SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI CẦM BÚT THEO LINH MỤC THANH LÃNG

 

Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã dìu dắt nhiều thế hệ sinh viên. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu, phần đóng góp của ông vào chữ quốc ngữ, văn học Thiên Chúa giáo và văn học sử Việt Nam rất lớn lao.

Năm 1967, nhân mừng sinh nhật năm thứ mười của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, linh mục Thanh Lãng đã phát biểu ý kiến về sứ mạng người cầm bút. Trước khi nghe linh mục nói về đề tài này, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua Trung Tâm Văn Bút.

Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời đó là một chi nhánh của Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế gọi là PEN Club International do bà Catherine Amy Dawson Scott thành lập năm 1921. Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế là một hiệp hội tập hợp những nhà văn của tất cả các nước, những nhà văn tha thiết với những giá trị hòa bình, bao dung và tự do, thiếu những giá trị đó không thể có sáng tạo được.

PEN là do từ Anh ngữ pen (cây bút) tóm tắt những nghề viết :

P : Poets : những người làm thơ ; Playwrights : những người viết kịch

E : Essayists : những người viết biên khảo ; Editors : những người xuất bản

N : Novelists : những tác giả viết tiểu thuyết ; Non fiction authors : những tác giả viết ngoài hư cấu.

Năm 1957, nhà văn Đỗ Đức Thu sang Đông Kinh (Tokyo) dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29, và đã tích cực vận động cho Việt Nam. Kết quả là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam được nhận vào Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế.

Ở miền Nam, kể từ những năm 60, Trung Tâm Văn Bút là một cơ quan văn hóa tuy không có tầm cỡ lớn, nhưng đã đạt được nhiều thành tích tốt đẹp. Về nội bộ, các ủy ban chấp hành được bầu theo định kỳ. Năm 1961, chủ tịch của ủy ban chấp hành là nhà văn Nhất Linh. Năm 1967, chủ tịch là nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Ngoài ra, Trung Tâm Văn Bút tổ chức những sinh hoạt văn hóa như ấn hành những tập kỷ yếu, tổ chức những buổi diễn thuyết, hội thảo, trao những giải thưởng văn chương, xuất bản những tuyển tập, v.v…

Để khai mạc cuộc hội thảo đánh dấu mười năm của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, chủ tịch Vũ Hoàng Chương giới thiệu cùng cử tọa văn hữu Thanh Lãng.

Cất lời trước cử tọa, linh mục Thanh Lãng nhắc rằng kỷ niệm mười năm thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là kỷ niệm sự lựa chọn và chấp nhận một lý tưởng làm văn chương nghệ thuật bởi một số người cầm bút. Lý tưởng đó đã được trình bày trong Hiến Chương của Văn Bút, và có thể được tóm tắt qua bốn điểm sau đây :

1/ Văn chương nghệ thuật không nên có biên giới.

2/ Văn chương nghệ thuật là tài sản chung của nhân loại.

3/ Người làm văn chương nghệ thuật cần hiểu biết sự tương giao nhau như là thành phần của một nhân loại duy nhất và hoà bình.

4/ Người làm văn chương nghệ thuật cần đề cao lý tưởng Tự do và Bao dung.

Sau đó linh mục Thanh Lãng đưa ra vấn đề Sứ Mạng Của Người Cầm Bút và nói rõ rằng đây không phải là một bài diễn thuyết mà là một hội thoại. Tuy thế, sau hơn nửa thế kỷ, điều quan trọng nhất đối với chúng ta, người đọc hôm nay, là  quan niệm của linh mục Thanh Lãng về người cầm bút được trình bày trong bài của linh mục, do đó những trao đổi giữa linh mục và vài người trong cử tọa không cần thiết nêu ra trong bài này.

Linh mục Thanh Lãng nói rõ : ông chỉ đặt vấn đề và đưa ra những thắc mắc để những người cầm bút cùng ý thức, cùng suy nghĩ chung với nhau. Những câu hỏi được đặt ra là :

Nhà văn có một sứ mạng gì không ?

Lịch sử người cầm bút với sứ mạng người cầm bút tương quan phản ứng ra sao ?

Diễn giả định nghĩa : Nói sứ mạng nhà văn, hay nói nhà văn có sứ mạng là nói nhà văn có mang theo một mệnh lệnh nào do ơn trên đâu đó trao cho mình : gọi là « sứ mạng » hay gọi là « mạng lệnh », hay gọi nôm na là điều dạy làm, điều dạy gửi.

Và diễn giả giải thích định nghĩa đó như sau, sứ mạng bao gồm :

– Người ra lệnh, « Người sai gửi »,

– Người mang lệnh, người đi gửi,

– Người nhận lệnh, người tiếp nhận vật gửi,

– Lệnh, tức đồ vật gửi đi.

Nếu đưa định nghĩa này vào lĩnh vực văn học nghệ thuật thì :

– Người ra lệnh hay người sai gửi sứ điệp là hồn thiêng dân tộc, là nhân loại, là trời đất.

– Người mang lệnh, người đi gửi sứ điệp là nhà văn.

– Người nhận lệnh, người nhận sứ điệp là độc giả.

– Sứ điệp là tác phẩm văn học. Gọi tác phẩm là sứ điệp vì viết là nói với độc giả, bộc lộ với độc giả, san sẻ, tỏ bày với độc giả. Vậy viết là ý muốn nói với ai điều gì, một tâm sự gì.

Có khi nhà văn tuyên bố chỉ viết cho mình, nhưng những điều nhà văn muốn nói ra rơi vào chữ viết, mà chữ viết là một phương tiện truyền bá. Cho nên dù muốn dù không, dù ý thức hay vô thức, tác phẩm nào cũng là một sứ điệp. Diễn giả cho biết không có nghệ thuật nào mà không thưa gửi, nghĩa là không phải là một sứ điệp, và không có nhà văn nào mà không phải là sứ giả. Xin tóm tắt sau đây vài ví dụ trong nhiều ví dụ diễn giả đã đưa ra :

Thơ của Nguyễn Trãi là sứ điệp và Nguyễn Trãi là sứ giả ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị của đất nước, cỏ cây. Lục Vân Tiên là sứ điệp của Nho giáo. Các nhà văn cuối thế kỷ 19 là sứ giả của chiến tranh bi thảm, của quật khởi chống Pháp. Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí là sứ điệp của Hòa bình. Tự Lực Văn Đoàn là sứ điệp của chiến tranh, của tiến bộ.

Diễn giả nhận xét người cầm bút hôm nay ở trong hoàn cảnh chiến tranh, với những tệ đoan như tham nhũng, mọi giá trị tôn giáo, văn hóa, xã hội bị đảo lộn và lý do của mọi xung đột giữa cá nhân, đoàn thể, dân tộc, cuộc chém giết nhau vì hệ tư tưởng, lý do của những tai họa đó là lý tưởng Tự do không được tôn trọng.

Bản tính con người là Tự do mà bản chất Tự do là được lựa chọn (…). Người cầm bút hôm nay phải là một sứ giả được sai đi, đi để đến với những người nhận sứ điệp là cá nhân, là đoàn thể, là dân tộc, là nhân loại (…). Không ai được chối bỏ mình là sứ giả vì mình được nhìn như vậy (1).

Vậy vai trò của sứ giả tức nhà văn như thế nào ? Theo diễn giả, sứ giả cần biến cái đẹp, tức văn chương, thành nguồn vui sống cho con người đang đau khổ, tuyệt vọng, biến cái đẹp thành nhịp cầu yêu thương giữa mọi người. Sứ giả cần biến chữ viết tức tác phẩm thành phương tiện chuyên chở lời nhắn với mọi người rằng con Người chỉ là con Người khi có Tự do. Qua sứ điệp, tức tác phẩm, sứ giả cần cổ động, ca tụng quyền lựa chọn tức quyền tự do của mọi người, ca tụng tinh thần bao dung, chấp nhận nhau, khuyến khích tinh thần phân công và hợp tác giữa các giới khác nhau, ủng hộ các tổ chức văn hóa, xã hội, chính trị. Sau cùng, sứ giả cần dấn thân để chống lại mọi lý thuyết, mọi cá nhân, đoàn thể, đảng phái, mọi dân tộc đi ngược lại với lý tưởng Tự do. Và làm thế nào để sứ điệp trở thành một Thiên trường ca ca ngợi Hoà bình.

Trong văn học Pháp, tác phẩm được gọi là message, thông điệp, tác giả là émetteur, người phát (thông điệp), và độc giả là récepteur, người tiếp nhận (thông điệp). Người phát ra thông điệp quan niệm rằng tự họ làm ra thông điệp để truyền đi, để gửi đến người tiếp nhận. Chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa quan niệm của Tây phương và quan niệm của linh mục Thanh Lãng

Linh mục Thanh Lãng đi xa hơn, ông đặt lý tưởng Tự do trên hết, để làm nền tảng cho con người, cho văn chương. Để phụng sự một lý tưởng cao đẹp như thế, trước hết tác phẩm không chỉ là một thông điệp mà là một sứ điệp mang một mệnh lệnh thiêng liêng, và cương vị của nhà văn được nâng cao : nhà văn không chỉ là người phát ra một thông điệp mà là một sứ giả, người vâng mệnh trên là hồn dân tộc đem sứ điệp tự do đến với mọi người. Khi ý thức được cái thiên chức đó, nhà văn không còn tự giam mình trong một thái độ trốn tránh, thụ động nữa, không còn viết những cái tầm thường, nông cạn, không xứng đáng là một sứ điệp thật sự. Linh mục Thanh Lãng đã mở rộng vấn đề sáng tạo văn chương, ông đã thiêng liêng hóa chức năng của nhà văn. Quan niệm của linh mục có khả năng đánh thức giới cầm bút khiến họ suy nghĩ xa hơn về việc dấn thân của một nhà văn trong xã hội, trong đất nước.

(1) Câu Chuyện Văn Chương, Nxb Khai Trí Sài Gòn, 1969, tr. 491-492.

Paris, tháng 12 – 2018

Advertisements

NGUYỄN THỊ THỤY VŨ VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA LỊCH SỬ

 

Vào năm 1942, khi Vũ Ngọc Phan, tác giả bộ sách Nhà văn hiện đại, giới thiệu cuốn truyện Một linh hồn của Thụy An, ông nhận xét văn học đang ở trong tình trạng chờ đợi nữ giới cầm bút để viết tiểu thuyết, vì lúc bấy giờ việc người nữ sáng tác tiểu thuyết là một sự kiện hiếm hoi. Do đó cuốn Một linh hồn của Thụy An phải được xem như một biến cố văn học.

Nếu vào những năm 60-70 nhà phê bình Vũ Ngọc Phan mục kích được hàng loạt tác phẩm của nữ giới xuất hiện ở miền Nam thì sự mong đợi của ông đã được toại nguyện. Nối gót các bậc đàn chị như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, có Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng…, cả một đội ngũ ra tay viết, không mệt mỏi.

Trong khi Nhã Ca, Túy Hồng, quê miền Trung, đem xứ Huế vào tác phẩm của mình thì Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh trưởng ở miền sông nước Cửu Long, vẽ lên trong các truyện của bà cái không gian chằng chịt những sông rạch và con người sống ở đấy.

Năm 1966, Nguyễn Thị Thụy Vũ bước vào làng văn với tập truyện đầu tay Mèo Đêm, mở đầu cho một loạt truyện ra mắt đều đều cho đến năm 1973. Cả thảy mười tác phẩm, ba tập truyện ngắn : Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông và bảy truyện dài : Thú Hoang, Ngọn Pháo Bông, Khung Rêu (Giải thưởng Văn Học Toàn Quốc, 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm và Cho Trận Gió Kinh Thiên (1).

Chủ đề lớn nhất làm nên tính nhất quán của mười tác phẩm là người phụ nữ. Hiếm hoi lắm mới có truyện về đàn ông như hai truyện ngắn : Trôi SôngChiều Mênh Mông (tập truyện Chiều Mênh Mông). Nguyễn Thị Thụy Vũ trước sau cầm bút cũng chỉ để viết về người phụ nữ, nhưng không phải bất cứ người phụ nữ nào mà chủ yếu là những người phụ nữ chào đời và lớn lên ở miền đất Tiền giang, vào lúc xã hội dần dần đi vào thời hiện đại. Để theo dõi thân phận của những người phụ nữ đó qua những thời biến động của đất nước, thiết tưởng cần đọc các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ qua lưới đọc của phê bình xã hội (sociocritique).

Claude Duchet định nghĩa phê bình của xã hội học là cách phê bình nhằm chính văn bản như cái nơi mà tính xã hội nào đó được diễn ra.

Phê bình xã hội đọc trong văn bản những khía cạnh, những hiện tượng có tính lịch sử, xã hội, hệ tư tưởng và văn hóa, phản ánh của hiện thực : văn bản không thể có được nếu không có hiện thực. Và cách đọc của phê bình xã hội không cứ phải dựa vào những lý thuyết như của Karl Max, Georg Lukács, Lucien Goldmann, vì các lý thuyết đó trở nên xưa, không thích hợp với một hiện thực phong phú, phức tạp của ngày nay. Mọi cách đọc văn bản ngày nay là phát minh và tìm tòi, nó góp phần vào việc phong phú hóa, vào sự tiến bộ của tâm thức về xã hội và lịch sử.

Vậy chúng ta thử đi vào thế giới truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ theo cách đọc của phê bình xã hội.

I  Một thời suy tàn

Dù muốn dù không, nhà văn bao giờ cũng đưa ít nhiều trải nghiệm của mình vào tác phẩm. Vĩnh Long là nơi Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh ra và lớn lên. Trước mắt tác giả : cảnh sông nước, tuổi mới lớn, thời học sinh, nếp sống ở tỉnh lẻ, các bậc cha mẹ với những phong tục, tập quán lỗi thời, sự chờ đợi tương lai… tất cả được lồng vào một xã hội xưa cũ, tàn dư của thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Một xã hội được cấu trúc bởi hai giai cấp giàu, nghèo, và sự phân chia giai cấp rất rõ rệt.

Ở giai cấp người giàu, chủ nhà là bậc phú hộ có uy quyền, được trọng vọng, nể nang. Họ gìn giữ thanh danh và cái bề ngoài. Trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya, ông Đốc phủ sứ nói với con trai và con dâu : Gia đình mình là một thế gia vọng tộc, nhứt nhứt mọi thứ đều phải vượt những thứ thiên hạ thường tình. (tr. 104) Còn bà Phủ trong truyện Khung Rêu, khi cảnh nhà sa sút, thường nói với chồng : Phải gói ghém sự xuống dốc. Giàu thì thiên hạ ganh tị, còn nghèo thì bị họ khinh khi. Thà bị ganh tị hơn. (tr.120)

Ruộng lúa là cái gạch nối giữa hai giai cấp. Người giàu khai thác sức lao động của người nghèo để có lúa mà bán. Hàng năm tá điền đi ghe chở lúa đến nhà chủ điền và tỏ vẻ khúm núm. Họ đem theo bộ quần áo tốt nhất để mặc khi đong lúa với chủ điền. Thức ăn đi đường của họ là « một hũ mắm đồng, vài con khô sặc, một chai nước mắm », nếu khát thì đã có nước sông.

Phần chủ điền, hàng năm cũng đi ghe quan sát ruộng lúa của mình và thu lúa. Nhưng đến thời tinh thần tranh đấu của nhân dân bừng dậy, giới tá điền bắt đầu phẫn nộ trước sự bất công. Trong truyện Khung Rêu, ông Phủ đi ghe thăm ruộng đất, ông có nghe đâu đó ở vùng Cà Mau, Rạch Giá, dân tá điền chống lại chủ điền, nhưng ở vùng ông tá điền vẫn còn khúm núm chào ông lớn, vẫn còn run sợ khi thấy bóng chủ điền, nên ông yên tâm ; thêm nữa Pháp đã trở lại trong vùng. Ngờ đâu tá điền thuê đất của ông nay đã thay đổi thái độ. Đặc biệt một người tá điền tên Đực đã bị ông Phủ phá hoại cuộc đời con gái của người yêu, anh ta càng tỏ ra xấc xược, hung dữ, khiến ông Phủ vội trở về. Chẳng những ông không còn hy vọng thu được lúa mà còn bị tá điền đoạt ruộng đất. Trong truyện Thú Hoang, ông nội của Liễu xưa kia có ruộng cò bay thẳng cánh, ông thường đi ghe từ Vĩnh Long về miệt Hóc Hỏa để thu lúa. Rồi thời thế không yên, ruộng ông bị tịch thu. Lần cuối cùng ông đi thu lúa, hai tháng sau ghe của ông trở về mà không có ông, ông bị tá điền đâm trọng thương, rồi chết.

Bức tường ngăn chia giàu nghèo có khi gây nên cảnh éo le về tình cảm. Nhân vật cô Ba Ngoạn trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya bị người cha gọi về Cần Thơ để gã chồng, nhưng cô đã yêu con trai của một người tá điền. Cô dư biết cha cô sẽ không bao giờ chấp nhận làm thông gia với một tá điền. Cô tâm sự với những chị em trong nhà : … tôi đã lỡ yêu một người đàn ông không cùng một giai cấp với tụi mình. Ảnh là con người tá điền của má tôi. (tr. 98) Cô Ba Ngoạn tự tử hụt khi hay tin người yêu đi lấy vợ vì vâng lời cha mẹ và hay tin cha của cô đã đuổi gia đình người tá điền ra khỏi ruộng đất của ông.

Giai cấp giàu khinh rẻ giai cấp nghèo ; người nghèo thì thủ phận, họ bị dồn vào cái thế của người nô lệ phải phục tùng giới phú hộ có quyền thế. Có những trường hợp người nghèo lại sung sướng, hãnh diện được công khai gần gũi với người giàu, như trong truyện ngắn Trôi Sông (tập truyện Chiều Mênh Mông), lão Tự là một phu lục lộ, lão sung sướng, hãnh diện vì một quan tri phủ về hưu lấy con gái độc nhất của lão làm vợ thứ tám. Mỗi lần quan tri phủ cho gọi lão đến thì lão lật đật giở cái tráp bằng cây thông lôi bộ đồ bà ba vải xe lửa trắng đổi màu ngà còn ngát mùi lông não (…). Chùi vội đôi guốc cây (…). Lão soi mặt vào miếng kiếng bể (…). Lão sửa lại chiếc khăn vải Tây đỏ chít trên đầu. Nỗi vui mừng lẫn lo lắng cồn cào tâm hồn lão (…). Đi đến đâu lão không quên khoe lão là cha vợ quan tri phủ. (tr. 14)

Quan niệm giai cấp đã ăn sâu vào tư tưởng của lớp người có uy thế. Trong Nhang tàn thắp khuya, Thục Nghi về làm dâu một nhà quyền quý đông con gái : Thục Nghi bắt đầu cảm thấy bọn con gái thuộc nơi quyền quý thật khó mà gột rửa thành kiến nặng nề về giai cấp. (tr. 188)

Trong các truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ, ngôi nhà tổ phụ, ngôi nhà hương hỏa thường xuất hiện như nhắc nhở một thời đã qua. Ngôi nhà thường được xây cất bên bờ sông, có nhà thủy tạ để chủ nhà ra hóng mát và để đoàn ghe của tá điền cập bến nộp lúa, trong nhà lại có lẫm lúa, dấu hiệu giàu có của chủ nhà, một khu vườn rộng với cây cối rậm rạp bao quanh nhà. Ngôi nhà hương hỏa là một biểu tượng của dòng dõi người phú hộ. Trung đường trải dài ba gian, là cái nơi có những bàn thờ, lư hương, bình hoa mà đến ngày giỗ được con cháu và tôi tớ trong nhà lau chùi bóng loáng, hoa quả được long trọng chưng lên. Mặc dù ngôi nhà đã đến thời mục nát, nhưng nó vẫn là cái nơi tụ họp của gia đình họ hàng, cái nơi mà gia đình có thể che đậy sự suy sụp của mình bằng cách dọn những mâm cỗ linh đình vào những ngày cúng ông bà tổ tiên, ngày giỗ những người quá cố hoặc vào dịp Tết, cúng đưa ông Táo về Trời, cúng giao thừa ; gia đình lo việc thờ phụng, cúng bái một cách long trọng.

