài Gòn. Tác giả không gọi đích danh Huế, nhưng hiển nhiên là Huế, vì đó là một thành phố cổ có con sông, có những món ăn đặc biệt : bánh nậm, bánh ít, nem chua, mè xửng và nhất là món bún bò cay thơm. Huế cũng là quê hương của người vợ, nơi chốn của tuổi thơ, tuổi học trò. Vợ đang ở nhà tại Sài Gòn, chồng đóng quân ở miền Trung. Chồng quá nhớ nhung, nhắn vợ ra Huế để gặp nhau. Nhưng khi vợ đến nơi thì chồng được lệnh đi hành quân. Cuối cùng vợ chồng cũng được gần gũi nhau và trải qua một ngày lễ Giáng Sinh êm đềm. Đối với họ, vấn đề không phải là tiếp tục ở Huế với cái giấy phép xuất trại 24 giờ của người chồng, mà vấn đề là phải bay về Sài Gòn cho bằng được, vì Sài Gòn là nơi có tổ ấm hạnh phúc của họ, nơi họ cảm thấy thoát được vòng vây của chiến tranh. Chuyến bay về Sài Gòn là một vấn đề « sống, chết », gây nên một cuộc khủng hoảng tột độ.

Trong truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất, Nguyễn Thị Hoàng dùng độc thoại nội tâm để cho thấy tất cả những gì xảy ra ở ngoại giới đều được cảm nhận qua tâm thức của hai vợ chồng, nhất là qua tâm thức của người vợ ; cuộc khủng hoảng tinh thần xuất hiện và lớn dần cũng qua cảm xúc của người vợ. Người vợ có cảm tưởng con người mình bị tách đôi, một nửa để chống chọi với đời ngoài, một nửa đắm chìm vào lo âu tính toán những nỗi niềm cay cực riêng tư.

Cũng cần nói rõ về phương diện hình thức, độc thoại nội tâm ở đây không hoàn toàn giống độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết Tây phương ; lắm lúc độc giả không vào ngay cái dòng chảy của tâm thức của nhân vật, mà có sự can thiệp của người kể truyện để bắt đầu một độc thoại nội tâm, chẳng hạn như : Nàng rùng mình. Cố nghĩ một cái gì êm dịu. Và nhân vật độc thoại thường tự xưng « ta, mình ».  

Khởi đầu là tại hãng máy bay ở Huế, khi người vợ có thai đã cực nhọc đi dưới trời mưa, bước vào phòng bán vé có đông người chen lấn. Người đàn bà xông xáo, cũng trườn được đến quầy bán vé, được biết hết vé đi Sài Gòn cho ngày mai, lại sắp đến giờ đóng cửa, nhân viên sửa soạn ra về. Nhưng người đàn bà không thối chí, vẫn năn nỉ, kỳ kèo khá lâu, cuối cùng mua được hai vé trên một chuyến bay đặc biệt ngày mai, nhưng không chắc có chuyến bay đó.

Chỉ có một quyết định không lay chuyển là chuyến đi Sài Gòn của hai vợ chồng, vào ngày mai chứ không là một ngày khác, phải chăng vì cái giấy phép xuất trại 24 giờ của người chồng khiến thời gian quá ngắn ngủi ? Người đàn bà bất chấp mọi khó khăn, đe dọa ; coi thường những phương tiện dễ dàng nhưng không thích hợp với ý muốn của mình, như nhận lời mời đi máy bay quân sự, vì có thể gặp những người quen biết gây phiền phức cho chuyện riêng tư của mình. Người đàn bà gạt bỏ tất cả những gì không liên quan đến tình yêu và hạnh phúc của mình, không muốn nghe người phóng viên chiến trường kể chuyện chiến tranh. Chỉ có hai cái vé máy bay là quan trọng.

Kể từ thời điểm đã được quyết định cho cuộc khởi hành, sự chờ đợi mòn mỏi chuyến bay gây nên một cuộc khủng hoảng lớn dần qua thời gian ở nhà ga rồi ở sân bay.

Cuộc chạy đua với thời gian

Cái ngày hai vợ chồng đã chọn để lên đường về Sài Gòn là khoảng thời gian từ 7 giờ sáng lúc lên xe xích lô đến nhà ga, đến 6giờ rưỡi chiều, giờ máy bay cất cánh đi Sài Gòn. Trong ngày, mỗi một chuyến bay đến rồi đi về hướng khác là một cuộc chạy đua với thời gian đầy lo âu, căng thẳng, qua những giai đoạn sau đây :

Chương 6 và 7. Hai vợ chồng từ giã nhà trọ ở Huế. Trên xe xích lô đến nhà ga, người chồng quả quyết chỉ có thời gian bên nhau là quý báu : … không cần gì hơn là có em, và đừng mất đi giờ phút nào với em. Còn người vợ trong độc thoại nội tâm thì nghĩ rằng có hai cách yêu : người đàn bà phải chịu đựng, chịu khốn khổ, cay cực để tìm thấy hạnh phúc vẹn toàn ; còn người đàn ông thì không thể kiên nhẫn chờ, không chấp nhận mất mát điều gì.

Khi đến nhà ga, quan cảnh nhộn nhịp với nhiều xe ca, nhiều hành khách lũ lượt qua lại. Sự chờ đợi bắt đầu từ đây. Trước hết chờ có một chuyến xe ca chở đến sân bay. Sự chờ đợi quá lâu, không gian như ngừng trôi. Khi người vợ hỏi han nhân viên nhà ga thì : Cuộc đối thoại im lìm và căng thẳng trong từng đường gân mạch máu, làm cho trái tim thắt bóp không đều, làm cho thần trí nhức nhối mỏi mê. Từng phút xê dịch rã rời của kim đồng hồ. Từng phút như không muốn vượt qua cái mốc ngập ngừng rình chực của định mệnh. Thời gian bỗng chết đứng, ngày bỗng treo cao… Và người vợ nghĩ mình đang ở địa ngục.

Bỗng người chồng reo lên : có xe đến. Họ vui mừng sắp đi đến sân bay. Nhưng nỗi vui mừng chợt tắt vì chưa thật sự khởi hành.

Chương 8 và 9. Trên xe ca đi đến sân bay, lòng bớt nặng trĩu, lo âu, nhịp tim nhẹ nhàng, ấm áp. Khi đến sân bay, chờ chuyến bay về Sài Gòn. Nhiều chuyến bay đến rồi đi về những hướng khác. Tâm trạng của hai vợ chồng căng thẳng, thoi thóp, lo sợ : Chồng không nói gì. Vợ cũng im hơi, nhưng hai người nghe rõ trong nhau những tiếng thở dài thầm kín pha lẫn những tiếng kêu gào náo nức quay quắt của phút đợi chờ phập phồng kéo dài tưởng đến hết một đời người chưa dứt.

Chương 10. Độc thoại nội tâm của người chồng khi chờ đợi ở sân bay. Người chồng ý thức một cách sâu sắc cuộc chạy đua với thời gian : … làm thế nào để có thể đi được. Đi ngay, tức thì, không chờ đợi. Mỗi phút giây tới và qua là một cơ hội bỏ lỡ, mất đi, đưa dẫn người tới chân tường, tới đường cùng.

Trong độc thoại, người chồng nhớ lại tâm trạng của mình lúc hành quân : Ta thấy ta ngồi trên chót núi cao, giữa đêm dài không dứt, với mưa phủ đầy trời, với gió rút xương da, với tuyệt vọng không cùng, với hoang mang không bến. Ta chết ngoài sự chết. Ta sống ngoài sự sống. (…) Ta ngồi đây nhớ em điên cuồng. Ta ngồi đây nhớ phố vui xưa, ta ngồi đây nhớ thương đời mình không bao giờ được sống đúng và đầy nghĩa sống như ước mơ, như mong muốn, như hình dung. Đó là cuộc hành quân gian khổ trước khi trở về gặp lại vợ.

Chương 11. Độc thoại nội tâm của người vợ khi chờ đợi ở sân bay. Lại một chiếc máy bay hạ cánh, nhưng không phải chuyến đi Sài Gòn. Tâm trạng phập phồng, lo sợ, căng thẳng, tác động đến thân xác như khi chờ đợi xe ca ở nhà ga : Mọi sự như căng phồng đến độ cùng, sắp sửa vỡ toang, bùng nổ. Mọi sự lên tới chót đỉnh của nín thở, của đe dọa, của vỡ rơi hung hiểm nhất. (…) Nghe cồn cào khắp ruột gan, những đường gân và mạch máu trong đầu rần rật.

Chương 12. Vẫn chờ đợi ở sân bay. Một chuyến bay khác đến, nhưng cũng không phải chuyến bay về Sài Gòn. Người vợ trơ ì ra, không còn sợ hãi nữa vì sợi dây căng thẳng đã đứt, có thể rơi xuống vực thẳm, và cái chết này không phải là cái chết cuối cùng của một đời người.

Chương 13. Cuối cùng máy bay đến. Nỗi vui mừng của người vợ không xiết kể. Nàng sống lại. Nàng nhẹ tênh. Nàng lướt trên sàn gạch hoa… Nàng phóng vào khung cửa phòng mở. Nàng sập tới sau lưng người đàn ông, như cơn gió mát.

Chẳng bù trước đó, trong một lúc tuyệt vọng : Nàng lê từng bước nặng gông cùm tới phía quầy và hỏi thăm bằng giọng run của người sắp chết.

Chương 14. Lên máy bay đi Sài Gòn. Nỗi vui mừng, nhẹ nhõm bay trên trời, xa lìa mọi đe dọa, lo âu của cuộc đời. Cả hai cùng nhìn xuống, nhận ra thành phố Sài Gòn « dấu yêu ».

Chương 15. Hai vợ chồng về đến Sài Gòn. Sài Gòn như đang trẩy hội vui, lũ xe người xôn xao lướt bay trên con đường tim phổi của miền Nam. Sau bao xa cách, lo âu, căng thẳng, đôi vợ chồng đã đến bến bờ hạnh phúc.

Chương 16. Trước bàn thờ Phật, hai vợ chồng tạ ơn đời, tạ ơn Trời Phật.

Nhưng ngày mai sẽ ra sao ? 

Và nàng chợt hoảng kinh nhận ra, đoạn kết của cuộc hành trình gian nan, thực ra chỉ là khởi điểm của một thời phiêu lưu khác, truân chuyên và đày đọa hơn.

Thái độ bất khuất trong việc đi tìm hạnh phúc

Cả hai vợ chồng đều đồng lõa trong thái độ bất khuất : liều lĩnh chon lựa một quyết định không lay chuyển là tìm về cái nơi hạnh phúc của mình, dẫu cho có phải gánh chịu những hậu quả sau này. Cả hai mãnh liệt gắn bó với nhau, người vợ tự nhủ : … bây giờ, cả hai, đôi ta cùng đi, cùng bỏ, cùng đến, những chặng đường đời, những khúc tang thương. Cùng nhận chịu. Và cùng chia sẻ. Cùng xót xa và cùng đắm say.

Còn trong độc thoại nội tâm của người chồng : Bây giờ thì mọi sự phải được khởi đầu từ ngày hôm nay, khi bóng đêm cuối cùng dứt hẳn ngoài trời. Mình đã chọn lựa. Đã quyết định. Không phải một giây phút. Một phản ứng bất ngờ. Mà quyết định cho cả một đời. Và quyết định bằng cả một đời. Và trả giá bằng cả một đời.

Người vợ thì quả quyết giành lại đời sống cho đôi vợ chồng. Khi trở về Huế như một người xa lạ đi tìm kho tàng tình yêu của mình, và cảm thấy mình bất lực trước cuộc đời, thì người vợ chẳng những muốn giành lại đời sống của hai người mà còn muốn « đánh cướp ». Vậy thì, không có cách nào khác hơn là phải đánh cướp. Cướp lấy đời ta… cướp lấy từng phút giây sống, từng trăm năm chết, cướp lấy nước mắt và nụ cười, cướp lấy hạnh phúc và thương đau…

Từ đầu chuyến đi, mình đã bị đày vào cái thế giới của những kẻ cùng đường phải đánh cướp để nuôi sống, để tháo thân. (…) Đánh cướp đời mình từ tù ngục và trở về với một tù ngục mới chung thân, nhưng đồng lõa, cùng nhau, có nhau, suốt đời… Vậy là có hai ngục tù : ngục tù lớn của cuộc đời với bao bó buộc, thử thách, đe dọa và ngục tù riêng của hai kẻ yêu nhau.

Khi tranh đấu để đoạt lại đời mình, người vợ biết không thể trông nhờ vào ai, chỉ tự cậy sức mình : Hãy tự ráp nối lấy những xích sắt dắt dẫn đời mình, không ai giúp đỡ, không ai lay chuyển. Hãy nối và gỡ những vòng dây xích định mệnh, không chia sẻ ai.

Nhưng tinh thần bất khuất phải đối phó với bao khó khăn, lo sợ, hoang mang. Chiến tranh vẫn còn đó, người vợ bị những câu thơ của Chinh phụ ngâm ám ảnh, nghĩ đến những sầu muộn, biệt ly. Phải gạt đi những hình ảnh của chiến tranh ; khi người vợ gặp người phóng viên từ chiến trường về nhắc đến trận đánh khủng khiếp vừa qua thì : Nàng không muốn nói đến những thứ đó. Chuyến bay. Trận đánh. Hành quân. Trời mưa. Di chuyển. Tiếp vận. Địch. Ta. Đạn. Máu.

Chủ đề chết : đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng

Đối với hai nhân vật, đi tìm hạnh phúc là vấn đề sống chết. Vậy phải mua cho được hai vé máy bay vào cái ngày đã được quyết định. Ý nghĩ chết bắt đầu xuất hiện ở chương 9 và trở lại nhiều lần. Khi sự chờ đợi ở sân bay quá dài, quá căng thẳng, vô vọng, người vợ bỗng nghĩ đến cái chết : … Nàng bỗng nhận ra và hoảng kinh một sự thật quái dị. Mỗi người không phải chỉ được chết một lần, thật êm đềm trọn vẹn, cuối đời, mà cứ mỗi đoạn đời, qua mỗi biến chuyển, mỗi khúc quanh lịch sử của đời người trầm luân, đều phải bị chết đi một lần. Một đời người, bao nhiêu lần biến động, là bấy nhiêu lần chết. (…) Vậy thì em đang chết. Anh cũng đang chết. Ta đang chết bên nhau. (…) Hãy ngồi im. Hãy chết lặng lẽ, riêng tư một mình.

Cùng với cái chết có hình ảnh của địa ngục : cuộc đời địa ngục, và hình ảnh của vực thẳm : khi cả hai vợ chồng chọn lựa sự liều lĩnh, sự bất khuất thì thất bại sẽ làm rơi xuống vực thẳm : Cái vực thẳm ghê gớm đã chọn lựa.

Nhưng dù sao sự sống vẫn quý hơn hết : … em muốn anh sống, sống thế nào cũng mặc, đọa đày thế nào cũng xong, (…), lạy trời, con chỉ cầu xin còn lại mỗi một điều này thôi, là cả hai người còn sống, sống thế nào cũng được, trong khoảng cách cũng cam, miễn là còn có nhau, đâu đó, trên đời địa ngục này. (Chương 11)

Một bút pháp giàu chất thơ

Bút pháp của Nguyễn Thị Hoàng đa dạng tùy theo loại truyện kể : hiện thực, kỳ ảo, thi hóa. Truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất là một truyện được xuất phát từ nội tâm của nhân vật, do đó giọng nói có tính âm thầm, tự mình nói với mình, có khi thầm nói với người mình yêu, tiếng nói âm thầm đó chuyển tải tất cả những gì chất chứa trong tâm lý của con người : quá khứ, kỷ niệm, buồn rầu, lo âu, sợ hãi, thù hận, vui mừng, sung sướng, v.v… Và không có ngôn ngữ nào có khả năng hơn thơ để diễn đạt đầy đủ những cung bậc của tâm trạng con người. Qua thơ, con người bộc lộ sự thầm kín của nỗi lòng mình, tự ru lòng mình. Cho nên ngôn ngữ thơ có thể thích hợp với hình thức độc thoại nội tâm. Nói như thế không có nghĩa là phải dùng ngôn ngữ thơ cho độc thoại nội tâm. Trong tiểu thuyết Tây phương, độc thoại nội tâm được viết theo thể văn xuôi, và thường khi câu văn rất dài, không chấm phết để thể hiện dòng tâm thức của nhân vật. Trong trường hợp của Nguyễn Thị Hoàng, tác giả vốn là một nhà thơ, cho nên thơ đã tràn vào hình thức độc thoại nội tâm. Những yếu tố của thơ trong Cuộc Tình Trong Ngục Thất là những hình ảnh gần kề nhau, thủ pháp lặp lại và âm điệu của câu văn.

Có những hình ảnh được ghép với nhau như trong những câu hai chữ sau đây : Tóc bay. Chiều bay. Hồn bay. (Chương 14)

Thủ pháp lặp lại được tác giả dùng một cách tự nhiên, theo nguồn hứng, như khi sáng tác một bài thơ : Ta ngồi đây nhớ em điên cuồng. Ta ngồi đây nhớ phố vui xưa, ta ngồi đây nhớ thương đời mình

Khi người vợ nhìn chồng và lo sợ cho sinh mạng của người chồng, thì hình ảnh của cái chết – được đêm tối biểu tượng – chập chờn trong sự lăp lại của hai chữ « đâu đây » : Chập choạng đâu đây là bóng hoàng hôn sụp xuống hoang tàn. Đâu đây là tiếng vỗ cánh của loài dơi khát thèm bóng tối. Đâu đây là hình hài xương tủy trắng xóa dưới trăng mờ.

Nỗi vui mừng lên được máy bay : Phút cuối cùng là đây. Ngày mở cửa là đây. Đêm thênh thang nhã nhạc vang lừng là đây. (…) Bay lên, xa lìa quá khứ. Xa lìa ngục tù. Xa lìa ám ảnh mịt mờ trận địa. (Chương 14)

Lặp lại một từ hay một cụm từ nhiều lần như trong một bài thơ là để nói lên một ám ảnh, một mong muốn quả quyết, một tình cảm mãnh liệt, v.v…

Đáng chú ý nhất là âm điệu của những câu văn cân đối, tạo nên một điệu ru, như trong một bài thơ. Ví dụ :

Nỗi niềm riêng tư của người chồng khi cuộc hành quân chấm dứt : Nằm chờ đêm qua. Nằm ru mộng buồn. Nằm quên khoảng cách. Nằm vùi gian nan.

Và niềm vui về đến Sài Gòn :

Chỉ còn lại đêm lồng lộng. Chỉ còn đèn giăng soi. Chỉ còn hương ngan ngát. Chỉ còn đàn vui say.

Với truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất, Nguyễn Thị Hoàng đã làm mờ ranh giới giữa văn xuôi và thơ, tác giả cho truyện kể một hình thức mới, bút pháp được thi hóa và những độc thoại có dáng dấp những giấc mơ.

Nguyễn Thị Hoàng là nhà văn và cũng là nhà thơ, đã từng làm thơ từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường, và sau này đã có những tập thơ xuất bản. Đối với tác giả, sáng tác truyện đến sau sáng tác thơ, và kể truyện với một tâm hồn thơ là điều tự nhiên. Vả chăng một ngôn ngữ giàu chất thơ thích hợp với tâm trạng của nhân vật trong truyện muốn trải lòng mình trong một độc thoại.

NGUYỄN THỊ HOÀNG VÀ VẤN ĐỀ SÁNG TẠO

 

         Trong những năm 1970, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng đã có dịp lên tiếng với độc giả ít nhất hai lần : lần đầu qua buổi nói chuyện với sinh viên Đại học Văn khoa Sài Gòn, năm 1971 (1), lần thứ hai qua cuộc phỏng vấn của tạp chí Văn, năm 1973 (2).

         Qua hai lần nói chuyện trên đây, Nguyễn Thị Hoàng đã bàn đến những vấn đề liên quan đến người phụ nữ cầm bút. Nhưng người phụ nữ cầm bút cũng là người mẹ trong gia đình. Cho nên qua bài phỏng vấn của tạp chí Văn có hai Nguyễn Thị Hoàng : một Nguyễn Thị Hoàng nhà văn và một Nguyễn Thị Hoàng mẹ trong gia đình. Trong mục đích tìm hiểu một nhà văn nữ, thời miền Nam, chúng ta để qua một bên nhân vật người mẹ và tập trung sự chú ý vào nhân vật nhà văn.

         Nguyễn Thị Hoàng sinh ngày 11 tháng 12 năm 1939 ở Huế, học  trường tiểu học Đoàn Thị Điểm, Thành Nội Huế, trường trung học Đồng Khánh, rồi từ năm 1957 học trường trung học Võ Tánh ở Nhatrang. Sau đó Nguyễn Thị Hoàng vào Sài Gòn học Văn khoa và Luật khoa, bỏ dở việc học, dạy học, đi làm, rồi bỏ dở việc làm, sống một cuộc đời tự do với nhiều khó khăn, và chính trong cuộc sống tự do này bà đã bắt đầu cầm bút. Năm 25 tuổi bà khởi đầu viết văn, cuốn Vòng Tay Học Trò mà bà cho là một cuốn truyện tình cờ, được đăng trên tạp chí Bách Khoa, năm 1965, đã gây nhiều tranh cãi, sóng gió.

         Từ năm 1963, Nguyễn Thị Hoàng đã viết cho các báo Bách Khoa, Văn, Khởi Hành, Đồng Nai, Công Luận, Tin Sớm, Gió Nam, Tin Sống, Gào Thét.

         Năm 1967, bà chủ trương nhà xuất bản Hoàng Đông Phương.

I Từ thơ đến truyện

         Nguyễn Thị Hoàng là một người đa cảm, nên đã chọn thể loại thơ rất sớm để nói lên những xúc cảm của mình. Bà làm thơ từ năm 12 tuổi. Nhiều người còn nhớ bài thơ nổi tiếng Chi lạ rứa của Nguyễn Thị Hoàng. Một số bài thơ của bà được đăng trên Bách Khoa từ năm 1960, và trên tạp chí Văn từ năm 1963. Vào thời đó, bà đã có hai tập thơ xuất bản. Nguyễn Thị Hoàng quan niệm thơ như thế nào ? Bà tuyên bố trên tạp chí Văn :

Tôi vẫn nghĩ thơ là phần tràn ngập của những xúc động tâm hồn. Tâm hồn có tuổi tác, có sống thực bằng đau khổ và hoan lạc thực, thì xúc động mới chín muồi và chất tràn ngập là thơ kia mới có giá trị thực. Thơ chỉ là hương thơm của những ngày tháng đẹp qua rồi, hãy cứ cho hương bay đi và tàn phai. Có đáng gì đâu mà cho in và lưu lại về sau ?

Nói như thế có nghĩa là sau này mới có đủ điều kiện để làm thơ. Nhưng không thể phản phúc thơ bằng cách chìm lắng, mơ màng theo thơ bên cạnh một đời sống thực ngập tràn lo âu, băn khoăn, phấn đấu không ngừng nghỉ. Hãy để cho thơ chỉ còn là tiếng câm, những lúc nào đó, nói thầm với chính mình. Đôi khi tôi vẫn nghĩ, chính chất thơ thuở trước trong hồn còn vương vất đã làm cho tiểu thuyết của tôi, đúng hơn là những nhân vật, đối thoại hay khung cảnh trong tiểu thuyết tôi nhuốm tính chất không thực, xa vời, tìm đẹp hay không. (Tạp chí Văn, 16-7-1973, tr. 2)

         Tóm lại, trước một cuộc sống khó khăn luôn luôn phải phấn đấu, thơ được cất giữ đâu đó nhưng vẫn ảnh hưởng đến cách viết tiểu thuyết của tác giả.

         Vậy từ thơ Nguyễn Thị Hoàng đã bước qua thể loại truyện. Năm 1973, bà cho biết đã viết trên 30 cuốn truyện dài, nhưng chỉ mới xuất bản 23 cuốn. Về truyện ngắn có gần 40 truyện đã in, và 20 truyện còn ở dạng bản thảo.

         Để có cái nhìn toàn diện về những sáng tác của Nguyễn Thị Hoàng từ đầu đến năm 1974, cuối thời miền Nam, xin liệt kê sau đây những tác phẩm của bà với tên nhà xuất bản :

Truyện dài :

Vòng Tay Học Trò (Kim Anh, 1966)

Tuổi Sài Gòn (Kim Anh, 1967)

Ngày Qua Bóng Tối (Văn, 1967)

Vào Nơi Gió Cát (Hoàng Đông Phương, 1967)

Về Trong Sương Mù (Thái Phương, 1968)

Một Ngày Rồi Thôi (Hoàng Phươn Đông, 1969)

Cho Đến Khi Chiều Xuống (Gió, 1969)

Đất Hứa (Hoàng Đông Phương 1969)

Tiếng Chuông Gọi Người Tình Trở Về (Sống Mới, 1969)

Vực Nước Mắt (Gió, 1969)

Vết Sương Trên Ghế Đá Hồng (Hoàng Đông Phương, 1970)

Tiếng Hát Lên Trời (Xuân Hương, 1970)

Trời Xanh Trên Mái Cao (Tân Văn, 1970)

Bóng Người Thiên Thu (Hoàng Đông Phương, 1971)

Bóng Tối Cuối Cùng (Giao Điểm, 1971)

Tình Yêu, Địa Ngục (Nguyễn Đình Vượng, 1971)

Định Mệnh Còn Gõ Cửa (Đồng Nai, 1972)

Bây Giờ Và Mãi Mãi (Đời Mới, 1972)

Năm Tháng Đìu Hiu (Đời Mới, 1973)

Trời Xanh Không Còn Nữa (Đời Mới, 1973)

Tuần Trăng Mật Màu Xanh (Đồng Nai, 1973)

Buồn Như Đời Người (Đời Mới, 1974)

Chút Tình Xin Lãng Quên (Trương Vĩnh Ký, 1974)

Cuộc Tình Trong Ngục Thất (Nguyễn Đình Vượng, 1974)

Truyện ngắn :

Trên Thiên Đường Ký Ức (Hoàng Đông Phương, 1967)

Mảnh Trời Cuối Cùng (Hoàng Đông Phương, 1968)

Cho Những Mùa Xuân Phai (Văn Uyển, 1968)

Dưới Vầng Hoa Trắng (Sống Mới, ?)

Bóng Lá Hồn Hoa (Văn, 1973)

Thơ :

Sầu Riêng (1960)

Kiếp Đam Mê (1961)

         Với một số lượng tác phẩm như thế và một kinh nghiệm viết chất chứa trong khoảng 10 năm, Nguyễn Thị Hoàng đã có những quan niệm, những nhận xét, mong muốn về vấn đề sáng tác, phê bình, cũng như về những sinh hoạt văn hóa trong xã hội.

II Truyện nảy sinh và được xây dựng như thế nào ?

         Nguyễn Thị Hoàng quan niệm tác phẩm phản ánh một phần đời sống và tâm hồn mình. Bà cho rằng tác phẩm của bà không do một động lực nào từ bên ngoài xã hội, hoặc do ảnh hưởng của văn chương nước ngoài. Chính cuộc sống tự do với nhiều khó khăn, và những cơ hội được đi đây đi đó đã ảnh hưởng đến việc sáng tạo của bà.

         Truyện nẩy mầm bằng một ý tưởng mà tác giả nuôi nấng cho nó lớn dần, cho đến khi nó có đủ hình hài thành một truyện ở vào cái thế không viết không được. Cái ý tưởng khởi điểm, làm mầm mống cho truyện, nó quan trọng hơn bề dày của cuốn truyện. Vậy khi truyện đã chín muồi thì tác giả có ý muốn thực hiện ngay. Tác giả viết như lên cơn xuất thần :

Đã ngồi lại viết, ý tưởng kia nhập vào xác hồn mình, ngồi như một người bị đồng nhập, không còn hay biết đến xung quanh, bất chấp cả mọi tiếng ồn ào và sinh hoạt khác, cứ đánh máy triền miên không ngưng nghỉ, vội vã, cuống quít, không kể cả những lỗi sai khi đánh máy, miễn là trút ra được những gì căng đầy trong trí, cùng lúc, cho thật nhiều, thật nhanh. Càng nhiều, càng nhanh, càng kịp tốc độ ý nghĩ càng tốt. Tôi như mê đi khi viết nên không nhận ra mình đang viết đang nghĩ gì. Chỉ khi đọc lại sách đã in, cảm tưởng như đọc của một người nào khác. Tôi chỉ đọc lại khi đã in, và đánh máy xong, không đủ thì giờ xem lại một đoạn hay một tác phẩm toàn thể, mà phải đưa ngay cho nhà in rồi. Cho nên mỗi lần đọc lại một truyện mới in là kinh hoảng vô cùng. Kinh hoảng vì mình đã làm việc với tốc độ dữ dội, và vì vậy bừa bãi quá, mà kết quả lại bất ngờ… Nghĩa là kỳ tới sẽ viết kỹ lưỡng hơn, nhưng giờ giấc và công việc hàng ngày cứ lôi cuốn theo dòng không đổi. Cho nên một thì giờ rảnh rỗi đủ để viết một truyện theo cách cuộc và nguyên tắc mong muốn không bao giờ có. Đành chấp nhận hủy bỏ tất cả mọi nguyên tắc. Và rồi thành thói quen… (Buổi nói chuyện của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng.Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Bộ mới, số 5, 15-7-1971, tr. 61)

         Nguyễn Thị Hoàng quan niệm khung cảnh và nhân vật là nền tảng của « sân khấu ». Phần chính yếu là cái ý tưởng làm nên tia sáng chiếu rọi sân khấu ; tuy nhiên tác giả cho rằng người ta thường thấy sân khấu và ít nhận ra cái tia sáng.

III  Cách thức viết truyện

         Về truyện dài thì bất cứ nơi nào, lúc nào Nguyễn Thị Hoàng cũng viết được. Bà có thể bỏ dở một thời gian ngắn hay dài, khi viết tiếp không cần đọc lại từ đầu.

         Về truyện ngắn, lối làm việc khác hẳn. Tác giả phải viết một mạch cho xong truyện. Sau đó cảm thấy nhẹ nhàng, khoan khoái hơn là đã xong một truyện dài. Bởi truyện ngắn xong là xong. Còn truyện dài, xong nhưng không bao giờ xong, là vì chưa nói hết được những điều quanh chủ đề đã lựa chọn, bắt gặp. Nếu bỏ dở nửa chừng, truyện ngắn sẽ bị vứt luôn không bao giờ tiếp nối. Phải như một chiêm bao song suốt, ngắt quãng không thể mơ lại những bóng hình đẹp đã mất rồi. (Văn, tr. 5).

         Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng thường làm việc trong hối hả, tất bật. Bà đánh máy thật nhanh, có khi không kịp đánh dấu. Mỗi ngày đánh từ 20 đến 30 trang, ném ra bừa bãi cho đến khi xong một truyện. Đôi khi 3, 4 bản thảo xong cùng một lúc, vì viết 3, 4 truyện cùng một lúc, sắp lại thứ tự mỗi bản thảo, sửa dấu. Rồi giao ngay cho nhà xuất bản. Bà kể : Không kịp nhìn lại để phân đoạn, cắt xén, thêm bớt bất cứ chỗ nào, thì làm sao có thể sửa ý và lời, nhận định lại dù chỉ một lần những gì vừa viết để có thể đổi thay… Cứ như thế, truyện này rồi đến truyện khác, lúc nào cũng tới tấp, hối hả, quay cuồng… (Văn, tr. 6)

         Đương nhiên lối làm việc như thế không những không phải là lý tưởng mà còn nguy hiểm cho tiếng tăm của tác giả. Qua cách làm việc của Nguyễn Thị Hoàng yếu tố thời gian quá hiếm hoi, thiếu thời gian là một bất lợi. Sự việc này không chỉ xảy ra với nhà văn Nguyễn Thị Hoàng mà còn với những nhà văn khác.