2/ Người phụ nữ trong một xã hội bảo thủ

Cuối thời phong kiến, tinh thần trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại trong xã hội. Sự bất bình đẳng lại càng mạnh hơn nếu người đàn ông có tiền của và quyền thế. Người phú hộ có quyền có năm thê bảy thiếp, ông Đốc Phủ sứ trong Nhang tàn thắp khuya có ba người vợ, trong Thú Hoang, ông nội của Liễu có sáu người vợ và trong truyện Trôi Sông ông quan tri phủ có tám người vợ. Chỉ có người phụ nữ phải chịu thiệt thòi.

Trong truyện Khung Rêu, tuy ông Phủ không có nhiều vợ, nhưng ông cũng đã dùng uy quyền để làm cho một cô gái nhà nghèo mang thai, Ngà, tên cô gái, đến ở thuê trong nhà để trả nợ cho cha là một tá điền.

Về phần bà Phủ, vì tinh thần trọng nam, bà ao ước cho ông Phủ một đứa con trai, mặc dù ông đã có ba người con trai với người vợ trước đã khuất bóng. Nhưng định mệnh đã mỉa mai cho bà Phủ một đứa con nửa trai nửa gái, điều làm bà rất đau khổ.

Nhân vật cụ bà trong truyện Chiều xuống êm đềm thì có mặc cảm tội lỗi đối với chồng vì bà chỉ sinh được hai người con gái.

Tuy con gái không được quý bằng con trai, nhưng cũng phải được dạy dỗ để có nết na và giỏi giang việc nhà. Bà Phủ nuôi hai đứa cháu gái trong nhà, bà đem những thành ngữ chữ Hán, pho kinh Phật ra răn dạy, bà nghiêm khắc theo dõi hai cô cháu và không muốn họ gần con trai : Nam nữ thọ thọ bất thân. Con gái như rơm khô dễ bắt lửa. Con trai là thứ lửa nguy hiểm. Lửa để gần rơm nếu không cháy cũng tròn trèm. (tr. 35) Bà xem việc nuôi con gái như một nỗi lo âu, một việc quá vất vả mà bà phải gánh lấy : Nuôi con gái khác nào đem giặc về nhà. Bà Phủ là người dựa vào đạo đức thời xưa để cản trở tình yêu của các cô gái.

Trong một xã hội bảo thủ, người ta khó chấp nhận cái mới. Nhất là khi cái mới được phụ nữ yêu chuộng. Vào thời Pháp đô hộ, người tỉnh lẻ không quen thấy những cái mới lạ, trong truyện Chiều Xuống Êm Đềm, cụ bà tuy hãnh diện có con gái lấy chồng dân Tây, nhưng cụ phật ý : Tao coi bộ con Thông nó làm nhiều chuyện không được… thuận nhãn cho lắm. Ai đời nó bận áo tân thời, tô son trét phấn như đào hát bội, lại còn liều mạng lái xe nữa… Rủi có bề gì thì sao đây ? (…) Ai đời, cái chuyện học tiếng Tây mà cũng đem ra khoe. (tr. 47, 49)

Người phú hộ khi tiếp xúc với người Pháp, thì bị lóa mắt bởi cái uy quyền của nước bảo hộ, bị óc nô lệ ru ngủ ; họ xem sự hiện diện của người Pháp như một bảo đảm cho đời sống của họ, họ không cần hiểu biết sâu xa về tình trạng của đất nước và thiếu tinh thần yêu nước. Trong Khung Rêu, ông Phủ nói : Tôi thích Tây cai trị, Tây mà đi rồi, mình chết đói cả đám (…). Tôi nói thiệt đa, nếu con cháu tôi chộn rộn bắt chước tụi học sinh bỏ học, bỏ nhà đi theo bọn phản loạn đó, lập tức tôi đi báo cho Tây nó biết liền và nếu cần tôi đem đóng trăn tụi nó, rồi đem nộp gấp. (tr. 315)

Trong khi ông Phủ hăm dọa con cháu, thì có một phong trào lên đường tranh đấu. Hoàng, một thanh niên ở trọ nhà ông Phủ đã bí mật biến mất. Rồi hai người con của ông Phủ, Thụ và Chiêu, cũng lên đường.

3/ Nỗi niềm của người phụ nữ trong một bối cảnh lịch sử sôi động

Giữa lúc thanh niên, học sinh nghe theo tiếng gọi của cuộc đấu tranh thì đời sống của người phụ nữ ở tỉnh lẻ ra sao ?

Hậu quả đầu tiên là tình yêu của đôi lứa tan vỡ. Trong truyện Thú Hoang, một nhóm bạn gái cùng lớn lên trong niềm vô tư, vui sướng dưới mái học đường : Đức, Liễu, Oanh, Kim, Sáo. Mỗi người có một đời sống tình cảm riêng.

Liễu thầm yêu Nam, người trưởng lớp đệ tứ thời còn học sinh. Nam dáng người cao, đạo mạo, có tài ngâm thơ, điều khiển hùng hồn bản nhạc quốc thiều vào những buổi chào cờ, tình yêu của Liễu vừa chớm nở thì Nam đi tập kết.

Đức có tài viết bích báo với cái tên Hiệp Đức, là một cô gái trâng tráo, sẵn sàng chọc tức, gây chuyện với mọi người. Đức yêu Lập, mang thai, uống thuốc phá thai trong khi Lập bỏ lên Sài Gòn hoạt động trong giới cải lương.

Oanh là người bạn tốt, vui vẻ với mọi người. Oanh có một cuộc đời phẳng lặng : Oanh lấy chồng và sống trọn đời ở tỉnh lẻ. Sáo cũng lấy chồng ở tỉnh lẻ.

Bên cạnh những người bạn đó, Kim có một đời sống tình cảm bi thảm. Kim tính trầm lặng, lãng mạn, thích màu tím, yêu văn thơ. Kim ở trọ để đi học, bị hai người con trai chủ nhà hiếp. Kim buồn khổ, nhưng Kim và Huấn yêu nhau, Huấn thông cảm nỗi bất hạnh của người yêu và tìm cách nâng đỡ tinh thần người yêu. Chính Huấn cũng đã có một thời thơ ấu bất hạnh, cha Huấn bị Tây chém, hai người anh đi bộ đội chống Pháp, tử trận năm 1946. Huấn có tài ăn nói, dễ chinh phục bạn bè. Huấn hoạt động chống Pháp trong phạm vi học đường, bằng cách phổ biến truyền đơn, báo chí, cờ xí, biểu ngữ. Rồi Huấn bị tình nghi, lo trốn tránh lưới công an, cuối cùng phải trốn thoát. Trước khi xa nhau, Huấn và Kim đã sống qua những giây phút ái ân say đắm mà kết quả là Kim mang thai. Kim cảm thấy sung sướng được mang cái mầm sống của người yêu và hết sức nâng niu cái thai. Nhưng rủi ro Kim bị tình nghi, bị bắt và bị tra tấn đến trụy thai. Từ đó con người của Kim đã đổi khác. Kim trở về sống với gia đình, làm thư ký hành chánh và bày ra chới búp bê, nâng niu con búp bê như đứa con thật của mình và âu yếm nhắc đến « Ba Huấn ». Kim và Đức ở trong hai hoàn cảnh khác nhau. Kim trở về quê sống cuộc đời của một người phụ nữ độc thân, chỉ yêu có một lần trong đời. Kim đau đớn vì mất đứa con với người yêu. Còn Đức thì muốn mau mau tống khứ cái bào thai của kẻ bạc tình để làm lại một cuộc đời mới.

Trong truyện Khung Rêu cũng có một mối tình tan vỡ vì thời cuộc, mối tình đi đến một kết thúc thê thảm. Tịnh, cháu gái của ông Phủ đã đỗ bằng thành chung và làm nghề dạy học. Tịnh yêu Hoàng, người con trai ở trọ trong nhà, tiếng vĩ cầm của Hoàng đưa Tịnh vào những mộng mơ lãng mạn, Tịnh lén bà Phủ đi chơi với Hoàng. Cô có nghề nghiệp, một ít ruộng đất và tư trang, cô quan niệm hạnh phúc rất đơn giản và thổ lộ với người yêu : Em chỉ thấy tình yêu trong khung cảnh một tỉnh lẻ mới đằm thắm nhiệm mầu. Ở đây gần thiên nhiên, có sông sau nhà, có vườn cây tràn ngập bóng mát. (tr. 290) Tình yêu đang ở giai đoạn say đắm thì Hoàng bỗng bí mật đi chiến khu. Tịnh nhớ nhung chờ đợi, rồi tuyệt vọng và dần dần chìm vào cơn điên. Bà Phủ đưa Tịnh lên Sài Gòn chửa trị, sau đó Tịnh vào dưỡng trí viện Biên Hòa và năm năm sau Tịnh chết.

4/ Người phụ nữ ở tỉnh lẻ trước sự lựa chọn : thoát ly hay chịu đựng

Trong cảnh suy tàn của giai cấp phú hộ, bà Phủ trong truyện Khung Rêu tiêu biểu cho người phụ nữ gương mẫu của thời xưa, một người phụ nữ chính chuyên, lo việc tề gia nội trợ, một mình chống đỡ cảnh nhà sa sút. Khi bà hay tin ông Phủ có quan hệ chùng lén với một người tớ gái khiến người này mang thai, bà nghiêm khắc trừng trị ông Phủ bằng cách bỏ bê việc nhà, dọn ra nhà sàn để ở riêng, bà cạo đầu và suốt ngày tụng kinh, niệm Phật ; đối với ông Phủ bà giữ thái độ im lặng, lạnh lùng. Bà có ý định tự tử khi nghĩ đến sự phụ bạc của chồng và nghĩ đến Chiêu, đứa con tật nguyền của bà, nhưng bà lại thôi vì nghĩ đứa con sẽ cần bà. Khi Tịnh, cháu của ông Phủ, bị mất trí, chính bà đã thân hành đưa Tịnh đi chửa bệnh. Và khi ông Phủ mất, bà đã bán tư trang để lo việc an táng ông Phủ một cách long trọng. Bà cao thượng tha thứ cho chồng : Bà nhìn xác chồng (…), bà nói như rên rỉ : « Mình sướng hơn tôi nhiều. Mình bỏ đi đúng lúc lắm. Nếu sống khôn thác thiên, mình hãy giúp tôi theo mình với (…). Tôi hứa kể từ đây tôi sẽ không còn hờn giận mình nữa. (tr. 347)

Đòi hỏi lớp người phụ nữ trẻ tuổi thời đó, có ít nhiều học vấn, phải noi gương bà Phủ là một điều không thể có được. Bánh xe lịch sử không bao giờ quay lùi.  Đời sống ở tỉnh lẻ vẫn còn tinh thần thủ cựu, hẹp hòi, dư luận thường phê phán khắc khe những người phụ nữ đã lầm lỡ, cảnh sống trở nên nặng nề, nhàm chán. Trong bối cảnh đó, người phụ nữ ý thức mình đứng trước một sự lựa chọn : hoặc chấp nhận một cuộc sống quá ràng buộc của truyền thống, tập tục, hoặc ra đi để xây dựng một cuộc đời tự do, tốt đẹp hơn.

Có những người phụ nữ chấp nhận ở lại. Truyện Nhang Tàn Thắp Khuya cho thấy một loạt chân dung phụ nữ trong một gia đình quyền quý : bà Đốc Phủ sứ, bà Chợ Lớn, bà Út, là ba bà vợ của ông Đốc Phủ sứ, và các phụ nữ khác : Thục Nghi, Tư Kiên, Sáu Niệm, hai chị em Hai Diệm và Ba Ngoạn, Quế Hương. Trong số các cô gái trẻ có những cô có trình độ học vấn : cô Sáu Niệm học trường Tây, cô Hai Diệm và cô Ba Ngoạn đều có bằng thành chung, họ yêu thích văn thơ. Trong khi cô Ba Ngoạn sẽ chọn một con đường táo bạo để tự giải phóng mình thì cô Quế Hương và Thục Nghi an phận với nếp sống cổ truyền. Cô Quế Hương là chủ một tiệm may, cô làm ăn phát đạt. Một ông Hội đồng Quản hạt góa vợ, hai con, hơn cô 13 tuổi, có ý định hỏi cô làm vợ. Khi hay tin, trong nhà đều kinh ngạc, nhưng cô Quế Hương tuyên bố thẳng thừng : Đối với tôi, luôn luôn chỉ cần môn đăng hộ đối. Ông ta há không phải là người có danh giá, có ăn học hay sao ? (tr. 201) Vậy là cô Quế Hương chấp nhận một cuộc hôn nhân theo lý trí. Thục Nghi là người giàu tình cảm, không hết kinh ngạc trước một người con gái như cô Quế Hương xem nặng lý trí đến mức hy sinh đời sống tình cảm. Phần Thục Nghi, cô mới 20 tuổi, sắp làm mẹ. Thục Nghi là một cô dâu được bên nhà chồng quý trọng : cô vừa đảm đang việc nhà vừa khôn khéo đối xử với mọi người. Đức, chồng của cô, yêu thương cô với một tình yêu trang nghiêm, chừng mực, Đức có xu hướng trọng nghĩa trước tình. Mà Thục Nghi thì trẻ trung, lãng mạn, khao khát một tình yêu say đắm, cho nên cô cảm thấy yếu đuối trước mối tình tha thiết của một người con trai tên Duy đồng trang lứa với cô. Cuối cùng Thục Nghi lòng buồn xao xuyến chấp nhận cuộc đời do định mệnh an bài. Thục Nghi nhìn bức tường bằng bê tông có gắn phía trên những miểng chai, bức tường biểu tượng cho sự ngăn cản, đóng kín cuộc đời của Thục Nghi từ đây. Và thành phố Vĩnh Long hiện lên qua cái nhìn buồn bã của Thục Nghi : Thành phố già nua, trầm lặng với sông rạch vây quanh, in dấu tháng ngày trống rỗng trôi qua. Buổi trưa, nắng trải lên trên các con đường tráng nhựa, cái hè phố, các dãy tiệm. Nơi đây sẽ giam hãm nàng suốt đời trong nỗi buồn duyên tủi phận, bên cạnh người chồng sớm cằn cỗi trong tâm hồn. (tr. 246)

Trong khi Thục Nghi ngoan ngoãn cúi đầu trước một xã hội bảo thủ, thì những người con gái khác nuôi mộng thoát ly. Trong một cuộc sống vẫn giữ lề thói xưa, cảm giác chung của những người con gái ở tỉnh lẻ là cái không khí ngột ngạt, khó thở, thiếu một chân trời mới lạ. Ý muốn thoát ly ám ảnh họ. Trong truyện ngắn Một Buổi Chiều (tập truyện Mèo Đêm), người con gái tên Linh sống một mình ở Long Xuyên, trong một ngôi nhà cổ, thổ lộ : Đêm nào tôi cũng nghe tiếng sông róc rách sau nhà, tiếng tàu xà lan chạy xình xịch. Đêm nào tôi cũng chìm trong những tiếng động đó. Tôi phải ra đi. Ra khỏi cái nhà này, cuộc đời tôi sẽ thay đổi (…). Cuộc đời ở đây đè nặng làm tôi nghẹt thở. (tr. 17-18)

Liễu, cô gái kể truyện trong Thú Hoang, làm nghề giảng tập viên, cũng cùng một tâm trạng, cô nói : Tôi đã từng nuôi dưỡng ý tưởng thoát ly khỏi tỉnh này, để tìm một không khí mới. Tôi sẽ rời bỏ ngôi nhà cổ âm thầm với tiếng cắc kè trên đầu kèo, như lời nguyền rủa tương lai từng đêm, với đàn chuột lắt chí chóe dưới đáy tủ nghe nhức nhối, rờn rợn trong tâm não và tôi sẽ đi trốn mùi ngan ngát của hoa hoàng lan, lẫn hoa dạ lý thơm suốt đêm làm tôi muốn chết ngộp. Tôi ngại nghe tiếng chim heo hét lên buốt óc vào lúc tảng sáng và tiếng xà lan xình xịch bên kia sông. Tôi muốn chạy trốn bối cảnh nhàm chán đó cùng những âm thanh rã rời buồn nản như cuộc sống tôi hiện tại. (tr. 23-24)

Đức, bạn của Liễu, càng quyết liệt hơn trong ý muốn rời bỏ cuộc sống ở tỉnh lẻ. Đức đã từng lầm lỡ và ý thức về những lời phê bình nghiêm khắc của người dân Vĩnh Long. Đức xem Sài Gòn như một vùng đất mênh mông hay một con sông lớn, nơi có thể bôi xóa tông tích và quá khứ của mình để xây dựng lại cuộc đời. Đức thúc giục Liễu lên Sài Gòn học Anh văn, đi làm cho Mỹ. Cô viết trong thơ cho bạn : Hãy làm thứ chim bói cá, gặp mồi là chớp liền. Sài Gòn là một con sông rộng có nhiều mồi… (tr. 22)

Nhân vật Nguyệt trong truyện Cho Trận Gió Kinh Thiên cũng có những mơ ước như thế. Nguyệt quê ở Vĩnh Long, cô là con của một người trọc phú nhiều vợ, nhiều con, ông từ bỏ mẹ của Nguyệt trước khi cô sinh ra. Nguyệt lên Sài Gòn, mang mặc cảm về tông tích của mình, cô quyết sẽ có một cuộc đời khác.

5/ Sài Gòn : một chân trời mới hay một thế giới ảo ?

Sài Gòn hoa lệ đã trở nên một huyền thoại đối với các cô gái tỉnh lẻ. Tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ không cho người đọc biết tiếp chuyện của Đức và Liễu ra sao trong cái dòng sông mênh mông có nhiều mồi. Chỉ thấy trong tuyện Một buổi chiều có cô Linh đã từng là một giảng tập viên ở Long Xuyên, trong Nắng chiều vàng có một cô giáo đến dạy học cho một cô điếm tên Mi-sen, và trong truyện dài Ngọn Pháo Bông, một cô giáo tên Lan dạy Anh văn cho các cô gái điếm. Các cô giáo trên đây có thể làm liên tưởng đến nhân vật Liễu vốn là một giảng tập viên ở quê nhà, và nếu nhìn xa hơn, người đọc sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của tác giả… Dù sao trong số các phụ nữ ở tỉnh lẻ lên Sài Gòn, đã có hai nhân vật được miêu tả rõ ràng, đó là cô Ba Ngoạn trong Nhang Tàn Thắp Khuya và Nguyệt trong Cho Trận Gió Kinh Thiên, còn lại là nhóm phụ nữ hoặc từ thôn quê bị lường gạt để lên Sài Gòn làm nghề buôn hương bán phấn hoặc những thiếu nữ vì hoàn cảnh gia đình mà bị sa vào cạm bẫy.