         Lý do là độc giả miền Nam có nhu cầu đọc sách, đọc truyện, rất lớn, cho nên các nhà văn thường xuyên bị các báo, các nhà xuất bản thôi thúc không ngừng. Do đó họ phải tích cực làm việc để đáp ứng nhu cầu của độc giả. Điều này chứng tỏ trình độ văn hóa của người dân miền Nam đáng được lưu ý và đánh giá một cách thiết thực. Những độc giả nghèo thì đành lui tới những tiệm cho thuê sách.

         Nguyễn Thị Hoàng ý thức mình làm việc trong một tình trạng hối hả, cấp bách. Trong buổi nói chuyện với sinh viên, năm 1971, bà khiêm nhường nhận xét rằng bà chưa viết được gì cả, rằng lối viết của bà quá bừa bãi, vội vàng, chưa có cuốn truyện nào hoàn toàn đầy đủ trước khi đăng báo hay đem in. Tuy nhiên bà nói nhờ thế được nóng bỏng, nguyên vẹn cảm xúc, ý tưởng. Bà cũng nhìn nhận không thể làm việc có tổ chức theo nguyên tắc về giờ giấc, trong tâm trạng tùy hứng như các nhà văn lão thành. Bà ý thức về khuyết điểm đó, nhưng là một thói quen khó thay đổi.

         Ngày nay trong cảnh thanh bình, nhà văn tha hồ sáng tác có phương pháp, có thứ tự, trong một thời gian thư thái. Ngược lại trong hoàn cảnh chiến tranh thời đó, vấn đề an ninh, vấn đề mưu sinh khiến nhà văn bị rơi vào một tình trạng bấp bênh, một mình phải chống chọi với bao khó khăn.

IV Nhận xét về tác phẩm của mình và cảm nghĩ về giới phê bình

         Vào những năm 1970, mặc dù là một nhà văn nổi tiếng, Nguyễn Thị Hoàng sáng suốt nhận thấy những tác phẩm của mình chưa đạt đến đích, chúng chỉ đang trong tình trạng dò dẫm, chưa đến cái mức mong ước, chưa phải lúc được đưa vào văn học sử. Tóm lại, tác phẩm của bà đang trên đường xây dựng.

         Mong ước của bà về sáng tác trong tương lai là Dẹp bỏ những cuốn tiểu thuyết tình cảm bình thường kia đi, đi nhiều, ghi nhận, cảm xúc nhiều, và dựng những bộ trường thiên. Phải định hướng lại tất cả. (Văn, tr. 8)

         Năm 1972, tạp chí Văn tổ chức một cuộc Hội thảo bàn tròn giữa 8 nhà văn thuộc nam giới : Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Nhật Duật, Mặc Đỗ, Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu và Nguyễn Đình Toàn, về chủ đề : Chỗ đứng của các nhà văn nữ Việt Nam hiện đại và Đặc tính trong thế giới tiểu thuyết của họ. Nội dung cuộc Hội thảo được đăng trên tạp chí Văn, số 206.

         Chỉ xin nhắc lại nơi đây ý kiến của một vài nhà văn liên quan đến nhà văn Nguyễn Thị Hoàng.

Mai Thảo mở đầu cuộc Hội thảo, tiếp theo vài nhà văn góp ý kiến, rồi đến Nguyễn Nhật Duật bắt đầu tấn công :

Ảnh hưởng rơi rớt mơ hồ của nền văn chương hiện sinh cũ, trước và sau 62 đã đóng góp vào sự thành hình tác phẩm của các nhà văn nữ này. Theo tôi, có lẽ là Nguyễn Thị Hoàng với cuốn Vòng Tay Học Trò đã diễn tả được thứ tình cảm đó. Tác phẩm của họ khi ra đời đã được chiều chuộng, và hình như sự chiều chuộng này đã lôi kéo theo sự có mặt của những nhà văn nữ khác. Nhưng người đọc đã thấy được gì trong sách của những nhà văn này ? Những nội dung táo bạo không phải là tự do mà là sự buông thả. Kẻ nào dám sống với kinh nghiệm đời sống, họ sẽ là nhà văn. (…) Đề tài mà họ đụng chạm đến không khác những đề tài mà các nhà văn nam sử dụng. Đó chỉ là sản phẩm tất yếu của xã hội. Bởi vì không có Nguyễn Thị Hoàng này sẽ có một Nguyễn Thị Hoàng khác.

         Mặc Đỗ nâng cao mức độ của cuộc thảo luận :

Tại sao chúng ta không nghĩ rằng còn có một yếu tố khác nữa làm thành tác phẩm của các nhà văn nữ : lòng yêu văn chương của họ ?

         Nguyễn Nhật Duật trả lời :

Có lẽ nên nói cho rõ rằng hoàn cảnh là cơ hội tốt đẹp làm nẩy sinh ra nền văn chương buông thả. Và công thức sẽ là Hoàn cảnh + Sự ham mê văn chương thành văn chương.

         Nguyễn Nhật Duật cho rằng văn chương nữ phái bây giờ (…) gần được hiểu như là một chuyển đoạn, một trở thành, chứ không là một thành tựu.

         Mai Thảo có cái nhìn bao quát hơn, thông cảm và ôn hòa hơn :

Khả năng văn chương nữ bây giờ cho phép họ đề cập đến tất cả mọi vấn đề. Có điều bất cứ cuộc giải thoát nào trước hết là một giải thoát thân xác, nhất là cho đàn bà. Rồi họ sẽ đề cập đến những chủ đề khác. Nhưng bây giờ họ đang nói đến thân xác, dù không phải nói như một người vô luân. Thân xác là chủ đề lớn nhất hiện nay. (Văn, số 206, tr. 9)

         Nhà văn Nguyễn thị Hoàng nghĩ gì về những lời tuyên bố đó, đặc biệt về những phê phán gắt gao của Nguyễn Nhật Duật ?

         Trong cuộc phỏng vấn của Văn, năm 1973, Nguyễn Thị Hoàng nói : Riêng tôi, nếu cho là tác phẩm của tôi táo bạo, này nọ… thì chỉ là một ấn tượng của nhà phê bình, phát xuất từ nhận định khi đọc cuốn Vòng Tay Học Trò. Bởi, nếu một nhà phê bình muốn là nhà phê bình thực sự chịu đọc (đọc qua thôi, không cần phải kỹ) những tác phẩm của tôi sau Vòng Tay Học Trò, sẽ không tìm thấy thoáng bóng dáng nào của vấn đề tình dục. Ý kiến trên cũng là ấn tượng chung khi đọc các nhà văn nữ, và riêng tôi thì Vòng Tay Học Trò, nhận định đã không được phối kiểm lại bằng theo dõi đầy đủ các tác phẩm khác (…) Thế nào cũng được chỉ mong sẽ có những nhà phê bình muốn làm việc phê bình cẩn thận và đúng mức.

         Đối với giới phê bình, Nguyễn Thị Hoàng có một lập trường rất rõ ràng. Chẳng những bà không tin tưởng vào công việc của các nhà phê bình thời đó mà bà còn có một thái độ chỉ trích. Trong buổi nói chuyện với sinh viên năm 1971, bà phân biệt 4 hạng người phê bình : hạng người phê bình « già trầu » nhìn tác phẩm với những kiến thức, thành khiến xưa cũ, hạng người phê bình theo lập trường đảng phái hay chính trị, hạ bệ một tác giả vì tác giả theo đối phương, hạng người phê bình theo tinh thần đồng đội, khen chê một tác phẩm tùy theo tác phẩm có ở trong băng nhóm của mình hay không, và cuối cùng hạng người phê bình ba phải miễn có được chút tiền.

         Tóm lại, Nguyễn Thị Hoàng bi quan và cho rằng không thấy ở xứ ta, vào thời đó, một lối phê bình đúng nghĩa.

V  Những yếu tố ảnh hưởng đến sáng tạo văn chương 

         Nguyễn Thị Hoàng có một thái độ tiêu cực đối với văn chương dịch, bà cảm thấy hiện tượng sách dịch như một đe dọa cho văn chương  nước nhà, khiến bà lo âu. Trước một số lượng sách dịch quá lớn, bà khảng khái lên tiếng bênh vực văn phẩm của các nhà văn thuộc mọi thế hệ, bà muốn bảo tồn văn hóa nước nhà. Nguyễn Thị Hoàng nói : Việc « nhập cảng văn chương » ồn ào, sôi nổi, đe dọa sinh hoạt văn chương trong nước. Hiện tượng sách dịch sẽ để lại dấu vết trong đời sống của những người đã chấp nhận nó.

         Theo Nguyễn Thị Hoàng, có thể chấn chỉnh tình trạng này : phía độc giả, cần ý thức sách dịch không đem cái lợi cho văn hóa nước nhà mà còn hủy hoại giá trị sáng tạo của những nhà văn tên tuổi cũng như những nhà văn trẻ muốn tham dự và khởi nghiệp. Về phần các nhà xuất bản thì nên nghĩ đến văn hóa nước nhà bằng cách bớt mưu lợi về sách dịch.

         Ở đây, cũng cần trở lại với vai trò của độc giả để hiểu rõ hiện tượng sách dịch. Vào thời đó, độc giả miền Nam đã trưởng thành, đọc sách dịch là do khao khát được biết cái mới, cái lạ của văn hóa Tây phương, là cơ hội để làm giàu thêm cái vốn tri thức của mình, và là cơ hội khám phá cái thế giới mênh mông bên ngoài. Vấn đề là cần ưu đãi sách trong nước, như Nguyễn Thị Hoàng mong muốn.

         Trái với sách dịch, Nguyễn Thị Hoàng có một thái độ hứng khởi đối với phim ảnh, bà cho rằng nghệ thuật này có thể thuận lợi cho nguồn hứng của nhà văn. Những hình ảnh, nội dung của phim có thể là khởi điểm cho một cốt truyện. Bà bị nghệ thuật điện ảnh cuốn hút, và cho biết khi viết một số truyện, bà cũng nghĩ đến trường hợp quay thành phim những truyện đó, cho nên tình tiết, câu chuyện tương đối khớp với điện ảnh như các truyện : Tiếng hát lên trời, Tình yêu, Địa ngục, Định mệnh còn gõ cửa. Khi viết bà cũng nghĩ đến khuôn mặt của diễn viên nào thích hợp với nhân vật của truyện.

         Việc sáng tạo của nhà văn tràn qua lĩnh vực điện ảnh là một điều rất bình thường ; trong văn học Pháp có trường hợp của hai nhà văn Marguerite Duras và Alain Robbe–Grillet rất điển hình, từ văn chương họ bước qua điện ảnh. Văn chương và Điện ảnh là hai nghệ thuật rất gần nhau, mặc dù một bên dùng ngôn ngữ một bên dùng hình ảnh, màu sắc để kể truyện.

         Vào thời văn học miền Nam, phong cách của Nguyễn Thị Hoàng nói lên bước tiến của người phụ nữ cầm bút đối diện với nhiều vấn đề của thời đại. Người phụ nữ cầm bút tự do, thẳng thắn phát biểu lập trường của mình về những vấn đề liên quan đến văn học ; đồng thời sáng suốt nhìn nhận những thực hiện của mình chưa đi đến đâu. Sự không hài lòng này là một động lực thúc đẩy Nguyễn Thị Hoàng vươn cao hơn trong việc sáng tạo nghệ thuật, bất chấp những khó khăn, những phê phán thuận nghịch từ bên ngoài.

Ghi chú :

  • (1) Buổi nói chuyện của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng. Tạp chí Nghiên cứu Văn học, bộ mới, số 5, 15-07-1971.
  • (2) Tạp chí Văn, phát hành ngày 16-07-1973.

BUỔI NÓI CHUYỆN CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ HOÀNG TẠI ĐẠI HỌC VĂN KHOA SÀI GÒN NĂM 1971

         Ngày 16-12-2020, IDECAF, Viện Trao đổi Văn hóa với Pháp, tổ chức tại Viện Pháp ở Việt Nam một buổi tọa đàm về chủ đề « Phụ nữ và văn chương ». Một trong những diễn giả là nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, một nhà văn nữ của văn học miền Nam. Sự xuất hiện của bà sau gần nửa thế kỷ im lặng khiến những độc giả đã đọc những tác phẩm của bà khi xưa và những độc giả trẻ ngày nay đã biết tiếng tăm của bà có phần hoan hỉ. Trong buổi tọa đàm, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng giải thích sự im lặng lâu dài của mình, và đề cập đến nhiều vấn đề mà vấn đề chính yếu là viết.

Cũng cần nhắc lại, trước năm 1975, Nguyễn Thị Hoàng là tác giả của khoảng 25 truyện dài – mà truyện đầu tay là Vòng Tay Học Trò (1966) đã gây nhiều sóng gió khi ra mắt độc giả, và cũng đã làm nên tên tuổi của Nguyễn Thị Hoàng – 5 tập truyện ngắn và 3 tập thơ. Số lượng truyện của Nguyễn Thị Hoàng khiến độc giả có xu hướng quên rằng bà khởi đầu văn nghiệp bằng những bài thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa, từ năm 1960.   

         Việc nhà văn Nguyễn Thị Hoàng ra khỏi một im lặng lâu dài để trở lại với công chúng, nói về vấn đề viết lách của mình, nhân dịp một số tác phẩm của bà được tái bản, thiết tưởng đây là cơ hội để chúng ta trở về với buổi nói chuyện của bà năm 1971, cách đây đúng nửa thế kỷ, tại Đại học Văn khoa Sài Gòn, do giáo sư Thanh Lãng tổ chức, để biết vào thời đó nhà văn Nguyễn Thị Hoàng đã sáng tác truyện như thế nào và trong hoàn cảnh nào, lập trường của bà đối với giới phê bình ra sao, v.v… (1)

         Vào những năm 60-70, giáo sư Thanh Lãng là Trưởng ban Việt văn ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Giáo sư có sáng kiến tổ chức cho các sinh viên chứng chỉ Văn chương Quốc âm, tức Văn chương Việt Nam, những cuộc tiếp xúc với một số nhà văn.

         Trong mục đích đó, chiều ngày 11-5-1971, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng được mời đến nói chuyện với anh chị em sinh viên tại giảng đường P 202 của Đại học Văn khoa.

         Để mở đầu, giáo sư Thanh Lãng chào mừng « nữ tiểu thuyết gia Nguyễn Thị Hoàng », và nói rõ đây không phải là một cuộc diễn thuyết của nhà văn mà là một cuộc nói chuyện trong khuôn khổ của chương trình Nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại của chứng chỉ Văn chương Việt Nam.

         Để công việc nghiên cứu của sinh viên được sống động, giáo sư Thanh Lãng muốn bắc một cây cầu giữa Đại học Văn khoa và giới làm văn chương nghệ thuật bên ngoài, một cây cầu giữa giới trẻ, giới đang hướng về việc làm văn chương nghệ thuật trong tương lai, và những người hiện đang làm văn chương nghệ thuật.