Cô Ba Ngoạn, như chúng ta đã thấy, sau mối tình tan vỡ vì vấn đề giai cấp, cô có những dự định to lớn. Cô là người thông minh có học, có óc tự lập và có bản lĩnh. Cô muốn thoát ly và cô sáng suốt nhận định : Tại sao một người con gái muốn sống tự lập, muốn thoát ly khỏi cái không khí nặng nề và cái lề thói cổ hủ của gia đình, thì thiên hạ trút lên đầu bao nhiêu là tội lỗi ? Nên hư gì thì cũng do mình… Cô nói với người anh của cô : Anh quên một điều là gia đình ta là gia đình có giáo dục, lại dòng dõi trâm anh thế phiệt nữa. Em không dại gì làm cho gia phong mình bại hoại đâu. (tr. 220) Cô làm thơ, viết văn, đăng trên các báo ở Sài Gòn và cô thật sự vào nghề. Cô nói : Thế nào tôi cũng phải đi. Văn đàn rất cần nữ giới đóng góp. (tr. 211) Các bậc cha mẹ : bà Hội đồng Hạc, mẹ của cô Quế Hương, ông Đốc Phủ sứ, ông Năm, cha của cô Ba Ngoạn, đều phản đối. Ông Năm lúc đầu đăng bài trên báo tìm con, rồi đăng bài từ con. Ở Sài Gòn cô Ba Ngoạn giao thiệp rộng, cô mở phòng tiếp khách để bàn luận về văn thơ gọi là salon littéraire, cô uốn tóc, học nhảy đầm, lái xe hơi, chơi quần vợt. Cuối cùng cô lấy một người Pháp, chủ nhiệm một tờ báo Pháp ngữ. Tóm lại, nơi cô Ba Ngoạn có một hiện tượng hoá thân mà gia đình ở quê nhà khó lòng theo kịp.

Nhân vật thứ hai là Nguyệt, cũng ở Vĩnh Long lên Sài Gòn. Nguyệt là một người con gái sống theo lý trí, có óc tính toán. Nguyệt thuê nhà trong một khu lao động để sống với người tình là Đồng. Một dịp để tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ đưa người đọc vào cái thế giới ồn ào, náo nhiệt của lớp phụ nữ bình dân, mà những đặc điểm là : ngồi lê đôi mách, cãi lộn và chửi bới. Những môn giải trí mà họ yêu thích là đánh bài và xem tuồng cải lương. Ngày giỗ của Đức Cửu Thiên Huyền Nữ là một biến cố trong xóm, mọi người háo hức ra vào sân miễu, nơi tiếng trống vang lên trong khói hương, đèn đuốc. Nguyệt mới dọn đến đã sớm biết chuyện của mỗi người trong xóm. Nguyệt có cảm tưởng ở đây bày ra một sân khấu chật hẹp mà mọi người trong xóm lần lượt diễn tuồng bừa bãi trước mắt nàng. (tr. 52) Từ xa đến, cô khám phá đời sống, cách ăn ở của lớp người bình dân nơi đây. Nhất là ngôn ngữ của đàn bà, một thứ ngôn ngữ thô tục, hung tợn. Đối với họ, chửi là tỏ ra có uy quyền. Họ chửi có vần có điệu, từ vựng phong phú, đem phơi bày những phần kín của thân thể, những bài tiết của thân thể. Nổi bật nhất là nhân vật bà Tư : Khuôn mặt bà nhiều thịt hum húp như bị chứng phù thủng không thể làm giảm ánh mắt sắc sảo và cặp mày xếch ngược, đầy uy quyền. Năm Út, bà Xành, bà Bảy Sánh chửi dồi dào, dai dẳng, nhưng vẫn thua bà Tư : Bà sáng tác câu chửi, bà lựa chữ thật mau lẹ, thật thú vị, thật thấm vào cơn đau xót người nghe. (tr.277) Nguyệt nhận thấy đàn bà trong xóm can thiệp vào đời sống của nhau quá nhiều, nhưng có cái hay là họ tương trợ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Vào thời đó, chiến cuộc xảy ra trên đất nước, làm xuất hiện trong xã hội miền Nam một hạng người xa lạ, nhiều tiền : người Mỹ. Riêng đối với người trong xóm, sự kiện này làm thay đổi những toan tính của họ về đời sống vật chất. Những người phụ nữ bình dân, thất học, không cần biết vì sao có người Mỹ đến đây, chỉ cần biết họ nhiều tiền và đó là một nguồn lợi đáng kể. Bà Tư Búp thường chửi bới, rẻ rúng chồng và đi làm điếm cho Mỹ, bà ta ăn mặc đẹp đẽ, đeo vàng. Còn bà Ngộ và bà Ba Xành khi xưa đi làm bếp cho Tây và còn mần việc khác nữa, nay bà Ngộ muốn giới thiệu cho bà Ba Xành một người Mỹ để nấu ăn. Bà Ngộ còn muốn cho bà bạn của mình mượn cuốn sách để học tiếng Mỹ. Hồi mới đi làm cho Mẽo, cũng nhờ nó mà tôi nói một vài tiếng Mẽo. Khổ cho bà Ba Xành là bà mù chữ. Nhưng lời đề nghị của bà Ngộ cũng đủ làm cho bà Ba Xành sung sướng khi bà nghĩ bà sẽ có tiền sửa sang nhà cửa, trong nhà bà sẽ có đủ tiện nghi : quạt máy, tủ lạnh, ti vi, bếp ga, bàn phấn, giường nệm mousse…

Nguyệt cũng đi làm cho Mỹ, nhưng ở mức độ cao hơn : cô làm thư ký cho một sở Mỹ. Nguyệt bị Hưng, người tình thứ nhất phụ bạc, vả chăng cô cho đó là một mối tình quá tinh khiết, cô muốn tình yêu phải đi kèm với những rạo rực của thể xác. Đối với Đồng, một thanh niên đẹp trai nhưng bị chột mắt, thì cô không có tình yêu, chỉ lạm dụng tình yêu và lòng tốt của Đồng, cô quan niệm Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài, mặc dù Nguyệt chỉ muốn Đồng là người tình, không là chồng. Nguyệt luôn luôn tính toán, vụ lợi. Trước kia, tuy bị người cha trọc phú bỏ rơi, nhưng Nguyệt vẫn mơ được hưởng gia tài, nên cô theo đạo Thiên Chúa, đi nhà thờ. Vì cha của cô tuy nhiều vợ nhưng vẫn theo tôn giáo này. Khi thấy việc đi nhà thờ không làm lung lay người cha, cô không giữ đạo nữa. Với đàn ông cô còn tính toán xa hơn : sau Hưng và Đồng, cô nhắm người Mỹ. Cô muốn lăn vào một cuộc phiêu lưu với nhiều người đàn ông. Trong thời gian sống với Đồng, Nguyệt đi chơi với mấy người Mỹ trong sở. Bob Granger, viên trưởng phòng, đưa cô đi ăn ở nhà hàng, cầu hôn với cô và hứa sẽ đưa cô về sống ở Philadelphia, nhưng Nguyệt không mấy ham thích đời sống ở Mỹ vì khác văn hóa, cô chỉ nuôi mộng giàu sang, trở về quê nhà làm lóa mắt mọi người. Thế là Nguyệt bỏ Đồng, rời xa xóm lao động. Cô trở thành chiêu đãi viên hàng không, buôn lậu và trở nên giàu có.

Ở Sài Gòn, Ba Ngoạn và Nguyệt là hai mẫu người phụ nữ leo thang trong xã hội, người hoan hỉ chọn lựa con đường văn hóa, kẻ tìm hạnh phúc trong thế giới tiền bạc. Đối với họ, Sài Gòn là một chân trời mới. Nhưng đối với giới phụ nữ sống về đêm thì Sài Gòn là một thế giới ảo khiến họ trượt chân rơi xuống vực thẳm của sa đọa. Tập truyện ngắn Lao Vào Lửa và truyện dài Ngọn Pháo Bông là những truyện về chủ đề gái điếm. Có những cô gái vì hoàn cảnh gia đình sa sút, vì rủi ro nên sa vào con đường phải bán thân như cô Tú, trong truyện ngắn Lao Vào Lửa ; cô là con một ông phu xích lô bị bại liệt, không còn khả năng nuôi một bầy con tám đứa, cô Tú đành trở thành cô Tina rước khách ở bar Honeymoon.

Truyện Ngọn Pháo Bông kể cuộc đời của một cô gái điếm tên Thắm. Từ một cô gái quê mùa thất học, bị hiếp năm 18 tuổi, Thắm bị một người đàn bà dụ dỗ đưa lên Sài Gòn và lần lần trở thành một cô điếm hạng sang, có nhiều khách Mỹ, được đàn em kính nể. Vào tuổi 40, Thắm bâng khuâng nghĩ vể cuộc đời sa đọa của mình, ao ước bỏ nghề và tạo một gia đình bình thường, đôi khi Thắm nhớ về quê nhà có cảnh ruộng đồng. Ngọn Pháo Bông có dáng dấp một tiểu thuyết trinh thám. Vào truyện có cảnh Thắm bị giết ngay trong phòng của cô, và Cường, người đàn ông sống nhờ vào cô, đã biến mất, tiền bạc và tư trang của cô không còn nữa.

Đối với hạng phụ nữ bị bắt buộc hay tự do chọn lựa lối sống phóng đãng sa đọa, vào một lúc nào đó họ phải đối đầu với một vấn đề hệ trọng : vấn đề làm mẹ.  Trong truyện ngắn Gái Độc Không Trái (tập truyện Chiều Mênh Mông), người kể truyện là một cô gái điếm gần 40 tuổi, cô này đã phá thai nhiều lần, lần này cô lại mang thai, người bạn tên Thành giới thiệu với cô một y tá có tiếng phá thai không làm đau đớn. Cô ta nghĩ : …tôi đâu phải là hạng đàn bà nặng tình mẫu tử (…). Thế giới của tôi là quán rượu chìm lờ mờ trong cảnh đèn đỏ, trong khói thuốc như sa mù buổi sáng. Cuộc đời của tôi thu gọn trên chiếc giường… Cũng có lúc cô ta nghĩ đến cuộc đời làm mẹ, nghĩ đến tình mẫu tử, nhưng rồi cô ta bị cuộc sống quen thuộc cuốn đi.

Người gái điếm ý thức thân phận thấp hèn của mình trong xã hội : Đi đâu ai mà chẳng biết danh tụi tui là me Tây me Mỹ. Người ta lúc nào cũng kêu mình là « con đĩ » chớ có ai tôn làm « bà đĩ » bao giờ đâu… (Nắng chiều vàng, tr. 70, Mèo Đêm)

Qua những cuộc biến thiên của đất nước, từ thời Pháp đô hộ đến thời kháng chiến, thời đất nước phân chia đưa đến cuộc chiến tranh Nam Bắc, xã hội miền Nam đã biến đổi nhiều, và thân phận người phụ nữ cũng nổi trôi theo những biến đổi đó. Sống trong một xã hội bảo thủ với những kỷ cương xưa cũ, người phụ nữ có ý muốn thoát ly để tự giải phóng mình. Mặt khác, một hiện tượng xã hội đã xảy ra trong thời chiến : sự hiện diện của người Mỹ làm nảy sinh lòng tham lam tiền bạc nơi một số người phụ nữ khiến họ mất phẩm giá, mất đạo đức. Đây là mặt trái của xã hội miền Nam. Khi phơi bày mặt trái này, tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ có quá bi quan chăng ? Dù sao xã hội miền Nam cũng có một bộ mặt tích cực với những người phụ nữ đã có những bước tiến khá dài trên con đường văn hóa để tự giải phóng mình và để tiến dần đến vấn đề nữ quyền. Nhưng nếu cho rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ miêu tả mặt trái của xã hội thời đó thì hoàn toàn không đúng. Đọc tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng ta sẽ thấy cái nhìn của bà bao quát cả nữ giới, đặc biệt nữ giới ở tỉnh lẻ đồng bằng sông Cửu Long. Với trải nghiệm của bản thân, tác giả thấu rõ đời sống tâm lý phong phú, đa dạng của người phụ nữ. Bà miêu tả sự khắc khoải, những ray rứt âm thầm của tâm hồn người nữ, những vùng vẫy, chờ đợi, khát khao, mong ước, và khi gặp nỗi thống khổ thì chỉ biết chịu đựng cho đến lúc tâm thần suy sụp, có khi lại mạnh dạn ra đi.

Điều đáng chú ý là Nguyễn Thị Thụy Vũ tự tạo cho mình một nghệ thuật miêu tả hướng về thị giác ; truyện của bà mang nhiều màu sắc, màu sắc áo quần người phụ nữ, màu sắc của đồ vật trong không gian, của thảo mộc trong thiên nhiên, đôi khi quá nhiều màu sắc làm choáng ngợp ; sau thị giác là khứu giác, đặc biệt trong  Khung Rêu : mùi bồ kết, mùi hoa nguyệt quế và mùi dạ lý, mùi hoa bưởi lẫn hoa cau, mùi trái cây chín, v.v…. Mùi thơm của các loài hoa trong vườn, đôi lúc quá ngào ngạt, quá dai dẳng khiến người con gái muốn rời bỏ nơi chốn để đi xa, có lúc mùi thơm lại làm người con gái càng thêm lưu luyến với cái nơi sống của mình. Tác giả cũng thường nhân cách hóa thiên nhiên : Mặt trời đang dãy chết bên kia sông… Sự vắng ngắt của buổi chiều ôm chầm lấy tôi và dìm tôi như muốn ngộp thở…

Với một nghệ thuật miêu tả rất riêng biệt như thế và với một ngôn ngữ rặt miền Nam, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã vẽ lên một bức tranh của nữ giới theo sự thăng trầm của đất nước và trong một xã hội có lắm đổi thay.

 

(1) Tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đều được Hội Nhà Văn tái bản năm 2017.

 

Paris, tháng 11 – 2018

 

 

 

 

SÁNG TẠO CỦA THẢO TRƯỜNG

 

Văn học miền Nam tuy có một tuổi thọ rất ngắn, nhưng chỉ trong vòng hai mươi năm, biết bao tác phẩm đã nở rộ trong một bầu không khí tự do, ngoài sự thống trị của mọi hệ tư tưởng, ngoài mọi áp bức chính trị. Tác phẩm của Thảo Trường đã thành hình trong bối cảnh đó, và đã góp phần xây dựng nền văn học miền Nam mà Thảo Trường là một trong những nhà văn trụ cột.

Năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, một thanh niên 18 tuổi tên Trần Duy Hinh, về sau trở thành nhà văn lấy bút hiệu Thảo Trường, đã rời bỏ quê hương miền Bắc, đành giã từ người mẹ thân yêu để theo làn sóng di cư vào Nam. Đối với người thanh niên này, một cuộc phiêu lưu bắt đầu từ đây, phiêu lưu qua những biến cố lịch sử, qua khói lửa chiến tranh, qua ngục tù cộng sản, để cuối đời trôi giạt đến một cái xứ xa lạ, và từ biệt cõi đời ở đấy. Nhưng cuộc phiêu lưu đã đem lại cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm để đời.

Cũng như Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường cầm bút rất sớm, đồng thời ông cũng làm bổn phận của một người trai thời loạn. Ông nhập ngủ và dấn thân cho chính nghĩa Quốc gia. Ở Thảo Trường, chữ nghĩa đồng hành mật thiết với trải nghiệm và suy tư. Chữ nghĩa được cân nhắc, nâng niu, quý trọng để nói dùm tác giả bao ưu tư, bao sầu muộn trước sự đảo điên của thế cuộc.

Thử Lửa là tập truyện ngắn đầu tay của Thảo Trường, xuất bản năm 1962. Trong một cuộc phỏng vấn do Đặng Phú Phong thực hiện    trên diễn đàn Saigon Times, tháng 8 năm 2008, Thảo Trường cho biết những truyện ngắn trong Thử Lửa đều được viết từ 1956 (năm ông 20 tuổi) đến 1960, và đều đăng trên tạp chí Sáng Tạo. Thử Lửa mở đầu cho một loạt tác phẩm, những tập truyện ngắn như : Chạy trốn (1964), Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp (1966), Chung cuộc (1968) ; về tiểu thuyết thì có : Vuốt mắt (1969), Bên trong (1969), Th. Trâm (1969), Ngọn đèn (1970), Cánh đồng đã mất (1971), Bên đường rầy xe lửa (1971), Người khách lạ trên quê hương (1972), Lá xanh (1972), Cát (1974), và trường thiên tiểu thuyết Bà Phi đăng feulleton trên báo trước 1975, dài mấy nghìn trang. Ngoài ra, Thảo Trường có một tập tùy bút : Hà Nội, nơi giam giữ cuối cùng (1973).

Sau một thời gian dài gác bút vì ở tù cộng sản trong 17 năm, tác giả cầm bút trở lại ở hải ngoại, và cho ra các tác phẩm như những tập truyện ngắn : Tiếng thì thầm trong bụi tre gai (1995),  Tầm xa cũ bắn hiệu quả (1999), Miểng (2006), và ba tiểu thuyết : Đá mục (1998), Mây trôi (2002) và Thềm đá xanh rêu (2007). Chưa kể nhiều tiểu thuyết khác mà Thảo Trường dự định cho xuất bản, nhưng rủi ro ông lìa đời trước khi các dự định được thực hiện.

Ngần ấy tác phẩm chứng tỏ sức viết của Thảo Trường rất dồi dào, kiên trì. Có thể nói, sáng tạo của Thảo Trường trải qua ba thời kỳ mà tôi gọi : thời của dòng sông, thời khói lửa và thời xa xứ.

Thời của dòng sông

Trong những năm đầu sống ở miền Nam, Thảo Trường là một thanh niên mới lớn, vừa nhập vào cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam, nên có những trăn trở, ray rứt rất sớm. Trong các truyện đầu, Thảo Trường thường nhắc đến tuổi thơ, nói đến tình yêu đôi lứa với những bâng khuâng, những ảo tưởng của tuổi trẻ, rồi đến vấn đề chết, một vấn đề lớn lao của con người. Và từ ý nghĩ tự do lựa chọn một cái chết, tác giả hướng về con sông Bến Hải tượng trưng cho sự chia đôi đất nước. Ý muốn dấn thân bắt đầu từ đây chăng ?

Chủ đề chết hiển hiện trong tập Thử Lửa. Có một truyện mang tựa đề Xác chết. Trong truyện Cái hố, người con trai thắc mắc về sự chết chóc, nó muốn biết cái mùi khét khi da thịt bị đốt cháy. Còn truyện Trần gian kể một vụ tự tử hụt,  nhân vật muốn tự tử vì chưa tìm thấy chân lý ở đời. Trong truyện Làm quen có hai loại chết : cái chết do mình muốn và cái chết do kẻ khác gây ra. Một người con gái trước ngày cưới bỗng nhiên tự tử, cô ta có cái ý nghĩ điên rồ là chết để người yêu, một họa sĩ, vẽ mình sau khi mình chết và vẽ … tình yêu. Còn cái chết kia là cái chết của hai người do một tai nạn giao thông gây ra. Trong những suy nghĩ về cái chết trong truyện này thấp thoáng màu sắc của thuyết hiện sinh. Trong cuốn L’existentialisme est un humanisme (Thuyết hiện sinh là một chủ nghĩa nhân văn), tác giả Jean Paul Sartre viết : … không có thuyết quyết định, con người tự do, con người là sự tự do (…) con người bị đày phải tự do. Bị đày, bởi vì con người không tự tạo ra mình, và mặt khác con người lại tự do, bởi vì một khi bị vứt ra trên đời, con người chịu trách nhiệm về tất cả những điều mình làm.

Nhân vật của Thảo Trường thì nghĩ : Mình đã không có thẩm quyền gì về sự sinh ra của mình, thì ít nhất để đền bù lại mình cũng phải có ý kiến, thái độ về cái chết của mình chứ. Phải làm thế nào trên đời này không còn những bất trắc. Cái chết là việc quan trọng nhất trong đời sống. Vậy thì sự chấm dứt của mỗi cá nhân phải do chính cá nhân ấy định đoạt. Như thế để chứng tỏ kể từ khi ra đời mình cũng đã biết được mình, mình hoàn toàn tự do. Cái chết của tôi, tôi đã định đoạt trước, vì vậy tôi nhập ngũ. (tr. 84)

Cái chết được nhân vật chọn lựa không phải là đơn giản tự sát, một hình thức tiêu cực ; nhân vật chọn cho cái chết của mình một ý nghĩa cao đẹp, đó là dấn thân cho đất nước bằng cách nhập ngũ. Dấn thân cho đất nước vào một giai đoạn rối  bời, khiến con người ngẩn ngơ. Đối với nhân vật trong truyện, nhập ngũ là để đối phó với một đe dọa lớn : sự chia đôi đất nước mà con sông hiền hòa kia bị bắt buộc đóng cái vai trò biểu tượng. Trong thời kỳ sáng tạo đầu đời này, Thảo Trường đã bị con sông ám ảnh và linh cảm một tương lai không mấy sáng sủa. Cho nên tôi gọi thời gian này là thời của dòng sông.

Trong truyện Làm quen, khi người kể truyện đứng gác trên lô cốt, nhìn về dòng sông thì có những trăn trở về sự phân chia địa lý, nhưng tin tưởng không có chia cách trong lòng người :

Ý nghĩ đầu tiên của tôi về con sông này : nó chỉ là biên giới của đất đai, nó không là biên giới của tư tưởng. Người bên kia hay bên này không qua lại nhau, nhưng những tư tưởng phát sinh từ tâm hồn người bên này hay bên kia thì cũng nẩy nở sang bên kia hay bên này (…) Quốc lộ vẫn bò dài nam bắc, chiếc cầu qua sông rất vững chắc, nước chảy hiền từ. Tôi cố gắng phân biệt ra biên giới nhưng không được, vẫn chỉ là làng mạc, đồng ruộng và đường đi, muôn đời muôn thuở vẫn là hình ảnh quê hương tôi. Dù đã bị giới hạn cái quyền tự do tung tăng chạy nhảy trên đất nước, để phải dừng chân ở ngọn đồi này, tôi cũng vẫn tự bảo mình rằng bên kia là của mình, phải là của mình. Mười ba triệu người đằng sau tôi chắc cũng tin như vậy ? Tôi đứng gác ở tiền tuyến cho nửa dân tộc yêu nhau và tin tưởng con sông trước mặt tôi sẽ không là biên giới. (tr. 89-90)

Nhân vật trong truyện từ chối sự phân chia lãnh thổ một cách vô lý, để vẫn tha thiết yêu thương cái không gian bên này và bên kia gọi là quê hương, vẫn nhận thức không gian đó là sở hữu thiêng liêng của mình.

Đặc biệt truyện Mầu và sắc nói lên nỗi trăn trở, buồn phiền về sự ngăn chia và niềm tin vào tình yêu thương của con người. Truyện Mầu và sắc là nỗi niềm của một nhà giáo đã từng sống gần con sông chia đôi đất nước, và sắp rời xa nơi này. Nhân vật bâng khuâng : Cũng chỉ là một dòng sông, cũng chỉ là một chiếc cầu (…) Tôi chưa giám dùng chữ biên giới, có lẽ vì trong tôi nó còn tiềm ẩn một niềm tin. (tr 15) Có những cái không thể chia cắt được : … không khí tôi thở có thể là từ bên này hay bên kia bởi làn gió hiu hiu từ cửa biển thổi vào. (tr. 15)

Trong suy nghĩ của một nhà giáo có nhiệm vụ gieo trong tâm hồn của trẻ thơ tình yêu thương mọi người, có sự cần thiết bỏ đi những chướng ngại gây chia rẽ : những cuộc biểu tình, những biểu ngữ, khẩu hiệu, những bản đồ tham mưu, những chiến lược. Phải phá tan sự dửng dưng của hai người cán bộ đứng gác ở hai đầu cầu, hai người không bao giờ cười với nhau. Nhưng phải công nhận khó mà hàn gắn sự chia cắt : Nhưng thực ra vấn đề không ở con sông, không ở chiếc cầu, không ở cột cờ. Nó ở trong lòng con người hai miền, nó ở trong lòng chúng ta. (tr. 23) Cũng như trong truyện Làm quen, ở đây nhân vật cũng tra vấn sự vô lý của một phân chia đất đai, một chia cách lòng người.

Phải nói dòng sông là một đề tài gây trăn trở, bứt rứt, một ám ảnh của Thảo Trường. Nhưng đã đến lúc không còn bâng khuâng về vai trò vô lý của con sông nữa. Bánh xe lịch sử vẫn quay, và bộ mặt hung thần của chiến tranh đã hiện đến cận kề.

Thời khói lửa

Khi chiến tranh lan tràn khắp nơi, Thảo Trường bước qua một giai đoạn mới : ông dấn thân hết mình, ông đi tác chiến dọc ngang trên khắp lãnh thổ miền Nam. Và khi cầm bút, ông không còn loay hoay với những khắc khoải về sự phân chia đất nước, sự chia cắt tình người, giờ đây ông thao thức, ông bị dằn vặt bởi thân phận con người trong chiến tranh. Có hai truyện ngắn có thể tượng trưng cho thời kỳ sáng tạo này. Một truyện rất nổi tiếng : Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp, ra năm 1964, và một truyện ít được người đọc biết đến, đăng trên tạp chí Đất Nước, số 6, tháng 9 và 10 năm 1968, truyện : Trong hầm trú ẩn. Trong hai truyện này, tác giả miêu tả hoàn cảnh sống của hai nạn nhân chiến tranh. Thảo Trường có lối viết rất sâu sắc, người đọc khó quên những nhân vật của ông.

Truyện Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp là truyện một người phụ nữ quê mùa, nạn nhân của thời cuộc, bị ép giữa hai chủ nghĩa cộng sản và Quốc gia. Vào truyện, tác giả khéo léo dàn cảnh thiên nhiên : một con kinh dài với những con lạch chảy từ một cánh đồng bao la tràn vào. Đường đi nhỏ hẹp có những chiếc cầu khỉ. Cây cối hai bên bờ quá um tùm đến nỗi ánh sáng mặt trời khó len lõi vào đến mặt nước, nhà cửa lưa thưa đây đó. Chị Tư lớn lên và sống trong cái không gian của nước và thảo mộc này. Chị không hề biết đến cái thế giới lớn lao bên ngoài. Chị lập gia đình với anh Tư, vợ chồng chỉ sống với nhau sáu tháng, sau đó anh Tư đi tập kết biền biệt. Nơi chị Tư sống ngày càng không yên. Có những người lạ mặt, bạn anh Tư, lúc đầu thấp thoáng trong khu xóm, dần dà ra mặt hẳn hòi. Có tiếng súng nổ, đồn dân vệ bị đốt cháy. Chị Tư phải học tập chính trị, chị sành sõi với những danh từ « tự do », « dân chủ », « căm thù », v.v… Nhưng quân đội Quốc gia trở lại, đồn dân vệ được xây cất lại. Lần này chị Tư học tập với phía Quốc gia, chị biết rành rọt Ấp chiến lược là gì. Sự hiểu biết của chị giàu thêm, chị biết tới hai chủ nghĩa : cộng sản và nhân vị. Nhân vị là một triết thuyết được chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm đề cao. Nhưng, một lần nữa, những xây dựng của phía Quốc gia bị tàn phá, « Ấp chiến lược » trở thành « Ấp chiến đấu » của các anh cán bộ. Một hôm chị Tư được giao phó một trọng trách. Cần nhớ trong suốt thời gian chị tiếp xúc với các anh cán bộ, thỉnh thoảng chị nhận được thư anh Tư do các anh này chuyển lại. Anh Tư không nói gì đến tình vợ chồng, trong khi chị Tư cảm thấy cô đơn, anh chỉ khuyến khích chị chuyên tâm tranh đấu. Chị được đề cử đi binh vận, chị phải lên chợ quận mở một quán cháo với một người cán bộ vờ làm em chị và vờ gia nhập dân vệ. Chị Tư nhận lời một cách miễn cưỡng. Ở quán cháo chị Tư quen biết với một anh binh sĩ truyền tin. Hoàn cảnh đưa đẩy chị Tư dan díu với cả hai người : người cán bộ, chú em vờ và anh binh sĩ truyền tin. Chẳng bao lâu chị mang thai, chị lấy làm lo lắng, không biết cái thai là con của ai. Người cán bộ nói cái thai là con của Đảng. Chị Tư bơ phờ trở về ngôi nhà lụp xụp bên bờ con kinh. Người cán bộ đã đào ngũ dân vệ, đi theo chị và không ngớt hà hiếp chị, áp bức chị. Một hôm anh ta bắt chị phải tự tay kẻ một biểu ngữ « Đả đảo Đế quốc Mỹ », tự mình leo lên cây, gắn biểu ngữ và tự tay buộc một trái lựu đạn sau tấm biểu ngữ. Tác giả dùng kỹ thuật lặp lại để nói lên sự khó nhọc của người đàn bà mang thai gần đến ngày sinh : Chị Tư ì ạch kẻ khầu hiệu (…). Chị Tư ì ạch vác thang ra gốc cây trước nhà. Chị Tư ì ạch mang cái bụng chửa lên thang. Chị Tư ì ạch đóng đinh tấm bảng. Chị Tư ì ạch cột sợi giây oan nghiệt từ chốt lựu đạn sang một cành cây, trước cặp mắt khuyến khích của anh cán bộ đứng dưới. (tr. 11)

Rồi cuộc hành quân của quân đội Quốc gia dừng lại ở con kinh. Các cán bộ đều biến mất. Trong khi toán lính đi lục soát bên ngoài, thì người sĩ quan chỉ huy vào nhà chị Tư, quan sát khắp nơi. Một người lính vào báo tin có một khẩu hiệu đả đảo Mỹ. Người sĩ quan ra lệnh không ai được đụng vào cái khẩu hiệu ; đã có hai người lính bỏ mạng vì giật một khẩu hiệu, làm nổ một trái lựu đạn ở phía sau. Khi biết chính chị Tư đã treo khẩu hiệu và gài một trái lựu đạn, người sĩ quan ra lệnh cho chị ra gỡ xuống, chị Tư van lạy ông ta vì chị sợ chết. Người sĩ quan lại biết thêm chồng chị Tư đi tập kết đã mười năm, ông ta lớn tiếng bắt chị phải ra gỡ trái lựu đạn, ông ta rút súng, chị Tư đâm hoảng. Chị Tư ì ạch với cây gậy dựa nơi góc nhà. Chị Tư ì ạch bước ra gốc cây. Chị Tư ì ạch dơ gậy lên giáng thật mạnh vào tấm bảng (…). Khi trái lựu đạn rơi xuống, chị bỏ chạy, toán lính thì nằm rạp xuống đất. Nhưng lựu đạn không nổ. Chị Tư té nhào xuống đất, chị bị động thai. Người sĩ quan bế chị vào nhà, đặt chị lên giường. Đêm hôm đó chị sinh một đứa bé thiếu tháng, và người sĩ quan đã làm cái công việc đỡ đẻ cho chị một cách tận tụy ; ông ta cảm thấy vui khi nghe đứa bé khóc. Lần đầu tiên chị Tư và người sĩ quan mỉm cười với nhau. Mấy hôm sau người sĩ quan đi khai sinh cho đứa bé, vì chị Tư không biết cha nó là ai, người sĩ quan bèn cho đứa bé tên họ của mình.

Truyện kết thúc bằng một lời nhắn tin của người sĩ quan với đứa bé khi nó lớn lên. Người sĩ quan nhắn với nó rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào, trước khi  quyết định làm một việc gì, nó phải nghĩ đến nỗi thống khổ của một người đàn bà mang thai, nghĩ đến những người mẹ đã bị nhiều chủ nghĩa hành hạ. Xin cậu hãy nghĩ tới cái hình ảnh đó (…) vì tôi chính là tên sĩ quan đã hành hạ mẹ cậu, đã đỡ đẻ cho mẹ cậu sau khi các đồng đội của tôi chết vì những thứ khẩu hiệu như cái khẩu hiệu « Đả đảo Đế quốc Mỹ » ấy.

Trong truyện Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp, những biến cố xảy ra dồn dập như để nhanh chóng đẩy người phụ nữ vào một hoàn cảnh không lối thoát, nỗi bất hạnh như giáng xuống thân phận một con người chỉ biết hứng chịu. Như đã nói, chị Tư bị ép giữa hai chủ nghĩa, chị đối diện với hai quyền lực mâu thuẫn nhau, chịu sự áp đặt của hai guồng máy tuyên truyền chống đối nhau, và cả trong thú nhục dục, chị hưởng thụ với hai đại diện của hai chủ nghĩa chống đối nhau. Tác giả dùng trạng từ ì ạch để nói lên sự khốn khổ của chị Tư trước hai quyền lực : chị tuân lệnh anh cán bộ cộng sản ì ạch leo lên cây, gài trái lựu đạn, chị tuân lệnh người sĩ quan Quốc gia ì ạch gỡ trái lựu đạn. Bên nào cũng hành hạ chị, bắt chị ì ạch gài, gỡ. Nhưng cuối cùng chị mỉm cười khi chị phát hiện lòng nhân ái của người sĩ quan.

Truyện ngắn thứ hai là truyện Trong hầm trú ẩn. Từ một con kinh ở miền Đồng tháp, người đọc đi vào không gian một khu xóm gần thành phố, để gặp một nạn nhân khác của chiến tranh.

Mở đầu truyện Trong hầm trú ẩn, cảnh chiến tranh tạo ngay một không khí bất an, gây lo sợ : trực thăng vần vũ trên trời, những tràng hỏa tiễn rơi xuống, những tiếng nổ làm rung chuyển nhà cửa.

Miện, nhân vật trong truyện, trước khi trở thành một người tàn phế, đã từng chỉ huy một tiểu đội, tham dự nhiều trận đánh, có lần chiến công của anh đã vang lừng trong dư luận. Nhưng rồi anh bị trọng thương, chân phải bị cưa, anh được lệnh giải ngũ, từ đó anh về sống với vợ con ở cái khu xóm ngoại ô này. Hằng ngày Miện giữ con cho vợ đi làm, anh cũng thường khập khiễng trên đôi nạng gỗ, ra quán cà phê uống nước, kể cho lũ trẻ con nghe cái thời oanh liệt của mình. Vợ Miện đi làm thuê ở một sở Mỹ, thường đem về những hộp thịt, thuốc hút, bia và các sản phẩm thường dùng của Mỹ. Chị ta cũng đem về những cái bao không, Miện liền đi đào đất bỏ đầy bao và kéo về nhà, chồng chất quanh bộ ván ngựa để làm thành cái hầm trú ẩn. Một hôm vợ Miện chạy về nhà than không đi làm được, vì có những người lính mang súng, ăn mặc lộn xộn, lạ lùng, đứng gác khắp nơi và xua mọi người trở về nhà. Vợ Miện lo sợ nếu không đi làm thì sẽ bị đuổi, Miện chống nạng lê chân đến khe cửa nhìn ra ngoài, rồi nói nhỏ với vợ : Tụi nó. Vậy là chiến tranh đã tràn đến cái khu xóm ngoại ô này. Miện bị vây hãm, và ngôi nhà tôn của hai vợ chồng cùng cái hầm trú ẩn trở nên cái không gian chật hẹp cầm tù Miện. Khi nghe tiếng súng nổ, Miện lầm bầm : Tiên sư mấy anh Cộng sản. Nhưng Miện có tới hai kẻ thù : Cộng sản và Mỹ. Đối với Mỹ, Miện không cần nhìn xa hiểu rộng với những lập luận chính trị, hệ tư tưởng gì cho rắc rối. Không, anh chống Mỹ chỉ vì… anh ghen, vì sợ người Mỹ xúc phạm đến vợ mình. Miện tưởng tượng người Mỹ thèm muốn phụ nữ Việt Nam, và lợi dụng địa vị làm chủ có nhiều tiền của họ để cưỡng ép những người phụ nữ nghèo, làm dưới quyền họ. Cho nên Miện không ngớt tra hỏi vợ, mặc dù chị vợ quả quyết không có chuyện gì, Miện vẫn không yên lòng. Có lần vợ Miện cười, tỏ vẻ coi thường cử chỉ ve vãn của người Mỹ, Miện liền tát vợ một cái tát nảy lửa. Nhưng rồi anh xin lỗi vợ, tỏ lòng thương yêu vợ và lấy làm khổ tâm. Miện nói : Em như thế này. Cổ trắng như thế này. Vai đầy như thế này… Đến anh… mà anh còn hằng ngày thèm muốn huống hồ tụi nó, tụi dâm đảng đó, tránh sao chúng không tìm cách gỡ gạc.

Tuy chống Mỹ, nhưng thường ngày Miện vẫn ăn đồ hộp của Mỹ, vẫn hút thuốc Mỹ. Lòng anh uất ức, quặn đau. Anh đối mặt với hai kẻ thù : kẻ thù ở ngoài kia, đang mang súng AK, làm chủ khu xóm, và kẻ thù trong nhà, ngay trong hầm trú ẩn, hiện diện trong các món ăn, đồ uống, nó bám chặt lấy anh và như trêu cợt anh, anh không làm sao thoát khỏi kẻ thù này. Bị dằn vặt, Miện lầm lì bỏ ăn. Người vợ không hiểu, cằn nhằn, trách anh không ăn sao không nói trước để chị ta lỡ mở hộp thịt, giờ phải vứt đi, thật là phí, thời buổi khó khăn, đâu phải ai cũng được ăn các thứ đó. Thường khi Miện hay nói : Đồ vứt đi. Đồ của Mỹ. Mẹ cóc ăn làm đếch gì mà mang về. Lần này nghe vợ trách, Miện phát cáu : Đổ cho chó nó ăn. Vợ trả lời nhà không có chó. Miện nói : Thì đổ đi và coi như tôi đã ăn rồi, ăn hết rồi. Con chó này đã ăn hết rồi. Được không ?

Nỗi đau xót xa nhất của Miện là cái thân thể tàn phế của anh, khiến anh không còn chiến đấu được nữa. Anh tiếc không còn được vẫy vùng như trước kia : Mẹ cóc chúng đứng ngơ ngơ như thế kia mà không thấy thằng lính nào phe mình vào cả. Ngày xưa tao đâu có chịu thế. Tao nhào vào làm liền. Bây giờ chúng nó ỉ có trực thăng của tụi Mỹ, động một tí là kêu trực thăng bắn tùm lum, làm sao không cháy nhà cháy xóm (…) Tao mà không tàn tật như thế này. Chúng mày sức mấy còn đứng đây. Cái chân cụt của Miện trở nên một ám ảnh, anh thường lầm bầm trong miệng : Mẹ cóc ông mà không bị cụt chân (…) Tao mà không cụt chân thì phải biết (…) Mẹ cóc thằng nào nó tỉa mình mà độc quá.