         Khi giới thiệu nhà văn Nguyễn Thị Hoàng với anh chị em sinh viên, giáo sư Thanh Lãng nói : « … chúng tôi cầu mong, chờ đợi đón nhận, được nghe một kinh nghiệm, một trường hợp sống động về công trình sáng tác, viết lách, xây dựng một tác phẩm tiểu thuyết. »

Sau lời giới thiệu của giáo sư Thanh Lãng, nhà văn Nguyễn Thị Hoàng khởi đầu buổi nói chuyện :

Thưa các anh các chị,

         Trước hết tôi xin chân thành cám ơn linh mục Thanh Lãng đã dành cho tôi một giờ hôm nay để tiếp xúc với các anh chị. Sau nữa, tôi xin quý mến cảm ơn các anh chị đã bớt thời giờ học hành, chờ đợi và tiếp đón tôi tại đây. Cuối cùng, tôi xin dành một lời cám ơn nhỏ cho phần người đàn bà gia đình của tôi đã cho phép người đàn bà viết lách đến nói chuyện với các anh các chị. Tôi cũng thành thực xin lỗi nếu đã và sẽ làm các anh các chị thất vọng phần nhìn thấy cũng như nghe nói hôm nay. (Vừa có mấy chị nói, khi tôi đến, đọc tôi quá nhiều nhưng chưa trông thấy tôi bao giờ, vậy các chị đến để nhìn thấy, chứ không hẳn chỉ nghe nói).

         Trước khi nói đến phần viết lách cũng như trường hợp sáng tác, tôi xin giới thiệu vắn tắt vài điểm về cá nhân tôi, đã sống thế nào, những nguyên do hay ảnh hưởng trong việc sáng tác, tương quan giữa đời thực và tác phẩm.

         Tôi sinh ở Huế, trải qua một thiếu thời quá đẹp ở đó, cho đến năm 57 vào Nhatrang, với di chuyển của gia đình, học ở đó vài năm, rồi vào đại học Văn khoa và Luật khoa ở Sàigòn. Tôi không may mắn như các anh chị được học hết những năm đại học. Sự không may tự ý chọn lựa. Tôi chỉ học một vài năm lỡ dở ở mỗi phân khoa, rồi đi làm, đi dạy học. Cuối cùng là con đường không làm cho ai và cũng chẳng hợp tác với nơi nào. Qua vài năm thử thách, con đường riêng tìm thấy đó lôi cuốn và ràng buộc tôi lại lâu dài. Tôi sẽ không bao giờ ra khỏi con đường lựa chọn, là dù thế nào cũng nên thảnh thơi và tự do thoát ra ngoài những công việc có tính cách công thức và khuôn khổ cố định của xã hội.

         Chính cuộc sống tự do nhưng nhiều khó khăn trên đã ảnh hưởng phần nào đến viết lách của tôi. Ngoài phản ảnh một phần đời sống và tâm hồn mình, tác phẩm tôi không do một động lực nào bên ngoài xã hội hay ảnh hưởng từ văn chương ngoại quốc như một vài người đã lầm tưởng. Vì có những người đã phê bình tôi, thay vì nghiên cứu để phê bình, chỉ đọc lướt qua như một lối kiểm kê, chỉ nhận xét theo thành kiến hay dụng ý và mục đích riêng của bài phê bình mà không rõ gì về người viết và tác phẩm. Vả lại, tôi nghĩ là khi viết một tác phẩm gởi ra cho đám đông, tùy trình độ và tâm hồn, ai cho đi được gì sẽ đón nhận đúng mức chừng đó, còn phê phán, một lối phê phán đúng nghĩa thì không thể tìm kiếm thấy và đòi hỏi được ở xứ ta. Có thể nhận diện được bốn loại người phê bình tiêu biểu.

– Nhà phê bình già trầu, nghĩa là một người mang tất cả kiến thức và thành kiến của những thời đại nào trước, đúc lấy một khuôn mẫu duy nhất cho phê bình, nhìn bất cứ tác phẩm và tác giả nào cũng dưới cặp kính cũ kỹ của mình. Những tiêu chuẩn và mục đích của bài phê bình do đó tất nhiên theo khuôn thước của họ, của thời đại đã qua, không ăn nhập gì với những biến tính và biến thể của tâm hồn hay đời sống đang luân lưu trước mặt.

– Nhà phê bình theo lập trường của đảng phái hay chính sách. Họ là những người đứng trong đoàn thể, phê bình có nghĩa là đập một người nào, không phải vì cá nhân đó, mà vì cá nhân đó đứng vào trong thành phần của đối phương.

– Nhà phê bình mang tinh thần đồng đội, phê phán một người nào, khen hay chê, tuỳ ngưòi đó có ở trong băng, trong nhóm của mình hay không. Có nghĩa là bốc hay đập một người nào, mục đích là duy trì giá trị những cây viết trong băng nhóm mình, và tìm cách triệt hạ đối thủ, nếu cảm thấy đối thủ đó có cơ bay lên, làm lu mờ tên tuổi và giá trị của người trong băng nhóm mình.   

– Loại thứ tư thì không vì đảng phái, lập trường phe nhóm, tiêu chuẩn đạo đức hay nhân danh một cái gì cả, ngoài những thúc đẩy giản dị và hồn nhiên là nhu cầu một tô phở, một chút tiền đi chơi, hút sách, hay gì gì đó, tóm lại, ai thuê viết thì viết, đúng như ý muốn của người ra chủ đề, bốc hay đập người này, người nọ, đó là anh phê bình ba phải.

– Loại thứ năm là một nhà phê bình có đủ kiến thức, lương tâm, điều kiện làm việc phê bình đúng mức. Nhưng loại đó không có. Hay nếu có, vì lẽ này hay lẽ khác, họ không hề đặt bút phê bình một ai trên giấy.

         Cho nên không thể đặt vấn đề phê bình quanh một tác phẩm, có nghĩa là tác giả cũng như quần chúng không tiện căn cứ vào bài phê bình để đánh giá một tác phẩm. Vấn đề còn lại chỉ là thưởng thức (ở những người nhìn ngắm được tinh thần hay nội dung tác phẩm) và chưởi bới (ở những nhà phê bình kiểu kể trên).

         Tôi vẫn ngạc nhiên khi có người đọc một bài phê bình nào đó về tôi và hỏi dò ý kiến hay phản ứng. Bởi vì tôi không hề theo dõi, trừ phi có người nhắc nhở hay tìm bài đem cho tôi đọc. Giữa những người phê bình và người viết luôn luôn là một khoảng cách mênh mông. Tôi không thể nào đọc hiểu họ, cũng như họ đã không đọc và hiểu tôi vậy.

         Về phần ảnh hưởng thì chúng ta cũng nên nhắc đến phim ảnh, cũng như du lịch, là nguồn ảnh hưởng và niềm hứng khởi cho sáng tác. Nhưng loại phim có nội dung giá trị quá hiếm hoi, như vài ba phim của Fellini chẳng hạn. Hình ảnh và nội dung của phim vẫn khêu gợi được vài ý tưởng mong manh làm khởi điểm le lói cho một cốt truyện nào đó.

         Tác phẩm tôi từ 1966 đến nay gần 30 cuốn, gồm 20 cuốn đã in và gần 10 cuốn đang in hoặc đang đăng trên các báo. Tôi khởi đầu viết khoảng 25 tuổi, với cuốn đầu tay là Vòng Tay Học Trò. Đó chỉ là cuốn truyện tình cờ, ngoài những tác phẩm viết theo chương trình và dự định.

         Càng viết nhiều càng cảm thấy thất vọng và nên làm việc nhiều, nhanh và vẫn chưa đạt được phần nhỏ nào trong những dự định lớn. Đa số những cuốn trên, vì đã viết trong những hoàn cảnh khó khăn, giờ giấc vội vàng, không đủ để được chín muồi sau một thời gian cưu mang và hàm dưỡng nó. Xem như tôi chưa được viết và viết được gì hết. Về lối viết của tôi thì quả bừa bãi, vội vàng, tuy nhiên nhờ thế, được phần nào nóng bỏng, nguyên vẹn cảm xúc và ý tưởng… Phần nhiều những cuốn đã viết hoặc đăng báo ngày góp nhặt lại, hay vừa viết vừa giao cho nhà in in dần dần cho đến khi xong sách. Chưa có cuốn nào hoàn toàn đầy đủ trước khi đăng báo hay đem in. Sở dĩ công việc kịp thời và trôi chảy là vì tôi viết được nhanh, mỗi cuốn tối đa trong vòng một tháng, nếu làmviệc liên tục. Tuy nhiên, trong thời gian một tháng, không phải tôi chỉ bỏ hết thì giờ cho việc viết lách, mà còn thường xuyên đảm đương những việc tạp nhạp khác cùng lúc với viết, như lo nhà xuất bản và bao nhiêu công việc phức tạp, nhỏ nhoi, bề bộn của đời sống gia đình như săn sóc con cái, nấu nướng, chỉ vẽ cho người làm, thu xếp tiêu nong, tính toán những việc liên hệ, xã giao phải chăng, đối đãi khách khứa…

         Những nhà văn lão thành hay những người làm việc có nguyên tắc, chuyên môn, thường sáng tác với những mẫu mực và kỷ luật chặt chẽ.

         Với một ý tưởng chính yếu, họ lập cái sườn chi tiết cho nội dung cốt truyện triển khai thành đoạn, thành chương. Họ sáng tác công phu, chừng mực, theo một giờ giấc nhất định như mỗi ngày làm việc từ giờ nào đến giờ nào, trong khung cảnh như thế nào hoặc viết tùy hứng, chỉ những lúc nào cảm thấy vui thích muốn viết.

         Với tôi, viết là công việc chính, thường xuyên hàng ngày. Những sách đã in ra chưa cuốn nào ưng ý và chuẩn bị đúng như mong muốn, mà đã phải viết vội vàng, cẩu thả, vì công việc thường bị thúc bách. Tôi không thể làm việc tùy hứng mà cũng không ép buộc giờ giấc nào mà mỗi ngày viết đều đều, tối đa là 40 trang đánh máy, ít nhất cũng được 20 trang. Với máy chữ, mỗi ngày tôi lóc cóc liên miên, theo thói quen, không viết là cảm thấy hao hụt, thiếu thốn, mất mát một điều gì, bất kể giờ giấc. Cũng chen kẽ những ngày lười biếng, không muốn làm bất cứ gì, nghĩ đến điều gì. Khi viết, không phải trang nào cũng đều tay, bởi nhiều lúc chán nản, buồn bực ghê gớm. Trái lại, nhiều khi hăng say mê mải, không phải tùy thuộc vào những điều phải viết mà do trạng thái tâm hồn bất thường chịu ảnh hưởng từ những điều kiện sinh hoạt hàng ngày.

         Trước khi khởi đầu một truyện nào, tôi nuôi nấng một ý tưởng cho nó lớn dần, như mang thai đứa con. Nó lớn dần cho đến khi có đủ hình hài thành câu truyện ở vào cái thế không viết không được, cứ ấm ức như chịu đựng một thứ mụt cương mủ, nhức nhối không được nặn chích đi cho vỡ toang nên đau đớn, bứt rứt vô cùng. Khi câu truyện đã chín muồi trong ý nghĩ thì ý muốn được thực hiện ngay tức khắc, những ý tưởng và nhân vật như vậy. Đã ngồi lại viết, ý tưởng kia nhập vào xác hồn mình, ngồi như một người bị đồng nhập, không còn hay biết đến xung quanh, bất chấp cả mọi tiếng ồn ào và sinh hoạt khác, cứ đánh máy triền miên không ngưng nghỉ, vội vã, cuống quít không kể cả những lỗi sai khi đánh máy, miễn là trút ra được những gì căng đầy trong trí, cùng lúc, cho thật nhiều, thật nhanh. Càng nhiều, càng nhanh, càng kịp tốc độ ý nghĩ càng tốt. Tôi như mê đi khi viết nên không nhận ra mình đang viết, đang nghĩ gì. Chỉ khi đọc lại sách đã in, cảm tưởng như đọc của một người nào khác. Tôi chỉ đọc lại khi đã in, và đánh máy xong không đủ thì giờ xem lại một đoạn hay một tác phẩm toàn thể mà phải đưa ngay cho nhà in rồi. Cho nên mỗi lần đọc lại một truyện mới in là kinh hoảng vô cùng. Kinh hoảng vì mình đã làm việc với tốc độ dữ dội, và vì vậy bừa bãi quá, mà kết quả lại bất ngờ… Nghĩa là kỳ tới sẽ viết kỹ lưỡng hơn, nhưng giờ giấc và công việc hàng ngày cứ lôi cuốn theo dòng không đổi. Cho nên một thì giờ rảnh rỗi đủ để viết một truyện theo cách cuộc và nguyên tắc mong muốn không bao giờ có. Đành chấp nhận hủy bỏ tất cả mọi nguyên tắc. Và rồi thành thói quen, đến có theo một qui luật viết nào đó, thì không thể làm ra gì được nữa.

         Một cuốn truyện ba bốn trăm trang không đáng kể bằng giây phút bắt gặp một ý tưởng khởi điểm nào đó, mầm mống và nền tảng cho nội dung cuốn truyện. Phần cảm hứng để đón nhận cái hạt đầu tiên nảy mầm thành cuốn sách không phải ngẫu nhiên mà có. Bởi thế nhiều khi từ 1966 đến giờ, có khi hàng năm tôi không viết một chữ nào, có khi trong vòng hai ba tháng viết hai ba cuốn. Từ đầu năm tới nay, sau chuyến đi Hội nghị ở Đài Loan và Đại Hàn tôi viết quá nhiều, đến năm cuốn một lúc và hiện có sáu cuốn đang in. Trong thời gian này, sở dĩ đã viết được nhiều vì tìm thấy mầm mống ý tưởng kia để cưu mang thành tác phẩm. Không bắt gặp được thoáng mầm mống ý tưởng chính yếu kia, dù có viết cả ngàn trang thì truyện cũng chỉ là khoảng không và sách cũng chỉ là mớ giấy lộn mà thôi.

         Tôi xin dẫn chứng để anh chị nào đã mất hay sẽ mất thì giờ đọc sách tôi có thể phân biệt được hai loại :

– Loại tượng trưng với nội dung nặng nề nghiêng về đời sống tâm thức và vô thức như « Ngày qua bóng tối », « Trời xanh trên mái cao », một số truyện ngắn mà người đọc thường than là đọc không hiểu gì hết.

– Loại tả chân với những tâm trạng và mẫu đời qua các khía cạnh chiến đấu như : « Cho đến khi chiều xuống », « Tiếng hát lên trời », « Tiếng chuông gọi người tình trở về », « Vực nước mắt »…

         Tôi không nhớ rõ những gì đã viết, tên truyện và thời gian sáng tác theo thứ tự. Tôi viết như thở ra, và khó mà đếm nhớ được những nhịp thở ra của mình… Dù cuốn truyện dày hay mỏng, điều mong muốn là vẫn diễn tả đủ và đúng phần ý tưởng chính yếu với những nhân vật và khung cảnh là nền tảng sân khấu. Phần ý tưởng chính yếu đó là tia ánh sáng duy nhất chiếu dọi lên toàn thể phần sân khấu kia, vì tia sáng quá mong manh nên ít người tìm thấy. Người ta chỉ nhìn thấy ở các tác phẩm tôi phần sân khấu, gồm nhân vật và khung cảnh, và ít khi nhận ra chút le lói ánh sáng ấy. Trong khi chính tôi nếu không có chút ánh sáng kia chiếu lên sân khấu, tôi không thể nào tạo dựng nổi toàn bộ một sân khấu tiểu thuyết.

         Tôi chỉ viết lúc nào cần mà lúc nào cũng cần trên thực tế cũng như tinh thần, nên lúc nào cũng phải viết. Ngồi lại với một xấp giấy, giấy phải nhiều và sạch, cứ đánh máy cho đến khi mỏi tay hay một công việc khác quá cấp bách kêu gọi mới có thể dừng lại được. Việc viết đối với tôi giản dị, bất kể ngày đêm. Mọi người đều quan niệm viết bất cứ gì, tình cảm, tư tưởng đều đòi hỏi những điều kiện như khung cảnh thích hợp với trạng thái tâm hồn lúc viết, có đầy đủ thì giờ và thoát hẳn ra ngoài mọi công việc thực tế, không bị điều gì ám ảnh hay quấy rối. Tóm lại, khi viết phải được rảnh rang, thanh tĩnh, ngoài khung cảnh như trong tâm hồn.