Miện trở nên bất lực trước cuộc đời, chẳng những anh không còn là một người lính ra trận mà anh còn ăn nhờ vào sức lao động của vợ. Anh lấy làm tủi hổ : Phải, em đi làm cực khổ nuôi anh. Anh biết và anh thấy nhục quá. Anh què rồi mà. Anh muốn chết quá !

Cuộc chạm trán với kẻ thù bên ngoài xảy ra hai lần. Lần đầu một người cộng quân đứng trước nhà nói với Miện :

Còn ông nội này nữa. Cụt chân hả ? Chắc lính chứ gì. Có vào trong nhà ngồi không hay định nấp nom rình mò gì quân đội nhân dân đây.

Vợ Miện lanh miệng :

Dạ thưa các anh, nhà tôi không phải lính. Nhà tôi bị đụng xe

Miện nổi nóng, muốn chửi lại, nhưng vợ Miện đã nhanh nhẹn đóng cửa, kéo Miện vào trong nhà và dịu dàng vuốt ve anh. Nhưng Miện quát : Việc chó gì phải nói dối. Cứ nói mẹ nó là tao đi đánh chúng nó bị thương đó. Tao đâu có đụng xe mà nhục mạ tao. Mẹ cóc chứ thân này đã kể như bỏ rồi. Vứt đi rồi. Phế thải rồi.

Lần chạm trán thứ hai với kẻ thù là khi hai người lạ mặt cầm súng đập cửa bước vào, hạch hỏi và bảo có gì ăn thì đem ra ủng hộ bộ đội. Rồi một người hỏi Miện :

Anh làm gì ?

Thất nghiệp (…) Vợ tôi làm bồi cho Mỹ. Tôi ăn nhờ nó.

Hai người cầm súng mỉa mai :

Sướng nhỉ !

Miện gật đầu :

Sướng.

Rồi hai kẻ lạ mặt lên giọng khiêu khích :

À anh chàng cụt chân. Hạ sĩ phải không ? Tụi tôi biết rồi (…) Sao ? Bây giờ còn bắn súng được nữa không ? Sao không đi lính nữa đi ?

Miện phải cố hết sức để đừng chửi lại. Vợ Miện nhanh nhảu đưa mấy hộp thịt, rồi vội vàng đóng cửa. Chị lại vuốt ve mơn trớn chồng, khuyên chồng nên nhẫn nhục.

Truyện của Thảo Trường như một hình ảnh chớp nhoáng của một hoàn cảnh trong chiến tranh. Ngôn ngữ của nhân vật Miện là ngôn ngữ của phẫn nộ, của cay đắng tận cùng ; khí giới của Miện không còn là cây súng, chỉ còn lời nói, Miện đã trút vào lời nói tất cả những căm phẫn, uất ức của con người bị dồn vào tuyệt vọng.

Truyện ngắn Trong hầm trú ẩn của Thảo Trường nói lên thân phận bi đát của con người trong thảm họa chiến tranh. Miện đương đầu với kẻ thù ngoài mặt trận vì chính nghĩa. Miện, nếu còn sống sót, thì không còn là con người như trước kia nữa. Anh rơi vào tình trạng bất lực. Ban đêm nằm trong hầm trú ẩn có ánh sáng hỏa châu đôi lúc chiếu vào, Miện thấy rõ chiếc chân cụt đang ngọ nguậy. Thân thể bị suy thoái. Anh mất chỗ đứng trong xã hội. Anh không còn được tiếp xúc với những người chung quanh, bèn quay ra kể chuyện với lũ trẻ con trong xóm. Anh bị cướp mất lời nói. Anh chỉ có thể trút những lời hằn học, những cơn phẫn nộ cho vợ hoặc khi anh độc thoại. Nhưng anh phải câm nín trước lời cáo buộc, lời khiêu khích của những kẻ có quyền lực : những người cộng quân. Kẻ mạnh tướt đoạt lời nói của kẻ yếu.

Do những mất mát đó, Miện bị chiến tranh tước quyền làm người. Anh biết thế nào là nhục nhã, nhục nhã khi phải ăn uống những thực phẩm của Mỹ, khi phải chịu thiệt thòi trước cái nhìn khinh bỉ của những người cộng quân, và anh tự cho mình là một con chó. Lịch sử đẩy Miện vào tận cùng cay đắng, tuyệt vọng và xóa tên anh.

Trong hai truyện của thời kỳ khói lửa này, hai nhân vật, một nữ một nam, đều hứng chịu chiến tranh. Chị Tư không được chung sống với chồng như chị mong muốn. Chị bị một cơn cuồng phong cuốn chị vào những căm thù vượt quá sự hiểu biết của chị. Miện cũng bị cơn cuồng phong của căm thù, của tàn bạo làm cho thân thể anh tàn phế.

Thế rồi chiến tranh chấm dứt. Và hình phạt kẻ thắng trận dành cho kẻ thua trận là những trại học tập, những nhà tù. Thảo Trường đã trải qua 18 nơi giam giữ từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vô Nam. Mười bảy năm sau, ông từ địa ngục trở về, tóc bạc, sức yếu, ông lên đường sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Ông cầm bút trở lại. Một thời kỳ mới trong sáng tạo của ông bắt đầu.

Thời xa xứ

Sau 17 năm không làm bạn với chữ nghĩa, nhưng trong tâm hồn của người tù lâu năm biết bao kỷ niệm, biết bao suy tưởng được tích lũy. Giờ đây Thảo Trường không rời chữ nghĩa, như để bù lại thời gian đã mất. Nhưng lối viết của Thảo Trường trên đất Mỹ, nơi ông dung thân như ông nói, nó không còn như trước nữa. Một tiếng nói từ nội tâm sâu thẳm của con người với bao trải nghiệm đau thương dần dần thành hình dưới ngòi bút. Cũng trong cuộc phỏng vấn của Đặng Phú Phong, khi nói về thời gian sống ở Mỹ, Thảo Trường tuyên bố : Tôi dành toàn bộ thời gian để ngẫm nghĩ về thời chiến, thời tù đã qua và đời lưu vong hiện tại. Tôi gửi gấm những suy nghĩ đó vào những sáng tác. Tôi không biết chép sử và cũng không thích viết hồi ký. Dù Thảo Trường không thích viết hồi ký, nhưng những truyện viết trong thời kỳ này phần nhiều có dáng dấp một hồi ký, một hồi ký không liên tục, đi từ truyện này sang truyện khác, mỗi truyện là một hình ảnh của quá khứ  tù đày bừng sáng. Những chuyện trong tù tác giả kể lại đều có thật. Qua một hồi ký phân mảnh như thế, người đọc có thể nhận ra trong các trại giam cộng sản nhiều nhân vật của giới văn nghệ miền Nam : những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, người phụ trách chương trình thi văn « Tao đàn » trên đài phát thanh của thời miền Nam, và cả một nhà sử học đã từng bôn ba xứ người, nay về chết trong một trại giam. Có thể hiểu rằng tác giả muốn dùng một hình thức gián tiếp để kể truyện, tự gọi mình là « ông lão », « bác tù già », gọi người vợ gặp lại sau 17 năm xa cách là « bà lão ».

Ký ức của Thảo Trường còn mang quá nhiều kỷ niệm của 17 năm tù. Những kỷ niệm trở thành ám ảnh. Bên cạnh những truyện nói về một hoàn cảnh sống trong trại giam như Những đứa trẻ đầu thai giữa hàng rào, Con bò, Tiếng thì thầm trong bụi tre gai, lại có những truyện trong đó lối viết của Thảo Trường qua lại giữa hiện tại ở Mỹ và quá khứ ở Việt Nam, những chuyện cũ mới xen kẽ nhau, đan vào nhau theo kỹ thuật liên tưởng, như trong các truyện Hạt thóc, Cơn sốt. Truyện Cơn sốt bắt đầu bằng đời sống của ông lão trên đất Mỹ, tiếp đến kỷ niệm trong tù, ông lão bị bệnh sốt rét nặng, từ trong rừng được khiêng đến bệnh xá trại giam, rồi được đưa đến bệnh viện tỉnh, cơn hôn mê kéo dài, rồi truyện trở lại đời sống ở Mỹ, v.v…

Truyện Cơn sốt kể đời sống của một gia đình được đoàn tụ sau 17 năm xa cách. Bà lão ngày nào dắt díu đàn con thơ dại đến cái đất Mỹ này, vừa học tiếng người, vừa lao động mưu sinh để lo cho đàn con ăn học. Ngày nay con cái đã lớn khôn, thành tài ; bà lão lại có một xí nghiệp làm đồ gỗ rất phát đạt. Bà là một doanh nhân thành đạt, bà điều khiển vài chục nhân công và một bà Mỹ già làm quản lý, họ tuân lệnh bà răm rắp. Bà nói tiếng Mỹ nghe hấp dẫn, dùng thành thạo các máy vi tính, máy fax, máy chuyển tiền vào trương mục ngân hàng, bà thuộc lòng các số điện thoại, theo dõi thị trường hàng hóa, theo dõi khách hàng. Một người đàn bà như thế không còn chỗ nào chê được.

Còn ông lão ? Cái xứ Mỹ này có phải là thiên đường của ông không, sau khi ông đã từ địa ngục cộng sản trở về ? Sang Mỹ, ông được vợ con thương yêu, chiều chuộng, ông sống trong sung túc, về mặt nào ông cũng được đầy đủ. Nhưng sao ông cảm thấy có một khoảng cách lớn giữa ông với mọi người, có một sự chênh lệch quá lớn giữa ông và họ, khó lòng cho ông khỏa lấp. Ông nói tiếng Mỹ dở ; khi xưa ông lái máy bay, nhảy dù, giờ đây ở cái xứ xe cộ tuôn chảy như nước, ông chóng mặt không lái xe được, ngồi trước tay lái ông chậm chạp bị xe sau bấm còi inh ỏi. Bà lão giải thích :

– Ở Mỹ, nó bấm còi xe là nó chửi mình đấy.

Ông ngô ghê hỏi :

– Ở Mỹ nó chửi nhau bằng máy à ?

Cái bao tử Việt Nam của ông nó đòi hỏi ngày ba bữa cơm, thế mà bà lão vừa cắn một miếng pizza vừa nói chuyện liên miên trong điện thoại. Thêm một khám phá cho ông lão : ở cái xứ này thì giờ quý lắm, thì giờ là công việc, là tiền. Ông lão dí dỏm gọi bà lão là « bà Mỹ » còn ông là « kẻ lưu vong ».

Nhưng ông lão không chịu ăn không ngồi rồi. Ngoài việc gặp các ông lão cựu tù binh khác cũng sang Mỹ theo diện HO như ông, ông lão bày ra việc đi lượm ve chai, hộp nhôm, đồ nhựa, các loại có thể được tái chế, để bán lại. Ông biến cái xe đạp thể dục của đứa con trai thành cái xe thồ có hai cái giỏ hai bên, và cứ thế ngày ngày ông đạp xe quanh quẩn trong lối xóm, dọc bờ biển, chất đầy ve chai, hộp nhôm trong hai cái giỏ và thở gió biển. Ông lão cho như thế là có ích lợi và tốt cho sức khỏe. Nhưng ông vẫn mang tâm trạng mình khác với mọi người. Với ông không có vấn đề thích nghi hay hội nhập gì cả, vì trong thâm tâm ông kỷ niệm quê nhà, tù đày vẫn còn đấy.

Trong truyện dài Đá mục, tác giả viết : Ông lão thấy rõ ràng cuộc đổi đời của mình thật là phi lý. Tự nhiên tình thế xoay chiều, « sông núi đã biến thiên, thời đại đã xa cách », đang từ miền đất quen thuộc bao đời, u mê một cơn, mở mắt ra đã thấy mình sống ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Mình trở thành một kẻ dưới hạng thứ dân, cái gì cũng thấp kém, cái gì cũng không bằng người, cái gì cũng phải học tập lại. Từ cách ăn mặc, đi đứng, nói năng, cư xử… đến cách suy nghĩ, yêu thương, giận hờn… đều phải xem xét lại cho phù hợp với đời sống xung quanh. Mình đang là người Kinh ở quê nhà, nay hóa ra người Thượng ở quê người. Mà trong cái giới người Thượng này mình lại còn là người Thượng mới không giống người Thượng cũ. (…) Cho dù anh có vào quốc tịch người Kinh ở đây đi nữa thì anh cũng vẫn không giống họ….

Ông lão không thể là người Thượng cũ được, nói gì đến việc trở thành người Kinh. Điều khiến ông lão quá xa lạ với cái xứ Mỹ này là cái chấn thương tâm lý, cái chấn thương của thời ở tù cộng sản. Trong suốt 17 năm sống trong lao tù cộng sản, Thảo Trường là một chứng nhân của nhiều hoàn cảnh đau thương. Ông biết thế nào là tàn ác, là hẹp hòi, ngu ngốc, là nhục nhã, là chịu đựng ; giọng kể truyện của ông khi ngậm ngùi, đau xót, khi dí dỏm, mỉa mai.

Có một truyện đặc biệt nói về cái chết, về sự chấm dứt cuộc đời của những người lính bại trận, bị tất cả bỏ rơi, chìm vào lãng quên. Đó là truyện Tiếng thì thầm trong bụi tre gai. Trại giam Rừng Lá có hai đặc điểm : trước hết nó được bao quanh bằng những hàng rào tre gai vuông vắn, thành quách, sừng sững như là dấu ấn của một thời hận thù nghiệt ngã, để lại cho lịch sử. Đặc điểm thứ hai là nó có một nghĩa địa riêng, nơi chôn rất nhiều hài cốt tù binh. Chính nơi này có hai nấm mộ của hai người tù trẻ. Một người là đại úy Lam, một hôm anh thắt cổ trên cây tự sát, vì không muốn là gánh nặng cho đứa em gái phải lo thăm nuôi, hai anh em mồ côi cha mẹ. Ba ngày sau người ta mới tìm ra xác của đại úy Lam, lúc đó xác đã bị thối rữa. Người thứ nhì là một sĩ quan rất trẻ vừa ra trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Vì quá tin cộng sản, người sĩ quan trẻ này vào trại giam hy vọng sẽ sớm được trở về. Người vợ trẻ của anh thường vào thăm nuôi, hai vợ chồng vừa mới lấy nhau, chưa có con. Mỗi lần vợ đến thăm, hai vợ chồng quá thương nhau, chỉ biết nhìn nhau rơi nước mắt. Một hôm người sĩ quan trẻ được tin vợ anh đã biến mất ; anh thường nghe nói vợ tù binh bỏ chồng đi lấy người khác. Anh quá đau đớn vượt hàng rào bị công an bắn chết. Chôn cất anh xong thì người vợ đến, chị cho biết chị bị bắt giam hai tháng vì tội mua cá định bán lại lấy tiền đi thăm nuôi chồng. Người vợ trẻ chỉ còn biết khóc lóc thảm thiết trên ngôi mộ chồng. Ngoài ra, có một ngôi mộ không thuộc quản lý của trại giam. Người ta cho biết đó là ngôi mộ của một người lính Cộng hòa bị Việt Cộng sát hại năm 1968, ngôi một được dân trong vùng săn sóc chu đáo. Trong trại giam Rừng Lá có bác tù già đã chứng kiến hàng trăm người tù ra khỏi trại giam, mà mình thì vẫn còn ở lại ; từ trên một nghìn người tù, nay chỉ còn lại mười hai người. Bác tù già mang tâm trạng cô đơn của một kẻ bị bỏ rơi. Rồi bác tù để ý đến ngôi mộ bên ngoài, bác đi nhặt những cành cây khô đem lại đốt trước mộ như làm một buổi lễ truy điệu. Bác tù binh già nghĩ rằng hôm nay bác chiêu hồn, truy điệu, tưởng nhớ, tri ân, ngậm ngùi… những liệt sĩ vị quốc vong thân vốn từng là đồng đội chiến hữu. Mặc cho kẻ thù triệt hạ, mặc cho đồng minh phản bội phủi tay, mặc cho lãnh đạo bỏ chạy và đồng ngũ quên lãng, mặc cho thời gian lạnh lùng trôi qua, mặc cho lịch sử sang trang… hôm nay, ở đây, có người tù binh già thì thầm với anh, thì thầm với các anh, trong nỗi cô đơn tột cùng của kẻ sống người chết, nỗi cô đơn tột cùng của những người lính đã mãn phần hay đang là tù binh. (tr. 84)

Có lời kinh truy điệu nào hay hơn cho những người lính đã nằm xuống ?

Qua ba thời kỳ sáng tạo, thời của dòng sông, thời khói lửa và thời xa xứ, Thảo Trường một mực trung thành với lập trường của mình, là tranh đấu cho tự do, chống lại một hệ tư tưởng cực quyền gây bao tàn phá, khổ đau, hận thù. Cho nên sáng tạo của Thảo Trường bắt nguồn từ sự dấn thân cho một lý tưởng, dấn thân là chủ đề của phần lớn các tác phẩm của ông, dấn thân bất cứ trong bối cảnh lịch sử nào, dẫu cho phải trả một giá rất đắt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ, CON ĐƯỜNG ĐẠO ĐỨC, TRÍ TUỆ CỦA NHIỀU THẾ HỆ HỌC SINH

 

Xuân đi học coi người hớn hở, câu thơ giản dị này mở đầu cho bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, đã khắc sâu vào ký ức của biết bao thế hệ học sinh, nhất là những thế hệ thuộc nửa đầu thế kỷ 20. Dù sau này có đi Đông đi Tây, dù học cao hiểu rộng hay chỉ có một trình độ tầm thường, dù giàu sang phú quý hay sống trong cảnh nghèo túng, những thế hệ đã từng học ê a câu thơ trò Xuân đi học, hay Thương người như thể thương thân, đều vẫn giữ trong lòng cái kỷ niệm một thời thơ ấu được hấp thụ một nền giáo dục trong sáng với những giá trị vững bền.

Vào thời đại toàn cầu hóa, thời đại của Internet, của facebook, youtube, mà đọc lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư, có thể sẽ có người mỉm cười mà cho rằng giáo dục này quá xưa, quá ngây ngô. Thưa, xin chớ vội phê phán nghiêm khắc. Đúng là ở thời đại chúng ta, nhờ những tiến bộ không ngừng của khoa học, kỹ thuật, chúng ta đi xa, hiểu rộng, những hiểu biết quá dồn dập nên lắm khi có hiện tượng khó tiếp thu hoặc không kịp tiếp thu. Nền văn minh khoa học, kỹ thuật lại có một khía cạnh tiêu cực : trong tình trạng toàn cầu hóa, biên giới văn hóa giữa các nước mờ đi, con người ngày càng mất gốc. Có hai nguy cơ đe dọa sự tồn tại văn hóa Việt Nam : người trong nước có xu hướng vọng ngoại, với ý nghĩ rằng cái gì của người cũng tốt hơn, đẹp hơn của ta ; người ở hải ngoại thì ngày càng quên ngôn ngữ mẹ đẻ, nói gì đến lịch sử, văn hóa nước nhà. Đó là nhận xét chung, đương nhiên không phải ai cũng rơi vào một trong hai trường hợp đó. Bên cạnh hiện tượng mất gốc còn có hiện tượng mất đạo đức. Vào thời đại chúng ta, mấy ai can đảm hô hào những nguyên lý căn bản của đạo đức thời xưa ?