         Tôi viết trong những điều kiện trái ngược trên. Nếu bị giam giữ trong ngôi nhà xinh đẹp hay khung cảnh nên thơ tách rời khỏi đời sống gia đình và sinh kế, tôi sẽ không viết được nổi một trang nào. Tôi chỉ viết được nếu bị thúc bách, và có nhiều công việc phải làm cùng một lúc. Càng có nhiều việc làm cùng một lúc, càng viết được nhiều, thiếu không khí làm việc, náo nhiệt, rộn ràng, thúc đẩy, nhất định là tôi không viết được. Những việc song song với viết lách như thế thường lại tương phản nhau, và khó chấp nhận nổi nhau : một trang tiểu thuyết lãng mạn, một món ăn đang nấu dở trên bếp, một đứa con đang khóc đòi bế, đòi ăn níu kéo quanh chân. Trẻ con vẫn thường la khóc cùng lúc với những nhân vật trong tiểu thuyết đang lên tiếng mắng nhiếc hay tự tình với nhau. Hai đám, một ngoài đời, một trong tiểu thuyết, đôi khi đánh lộn thường xuyên như thế. Khi nào cuộc giao tranh giữa hai đám người trong truyện và ngoài đời cùng đòi tôi kịch liệt chừng nào tôi lại càng bị dồn đưổi thiêu đốt, càng viết mạnh, nhanh và nhiều chừng đó, và như vậy cuộc hòa giải giữa đôi bên sẽ chóng kết thúc.

         Đúng ra, đàn bà chỉ nên làm việc bếp núc và nếu dự phần gì trong đời sống rộng lớn hơn, thì là tạo cho người đàn ông bên cạnh đủ điều kiện để họ thực hiện và chu toàn vai trò và nhiệm vụ đàn ông tùy theo cấp bực và khả năng của họ có thể thực hiện trong đời sống lớn là xã hội. Tôi muốn đóng một lúc tất cả những vai trò con người, bất kể là đàn ông hay đàn bà, có thể thực hiện và đóng góp vào đời sống. Và vì vậy, không bao giờ cảm thấy được sống đủ nếu thiếu một trong ba sinh hoạt : gia đình, xã hội, nghệ thuật. Điều khó khăn là làm thế nào cho một công việc của mình lại có kết quả tốt đẹp cho cả ba phía đó : tài chánh đầy đủ cho gia đình, ảnh hưởng tốt đẹp cho xã hội, giá trị lâu dài cho văn chương.

         Tôi không bao giờ viết một truyện suông sẻ từ đầu chí cuối. Thường phải viết ba bốn truyện một lúc, và vì vậy thỉnh thoảng phải bỏ ngang đoạn cuối của truyện này để nhảy sang đoạn khác của truyện kia, khâu vá những khoảng cách bỏ dở. Chẳng hạn, khi nhà in đến lấy bài, dở ra nếu tiêu mất trang 28, tôi phải viết lại ngay trang đã mất. Viết lại, ráp nối bằng cách đọc lại chút xíu phần cuối trang 27, phần đầu trang 29 và vá ngay đoạn mất…

         Khi viết cũng có lúc chán bỏ ngang. Như đã viết « Bóng người thiên thu », bối cảnh là Đài Loan thì những nhân vật tình tiết cảm xúc câu truyện này đánh lộn với một truyện khác là « Tình yêu, địa ngục ». Đó là trường hợp những nhân vật và ý tưởng của một truyện khác bỗng trổi lên kêu gọi thiết tha, mãnh liệt hơn những nhân vật và ý tưởng truyện đang viết. Nếu một chương nào trong « Bóng người thiên thu » hấp dẫn quá, thì các nhân vật trong đó lại đánh bạt những nhân vật trong truyện « Tình yêu, địa ngục » ra khỏi tâm trí tôi, thì « Tình yêu, địa ngục » bị bỏ rơi tức khắc… Đôi khi gặp một khúc truyện nào không thích, tôi bỏ ngang, có khi một lúc rồi tiếp tục, có khi hai ba ngày. Nhiều khi không bị nhà in thúc hối, tôi ghét cả đoạn truyện đó hàng tháng. Khúc chót của truyện thứ nhất bị bỏ, tôi sang khúc đầu của truyện thứ hai, thứ ba hay thứ tư, và cứ thế, khi cần hoàn thành thực sự một truyện nào trong thời gian hạn định thì lại phải làm lại công việc chắp vá, ráp nối, như đạo diễn làm phim. Công việc ráp nối cũng có lợi là có thể cắt bỏ bớt những khúc không ưa thích hay không ổn thỏa và thêm những ý tưởng mới nẩy mầm về sau. Tính tham lam, tôi chỉ thích thêm và ít khi chịu bớt… Khi nhà xuất bản cần cuốn nào, tôi chỉ đưa cho họ khúc có sẵn của mỗi cuốn. Trong thời gian kiểm duyệt, tôi vá ráp thêm những đoạn còn thiếu. Đó là cách vừa làm được nhiều, vừa đúng hẹn. Rồi thì mọi chuyện đã trở thành thói quen, tôi thích làm việc cách đó, không thể khác nữa, dù có được điều kiện để thay đổi cách khác.

         Tôi nói không đâu vào đâu đã nhiều. Bây giờ xin các anh chị cứ nêu câu hỏi, nếu cứ nói mãi lung tung về viết lách, nhà cửa, bếp núc như tôi, có mấy ngày cũng không đến đâu hết.

Linh mục Thanh Lãng tiếp lời :

– Xin cám ơn nữ tiểu thuyết gia Nguyễn Thị Hoàng đã cho chúng tôi kinh nghiệm quý báu về công việc viết lách, nhất là viết trong những trường hợp hết sức đặc biệt. Bây giờ để công việc học hỏi được linh động hơn và cũng là ý muốn của chính nữ tiểu thuyết gia, tôi mời các bạn có câu hỏi xin nêu ra.

Người ghi : Nhuệ Hương

  • (1) Nguồn : Nội dung buổi nói chuyện của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng được trích từ tạp chí Nghiên cứu Văn học, Năm thứ nhất, Bộ mới số 5, ngày 15 tháng 7 năm 1971. Toà soạn : 386/14 đường Trương Minh Giảng Sài Gòn.

HIỆN TƯỢNG LIÊN VĂN BẢN TRONG TRUYỆN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

Ở Việt Nam, vào thời đổi mới, tức từ năm 1986 trở về sau, sáng tạo văn chương không còn bị những tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ràng buộc, kiềm chế ; cho nên sáng tạo văn chương đã dần dần bay bổng theo cảm hứng của mỗi nhà văn. Trong bối cảnh đó, tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp chẳng bao lâu đã rạng rỡ trên văn đàn với những tập truyện như : Mưa Nhã Nam (1999), Như Những Ngọn Gió (1999), Thương Cả cho Đời Bạc (2000), v.v… Sâu sắc nhất là những truyện về xã hội Việt Nam đương đại, những truyện có tính lịch sử, huyền thoại.

Cho đến nay, những phương pháp phê bình văn học của Tây phương còn ít được ứng dụng vào những tác phẩm văn học Việt Nam. Nhân đọc truyện của Nguyễn Huy Thiệp, xin thử có cái nhìn từ góc độ liên văn bản về hai truyện ngắn : Huyền thoại phố phườngThiên văn.

Nhưng trước khi đi vào hai truyện này, thiết tưởng cũng cần đặt câu hỏi : thuyết liên văn bản là gì ?

Nói một cách đơn giản thì theo thuyết liên văn bản, một văn bản viết lại một văn bản khác, và liên văn bản là toàn thể những văn bản đã có trước mà một văn bản làm dội lại. Theo Julia Kristeva, người đã đưa thuyết liên văn bản vào ngành lý luận văn học ở Pháp, với cuốn Séméiotikè (1969), thì bất cứ văn bản nào cũng là giao điểm của nhiều văn bản cùng thời hay đã có trước, nó là sự đọc lại, làm rõ nét, cô đặc hóa, thay đổi vị trí và là bề sâu của những văn bản đó. Đó là một hiện tượng đi kèm với sáng tạo văn chương. Nhìn xa hơn, thì thuyết liên văn bản bắt nguồn từ những công trình nghiên cứu của nhà lý thuyết văn học Nga Mikhaïl Bakhtine (1895-1975). Bakhtine cho rằng mọi phát biểu có tính văn chương đối thoại với những phát biểu văn chương khác ; chính nhờ sự tác động qua lại đó mà văn bản của một cá nhân có ý nghĩa và có giá trị. Bakhtine phủ nhận tính tự chủ, tính độc nhất của một văn bản.

Trở lại hai truyện của Nguyễn Huy Thiệp : Huyền thoại phố phườngThiên văn, trong hai truyện này diện mạo của liên văn bản rất rõ nét.

Huyền thoại phố phường kể chuyện một thanh niên nghèo tên Hạnh, sống giữa thủ đô xa hoa, đầy cám dỗ. Hạnh khao khát sự giàu có và luôn luôn bị đồng tiền ám ảnh. Một hôm có người bạn tên Phúc đưa Hạnh đến nhà bà Thiều, chị của Phúc, nhân dịp lễ sinh nhật của Thoa, con gái bà. Ông Thiều vắng mặt vì đang ở nước ngoài. Bà Thiều vốn là một bà bán bún ốc, nay trở nên giàu có nhờ buôn vàng. Trong bữa tiệc, Phúc đưa ra hai vé số, tặng cô cháu một vé và Hạnh một vé. Nhân dịp rằm, bà Thiều nảy ra cái ý đem vé số của con gái lên chùa xin lộc. Về nhà Hạnh trăn trở, nghĩ đến việc bà Thiều đi chùa xin lộc và dâng lễ vật để được trúng số. Hạnh bỗng có cái ý nghĩ rằng vé số của bà Thiều được thần thánh phù hộ, thế nào cũng trúng số độc đắc, còn con số trên vé của anh ta chỉ khác số vé kia một đơn vị, sẽ không trúng. Anh ta bèn mưu toan đánh tráo vé số của mình mà anh ta cho là bất hạnh với cái vé số của mẹ con bà Thiều. Trước đó anh ta cũng đã để ý đến cái bệnh buồn chán của hạng nhà giàu nơi mẹ con bà Thiều, một căn bệnh có thể khai thác để đạt đến mục tiêu của anh ta.

Và đây là cảnh Hạnh cướp đoạt cái vé số mà anh ta tin là vé độc đắc, bằng cách dùng thủ đoạn quyến rũ, chinh phục :

Bà Thiều nằm trên đi-văng, mặc bộ đồ xoa mỏng dính, mắt ngó trông quầy bán đồ mỹ phẩm nữ trang […] Bà Thiều lơ đãng lật một tập ảnh khỏa thân nước ngoài. Cách giải trí này bà vẫn ngang nhiên phô ra với khách để chứng minh rằng đầu óc của bà tự do tân tiến và ghét thói đạo đức giả cổ hủ lỗi thời.

         Có tiếng gõ cửa. Bà Thiều nhỏm dậy nhìn ra.

– Ai đấy ?

– Hạnh đây… Tiếng ho húng hắng có vẻ bồn chồn.

Bà Thiều mở cửa. Hạnh mặc bộ đồ khá diện bước vào. Như thể tiện tay, y cài chốt cửa ra vào. 

– Đi đâu mà bảnh thế cháu ?

– Nhớ cô quá !  – Hạnh cười cầu tài. Ánh mắt ve vuốt người đàn bà – Cô có một sức thu hút mọi người đến khiếp ! […]

Hạnh hỏi :

– Cô đi lễ chùa về có mệt không cô ?

– Chẳng mệt tí nào ! -Bà Thiều vui vẻ – Cứ đi lễ chùa là cô lại khỏe như vâm mới lạ. Thần thánh cũng linh thiên thật ! Ngay cả đường đi chùa Hương cheo leo là thế mà năm nào cô cũng đi đấy nhé. Cứ ngậm ít sâm, vừa đi vừa nam mô niệm Phật phù hộ độ trì…

– Phật sẽ phù hộ cô thôi… Hạnh cười khe khẽ, y đang suy nghĩ rất lung. Thần kinh y căng như sợi giây đàn, những sợi gân xanh hai bên thái dương giần giật. Chiều nay mở số. Hạnh không thể nào chần chừ được nữa. Hạnh đoán chắc chiếc vé ấy trúng. Đây là cơ hội giúp mình thoát khỏi cảnh nghèo. « Dứt khoát, Hạnh nghĩ. Ta phải lập tức trở thành tình nhân của mụ dù bằng mọi giá. Thời giờ thật chật chội quá. Cần đổi bằng được chiếc vé lập tức bây giờ… »

– Cô độc đáo lắm ! Hạnh thả mồi câu. Những người phụ nữ độc đáo bây giờ rất hiếm !

– Thế cô độc đáo chỗ nào ? Bà Thiều thú vị và khép vạt áo ra phía đằng trước.

– Cô độc đáo trên toàn cơ thể. Hạnh nói và bỗng dưng giọng đổi khác, đôi mắt xoáy vào bờ vai tròn lẳn của người đàn bà, hai bên cơ hàm tự dưng cứng lại. Trông cô hấp dẫn như một thiếu nữ đương thì.

         Bà Thiều hơi hoảng hốt. Điều này giống như linh cảm của con gà mái bị con gà trống ngổ ngáo săn đuổi. Tuy nhiên, ý thích mơn trớn và thích phiêu lưu háo hức sống dậy trong lòng bà. Dục vọng trỗi lên thành một động tác bất cẩn : chiếc khuy bấm nơi ngực áo tuột ra.

         Hạnh chồm hẳn dậy và xô người đàn bà ngã xuống đi-văng.

         Bà Thiều rên rỉ. Ý thức phẩm giá khiến bà có những cử chỉ chống cự yếu ớt.

         Bà Thiều nhắm mắt, hoàn toàn mất vẻ tự chủ. Hạnh thở khò khè, y hỏi bằng một giọng nói gần như van lơn.

– Chiếc vé xổ số đâu rồi ?

Bà Thiều khựng lại, bà không hiểu ngay được câu hỏi ấy.

– Chiếc vé xổ số đâu rồi ? Hạnh hơi quát lên, giọng đanh lại như tiếng kim loại va đập vào nhau.

Phải đến mấy phút bà Thiều mới hiểu ra được câu hỏi của Hạnh và hiểu ra được tình thế bi kịch của bà.

– Con Thoa để trong chiếc ví xách tay của nó ! Bà Thiều nói như nghẹn ngào và nỗi xấu hổ ê chề choán lấy người bà khi bà thấy Hạnh rời khỏi đi-văng, đứng lên thẫn thờ như người mất trí []

Mọi việc diễn ra chỉ trong nháy mắt. Hạnh sửa quần áo rồi luồn ra ngoài không nói năng gì [].

         Bà Thiều đứng dậy lấy quần áo mặc vào người [] (tr.27-31).

Cảnh tượng trên đây nhắc nhở một cảnh tượng tương tự trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Xuân Tóc Đỏ, nhân vật chính trong truyện này, là một tên ma cà bông, vô giáo dục, vô lương tâm, nhờ vận may và những mánh khóe bịp bợm, nó ngang nhiên bước vào xã hội thượng lưu. Nó sắp làm lễ thành hôn với cô Tuyết, một thiếu nữ quen sống trong nhung lụa. Một hôm bà Phó Đoan, một dâm phụ ẩn sau cái danh hiệu thủ tiết với hai đời chồng, bắt gặp Xuân Tóc Đỏ đang âu yếm cô Tuyết, cháu của bà, trong phòng khách nhà bà, bà nổi cơn thịnh nộ, đuổi cô Tuyết ra khỏi nhà. Xuân Tóc Đỏ liền bắt đền bà :

Bà Phó Đoan ngẩn người ra như người bằng gỗ. Lúc ấy, vì vừa ngủ dậy, bà chỉ có mặc quần áo ngủ mỏng manh, nó có thế lực làm cho thân thể bà lại lộ ra hơn là chủ nghĩa khỏa thân. Đương lúc rạo rực, đương cáu đến cực điểm, lại thấy trước mặt mình cái cảnh tượng khiêu gợi ấy, Xuân Tóc Đỏ chẳng nghĩ ngợi gì nữa, bèn bắt đền cái sự thiệt hại cho mình bằng cách ôm xốc lấy vị tiết phụ đáng kính trọng ấy !

         Rất tiếc cho cái công thủ tiết với hai đời chồng của mình, bị lôi kéo đến cái đi văng, bà Phó Đoan cứ phản đối một cách rất cương quyết bằng cách khẽ kêu :

–  Ơ kìa ! Hay chửa kìa ! Ơ hay ! Ơ hay !

Nhưng thằng Xuân Tóc Đỏ của chúng ta thì nào có biết gì là nghĩa lý, là đạo đức nữa ! Bưng tai giả điếc, nó cứ nhất định bắt đền. Từ đây trở đi, bà kia cứ khẽ kêu như một tiết phụ xứng đáng trong lúc bị xúc phạm.

– Ôi giời ơi ! Người ta giết tôi ! Người ta cưỡng bức tôi !

Bên ngoài, lúc ấy có tiếng kêu : « Em chã ! Em chã ! » Rồi thấy hình như cậu Phước chạy huỳnh huỵch xuống thang. Bà Phó Đoan ngừng kêu để nói :

– Cậu ấy xuống tìm vú em để vòi đấy chứ quái gì !

Rồi bà lại kêu tiếp cho sự chống cự quyết liệt khỏi gián đoạn :

– Người ta giết tôi ! Ối làng nước ơi ! Thế này có khổ tôi không ? Ai cứu tôi với !

Năm phút sau nó ngắn ngủi như một cái tích tắc đồng hồ, chợt thấy có tiếng gõ cửa. Hai người này vội chỉnh đốn y phục, chạy xa nhau, mỗi người ngồi một ghế ở hai góc phòng, rồi bà Phó Đoan dõng dạc bảo :

– Cứ vào. (tr. 284-286)

Cũng như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy chuyện xảy ra trong phòng khách, trên một chiếc đi-văng. Phòng khách của bà Thiều có thể là phía sau tiệm vì bà đang trông quầy hàng. Và chuyện chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc.

Vũ Trọng Phụng : Năm phút sau nó ngắn ngủi như một cái tích tắc đồng hồ.

Nguyễn Huy Thiệp : Mọi việc diễn ra chỉ trong nháy mắt.

Việc chọn lựa và cách miêu tả nhân vật đều như nhau. Trong hai truyện đều có một thanh niên ngổ ngáo xúc phạm một người đàn bà luống tuổi. Tuy thế, động cơ thúc đẩy hai thanh niên trong việc cưỡng bách hai người đàn bà không giống nhau : Xuân Tóc Đỏ vì tình dục, Hạnh vì tiền. Người đàn bà luống tuổi là một người giàu có, đa dâm, nhưng ẩn giấu dục vọng sau những quy định của xã hội : tiết hạnh của bà Phó Đoan được cái tiếng Thủ tiết với hai đời chồng bảo đảm, phẩm giá của bà Thiều được việc đi lễ chùa, tụng kinh, niệm Phật làm nên một thành trì kiên cố. Cả hai ăn mặc khêu gợi : bà Phó Đoan vừa ngủ dậy chỉ có mặc quần áo ngủ mỏng manh, nó có thế lực làm cho thân thể bà lại lộ ra hơn là chủ nghĩa khỏa thân, bà Thiều thì nằm trên đi-văng, mặc bộ đồ xoa mỏng dính.

Đối với hai người đàn bà, việc xảy đến rất bất ngờ, và chiếc đi-văng tạo điều kiện dễ dàng cho sự cám dỗ : bà Phó Đoan bị lôi kéo đến cái đi-văng, bà Thiều bị xô ngã xuống đi-văng. Bà Phó Đoan không ngớt kêu khe khẽ, bà Thiều rên rỉ, chống cự yếu ớt, mất tự chủ. Cuối cùng Xuân Tóc Đỏ và bà Phó Đoan vội chỉnh đốn y phục. Hạnh sửa quần áo, còn bà Thiều đứng dậy lấy quần áo mặc vào người.

Trong hai cảnh đều có một thiếu nữ làm nhân vật phụ vắng mặt : trong Số Đỏ cô Tuyết bỏ đi trước khi sự việc xảy ra ; trong Huyền thoại phố phường, cô Thoa, con gái bà Thiều, xuất hiện sau khi sự việc đã kết thúc.

Những yếu tố trên đây : không gian, thời gian, nhân vật và cách dàn dựng cảnh làm nổi bật tính chất liên văn bản của Số Đỏ đối với truyện Huyền thoại phố phường.

Truyện thứ hai của Nguyễn Huy Thiệp mang tựa đề Thiên văn, kể một người khách xuống đò để sang sông. Nhưng đò không có người chèo, không có mái chèo. Bến sông vắng người. Khách lấy thức ăn mang theo ra ăn, rồi nghỉ trưa trên đò. Chiều xuống. Mưa rơi nặng hạt, sấm sét trên trời. Khách vất vả cố đưa chiếc đò qua bên kia sông. Rồi khách xuống khỏi đò và lẫn trong đêm tối.

Hình ảnh người khách ở bến đò trên đây làm liên tưởng đến hình ảnh một người khách khác cũng ở một bến đò, trong truyện Ngày gặp gỡ trích trong Chân trời của Hồ Dzếnh. Cuốn Chân trời cũ gồm nhiều tự truyện trong đó tác giả kể chuyện về tuổi thơ và về gia đình của mình. Trong Ngày gặp gỡ, Hồ Dzếnh kể cha của ông, người gốc Trung Quốc, trong một chuyến tha hương lưu lạc đã dừng lại bên bờ sông Ghép, vào một buổi hoàng hôn. Khách ngồi trên cỏ, lấy thức ăn trong một gói vải ra. Ăn xong khách nằm nghỉ. Đêm xuống. Có tiếng hát một cô lái đò đến gần. Khách gọi đò và lên đò ; đêm hôm đó khách ngủ nhờ nhà cô lái đò. Đó là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa cha và mẹ của Hồ Dzếnh.

Thiên vănNgày gặp gỡ có nhiều điểm trùng hợp về hình tượng nhân vật, không gian, thời gian và về cách kết thúc truyện. Trong hai văn bản đều có một người khách lạ từ phương xa đến bến đò và tìm cách qua sông. Hình dáng người khách được tô đậm : cách ăn mặc, hành lý trên tay, cách ăn lương thực mang theo.

Trong Ngày gặp gỡ của Hồ Dzếnh, người khách tay xách một gói vải xanh và va ly, và đầu chụp chiếc mũ rơm đã vàng ỏng. Khách mặc một bộ quần áo bằng lĩnh Quảng Đông, nguyên màu đen nhưng sau khi trải nhiều phong trần, đã đổi sang màu xám kệch […] Từ đằng xa, những gợn lụa phơ phất như những gợn gió trùng dương. (tr. 10)

Người khách trong Thiên văn của Nguyễn Huy Thiệp mặc bộ đồ chàm xanh, tay nải khoác vai.

Trong khi chờ qua sông, hai người khách đều ăn, và cách ăn được tả tỉ mỉ :

Ngày gặp gỡ :

Khách ngồi xuống vệ cỏ […] tháo cái gói vải từ bao lâu vẫn đeo ở tay, lấy trong đó ra một gói cơm nắm. Rồi không dao, không đủa, khách bẻ ngoắt nửa nắm cơm, đưa lên miệng, trong khi mấy ngón tay lần gỡ từng miếng cá khô. Đôi lúc khách ngừng nhai, chép miệng cho thấm xuống đáy lòng cái hương vị đậm đà của bữa cơm lưu lạc.

Chỉ sau mười phút, không còn một miếng cơm, một khúc cá nào sót lại trên mảnh lá chuối héo. Tất cả lương thực ngọt ngào trôi qua cổ họng, đảo lộn trong cái dạ dày vô bệnh, để biến thành những giòng máu hùng cường luân lưu nuôi mạch sống, và nuôi lớn mãi cái chí nguyện giang hồ. (tr. 12)

Thiên văn :

Khách lôi ở tay nải ra một miếng lương khô […] khách nhai trệu trạo, đôi mắt đăm đăm nhìn dòng nước.

Khách ăn rất lâu, có vẻ như thể ăn dè. Hay đây là miếng lương khô cuối cùng ? Hay trong tay nải vẫn còn lương khô nhưng chặng đường đi còn xa ? (tr. 160)

Hai người khách cùng có một cử chỉ :

Ngày gặp gỡ :

Ăn xong, khách xoa tay đứng dậy, bước xuống bến sông, rửa mặt và vốc nước uống. (tr. 12)

Thiên văn :

Khách cúi người bên mạn đò, vốc nước rửa mặt. (tr. 162)

Ăn xong cả hai đều nghỉ, cách nằm của họ như nhau :

Ngày gặp gỡ :

Rồi lại trở lên nằm, đầu gối trên bọc hành lý […] Khách nằm rất bình tĩnh, tay chân duỗi thẳng, mắt hướng lên không gian, tâm thần nhập định. (tr. 12)

Thiên văn :

Lựa một thế dễ chịu, khách duỗi chân, gác đầu lên tay nải, dim mắt lại. (tr. 161)

Không gian trong hai văn bản là một bến đò vắng người, làm nổi bật sự bơ vơ, lạc lõng của nhân vật. Thời gian trong Ngày gặp gỡ là từ hoàng hôn đến đêm tối và trong Thiên văn : từ buổi trưa nắng gắt đến đêm tối. Chuyến sang sông của người khách Trung Quốc trong Ngày gặp gỡ được an toàn bên cạnh cô lái đò. Trái lại, người khách trong Thiên văn gặp mưa to gió lớn, sấm sét vang trời, và một mình phải chống chọi với bao nguy hiểm. Nhưng cuối cùng hai người khách đều sang được bên kia sông và cùng đứng trước một cảnh đêm đầy sao.

Ngày gặp gỡ :

Trời quang lấp lánh sao, hứa hẹn một đêm phẳng lặng. (tr. 12)

Thiên văn :

Khách thở dài, ngước mắt nhìn trời. Đêm xuống. Những ngôi sao mọc lên rất nhanh trên nền trời trong vắt. (tr. 167)

Hai văn bản kết thúc bằng hình ảnh cô lái đò, nhưng ở đây Nguyễn Huy Thiệp đã tách xa hẳn Hồ Dzếnh, sự rời xa đó đã bắt đầu ngay trong cách tả nhân vật ở đầu truyện. Người khách của Hồ Dzếnh có những nét cụ thể : chiếc trán nhỏ nhưng nhô ra một cách bướng bỉnh, đôi mắt sắc như dao, nhìn vật gì thì như thu hút vật ấy. Nét mặt nói lên ý chí người khách không dễ bị ảnh hưởng của cảnh sông nước thê lương. Người khách của Nguyễn Huy Thiệp mặc bộ đồ chàm xanh và tay nải khoác vai, nhưng độc giả không biết gì về diện mạo, trái lại tâm trạng của khách đã được biểu lộ rất nhiều, nhất là qua các câu thơ xen kẻ như một độc thoại nội tâm. Trên sông, khách có một tâm trạng khắc khoải, lo lắng :

Khách đứng dậy, vẻ lo lắng hiện trong đôi mắt […]

Khách ngồi xuống chỗ ban nãy ở đầu mũi đò […]

Khách bỗng choàng dậy. Những kẻ có số phận bất trắc mạo hiểm vẫn luôn có những giây khắc bừng thức hãi hùng như thế. Những kẻ khao khát tri thức tự do và chân lý tuyệt đối cũng luôn có những giây khắc bừng thức hãi hùng như thế […] Khách băn khoăn nhìn quanh… (tr. 161-163)

Có thể nói truyện Thiên văn là một phúng dụ : người khách sang sông một mình, trên một chiếc đò không có mái chèo, giữa lúc mưa gió, sấm sét hãi hùng, không khác gì kiếp người cô đơn, lạc lõng, đầy băn khoăn, sợ hãi, trước những thử thách, gian nguy của cuộc đời, và chỉ biết cậy vào sức mình để chống đỡ. Nguyễn Huy Thiệp kết thúc phúng dụ bằng cách đi vào huyền thoại : đồn rằng

Hẳn trong truyện của Hồ Dzếnh cũng có xu hướng huyền thoại : huyền thoại một nước Trung Quốc đã ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam từ nghìn xưa. Bộ quần áo Quảng Đông bạc màu của người khách, dưới ngòi bút của Hồ Dzếnh, có tính gợi cảm. Y phục ấy gợi được trong lòng người gặp, bao nhiêu là cảm giác thanh thú, hương vị xa xôi

Linh hồn Trung Quốc phát lộ ra trong từng bước đi, điệu đứng, trong sự trầm mặc

Khách được xem là vị thần tử của giang sơn Trung Quốc.

Nguyễn Huy Thiệp vượt khỏi một huyền thoại có giới hạn địa lý như nước Trung Quốc, để đi vào một huyền thoại có chiều kích rộng lớn hơn : đó là huyền thoại của vũ trụ và của con người. Vũ trụ qua hình ảnh của chòm sao Thần nông trên trời và con người qua dấu chân để lại trên đò, cô lái đò mang thai vì đã ướm chân vào đấy. Hình ảnh cô lái đò mang thai nhắc nhở chúng ta bà mẹ của Thánh Gióng và đồng thời làm cho huyền thoại con người trong phúng dụ này hòa hợp với huyền thoại vũ trụ : Thánh Gióng lên trời với con ngựa sắt và như thế đã đi vào vũ trụ. Phải chăng để cho hình ảnh con người trong phúng dụ được mãi tồn tại ?

Trong hai truyện của Nguyễn Huy Thiệp, ngôn ngữ là dấu hiệu của liên văn bản, chẳng hạn những từ như đi-văng, mỏng : mỏng manh (Vũ Trọng Phụng), mỏng dính (Nguyễn Huy Thiệp), và những từ như khách, vệ : vệ cỏ (Hồ Dzếnh), vệ sông (Nguyễn Huy Thiệp), duỗi : tay chân duỗi thẳng (Hồ Dzếnh), khách duỗi chân (Nguyễn Huy Thiệp), vốc nước uống (Hồ Dzếnh), vốc nước rửa mặt (Nguyễn Huy Thiệp), v.v… Nhưng hiện tượng liên văn bản chủ yếu ở trong hình tượng các nhân vật và cách dàn dựng cảnh. Qua sự quy tụ hình tượng và cảnh trí, văn bản đã làm cái công việc biến hóa liên văn bản. Ở đây hiện tượng liên văn bản không phải chỉ là việc bứng trồng văn bản này sang văn bản khác mà là một công trình biến hóa, một cách viết lại liên văn bản, tạo lại ý nghĩa để có một văn bản mới.                                                           

Tác phẩm :

Nguyễn Huy Thiệp, Huyền Thoại Phố PhườngThiên Văn trích trong tập truyện ngắn Thương Cả Cho Đời Bạc, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000.

Vũ trọng Phụng, Số Đỏ, Nxb Văn Nghệ T.P. Hồ Chí Minh, 1999.