Thế cho nên bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư nhắc nhở chúng ta một nền văn hóa giáo dục của quá khứ đã đào tạo nhiều thế hệ về tình người, về cách ăn ở, đối xử giữa con người với nhau. Quốc Văn Giáo Khoa Thư là một bộ sách gồm ba cuốn được soạn cho các lớp bậc tiểu học : cuốn Luân Lý Giáo Khoa Thư cho lớp Đồng Ấu và hai cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư cho lớp Dự Bị và lớp Sơ Đẳng. Cả ba cuốn được xuất bản và tái bản nhiều lần kể từ những năm 1920. Bộ sách do một số học giả biên soạn, đứng đầu là Trần Trọng Kim (1883-1953), ngoài những hoạt động chính trị đã đưa tên tuổi ông vào lịch sử, Trần Trọng Kim còn là một học giả uyên bác, am hiểu Hán học và Tây học, một nhà giáo và là tác giả của những cuốn sách như : Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm (đồng soạn), Nho giáo. Bên cạnh Trần Trọng Kim có Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận. Tất cả các soạn giả đều là nhà giáo, đều hiểu biết nhu cầu của con em ở bậc tiểu học.

Có một điều không tránh khỏi là bộ sách mang dấu ấn của thời gian, của thời xưa với những quan niệm không còn phù hợp với những quan niệm và cách nhìn  của chúng ta ngày nay. Nhưng phần chính của văn hóa giáo dục trong bộ sách vẫn sáng ngời như ngọn hải đăng.

Trong hai cuốn dành cho các lớp Dự Bị và Sơ Đẳng, ở cuối mỗi bài có phần giải nghĩa những chữ khó, thêm phần Bài tập và phần Làm văn. Cuốn của lớp Dự Bị, ở cuối bài lại có thêm một lời khuyên : Đừng bỏ phí thì giờ, Ta nên giúp đỡ lẫn nhau, v. v… Còn trong cuốn Luân lý cho lớp Đồng Ấu, mỗi bài được kết thúc bằng một câu cách ngôn rất dễ nhớ đối với trẻ em : Con có cha như nhà có nóc, Chị ngã em nâng, Gần mực thì đen. Phần nhiều ý chính của mỗi bài ở ngay trong tựa đề của bài : Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa, Có học phải có hạnh, Không nên khinh những nghề lao lực. Thú vật cũng được dùng cho việc giáo huấn : Con hổ và con chuột nhắt, Con rùa và con chuột, theo kiểu những bài ngụ ngôn của La Fontaine.

Trong ba cuốn sách, mỗi bài được minh họa, hình vẽ tuy thô sơ nhưng làm vui mắt trẻ em và gây chú ý đến bài học. Còn đối với người đọc như chúng ta ngày nay, thì những hình vẽ đó biểu hiện xã hội thời xưa : đàn ông và nam sinh mặc chiếc áo dài truyền thống, đàn ông búi tóc hoặc đội khăn đóng hay khăn đầu rìu, đàn bà mặc áo dài, vấn tóc, hoặc đội nón quai thao. Không gian cũng được minh họa : có cảnh đồng ruộng, cảnh một lớp học, một nhà ga, cảnh Cửa Ngọ Môn ở Huế, v. v…

Qua nội dung của ba cuốn sách, có hai chủ đề nổi bật : đạo đức và trí tuệ.

Về luân lý, đạo đức, xã hội thời xưa là một xã hội nông nghiệp, đặt nền tảng trên đạo đức truyền thống. Một xã hội đề cao Không Tử, Mạnh Tử, có thứ bậc tôn ti, thờ phụng tổ tiên, lấy tình thương đối xử với người trên kẻ dưới, tình thương và kính trọng cha mẹ, lòng biết ơn thầy, tình thương người già, người tàn tật, người tôi tớ. Trong nền đạo đức cổ truyền, gia đình là yếu tố cốt lõi. Trong bộ sách, các soạn giả cho thấy cảnh đầm ấm của một gia đình, cảnh một bữa cơm ngon, cảnh ngày giỗ trong gia đình, và đưa ra những lời khuyên về việc phụng thờ tổ tiên, lòng yêu mến gia tộc, lòng biết ơn và giúp đỡ cha mẹ. Thường các soạn giả chọn những giai thoại để giáo dục trẻ con, như gương hiếu thảo của ông Tử Lộ, lòng kính thương chị của ông Lý Tích chẳng hạn. Phần trong gia đình là thế, còn ngoài xã hội, vào thời vua chúa thì có những nghi lễ, tế tự, như Lễ Tế Nam Giao. Trẻ em cũng phải biết rằng sống trong xã hội thì phải tuân theo pháp luật. Ở trường học, người học trò phải chuyên cần trong việc học, phải đối đải tốt và đoàn kết với bạn bè. Tốt với bạn nhưng cũng phải biết lựa bạn mà chơi.

Tóm lại, bộ sách đề cao những đức hạnh cần có, và khuyên tránh những tật xấu.

Ngoài đạo đức được xem như nền tảng của phẩm giá con người, Quốc Văn Giáo Khoa Thư còn dẫn người học trò tiểu học vào lĩnh vực văn hóa, bằng việc mở mang trí tuệ để hiểu biết vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, rồi đến lịch sử, văn học. Trước hết, muốn được khỏe mạnh để học tập, người học trò phải giữ vệ sinh cho thân thể. Về việc học hành đã có gương chăm học của Thừa Cung. Rồi biết bao điều trong vũ trụ cần hiểu biết : tinh tú trên trời, những hiện tượng của thời tiết, sự ích lợi của thú vật, của thảo mộc. Trẻ em cũng cần hiểu biết cái thế giới quanh mình. Nếu ở thôn quê thì được biết đến làng mạc, nơi có chùa, có những nhân vật như ông lý trưởng và người tuần phu, công việc đồng áng được giải thích rõ ràng, cùng với những dụng cụ như cái cày, cái cối giả gạo. Lại có bài ca dao Khuyên về làm ruộng, hay ca ngợi cái thú chăn trâu. Nếu ở thành thị thì phát hiện những thành phố lớn : Sài Gòn, Huế, những thắng cảnh như Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội, Lăng tẩm ở Huế. Qua những bài học, trẻ em ý thức trong xã hội có những tổ chức để đời sống con người được dễ dàng hơn, tiện lợi hơn, như đường xe lửa, nhà ga, những trung tâm có những sinh hoạt chuyên môn như nhà bưu điện mà thời đó gọi là nhà dây thép, Viện Pasteur, v. v…

Ngoài việc giúp trẻ em phát hiện thế giới hiện thực, việc mở mang trí tuệ còn đưa đến hai vấn đề văn hóa lớn : lịch sử và văn học.

Quốc Văn Giáo Khoa Thư giúp trẻ em biết yêu đất nước qua những bài về lịch sử. Trước tiên, trẻ em cần biết mình có một quê hương đẹp, còn gọi là đất nước. Môn lịch sử giảng cho trẻ em không cần đưa ra năm tháng của các biến cố và nhiều chi tiết rắc rối như trong các pho sách lịch sử của người lớn, mà chỉ kể chuyện, những chuyện có sức thu hút ; tên của các vị anh hùng sẽ in sâu vào trí nhớ. Trẻ em dễ theo dõi chuyện Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Tầu ; rồi đến ông Ngô Quyền cũng đánh đuổi giặc Tầu trên sông Bạch Đằng, thắng trận, ông lên làm vua và đóng đô ở Cổ Loa. Qua các trận đánh, trẻ em có một ý niệm về người anh hùng của đất nước. Phần vua Lê Thánh Tôn, thì ngài đánh Chiêm Thành để mở mang bờ cõi, ngài lại giỏi văn thơ, quan tâm đến lịch sử và địa lý của nước nhà. Lại có gương hy sinh đáng nhớ của ông Lê Lai liều mình cứu chúa ; còn ông Tô Hiến Thành, văn võ vẹn toàn, thì rất thương dân, thương nước. Các nhân vật lịch sử được kể lại trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư đều nêu cao lòng yêu nước. Ngoài ra, trí óc trẻ con còn non nớt, rất gần gũi với những chuyện hoang đưòng, nên khó quên truyện gươm thần của vua Lê Lợi.

Tóm lại, cách trình bày lịch sử của Quốc Văn Giáo Khoa Thư đối với học trò bậc tiểu học rất dễ hiểu, có sức lôi cuốn và góp phần vào việc tạo nên những người công dân tốt.

Sau lịch sử, trẻ em tiểu học được tiếp cận văn học dân gian truyền khẩu, tức ca dao, kho tàng của văn hóa nước nhà. Các soạn giả đã chọn những bài ca dao phản ánh đời sống ở nông thôn khi xưa, như về công việc đồng áng quanh năm : Tháng giêng là tháng ăn chơi / Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…, về nỗi lo âu của nhà nông : Người ta đi cấy lấy công / Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề… Hoặc những bài gồm những lời khuyên có tính đạo đức : Con ơi, muốn nên thân người, / Lắng tai nghe lấy những lời mẹ chaLàm trai quyết chí tu thân / Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo… Hoặc bài về hoa sen : Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, đầy tính ẩn dụ.

Thể thơ lục bát của ca dao giàu nhạc điệu, khiến trẻ em dễ học, nhớ lâu, và đồng thời giúp trẻ em phát hiện cái đẹp của văn chương. Ngoài ca dao còn có thơ cổ cũng cùng mục đích khuyên răn : Thương người như thể thương thân… hoặc cho thấy một cảnh đẹp của thiên nhiên : Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Ngoài ra, ở học đường trẻ em còn được biết việc tổ chức các khoa thi ngày xưa và bởi đâu có chữ quốc ngữ ngày nay.

Bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư giúp trẻ em thời trước vừa có trí khôn đã phát hiện vị trí của mình trong gia đình, ngoài xã hội, và nhiệm vụ của mình đối với mọi người. Qua những nguyên lý đạo đức, phẩm giá con người được khẳng định và nâng cao ; và qua những đề tài giáo huấn đa dạng, việc mở mang trí tuệ ở bậc tiểu học có thể nói là đầy đủ vào thời đó. Đặc biệt những bài lịch sử trong bộ sách đã in sâu vào tâm hồn trong trắng của tuổi mới lớn ; phải chăng những bài lịch sử đó đã đắp nền phần nào cho lòng yêu nước của toàn dân hiện nay, trước hiểm họa xâm lăng của Trung Quốc ? Biết bao thế hệ học sinh đã được hưởng cái công lao giáo dục của các soạn giả.

 

 

 

 

 

 

 

 

VÕ PHIẾN NHỚ LÀNG

 

Tác phẩm văn chương thường được xây dựng với ít nhiều trải nghiệm của tác giả trong một thế giới hiện thực ; do đó tác phẩm phản ánh đời sống hằng ngày, phản ánh xã hội. Ngòi bút của nhà văn khi dừng lại ở những chuyện linh tinh của cuộc đời, ở những kỷ niệm, khi chăm chú theo dõi những biến cố liên quan đến đời sống trong xã hội, lại càng chăm chú hơn đến một biến cố lịch sử lớn lao như chiến tranh, làm khuynh đảo cả một xã hội, cả đất nước. Cho nên ở miền Nam, trước năm 1975, chiến tranh đã tràn vào văn học, đọc truyện dài, truyện ngắn, tiểu luận, tùy bút, thơ, nơi đâu cũng có khói lửa chiến tranh.

Về phần Võ Phiến, ông không nhìn chiến tranh qua thảm họa Tết Mậu thân chẳng hạn, hoặc qua cái chết của người lính, qua những trận đánh lớn ; Võ Phiến nhìn chiến tranh qua hình ảnh một làng quê, và ông vẽ lên chân dung một người dân quê chất phác bị dồn vào tận cùng nỗi tuyệt vọng.

Tên tuổi của Võ Phiến tưởng không cần thiết phải giới thiệu dài dòng, vì ông được xem như một trong những nhà văn trụ cột của miền Nam thời 54-75. Ông viết nhiều thể loại : truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, ông cũng là tác giả của một tập thơ. Một trong những đặc điểm của Võ Phiến là sự gắn bó với làng quê. Qua những truyện và tùy bút, người đọc được đưa về cảnh đồng quê để biết rõ người ông, người bà của tác giả, để làm quen với những nhân vật trong làng như anh Bốn Thôi với sáu người vợ của anh, như ông tú Từ Lâm suốt đời đi lang thang,  ông Tam Khoang với phong cách uống chè Huế của ông, v.v… Rồi chẳng bao lâu làng quê trở nên một chiến địa. Bài tùy bút Nhớ làng của Võ Phiến dựng lên một khung cảnh loạn lạc, đảo điên, đe dọa mạng sống con người.

Năm 1992, nhà Văn Nghệ ở California xuất bản tập tùy bút Quê của Võ Phiến gồm ba bài : Nhớ làng, Khách xá qui tâm và Cái lạnh nửa người. Tác giả viết bài tùy bút Nhớ làng trước đó hai mươi năm, tức năm 1972, khi ông còn ở quê nhà, và chiến tranh đang đến mức độ tàn khốc.

Trong văn học Việt Nam, thể loại tùy bút rất được nhiều nhà văn ưa chuộng. Nhưng tùy bút là gì ? Theo Trương Chính, trong bài tựa cuốn Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, tùy bút là bài viết theo ngọn bút gặp đâu nói đó, không có hệ thống, rất linh động và cũng rất linh tinh. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, khi đề tựa một cuốn tùy bút của Võ Phiến, năm 1973, thì định nghĩa như sau : Tùy bút – tùy hứng mà phóng bút – là một thể rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Nhưng ông nói thêm rằng tính nghệ thuật rất cần thiết, đó là một thể văn khó viết, cho nên một bài tùy bút hoặc thành công hoặc thất bại, không có sự lưng chừng. Đúng là phải có nghệ thuật để viết một bài tùy bút hay, vì khi tác giả được tự do tản mạn, đi từ ý tưởng này sang ý tường khác, đôi khi thiếu mạch lạc, và nếu không có chủ ý thuyết phục người đọc về một điều gì rõ ràng, thì tác giả dễ rơi vào sự tầm thường, sự nhàm chán.

Vậy thử xem Võ Phiến nhớ làng như thế nào. Ông có gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy không ?

Nhân đọc những câu thơ của Yến Lan, người cùng quê Bình Định với ông, Võ Phiến bỗng ngậm ngùi nhớ đến làng mình. Câu hỏi đầu tiên của tác giả : Làng đâu ? kéo theo nhiều tin tức chiến sự do báo chí và đài phát thanh không ngớt truyền đi khắp nơi, vào thời điểm tháng 6 năm 1972. Năm 1972 là cái năm có nhiều trận đánh khốc liệt trên toàn lãnh thổ miền Nam, cái năm có mùa hè đỏ lửa. Thời gian báo hiệu thảm trạng của làng : làng đang ngập chìm trong khói lửa, đang trở nên một vị trí nổi tiếng. Trong làng ngày đêm sư đoàn 3 Sao Vàng của bên kia không ngớt đánh nhau với trung đoàn 41 bên này. Rồi một chiếc phi cơ Mỹ rớt ngay xuống làng, tác giả tự hỏi nó rơi đúng vào chỗ nào. Một dịp để nhắc đến những nhân vật trong làng mà tác giả đã cho xuất hiện trong các truyện và tùy bút trước đây, đó là những người dân quê mộc mạc mà những hành động khi xưa đã trở thành những kỷ niệm bất hủ của làng : nào là chị vợ bé anh Bốn Thôi với người đàn ông câu ếch trong bài tùy bút Lại thư nhà, nào là chị Bốn Chìa Vôi, anh Năm Cán Vá trong truyện Chim và rắn, nào là ông Bái Công trong truyện Về một xóm quê.

Làng quê trở thành nơi chốn quyết liệt của sự sống chết. Hai chiến thuật đối đầu nhau : một bên là biển người và một bên là vũ khí tối tân, kết quả : có vô số người chết : xác địch, xác ta. Ai nấy đều rõ một khi Sao Vàng đến thì sự tai ương ra sao.

Nói đến xác địch xác ta, tác giả liên tưởng đến sự gặp gỡ anh Ấm Sứt năm trước, anh là một người dân làng đã ra sống ở tỉnh, làm nghề thợ vịn cho Mỹ, lương khá, thợ vịn là để giúp việc lặt vặt cho thợ chính cống. Tác giả theo anh Ấm về nhà, được biết lý do anh bỏ làng ra đi. Số là một hôm lực lượng bên kia cho người về bắt tất cả trai tráng trong làng dẫn đi. Anh Ấm có nhiệm vụ tải thương. Đêm hôm đó một trận chiến xảy ra, lực lượng bị tấn công tứ phía, mạnh ai nấy chạy. Anh Ấm Sứt chạy trốn, sau đó anh đem gia đình lên sống ở tỉnh. Trong buổi họp mặt ở nhà anh Ấm, tác giả được quen biết với một người đàn ông có lòng tốt đã giúp anh Ấm có việc làm. Người này vừa mất hai người con trai, người con cả đi lính bị súng cối bắn vào đồn, gọi là cối vào, chết ngay, người con thứ hai đang ở ngoài vườn, hai bên đánh nhau, trong đồn bắn ra, gọi là câu ra, thế là chết. Tác giả ngẫm nghĩ về trường hợp anh Ấm Sứt, nếu trước đó anh đang tham gia công cuộc giải phóng mà rủi ro chết ngoài ruộng, hoặc bây giờ anh làm công việc xây cất cho Mỹ mà chết vì một quả mìn của đặc công, vậy xác của anh tùy nơi chết được xem khi thì xác địch khi thì xác ta. Lập trường của anh ra sao ? Hai người con ông bạn tốt bụng, người bị bên kia cối, người bị bên này câu. Đâu là địch đâu là ta, và có gì thay đổi trong tư tưởng của họ ?

Chuyện chém giết lạị được báo chí loan tin : ở xã nọ gần làng tác giả, một viên xã phó đã xử tử nhiều dân làng, hung thần bị bắt và sắp bị đưa ra tòa xử. Thì ra hung thần không ai xa lạ mà chính là anh Năm Hà. Trước kia anh ta là một nông dân, một người đàn ông xấu xí, gầy đét, giọng nói khó nghe. Anh lấy một người phụ nữ không đẹp, nhưng có một thân hình khêu gợi. Từ ngày anh Năm Hà lấy vợ anh bỗng thay đổi nhiều, anh ăn mặc khá hơn, phát âm khá hơn, anh bắt đầu có một đời sống xã hội : anh làm cán bộ, tham dự những buổi hội họp, ngôn ngữ của anh cũng thay đổi, anh thích ăn nói kiểu cách. Lúc đó vào thời kháng chiến, anh có dịp tiếp đón những cán bộ cao cấp tại nhà. Có lần một đại đội trưởng ở trọ nhà anh. Một hôm ở ngoài đồng về, anh Năm Hà bắt gặp qua khe cửa cảnh chị vợ ngoại tình, anh không trông thấy gì nhiều, chỉ thấy một bàn chân rướn cong lên. Nhưng cũng đủ cho anh thấy thế giới quanh anh sụp đổ. Từ đó cuộc đời của anh đã thay đổi. Mười năm sau, anh là một người nông dân sống vất vả, cực nhọc. Đến những năm 60, tình hình an ninh ở miền quê không mấy sáng sủa. Anh Năm Hà được bầu làm ấp trưởng, anh sống trong tình trạng trên đe dưới búa. Anh bị cộng sản tìm cách hại anh nhiều lần, có lần anh bị bắn gãy một cánh tay. Anh phải chống trả quyết liệt, chém giết lung tung để tự bảo vệ mạng sống. Khi an ninh được vãn hồi, anh Năm Hà bị tình nghi có hành động mập mờ : vào thời kháng chiến anh phục vụ cho bên kia, về sau anh phục vụ cho bên này, chẳng những anh bị tình nghi mà anh còn bị xem là hung thần. Hung thần Năm Hà quê mùa, xấu xí, tàn phế, vì không chịu rời bỏ làng quê nên mới phải chém giết theo luật rừng. Hung thần sắp ra trước pháp đình để các ông quan tòa học cao hiểu rộng, sống cuộc đời sung sướng, an bình nơi đô thị, xét xử.

Bài tùy bút gợi lên một không gian là cái làng. Dân làng khốn đốn vì cộng sản chiếm làng ban đêm, Quốc gia làm chủ ban ngày. Chiến tranh xuất hiện với « Sao Vàng », với chiến thuật biển người, và chiến tranh cũng có bộ mặt dữ tợn của một chiếc phi cơ Mỹ : nó đã gầm thét dữ dằn rồi nó đã rơi xuống

Qua cảnh chiến tranh có hai nhân vật nổi bật : anh Ấm Sứt và anh Năm Hà. Chuyện anh Ấm Sứt bỏ làng lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, đôi lúc có phần khôi hài làm người đọc tạm quên trong chốc lát cái hoàn cảnh mất gốc của anh. Khi còn ở trong làng và bị bên kia bắt lùa đi để làm cái công việc tải thương ban đêm, anh phải học tập về những khúc tre chẻ ra và lật ngửa, trong đêm tối màu trắng của tre là dấu chỉ đường. Việc chạy trốn của anh tuy rất hồi hộp, nhưng lối kể chuyện của tác giả có phần dí dỏm : Anh Ấm Sứt hôm đó chạy trối chết. Anh chạy đến đâu, tưởng như phi cơ rít chận đầu đến đó. Dĩ nhiên, anh không chạy theo dấu thẻ tre. Với bên kia anh Ấm Sứt học tập về thẻ tre, với Mỹ anh làm thợ vịn. Ở tỉnh anh có vẻ hài lòng vì có công ăn việc làm, anh lại mở tiệc mừng đứa con thi đậu vào trường công. Nhưng anh chưa ý thức được sự mất mát lớn lao của anh : anh đã mất làng. Làng là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi cha ông của anh đã sống trong truyền thống địa phương và là nơi anh được dân làng biết đến và nể nang. Giờ đây anh là kẻ mất gốc, anh chỉ là một tay thợ vịn không ra gì, sống lạc loài ở thành thị.

Nhân vật thứ hai là anh Năm Hà. Anh hành động ngược lại, anh không chịu rời làng. Trong cuộc đời của anh Năm Hà có hai thời kỳ : thời kỳ xây dựng và thời kỳ sụp đổ. Vào thời kỳ xây dựng, anh Năm Hà vốn là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng. Nhưng từ ngày anh cưới được người vợ trẻ, có một thân hình hấp dẫn, anh bỗng đổi khác : anh trau chuốt cách ăn mặc, cách ăn nói. Lúc bấy giờ vào thời kháng chiến, anh Năm xông xáo tham gia vào những hoạt động xã hội, chính trị trong làng xã. Phải nói những cố gắng để ra khỏi tình trạng một nông dân tầm thường đã gây cho anh Năm Hà nhiều vất vả. Anh muốn chứng tỏ anh không phải là người tầm thường. Nhưng rồi anh bị tình phụ. Đến thời kỳ thứ hai là thời kỳ sụp đổ, cuộc đời anh Năm Hà xuống dốc. Chiến tranh lan tràn ở thôn quê, anh Năm Hà bị áp lực của đôi bên, một mình anh phải tả xung hữu đột, anh chém giết lung tung để tự cứu mạng sống, anh không còn biết đâu là thiện đâu là ác. Và trước mắt thiên hạ anh đã trở nên một hung thần.

Có sự chênh lệch trong cách miêu tả hai nhân vật. Mặc dù Võ Phiến tạo nên một anh Ấm Sứt khôi hài, anh ta chạy thục mạng, lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, nhưng người đọc không biết gì về nét mặt, hình dung của anh Ấm Sứt. Còn anh Năm Hà thì rất đậm nét : … anh ta trông khổ não. Người gầy choắt và đen, khuôn mặt hóp lại (…) anh ta lạc giọng, tắt tiếng : nói khàn khàn, gần như không phát ra âm. Và sau khi xảy ra nhiều vụ chém giết trong làng khiến anh Năm bị xem là hung thần,  anh xấu xí, khù khờ, người quắt queo, má hóp, tay cụt, kỳ hình dị dạng…  Sở dĩ anh Năm Hà được tô đậm nét là vì anh là trọng tâm của bài tùy bút, là biểu tượng của sự thống khổ của người dân quê trong cuộc chiến. Nếu không có chiến tranh, anh Năm Hà sẽ là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng, được dân trong làng nể nang. Nhưng chiến tranh đã biến anh thành một quái vật, một hung thần. Chiến tranh đã tha hóa con người, đã hủy diệt cái phần cao đẹp của con người.

Nếu phải tìm cho hai nhân vật Năm Hà và Ấm Sứt một hình tượng, thì Năm Hà là người đứng thẳng, người đối đầu với chiến tranh và hứng chịu mọi hậu quả, Ấm sứt là người cúi xuống, người tránh né chiến tranh.

Có hai sự kiện cho thấy thân phận của người dân quê bị rơi vào một tình trạng chông chênh : thứ nhất là sự phân biệt xác địch, xác ta, phải dựa vào tiêu chuẩn nào ? Dựa vào lý do của cái chết, tức bị pháo vào hay bị câu ra ? Hay dựa vào nơi chết, tức vùng của địch hay vùng của ta ? Cách phân biệt như thế hoàn toàn vô lý, không phản ánh tư tuởng, lập trường của người chết. Vấn đề khó phân biệt « xác ta, xác địch » nói lên tình trạng bi thảm và sự vô lý của cuộc chiến tranh tương tàn, của huynh đệ tương tàn. Thứ hai là sự chênh lệch giữa thế giới của người dân quê nghèo, mộc mạc, thất học, nạn nhân của chiến tranh và thế giới của những ông quan tòa có học, quen cảnh sống sung sướng, an toàn ở thành thị. Hai hạng người trong xã hội xa lạ đối với nhau, hạng người được đời ưu đãi có quyền xét xử hạng người khốn đốn, trơ trụi, không có khả năng giải bày những uẩn khúc của mình. Anh Năm Hà sẽ câm nín trước một xã hội khắt nghiệt, nhưng hình hài quắt queo, tàn phế của anh có khả năng biện hộ cho anh không ? Hậu vận của anh rồi đây sẽ ra sao ?

Võ Phiến nhớ làng, ông nhắc đến những nhân vật của làng khi xưa như muốn làm tái sinh những nhân vật đó, làm tái sinh làng quê. Nhưng ông phải nhìn nhận rằng chiến tranh không những đã tàn phá thôn làng mà còn tha hóa con người.

Bài tùy bút được cấu trúc mạch lạc, nội dung gần với truyện ngắn, vì có một cốt truyện. Hình ảnh làng quê làm nên tính nhất quán của bài tùy bút. Võ Phiến vượt xa cái định nghĩa của tùy bút là gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Ông có một nghệ thuật tinh tế để xây dựng tùy bút. Trong bài Nhớ làng, ông phóng bút với một ý tưởng chủ đạo, rồi ý tưởng dần dần được tán rộng theo cách liên tưởng.

Người đọc Võ Phiến đã quen với từ rất Võ Phiến : Nhưng còn Ngô Xuân H… là ai vậy cà ? Và rồi có những trạng từ rất bình dân như : còn lâu, sức mấy, tạo nên một sự gần gũi với người dân quê :

có những số thiệt hại còn lâu mới kiểm điểm được.

Sức mấy ! Anh mong gì ngo ngoe nổi trước pháp luật ?

Văn phong của Võ Phiến tuôn chảy tự nhiên khi dí dỏm kể chuyện anh Ấm Sứt chạy trốn, khi chua xót nhận xét thân phận anh Năm Hà : Trong khi anh Năm Hà lặn ngụp trong sắt máu, trong cảnh giết chóc dã man, thì những vị đó lớn lên ở những đô thị an lành, học ở những trường đại học… nghiên cứu về luật pháp…

Võ Phiến đã biến anh Năm Hà thành một biểu tượng của người dân quê nạn nhân của chiến tranh. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng hình hài quắt quéo của anh Năm Hà vẫn sừng sững trước lịch sử, như một nỗi oán hận.

 

 

 

 

TRUYỆN “YÊU” CỦA CHU TỬ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÂM HỌC

 

Với sự phát triển của các ngành khoa học nhân văn, chân trời phê bình văn học được mở rộng. Ngày nay một tác phẩm văn học, nếu là một tác phẩm phong phú, có thể được tiếp cận nhiều cách, được giải thích theo nhiều hướng. Bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học cho thấy xã hội miền Nam, vào những năm 60 của thế kỷ trước, đã tiến hóa như thế nào trong một bối cảnh lịch sử mới. Truyện Yêu cũng có thể được tiếp cận từ góc độ phân tâm học, vì độc giả có thể tự đặt câu hỏi về đời sống tâm lý, tình cảm ngoại lệ của nhân vật Đạt. Đọc một tác phẩm văn học qua lưới phân tâm học là tra vấn tác phẩm để cố tìm một phần nào vô thức của tác giả qua nhân vật, qua cốt truyện, v.v… dù biết rằng vô thức ở trong chiều sâu của con người, khó nắm bắt được.

Nói đến phân tâm học là nói đến vô thức, vì vô thức làm nền tảng cho học thuyết của Freud. Nhưng Freud nhìn nhận ông không phải là người đã phát hiện vô thức. Ông viết : Các nhà thơ và các nhà triết học đã phát hiện vô thức trước tôi : điều mà tôi đã phát hiện, chính là cái phương pháp khoa học cho phép nghiên cứu vô thức (1).

Khi một nhà văn xây dựng một truyện hư cấu, ông (hay bà) cho rằng mình hoàn toàn chủ động trong việc tưởng tượng cốt truyện, miêu tả nhân vật, chủ động trong lối viết, lối chọn từ ngữ, v.v… Tóm lại nhà văn tin chắc mình sáng tạo hoàn toàn theo ý muốn của mình. Có điều nhà văn không nghĩ đến là quyền chủ động của nhà văn thật ra bị vô thức điều khiển. Vai trò của phân tâm học là giải thích rằng đời sống tâm lý con người tùy thuộc vô thức, con người không hoàn toàn tự làm chủ mình được. Chính tác giả Chu Tử trong truyện cũng nhìn nhận sự hiện diện của vô thức mà nhân vật Tuyết của ông gọi là « tiềm thức », khi cô quả quyết chị Diễm của cô yêu thầy Đạt. Khi Diễm cho rằng lời nói : Nhớn lên cháu lấy chú Đạt thốt ra khi nhỏ lúc đi tắm suối với thầy Đạt là chuyện con nít, thì Tuyết nói : Quan hệ lắm chứ ! Câu đó chứng tỏ là chị đã yêu ông ta từ lâu, yêu trong tiềm thức, mà tiềm thức là cái bất trị lắm, không thể coi thường được. Cũng như khi đi dạo phố với Khải, người chồng chưa cưới, Diễm vô tình mặc cái áo dài do Đạt tặng. Vô thức của Diễm qua sự chọn lựa cái áo đã tiết lộ tình yêu âm thầm của Diễm đối với Đạt.

Nội dung truyện Yêu đã được trình bày trong bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học, nay chỉ xin nhắc lại các nhân vật chính trong truyện. Thúc, một giáo sư triết học, có vợ là Hoà và bốn cô con gái đã lớn, đến tuổi lấy chồng : Uyển là sinh viên luật khoa, Diễm sắp vào đại học dược khoa, Huyền dọn thi tú tài và Tuyết học trường Tây, bốn cô gái mỗi người đẹp mỗi vẻ và tính tình khác hẳn nhau. Đạt là bạn của Thúc, cũng là nhà giáo, thường đến dạy thêm cho bốn cô con gái của Thúc. Ngoài các nhân vật này còn có Tuấn, họa sĩ và là học trò cũ của Thúc, Trang, em gái của Tuấn, làm nghề vũ nữ, học trò cũ của Đạt. Khải, một sinh viên y khoa, sắp ra trường, chồng tương lai của Diễm. Vậy trong truyện Yêu có nhiều nhân vật, nhân vật nào cũng có những nét đặc thù, nhưng chỉ có một nhân vật nổi bật, có sức lôi cuốn sự chú ý của độc giả, vì nhân vật này có một đời sống tâm lý lạ lùng, đó là nhân vật Đạt. Tuy sống trong thực tế như mọi người, tham gia vào những sự kiện, những biến cố xảy ra chung quanh mình, nhưng con người Đạt tách rời cái đời sống thực tế đó, để âm thầm sống một cuộc đời khác. Những nhân vật nữ như Hội, bạn của Diễm, như Trang đều cho rằng Đạt ngây thơ, nhút nhát, thiếu tính quyết định, thật ra những tính từ đó được gán cho Đạt là cái bề ngoài che đậy một đời sống nội tâm đang đeo đuổi một ám ảnh, một chủ đích. Đạt sống trong một tâm trạng căng thẳng, chờ đợi, một tâm trạng không bao giờ được giải quyết. Vấn đề hệ trọng của Đạt là một tình yêu ngoại lệ, hay nói theo phân tâm học, một ham muốn, ham muốn một người con gái mãi mãi ở ngoài tầm tay của mình, tức một ham muốn không được thỏa mãn, toại nguyện.

I Con đường quanh co của ham muốn

Trong truyện Yêu, có điều lạ là một lời nói của trẻ con bỗng nhiên có khả năng quyết định cuộc đời tình cảm của một người đàn ông. Cô bé Diễm khi lên bảy tuổi, có lần đi tắm suối với chú Đạt đã nói : Nhớn lên, cháu lấy chú Đạt. Câu nói vô tình và vô tội làm nảy sinh một xung năng, một ham muốn nơi Đạt. Về sau, trong thư gửi cho Diễm, Đạt nói nhớ đến lời của Diễm năm xưa : Tôi nhớ và tôi đợi Diễm nhớn lên !… Và Đạt khẳng định : … sẽ không có ai yêu Diễm như tôi yêu Diễm, từ mười năm nay, từ cái buổi bên dòng suối, tôi bế cái thân hình bé bỏng, trong trắng của Diễm trong lòng và tự nhủ : « Cái kho tàng này là thuộc về phần ta » (tr. 48-49).

Vậy truyện Yêu là truyện của một ham muốn. Ham muốn là tính đặc thù của con người, chỉ có con người mới biết ham muốn, thú vật chỉ có nhu cầu và chỉ tìm cách thỏa mãn nhu cầu. Theo Freud, trong con người có vô số xung năng vô thức. Những xung năng này bị sự kiểm duyệt kìm nén trong vô thức, nhưng một khi được trá hình, chúng có thể được thực hiện qua những giấc mơ, những hành động hụt, những triệu chứng loạn thần kinh. Phân tâm học cho bản năng dục tính một nghĩa rộng, một tầm quan trọng lớn trong đời sống con người. Với khái niệm libido (dục năng), Freud đưa ra một quan niệm mới về ham muốn, về mục tiêu và mục đích của ham muốn.

Đối với mọi người, ham muốn chủ yếu được thực hiện dưới hình thức của bản năng dục tính với tình dục khác giới và nhằm đi đến cực khoái.

Đối với Freud, bản năng dục tính có một nghĩa rộng lớn hơn, nó chỉ định một tổng hợp xung năng, tiếng Đức Trieb có nghĩa là xung năng do động từ treiben có nghĩa là đẩy, vậy xung năng là cái đẩy (thúc đẩy) chúng ta làm điều gì, là cái mà Freud chỉ định bằng từ la tinh libido có nghĩa là ham muốn. Libido là toàn thể những xung năng có dục tính. Libido có đặc tính là có khả năng biến hóa, thay đổi mục tiêu và mục đích của ham muốn. Theo nguyên lý thích thú (Lustprinzip / Principe de plaisir) chi phối đời sống tâm lý con người, thì ham muốn bắt nguồn trong một tâm trạng căng thẳng, và mục đích của nó là làm giảm bớt tâm trạng căng thẳng đó.

Trở lại ham muốn của Đạt. Khi dạy học bốn cô con gái của bạn mình, Đạt có cơ hội theo dõi sự khôn lớn của Diễm, và Đạt không cầm lòng được trước một thiếu nữ có một vẻ đẹp kín đáo, đài các, tính tình lại dịu dàng, thùy mị. Ham muốn của Đạt là một ham muốn chiếm hữu, nhưng nó không đơn giản chỉ là ham muốn dục tình, nó vói cao hơn : Đạt vừa ham muốn Diễm vừa biến Diễm thành một thần tượng để tôn thờ. Trong bức thư thứ hai gửi cho Diễm, Đạt viết : Anh vẫn tôn trọng em như một thần tượng cao xa vòi vọi, mà anh không vói tới (tr. 182). Nhà phân tâm học Jacques Lacan nhấn mạnh rằng mối liên hệ của ham muốn chủ yếu là mối liên hệ với người kia, với tính cách là người kia. Người được ham muốn là một chủ thể, không phải là một vật thể. Liên hệ giữa người ham muốn và người được ham muốn có tính liên chủ thể.

Trong khi ham muốn của Thúc đối với Hằng xảy ra đột ngột, bốc cháy và được thỏa mãn nhanh chóng, thì ham muốn của Đạt xuất hiện từ lâu, lớn dần, mạnh dần qua nhiều giai đoạn, và ham muốn đó tự vạch một con đường bất chấp mọi trở ngại, như sự chênh lệch tuổi tác hay kỷ cương của lễ giáo trong một xã hội vẫn còn tôn ti trật tự, bất chấp những biến cố có tính đe dọa sắp xảy ra, bất chấp thời gian.

Giai đoạn một : bước đầu táo bạo. Xung năng ham muốn của Đạt quá mạnh mẽ khiến Đạt vượt khỏi những định kiến nặng nề của xã hội truyền thống để tỏ ý muốn hỏi Diễm làm vợ, và Đạt gặp ngay sự chống đối quyết liệt của Hoà, mẹ của Diễm. Một mặt Hoà sắp đặt để Diễm thành hôn với Khải, người thanh niên đồng trang lứa với Diễm, có một tương lai đầy hứa hẹn. Mặt khác Hoà cho Diễm về nghỉ hè ở Vĩnh Bình để xa lánh Đạt.