Hồ Dzếnh, Chân Trời Cũ, Nxb Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2001.

“TUỔI HAI MƯƠI YÊU DẤU” CỦA NGUYỄN HUY THIỆP, CUỘC HÀNH TRÌNH ĐI TÌM ÁNH SÁNG

 

 

Trong một bài đăng ở báo Mercure de France, năm 1806, nhà văn Louis de Bonald tung ra một câu về sau trở nên nổi tiếng, đó là :  Văn chương là sự biểu hiện của xã hội. Ở Âu châu, thế kỷ 19, mối tương quan giữa văn chương và xã hội đã được các nhà phê bình như bà de Stael, Taine, và các nhà triết học như Hegel, Marx bàn đến. Họ đã dần dần đặt  nền móng cho ngành phê bình xã hội học. Qua thế kỷ 20, Georges Lukacs, Lucien Goldmann và Mikhail Bakhtine được xem như những người đã đi tiên phong trong ngành phê bình này. Khi đề cập đến tính độc đáo của môn xã hội học về văn học, Jean-Yves Tadié (1) nhắc rằng xã hội có trước tác phẩm, bởi vì nhà văn phụ thuộc xã hội, phản ánh, biểu hiện xã hội và tìm cách biến đổi xã hội. Xã hội hiện diện trong tác phẩm vì tác phẩm mang dấu vết của xã hội và sự miêu tả xã hội. Điều này hiện rõ trong Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu, tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, ra mắt lần đầu ở hải ngoại năm 2003, và được xuất bản trong nước năm 2005. Chưa bao giờ Nguyễn Huy Thiệp cho chúng ta thấy một xã hội Việt Nam đậm nét như thế. Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu xuất hiện như một bùng nổ, đây là tiếng nói của phẫn nộ và là cái nhìn phanh phui, mổ xẻ những tệ đoan của xã hội đương đại.

Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu  là một tiểu thuyết tương đối ngắn. Hình thức truyện của Nguyễn Huy Thiệp có hai nét đặc trưng đã thấy trong các truyện ngắn của ông, đó là việc xen kẽ thơ trong truyện và việc mở đầu truyện bằng một câu trích dẫn của một tác giả khác (incipit). Hai nét đặc trưng này vẫn tồn tại trong Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu, đặc biệt việc dùng câu trích dẫn để mở đầu các chương một cách triệt để trở thành như một hiện tượng : có 36 câu mở đầu cho 30 chương. Cách trình bày truyện như thế tất nhiên có một dụng ý. Chỉ riêng các câu trích dẫn để mở đầu truyện của Nguyễn Huy Thiệp cũng đủ để tạo nên một đề tài nghiên cứu. Đề tài đó không thể được lồng vào khuôn khổ của bài này.

Với Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu, người ta phát hiện một Nguyễn Huy Thiệp của tuổi trẻ, của phẫn nộ, của một giai cấp xã hội không có tiếng nói : giai cấp người nghèo. Nhân vật Khuê tuột xích  và tuột luôn xuống địa ngục, kéo theo người đọc xuống tận đáy địa ngục để nhìn thấy bộ mặt trái của xã hội. Tác giả cũng gửi qua Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu một thông điệp về nhân sinh quan của mình. Mặt khác, cách dựng truyện làm nổi bật một cấu trúc vòng tròn để trở về khởi điểm.

Khuê, người kể truyện, là một sinh viên 20 tuổi, con của một nhà văn nổi tiếng, Khuê có người anh học về khoa điêu khắc. Được mẹ nuông chiều và có một cuộc sống thoải mái, người con trai sinh tật bỏ học và ăn cắp tiền của bố mẹ. Bị bố tức giận đánh và đuổi ra khỏi nhà, Khuê bắt đầu đi lang thang trong thành phố Hà Nội, bị bạn là Thanh Nhạn lôi cuốn vào nạn ma túy, về sau Khuê trở nên ghiền heroin. Trong một cuộc đua xe máy, Hải Anh, một người bạn mới quen, bị tai nạn, Khuê đưa Hải Anh vào bệnh viện và lo chạy tiền để trả cho bệnh viện. Khi việc chạy chữa cho Hải Anh đã xong xuôi, Khuê đến Gia Lâm và quen với hai cô gái điếm : Tuyết và Hương. Hương giới thiệu Khuê với bọn buôn lậu để giúp Khuê kiếm tiền sống. Khuê lãnh công việc chuyển một số tiền lớn lên Lạng Sơn. Sau khi đã hoàn tất nhiệm vụ, Khuê được thưởng một gói heroin. Rời Lạng Sơn, Khuê đi theo một nhóm người Công giáo và một linh mục, cha Thảo, về họ đạo của họ. Sau đó Khuê bị cha Thảo đuổi khỏi họ đạo vì hít heroin. Khuê leo lên một xe tải, xe này đi về phía Hải Phòng. Khi người tài xế khám phá sự hiện diện của Khuê trên xe, anh ta đánh Khuê tơi bời. Tình cờ có nhà thơ Nhan Như Ngọc, bạn của bố Khuê, đi qua đấy, ông liền cứu Khuê. Khi nhận thấy Khuê nghiện ma túy, nhà thơ Nhan Như Ngọc giúp Khuê ra khỏi tình trạng nguy nan bằng cách tạo cho người con trai một hoàn cảnh để tự lo thân và tự cứu mình. Do đó Khuê bị đẩy ra biển, khi tỉnh dậy thấy mình ở trên một hoang đảo và đoán mình đang ở trong vùng vịnh Cát Bà. Một người dân vùng vịnh, ông Hào, đến hái đu đủ trên đảo, gặp Khuê, ông giúp Khuê có phương tiện để sống ở vùng biển. Chẳng bao lâu Khuê bắt đầu một cuộc sống lành mạnh giữa những người dân chất phát. Một hôm vào hiệu hớt tóc, Khuê đọc xấp báo cũ và tình cờ thấy tin bố đã mất. Cái chết của bố làm chấn động tinh thần của Khuê. Khuê quyết định trở về với đời sống bình thường vì đã biết thế nào là giá trị của cuộc đời.

 I  Khi tuổi trẻ nổi loạn

Ở Tây phương, tuổi trẻ nổi loạn là chuyện thường. Tuy thế, biến cố tháng 5 năm 1968 ở Pháp đã ồ ạt xảy đến, gây nhiều kinh ngạc và đảo điên trong xã hội. Từ Đại học Nanterre, cuộc nổi loạn của sinh viên lan tràn khắp nơi và chẳng bao lâu đã gây một cuộc khủng hoảng chính trị, văn hóa và xã hội. Biến cố đó đã đi vào lịch sử để đánh dấu sự chống đối của tuổi trẻ với xã hội tiêu thụ, với một hệ thống văn hóa giáo dục chỉ có lợi cho giai cấp tư sản, v.v… Tinh thần tháng năm sáu mươi tám đã biến đổi xã hội Pháp.

Ở ta, giáo dục truyền thống và chế độ của xã hội chủ nghĩa đào luyện những con người luôn luôn khuất phục trước kỷ cương. Nếu con người có nổi loạn thì chỉ là một nổi loạn âm thầm, ngấm ngầm. Do đó Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu đến với người đọc như một bộc phát : tuổi trẻ đã có một tiếng nói mới mẻ, tiếng nói của nổi loạn, dù là một nổi loạn còn hiền lành, chập chững của một cá nhân.

Mở đầu truyện, câu Chẳng ai hiểu cóc khô gì được gào lên để báo hiệu sự phẫn nộ. Chẳng ai hiểu cóc khô gì là một mệnh đề phủ định để phủ nhận mọi giá trị, mọi tổ chức trong xã hội. Khuê có một thái độ chống đối gia đình : Từ bản năng, tôi ngấm ngầm căm ghét gia đình tôi thậm tệ. Sự từng trải, hiểu biết của bố tôi… sự chu đáo tận tụy của mẹ tôi… sự lên mặt đạo đức khôn ngoan của thằng anh tôi… Tất cả những điều như thế khiến tôi lộn mửa (tr. 2). Khuê hằn học khi nói đến người anh : Thằng anh trai ngu xuẩn của tôi… Hắn luôn chê bai người khác dù rằng ngay bản thân hắn làm việc thì như chó ỉa (tr. 42). Ngoài gia đình, việc chống đối mãnh liệt của Khuê hướng về nền giáo dục. Trường trung học của Khuê là  cái trường tư thục khốn nạn. Ở đại học : Bọn giáo sư đại học ăn diện và vô đạo đức nói nhăng nói cuội ở trên bục giảng […] Nền giáo dục trung học và đại học theo tôi là một nền giáo dục ngục tù, khủng bố […] Nó là một nền giáo dục đào tạo lưu manh (tr.2-3). Khuê vạch rõ tính chất áp bức của việc giảng dạy môn chính trị cho sinh viên. Tuổi trẻ dị ứng với môn học này : Càng nghe, thú thực là bản thân tôi càng thấy ù ù càng cạc. Bọn sinh viên đều như thế hết nhưng tất cả đều giả vờ như nghiêm túc lắm. Đến giờ giải lao, tất cả ồn ào, ồ lên như vừa thoát nạn tra tấn… (tr. 8). Giới cầm quyền cũng không tránh khỏi sự phẫn nộ của Khuê : trong các phiên họp Quốc Hội, các nghị sĩ ngủ gật, một lũ người thối tha dốt đặc, chơi trò dân chủ trên tivi. Bằng một giọng bi quan, chán chường, Khuê nhận xét : ai cai trị cũng thế thôi, vì Khuê đã mất niềm tin : Tôi xin nói rằng tôi chẳng hiểu cóc khô gì về lịch sử và quan điểm chính trị ở Việt Nam trong vòng một trăm năm nay vì hình như nó đều được viết ra một cách dối giá và mâu thuẫn với nhau kinh khủng (tr. 27).

Đối với nghệ thuật, Khuê có cái nhìn tiêu cực : các diễn viên cải lương là giống xướng ca vô loài, trường đại học Mỹ thuật là một sự minh chứng cho thói phù phiếm, đỏng đảnh (đôi khi xa xỉ và hão huyền) của nghệ thuật, còn điện ảnh là một môn nghệ thuật của bọn nhà giàu… điện ảnh ở ta thật khó ngửi.

Cái nhìn tiêu cực của Khuê trở nên tàn nhẫn đối với những người đi tìm giải trí trong công viên nước : Những người đàn bà sồn sồn đứng tuổi có khá nhiều và tôi phải nhắm tịt mắt trước những mâm thịt xồ xề đó. Thật là tởm lợm… Mấy ông chồng bụng phệ mặc quần bơi lim dim mắt ngắm bọn gái trẻ đi qua. Thật là kinh tởm không sao tưởng được !  (tr.10)

Đối với các bạn gái trung học lấy chồng sớm, cũng cái nhìn tàn nhẫn : Tôi muốn nhổ toẹt vào thứ hạnh phúc ấy.

Khuê kết luận : Thời của tôi đang sống là thời chó má […] Tin tôi đi, thời của tôi là một thời khốn nạn.

II  Một xã hội dưới quyền thống trị của đồng tiền

Ra khỏi nhà, Khuê bắt đầu khám phá những tệ đoan trong xã hội. Ở Hà Nội, tiệm cầm đồ mọc lên như nấm, chủ tiệm tha hồ hốt bạc.

Tổ chức y tế là một tổ chức bất công, bóc lột người nghèo. Trong bệnh viện X – bệnh viện này mang cái tên mỉa mai là Bệnh viện tình thương – một người bị tai nạn, gẫy chân, như trường hợp Hải Anh, bạn của Khuê, muốn được bác sĩ mổ phải đóng tiền ở nhiều cấp : khởi đầu là cô y tá trực ban bắt đóng 300 nghìn đồng tiền nhập viện, sau đó một cô y tá khác bó bột, khi cô này làm xong công việc, phải dúi vào túi áo cô 50 nghìn đồng, đến lượt người nhân viên X. quang lấy 100 nghìn đồng, sau đấy phải nộp cho phòng tài vụ 200 nghìn đồng tiền hao mòn dụng cụ y tế, cuối cùng phải cám ơn bác sĩ đã mổ thành công với số tiền tối thiểu là 500 nghìn đồng. Nếu là bệnh nhân giàu thì được phục vụ tốt, ở phòng đặc biệt, hạng khách sạn ba sao.

Sau khi đã làm quen với ma túy, Khuê đi vào thế giới của mại dâm và buôn lậu. Các xóm Liều ở ven thành phố là nơi mà xã hội đen hoành hành. Nhưng chính ở Lạng Sơn, xã hội đen mới có một bộ mặt đáng sợ : bộ mặt của con bạch tuộc tuy vô hình nhưng hoạt động khắp nơi, điều khiển mọi sinh hoạt. Lạng Sơn, một thành phố nhỏ, nên thơ ở biên giới, đã thay hình đổi dạng. Một nền kinh tế dựa trên ma túy và buôn lậu đã làm cho đời sống ở nông thôn bị đảo lộn. Những hoạt động kinh tế truyền thống bị bóp nghẹt vì hàng hóa Trung Quốc lan tràn khắp nơi. Người nông dân bỏ làng lên thành thị kiếm sống, đàn ông làm nghề chuyên chở hàng hóa (cửu vạn) hay xây cất nhà cửa, đàn bà đi giúp việc trong các gia đình giàu, con gái làm nghề mại dâm. Ngoài ra, sức mạnh của đồng tiền cũng làm cho thiên hạ đổ xô đi tìm vàng ở Thái Nguyên, ở Quảng Nam và đưa đến việc buôn lậu chất xianua (cyanure), một chất hóa học dùng để kết tủa lấy vàng nguyên chất, nguy hiểm cho con người và cho môi sinh.

Cái hố giữa người giàu (dân khệ) và người nghèo ngày càng sâu hơn. Tiền của người giàu có khi không phải là đồng tiền lương thiện. Bố của Dung « làm giám đốc giám điếc tòa án gì đấy ở dưới Quảng Ninh, bố nó khệ vì bố nó là một tên ăn cướp ban ngày. Người giàu thiếu tình thương người, như Dung dửng dưng khi nghe tin Huyền sắp chết, thiếu phẩm cách như ông Lê Bình, giám đốc công ty Đại Sơn, ăn nói tục tĩu, nhưng lại được trọng nể và được gọi là đại ca. Người nghèo có thái độ cúi đầu, chịu đựng. Trong bệnh viện X, những bệnh nhân nghèo bị dồn vào một căn phòng quá hẹp, thiếu vệ sinh, không được săn sóc như  người giàu, nhưng họ an phận, chịu đựng bao cực khổ, không oán trách ai, chỉ đổ lỗi cho số phận. Có những người nghèo chấp nhận đem phẩm giá của mình để đương đầu với những khó khăn của cuộc sống và để đánh đổi một sự thừa nhận nào đó : Làm đĩ mà không sang thì đi làm đĩ làm gì ? Sau khi hiểu hoàn cảnh và tấm lòng tốt của cô cave Hương, thang giá trị của Khuê bắt đầu lung lay, ranh giới giữa người tốt và người xấu trở nên lu mờ.

Giá trị của đồng tiền trong xã hội Việt Nam được cô cave Hương tóm tắt như sau : … kiếm tiền ở đời rất khó, ở ta nếu kiếm được hàng chục triệu nghĩa là ở đấy ắt có nhục nhã, có mồ hôi nước mắt ; còn nếu kiếm được hàng trăm triệu nhất định ở đấy ắt có dính đến máu người (tr. 57).

Khi vạch trần những tệ đoan, phải chăng Nguyễn Huy Thiệp đã cho những người nghèo, những nạn nhân của xã hội một tiếng nói ? Và đồng thời tự cho mình một vai trò mà Albert Camus đã đề cập đến, trong bài diễn văn đọc tại Stockholm, năm 1957, nhân dịp ông lãnh giải Nobel văn học : Vai trò của nhà văn […] gắn liền với những nhiệm vụ khó khăn. Theo định nghĩa, nhà văn hôm nay không thể phục vụ những người làm lịch sử, mà phục vụ những người chịu đựng lịch sử.  (2) ?

III  Một nhân sinh quan vượt xa những quan niệm thông thường

Tác phẩm văn học thường phản ánh những trăn trở, những khắc khoải nhân sinh của tác giả, có khi là những ám ảnh về đạo đức, về siêu hình, v.v… Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu của Nguyễn Huy Thiệp nêu lên một nhân sinh quan mà trọng điểm là sự trở về với thiên nhiên và sự giải thoát con người khỏi những ảo tưởng.

Trước hết con người phải tự cậy vào sức mình, phải tự cứu mình. Sự giải thoát của Khuê bắt đầu bằng huyền thoại Robinson Crusoe, khi Khuê bị đẩy ra một hoang đảo, phải tự tìm kiếm thức ăn, tự tìm chỗ ẩn trú. Lần đầu tiên Khuê sống một mình giữa thiên nhiên và có một bản năng sinh tồn mạnh mẽ như Robinson.

Trong văn học Tây phương, có những nhân vật nổi tiếng đã đi vào truyền thuyết và trở nên những huyền thoại hiện đại như Don Juan, Faust hay Robinson Crusoe. Huyền thoại Robinson Crusoe nảy sinh với cuốn tiểu thuyết của Daniel Defoe, ra năm 1719. Nhân vật của Defoe thể hiện giai cấp tư sản Anh và những khát vọng của giai cấp này. Vào thời đại mà sự công nghiệp hóa có xu hướng đẩy mạnh việc chuyên môn hóa sức lao động, truyện Robinson Crusoe nêu cao sự luyến tiếc cái thời mà người thợ thủ công có nhiều xảo thuật và có thể tự mình thực hiện một tác phẩm. Ngoài ra, sự tán dương việc lao động trong truyện có một ý nghĩa tôn giáo : lao động là một phương tiện cứu rỗi, là một sự đền tội để được cứu vớt sau khi đã sa ngã. Robinson phạm tội vì đã không vâng lời người cha khi ông muốn Robinson tránh nghề thủy thủ. Do đó hoang đảo hiện đến như một địa ngục.

Tại sao truyện Robinson Crusoe phản ánh một thời đại, một xã hội, một giai cấp như thế lại trở nên một huyền thoại của thế giới ? Làm sao một nhân vật thuộc một dân tộc, một thời đại lại có thể là người anh hùng gương mẫu cho tất cả mọi dân tộc, một anh hùng gần như siêu phàm ? Thế mà sự kiện đã trở nên hiển nhiên và được hàng nghìn truyện trên thế giới lặp lại, luôn luôn dưới những hình thức biến đổi, nhưng không bao giờ làm thay đổi những ý nghĩa cơ bản của nguyên tác.

Sự trôi giạt của Robinson và của Khuê đến một hoang đảo có cùng một lý do : phạm lỗi đối với người cha. Đối với nhân vật của Daniel Defoe, hòn đảo là địa ngục, đối với Khuê, hòn đảo là khởi điểm của con đường thoát khỏi địa ngục. Khuê thấu hiểu ý nghĩa cuốn sách của Daniel Defoe : … nó là tiếng nói « không » với thế giới con người ích kỷ…. Nguyễn Huy Thiệp đã chọn huyền thoại Robinson để từ chối một xã hội bị đồng tiền thống trị, để hô hào sự trở về với thiên nhiên, với con người khi chưa bị nhiễm những tệ đoan, tức con người có tâm hồn chất phát. Nói tóm lại, tác giả đề cao bản lai diện mục.

Một nhân sinh quan hướng về thiên nhiên, đồng thời có cái nhìn bi quan về con người. Con người xây dựng cuộc sống của mình trên ba ảo tưởng. Trước hết nền giáo dục từ trong gia đình ra ngoài xã hội đem lại những kiến thức phiến diện và lạc hậu, chỉ có lợi cho cơ chế chính trị hiện hành, cái nguy hại của một nền giáo dục như thế là nó làm cho con người rời xa bản năng tự nhiên, không còn biết bản lai diện mục là gì. Tiếp theo là giới tính làm nảy sinh ảo tưởng về tình yêu. Cái mà người ta tưởng là tình yêu chỉ là bản năng tình dục, cuối cùng con người bị đày vào cô đơn. Ảo tưởng sau cùng là ảo tưởng không bao giờ chết, trong khi con người bị cái chết luôn rình rập.

Ngược lại với cái nhìn bi quan, tiêu cực đó, giá trị của thơ văn được khẳng định. Thơ được chia làm ba loại : thơ thiên thần, thơ của lửa, của khởi nghĩa và thơ hạ cấp. Thơ có một giá trị rất cao vì được định nghĩa như Mẹ của mọi hình thức sáng tạo. Vai trò của nhà văn trong xã hội cũng được thừa nhận. Tuy viết văn là một công việc thổ tả, chết người,  và mặc dù nhà văn gặp hai nguy cơ lớn : phải đối đầu với hai thế lực là tôn giáo và chính trị vì dùng chung một công cụ : ngôn ngữ, và mặt khác nhà văn dễ bị chiếm hữu, nếu được nổi tiếng, nhưng nhà văn được xem như một tiểu thánh vì phải độc hành kỳ đạo. Nhà văn phải sáng tạo theo hai yếu tố : thiện và mỹ.

IV  Nghệ thuật dựng truyện theo một cấu trúc vòng tròn để trở về khởi điểm

Từ khi rời mái gia đình, cuộc đời lang thang của Khuê diễn biến theo một thời gian có tuyến tính (temps linéaire), các biến cố dồn dập xảy đến, sít nhau, không có kẽ hở.

Tác giả dùng liên tưởng và hồi ức về người cha để tán rộng và làm cho một nhân vật, một nơi chốn hay một sự kiện được rõ nét hơn, phong phú hơn. Chẳng hạn trên chuyến tàu đến Lạng Sơn, khi thấy một nhà sư trẻ cùng đi với một nhóm người Phật giáo, Khuê liền liên tưởng đến hòa thượng Thích Thanh Mừng ở chùa Kẻ, nơi mà có lần Khuê đi cùng với bố đến ăn cỗ chay. Đây là một dịp để tác giả tán rộng về cách xử sự không đứng đắn của một nhà tu với nữ giới. Hoặc khi đi thăm cô bạn Huyền, Khuê nhớ đến những mùa hè vừa qua, trong khi các bạn Khuê đi nghỉ mát ở bờ biển hay ở miền núi, thì Khuê bị bố bắt về miền quê mà Khuê không thích. Sau khi đã tán rộng về quan niệm của bố về đồng quê, Khuê trở lại cô bạn Huyền, cô này ngoan đạo, mùa hè vào trại cùi giúp đỡ bệnh nhân.

Các chương được trình bày như những lớp phim nối tiếp nhau để dựng lên một không gian luôn thay đổi : Hà Nội ban đêm với Nhà hát Lớn, khu cầm đồ, Công ty Đại Sơn, làng Hải Khoang của Huyền, nhà của Dung ở Hà Nội, trường Mỹ Thuật, tiệm áo quần cũ Zip Fashion, cuộc đua xe trên đường Lạc Long Quân, bệnh viện X, Đại học, Sân khấu Điện ảnh, Gia Lâm, Xóm Liều, trên tàu, Lạng Sơn và cuối cùng là vịnh Cát Bà.

Trong không gian đa dạng đó, nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp mang nhiều ý nghĩa. Có những nhân vật có một bề ngoài dễ đánh lừa. Trong công viên nước, Khuê nhìn diễn viên điện ảnh Vũ Quang Nam đang được bọn con gái vây quanh xin chữ ký, và nhận xét : « Tay này đẹp trai vẫn đóng những vai phản diện trong những phim về cảnh sát hình sự, đánh đấm võ vẽ ra trò ở trên màn ảnh. Khi cởi truồng ra, tôi không ngờ tay này lại có thân hình gầy gò và trác táng đến như thế (tr. 10). Dưới mắt Khuê, bác sĩ  Sơn, trong bệnh viện X, có vẻ là một tay thợ hàn xì, Khuê không mấy tin tưởng vào khả năng nghề nghiệp của ông ta, nhưng rốt cuộc ông ta mổ cho Hải Anh rất thành công. Trên tàu đi Lạng Sơn, nhà sư trẻ thật ra là một tên buôn lậu. Trong những trường hợp khác, cái áo của tu sĩ có khi không phải là dấu hiệu của sự thánh thiện, nhà sư Thích Thanh Mừng vẫn còn ham thích đàn bà, cha Thảo là một linh mục có cái bề ngoài niềm nỡ, đáng kính, nhưng lòng dạ sắt đá, thiếu bao dung, khoan hồng. Ở các nhân vật vừa kể, cái ảo bên ngoài che dấu cái thực bên trong.

Dáng điệu và ngôn ngữ của các nhân vật là dấu hiệu của một xã hội thiếu bình đẳng, chưa thoát hẳn thời phong kiến. Ở bệnh viện, khi một nhân viên vừa chụp xong X. quang cho một người đàn bà bị ung thư. Bà ta nói với anh chàng chỉ đáng bằng tuổi con mình, ngọt xớt : « Em » cám ơn anh, « em » cám ơn anh nhiều… Nói xong bà ta đi giật lùi ra cửa (tr. 42-43). Khuê suýt bật cười trước cảnh tượng đó, nhưng chính Khuê sau đó cũng có dáng điệu y hệt như người đàn bà bị ung thư : Tôi chào bác sĩ Việt rồi đi giật lùi ra cửa, suýt ngã bổ chửng vì vấp phải cái bậc cửa quá cao (tr. 44). Hành động đi giật lùi của hai nhân vật vừa có tính hài hước vừa nói lên sự khúm núm, thua thiệt của người nghèo trước những kẻ có uy quyền, hoặc những kẻ biểu tượng cho uy quyền.

Các nhân vật xuất hiện trong truyện đều lần lượt biến mất. Cuối cùng, từ đầu đến cuối truyện chỉ có hai nhân vật : Khuê và người cha. Trong cuộc phiêu lưu của Khuê, người cha tuy vắng mặt, nhưng luôn luôn hiện diện qua những lời nhắc nhở : Bố tôi nói rằng… . Nó đánh giá tôi rất cao, có lẽ một phần vì do danh tiếng của bố tôi. Tôi nghĩ đến dáng vẻ đau buồn của bố tôi… v.v… Sự gặp gỡ những người bạn của bố, bác Bảo Định, nhà thơ Nhan Như Ngọc, cũng là những dịp để cho thấy thấp thoáng hình ảnh của người cha. Có thể nói hai cha con đồng hành từ đầu đến cuối truyện.

Cấu trúc truyện Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu rất chặt chẽ, cân đối. Đầu truyện nhân vật cho biết tên tuổi, cuối truyện nhân vật cũng nhắc tên tuổi của mình. Trong chương đầu, câu Chẳng ai hiểu cóc khô gì  được lặp lại nhiều lần như một câu điệp (leitmotiv)  để lần lượt nêu lên những lý do của sự phẫn nộ. Trong chương cuối, từ « Bố » được lặp lại nhiều lần, cũng có chức năng của một câu điệp để nhấn mạnh sự thương tiếc người cha đã khuất bóng. Để đáp lại những câu phủ định : Chẳng ai hiểu cóc khô gì  ở chương đầu, trong chương cuối có những câu khẳng định như : Bây giờ ngẫm lại tôi mới hiểu rõ bố tôi có ý nghĩa thế nào với tôiTôi biết bố tôi nhiều khi đã phải trăn trở, dằn vặt với chính mình. Động từ « hiểu » được lặp lại 4 lần, động từ « biết » 5 lần.

Cuộc phiêu lưu của Khuê được biểu trưng bằng một đường thẳng, theo thời gian có tuyến tính, nhưng cũng bằng một vòng tròn, theo cấu trúc của truyện : chương cuối trở về với chương đầu. Khuê ra đi để trở về dưới dạng một con người mới. Khởi đầu những ngày lang thang, bụi đời của Khuê là một sự kiện đầy ý nghĩa : bố của Khuê giận con bỏ học, ăn cắp tiền, liền đập vỡ bộ Tam đa Phúc Lộc Thọ bằng gốm mà ông rất quý, bộ Tam đa vỡ vụn biểu tượng cho sự suy tàn của nếp sống cũ để một cuộc sống mới đâm chồi. Cuộc phiêu lưu kéo dài hơn một năm. Khuê được 21 tuổi nhưng đã bạc đầu, tóc bạc biểu tượng cho thời gian tâm lý, vì lắm khi phải để cả một đời người mới tìm ra ý nghĩa và giá trị của đời sống. Giọng nói hằn học ở đầu truyện trở nên đằm thắm, thanh thản ở cuối truyện.

Cấu trúc của Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu tương tự như cấu trúc của huyền thoại Orphée. Trong huyền thoại Hy Lạp, Orphée là một thiên tài về thơ và nhạc. Orphée kết hôn với Eurydice, chẳng may Eurydice chết vì bị rắn cắn. Orphée điên lên vì đau đớn và được thần Zeus cho phép xuống địa ngục tìm vợ để đem nàng trở về dương thế. Với chiếc đàn lia, Orphée đã thắng mọi trở ngại trong địa ngục, Orphée có thể cứu vợ khỏi cái chết, nhưng với điều kiện là đừng quay nhìn Eurydice khi chưa ra khỏi địa ngục. Khi đến cửa địa ngục, Orphée quay đầu lại để nhìn xem có vợ đi theo sau không, nhưng Eurydice đã biến mất. Orphée trở lại trần gian một mình.

Cũng như Orphée, Khuê xuống địa ngục của xã hội, trải qua nhiều khốn đốn, nguy nan, chứng kiến nhiều cảnh đau lòng hay ghê rợn, rồi cuối cùng tìm được ý nghĩa của sự sống để trở về với cuộc đời bình thường. Địa ngục của Orphée là một nơi tối tăm, lạnh lẽo, có quỷ và những con quái vật. Địa ngục của Khuê được một nơi tối tăm biểu tượng, đó là thành phố Hà Nội ban đêm, Khuê nói : Tôi rất ghét bóng đêm. Cả Orphée và Khuê đều trở về thế giới bình thường của loài người. Vượt qua địa ngục không phải là một cuộc hành trình không mất mát : Orphée mất vợ, Khuê mất cha.

Khuê trở về khởi điểm, tìm lại mái gia đình, tiếp tục việc học hay viết văn như cha, nhưng là một Khuê hoàn toàn đổi mới, một Khuê đã tìm ra ánh sáng của cuộc đời.

Tiểu thuyết không chỉ là một thể loại để kể truyện, nó còn là một phương tiện mà nhà văn chọn để thể hiện cái nhìn của mình về vũ trụ, về con người, để trả lời câu hỏi : Sống như thế nào ? Và như thế tác phẩm văn học đạt đến một phương cách giải thoát, một lời giải về cuộc đời. Đó là trường hợp của tác phẩm Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu của Nguyễn Huy Thiệp.

LIỄU TRƯƠNG

Paris, Hè 2003

Bài này đăng lần đầu tiên trên tạp chí Hợp Lưu số 73, tháng 10-11, năm 2003, dưới tựa đề : Tuổi Hai Mươi Yêu Dấu của Nguyễn Huy Thiệp hay một giải thoát cho con người. Talawas đăng lại tháng 1 năm 2004.

Bài được đọc lại hôm nay (23-3-2021) với nhiều sửa chữa và một tựa đề mới.

Chú thích :

(1) Jean-Yves Tadié, La critique littéraire au XXe siècle, Belfond, 1987.

(2) Albert Camus, Discours de Stockholm du 10 décembre 1957, Gallimard, « La Pléiade».