Giai đoạn hai : đỉnh cao của ham muốn. Đạt không sờn lòng. Khi hay tin Diễm đi Vĩnh Bình, Đạt vội vàng về Vĩnh Bình. Phải nói từ ngày biết Đạt có ý định xin được hứa hôn với Diễm, Diễm bàng hoàng nhớ lại kỷ niệm năm xưa và cảm thấy như bị tình yêu của Đạt lôi cuốn, cảm thấy có cái gì ràng buộc cô với thầy Đạt. Nhưng Diễm vẫn còn đủ lý trí để vâng lời mẹ, về Vĩnh Bình để bình tâm suy nghĩ. Không ngờ Đạt xuất hiện. Thắng cảnh ao Bà Om, nơi hai người đến viếng, đánh dấu cao điểm của mối tình ngoại lệ này. Trước cảnh tượng những đứa bé tắm ao, cả hai đều xúc động nhớ đến kỷ niệm xưa. Trong tâm trạng đó, những bước đi của Diễm trở nên lảo đảo, và có một lúc Diễm vấp vào một rể cây, Đạt dang tay đón Diễm, cô ôm chầm lấy Đạt và thốt lên tiếng « Anh ». Đạt sung sướng muốn đặt một nụ hôn lên trán người yêu, nhưng Đạt vụng về, không làm được cử chỉ đó. Dù sao tiếng « Anh » và nỗi sung sướng của Đạt cũng đủ đánh dấu giây phút thần tiên của hai người.

Giai đoạn ba : tình yêu của Diễm vừa làm tăng ham muốn của Đạt vừa gieo sầu muộn. Trước khi đi lấy chồng, Diễm gửi cho Đạt một bức thư tình đầu tiên và cũng là cuối cùng, không còn gọi Đạt là thầy nữa. Diễm thú nhận tình yêu của mình đối với Đạt : … em lại khám phá ra rằng em đã nghĩ tới anh, từ bao nhiêu năm nay, trước khi Ba em cho biết ý của anh, trước khi nhận được thư anh (tr. 163). Còn đối với mẹ thì Diễm nói : … nếu con được làm theo ý riêng con thì con sẽ lấy ông Đạt (tr. 168-169).

Cũng trong thư đó Diễm tỏ ý, trước khi vĩnh biệt Đạt để đi lấy chồng, tặng Đạt một món quà, cô hứa sẽ làm bất cứ điều gì theo ý muốn của Đạt, nhưng với điều kiện Đạt đừng hôn cô để tình yêu đó mãi mãi trong trắng.

Giai đoạn bốn : bức chân dung của vĩnh biệt. Món quà vĩnh biệt Diễm tặng Đạt là ngồi cho Đạt vẽ. Ham muốn của người đang yêu trở thành, trong chốc lát, ham muốn của người nghệ sĩ, cái đẹp thắng cái khổ : Nhưng khi ngồi trước giá vẽ, nhìn vào đôi mắt cố mở to để nước mắt khỏi trào ra của Diễm, nhìn vào đôi mắt não nùng như muốn tan ra thành lệ của Diễm, trong giây phút đó, con người si tình của Đạt hầu như bị con người nghệ sĩ lấn át, khiến Đạt chưa kịp cảm thấy đau xót tuyệt vọng mà chỉ nhìn thấy cái đẹp mông lung, phù du của đôi mắt. Đạt cảm thấy cần phải ghi ngay lên khung vải, cái ánh biệt ly đang dâng lên khoé mắt người yêu ! (tr. 201) Những cố gắng của Diễm chỉ đến chừng đó, cô từ chối, không cho Đạt vẽ vai và ngực trần của mình. Đạt bỗng nảy ra cái ý vẽ một bức tranh khác theo tưởng tượng, một bức tranh vẽ Diễm ngửa mặt đón nước mưa đang chảy ròng trên mặt, trên vai, trên ngực. Diễm nhìn bức tranh thứ hai mà rùng mình : Đạt vẽ Diễm giống quá. Khi nhìn đôi mắt mình trong tranh Diễm hiểu tất cả tình cảm sâu xa của mình đối với Đạt và không dễ gì mà nàng có thể dứt tình được (tr. 203). Trước khi ra về, Diễm xin Đạt bức tranh thứ nhất. Diễm không còn tin vào sự cứng rắn của mình nữa, cô lo sợ và vội vàng từ biệt Đạt. Nghi thức vĩnh biệt không che lấp được ham muốn. Đạt nói : Nhưng em đừng tưởng là anh sẽ mất em, em sẽ quên nổi anh đâu ! Anh nhất định sẽ không để mất em, em nhớ lấy ! … (tr. 206) Khi Diễm ra về, Đạt tự giận mình không có can đảm để tiến thêm một bước trong tình yêu. Đạt nhìn bức tranh Diễm và hét to : « Tôi chỉ muốn ngủ với người tôi yêu », lặp lại câu nói của một nhân vật tiểu thuyết. Ham muốn của Đạt đã đến một mức độ nồng nhiệt quá lớn.

Giai đoạn năm : Ham muốn bị xúc phạm. Trang đến nhà Đạt, thấy Đạt bơ phờ bên cạnh bức tranh vẽ Diễm, Trang đâm ghen tức và hung hăng xé toạt bức tranh. Một xúc phạm quá lớn đối với tình yêu ham muốn của Đạt.

Giai đoạn sáu : Ham muốn chẳng những bị đe dọa, mà còn bị đẩy vào quên lãng với hai cuộc hôn nhân : hôn nhân của Diễm với Khải và hôn nhân của Đạt với Trang. Đạt không cưới được Diễm thì cưới Trang như một người thay thế. Nhưng  người thay thế sẽ không bao giờ là người được thay thế. Hôn nhân Đạt-Trang bề ngoài như một dứt khoát cuối cùng. Nhưng ham muốn của Đạt vẫn còn đấy, Đạt sống trong tâm trạng hững hờ, để mặc cho chị em Diễm tổ chức lễ cưới của mình với Trang, Đạt có cảm tưởng hình như tất cả các việc đứng đắn, quan trọng, đánh dấu một khúc ngoẹo trong đời chàng (…) là việc của ai chứ không phải của chàng. Bởi vì chàng chưa thấy mình sống một cách thật đầy đủ, trọn vẹn cái tâm trạng của một người « đi lấy vợ ». Chàng thấy mình vẫn là mình, chưa có gì thay đổi. Ngay cả khi đứng bên cạnh cô dâu Trang, Đạt càng có cảm tưởng mình chưa có tâm hồn một chú rể, chàng tự nhủ : « Lấy vợ có thế này thôi à ? » (tr. 337).

Giai đoạn bảy : Ham muốn nhanh chóng trổi dậy với một biến cố bất ngờ : tin Khải tử nạn. Kể từ nay cuộc đời của Diễm đã trở lại tự do. Ham muốn của Đạt không còn gặp trở ngại, mặc dù Trang vẫn là vợ Đạt. Sở dĩ ham muốn của Đạt trở nên một ám ảnh kiên trì là vì ham muốn đó có hai mặt : dục tình và thanh cao. Đạt ham muốn thân xác của người yêu : … anh muốn bức chân dung đó là bức chân dung em để trần hở vai và ngực (tr. 182)… khuôn mặt em, làn tóc em, vành môi em (…), từng nét, từng đường của thân hình em… (tr. 183). Nhưng sự ham muốn nồng nhiệt bị tê liệt. Tại sao Đạt không dám hôn Diễm ? Vì Diễm được thanh cao hóa và trở nên một thần tượng mà Đạt tôn thờ. Đạt có thể hôn Trang một cách xác thịt, bừa bãi, nhưng Diễm thì không, Diễm là cái gì sáng chói, cùng lắm Đạt có thể đưa tay đỡ Diễm khi cô vấp ngã ở ao Bà Om. Thần tượng Diễm quá mong manh, trong trắng và quý hóa, đòi hỏi một cách cư xử đầy trân trọng. Cho nên ham muốn dục tình bị thất bại, một lần ở ao Bà Om, lần khác khi hai người vĩnh biệt nhau. Đạt bứt rứt và tự giận mình một cách thê thảm. Hai bức tranh Đạt vẽ chân dung của Diễm là biểu tượng cho hai khía cạnh của ham muốn đó : một bức chân dung u buồn của thần tượng cao xa và bức chân dung để hở một phần thân xác của người yêu. Trong con người Đạt có sự xung đột giữa ham muốn dục tình và ham muốn được thanh cao hóa.

II Viết theo vô thức

Vô thức đưa đẩy ngòi bút của tác giả để vẽ lên một nhân vật giống tác giả ít nhiều, Đạt là nhà giáo giống Chu Tử ; trước khi trở thành nhà báo, nhà văn, Chu Tử đã từng là nhà giáo. Vô tình tác giả đã tự đưa mình vào truyện chăng ? Biến cố sau đây có thể được xem như lời đáp phần nào của tác giả.

Truyện Yêu ra mắt độc giả năm 1963, ba năm sau, một biến cố trầm trọng đã xảy ra khi Chu Tử làm chủ nhiệm nhật báo Sống. Ngày 16-4-1966, Chu Tử bị mưu sát và bị trọng thương. Cả giới trí thức Sài gòn : văn hữu, nghiệp đoàn ký giả, các hội đoàn sinh viên, các nhân vật tôn giáo, chính trị, đều lên tiếng phẫn nộ và bênh vực nhà báo Chu Tử – Chu Văn Bình. Các bài viết, quyết nghị, thư từ, v. v… đều được Chu Tử gom lại thành một cuốn sách mang tựa đề : Không hận thù. Đặc biệt trong chương III : Những suy nghiệm của bản thân, tác giả tâm sự : bốn viên đạn bắn vào người ông đã làm thay đổi cách nhìn đời của ông. Chương này được xem là một tự truyện của tác giả : ông nói về sự sống chết của con người, về con người làm văn nghệ, và về tuổi thơ của ông ; ông là một học sinh xuất sắc, tuy nghèo, quê mùa, nhưng học hành vượt xa những người sống trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn ông, ông đậu tú tài thủ khoa với hạng bình. Tuổi thơ của tác giả được trình bày trong một đoạn văn có cái tựa đề nhỏ : Một kỷ niệm tắm truồng. Chu Tử kể ông sinh ra trong một làng rất quê, rất man rợ, trung cổ, cho nên đàn bà có thói quen tắm truồng mà không ai lấy điều đó làm hổ thẹn (…) Khi tôi lên năm, lên sáu tuổi, mẹ tôi thường đưa tôi ra giếng tắm, tắm chung cùng mọi người đàn bà khác. Tôi thấy điều đó rất tự nhiên, không có gì là xấu hổ nên tôi không biết ngạc nhiên vì tôi vẫn đinh ninh ở mọi nơi khác, đàn bà cũng đều tắm truồng như thế cả (tr. 91). Về sau, khi lên tỉnh học, có vài người bạn biết được chuyện này bèn chế nhạo cậu bé Chu Tử, và cậu bé trở nên một trò cười cho mọi người. Từ đó tôi không ngớt mang tâm trạng đầy mặc cảm, đầy chống đối ngấm ngầm của một đứa nông dân khờ khạo, lạc lõng giữa cái gọi là văn minh đô thị. Trong thâm tâm, tôi vẫn coi rẻ, coi khinh cái bề ngoài hào nhoáng, đạo đức giả của người đô thị… (tr. 92) Điều này giải thích cái « tếu » của  Chu Tử trong mục Ao Thả Vịt của tờ báo. Và nhà báo Chu Tử không quên đề cao sự thực, một cách bất ngờ ông đưa chúng ta trở về với nhân vật Đạt trong truyện Yêu : Rồi sau này, khi tôi viết văn, viết báo, tôi vẫn chỉ tả sự thực. Sự thực trần truồng, trắng trợn, trong tâm hồn con người. Sự thực trần truồng trong xã hội. Để chứng tỏ cho mọi người thấy là sự thực trần truồng tự nó không có gì xấu, rất đẹp là đằng khác. Chỉ có những kẻ đạo đức giả nuôi những ý nghĩ đen tối, nhìn trộm sự trần truồng mới là xấu. Chẳng hạn nhân vật Đạt trong truyện « Yêu » của tôi, trước khi người yêu là Diễm lấy chồng, Đạt chỉ có một ao ước là vẽ một bức tranh Diễm để hở ngực, mặc dầu trong suốt thời gian yêu Diễm, Đạt vẫn tôn thờ Diễm, chưa bao giờ dám hôn Diễm và khi Đạt giải thích tại sao Đạt lại có ý định như trên, Đạt chỉ là phát ngôn nhân của tác giả vẫn sắt đá tin tưởng ngay từ hồi thơ ấu rằng, tắm truồng không có gì là xấu xa ! (tr. 93)

Đọc kỹ đoạn văn trên, có những yếu tố làm rõ thêm nhân vật Đạt. Trước khi Chu Tử bị mưu sát và cho ra cuốn Không hận thù thì Chu Tử đã có ba tiểu thuyết : Sống, Yêu, Loạn, nhưng sao ông chỉ nhắc đến truyện Yêu mà thôi ? Tác giả đã đặc biệt gửi gắm trong truyện này nhiều điều mật thiết của mình chăng ? Tác giả khẳng định Đạt là phát ngôn nhân của mình. Với việc làm của vô thức, chúng ta có thể nghi ngờ và đi xa hơn bằng cách cho rằng Đạt là một hình ảnh của Chu Tử, và chuyện đàn bà tắm trần truồng đương nhiên dẫn đến kỷ niệm cô bé Diễm tắm suối khi xưa với chú Đạt.

Trong truyện Yêu có hai nhân vật sống với tâm trạng ham muốn : Đạt và Thúc. Cả hai đều là nhà giáo, đều ham muốn một người phụ nữ. Nhưng tâm trạng ham muốn của họ không giống nhau. Thúc ham muốn Hằng, một ham muốn xảy đến bất ngờ, cháy ngùn ngụt, biến thành hỏa diệm sơn, và nhất quyết đi đến cùng, tức đi đến xung năng chết mà Freud gọi là Thanatos, do tên thần chết trong thần thoại Hy lạp. Thanatos chỉ định toàn thể những xung năng chết, đối lập với Eros – thần tình yêu – xung năng sống. Ham muốn của Đạt không được thỏa mãn, vẫn trong tình trạng chờ đợi, thuộc về xung năng sống. Đạt và Thúc, hai người bạn cùng đi tìm tình yêu, Thúc gặp Thanatos, Đạt gặp Eros.

Trong cuốn Không hận thù, Chu Tử tuyên bố Đạt là phát ngôn nhân của ông. Thật ra, cả Đạt và Thúc đều là phát ngôn nhân của ông. Cả hai đều phát biểu về ham muốn, và sống dùm tác giả trạng thái đa dạng của ham muốn.

 

Chú thích :

  1. Lionel Trilling, Freud and literature, The liberal imagination, London, 1951. Do Jean Starobinski dẫn.

Tác phẩm và tài liệu tham khảo :

Chu Tử, Yêu, tái bản ở Hoa kỳ

Chu Tử, Không hận thù, Toà soạn Sống, Sài Gòn, trình bày, 1966, Xuân Thu in lại ở Hoa Kỳ

Philippe Cabestan, Le désir, Ellipses, 2005.

 

TRUYỆN “YÊU” CỦA CHU TỬ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ XÃ HỘI HỌC

 

Vào năm 1963, ở miền Nam, một cuốn tiểu thuyết ra đời và được sự đón nhận quá nồng nhiệt của độc giả, nó biến thành một hiện tượng. Tôi muốn nói đến cuốn truyện Yêu của Chu Tử. Trong lời tựa cho lần tái bản thứ hai, tác giả cho biết cuốn Yêu lần đầu tiên ra mắt, được in 5.000 bản và đã bán hết trong vòng hai mươi lăm ngày. Kết quả vượt xa sự chờ đợi của tác giả và nhà xuất bản

Điều gì đã lôi cuốn người đọc ? Chắc chắn là cái tựa đề Yêu, nhưng nếu chỉ là cái tựa đề thì sự lựa chọn quá nông cạn. Phải nói cốt truyện hấp dẫn với những mối tình lãng mạn, ngoài thông lệ, và những nhân vật nữ có cá tính sâu sắc, ăn nói ngỗ ngáo, sống sượng hay dịu dàng, lãng mạn, như ở ngoài đời. Chu Tử đã đem một cái gì mới lạ đến với người đọc, làm người đọc không khỏi kinh ngạc, cảm thấy có điều gì lạ lẫm đang biến đổi cách suy nghĩ, cách nhìn đời, cách hành động của các nhân vật trong truyện. Phải chăng truyện Yêu phản ánh sự chuyển mình của xã hội thời đó ?

Có nhiều cách tiếp cận một tác phẩm văn học. Trường hợp tác phẩm Yêu, chúng ta cần đến cái lưới đọc của xã hội học để xem xét những dấu hiệu nào đã làm nên cái mới lạ của truyện.

I Nội dung truyện

Chu Tử đưa chúng ta vào một thế giới của tình yêu mà theo các nhân vật, đó là thứ tình yêu do số kiếp, do định mệnh an bài. Thúc và Hòa có bốn cô con gái : Uyển, hai mươi hai tuổi, sinh viên luật khoa, có sắc đẹp lộng lẫy, khiêu gợi, Diễm, hai mươi tuổi, đẹp kín đáo, mơ màng, Huyền, mười tám tuổi, có vẻ đẹp lạ lùng nhờ có mắt hơi lác, Tuyết mười sáu tuổi, học trường Tây, có vẻ đẹp Tây phương. Thúc là một giáo sư triết học, đa cảm, phóng khoáng, xuề xòa, Hoà, vợ Thúc, là một phụ nữ tôn trọng đạo giáo truyền thống. Ba cô gái lớn đã đến tuổi lấy chồng nên không thiếu gì đàn ông giàu có lui tới.

Vào truyện, Thúc báo cho gia đình biết Đạt, bạn của Thúc và là thầy dạy học của bốn cô con gái, có ý định hỏi Diễm làm vợ. Cả gia đình kinh ngạc, mỗi người phản ứng mỗi cách. Uyển, tự ái bị tổn thương, mặc dù Uyển dửng dưng với Đạt, vụt hỏi : « Sao ông ấy không hỏi con, Ba nhỉ ? ». Hòa tỏ vẻ khó chịu, bực mình, bà không chấp nhận một người bạn của chồng, gần bằng tuổi chồng, và là thầy dạy học các con mình, lại muốn đi hỏi một đứa con của mình. Vả lại, bà muốn Diễm lấy Khải, một sinh viên y khoa sắp ra trường, đẹp trai, con nhà giàu. Còn Diễm bồi hồi, im lặng. Huyền tính tình đôn hậu, được mọi người tin cậy và tâm sự, kể cả Đạt. Huyền báo cho gia đình biết hai chuyện do Đạt kể. Chuyện thứ nhất là khi Diễm còn bé, có lần chú Đạt bế Diễm đi tắm suối và Diễm nói sau lớn Diễm sẽ lấy chú Đạt. Với thời gian, lời nói ngây thơ đó đã làm cho Đạt yêu Diễm. Diễm cũng bắt đầu nhớ lại chuyện xưa. Chuyện thứ hai là chuyện Đạt thân với bà Hằng. Nhưng giữa hai người chỉ có tình bạn. Vào thời kháng chiến, Hằng mồ côi mẹ, phải tự lo thân, mặc dù đã có tiền của. Hằng dựng lên một quán nước để giúp những anh dân quân đi đường xa. Hằng có vẻ đẹp quyến rũ, lại bồng bột yêu nước bằng cách sẵn sàng « ủng hộ sinh lý » cho những phần tử tranh đấu nếu cần. Thanh, một anh đại đội phó mê Hằng, một đêm mò đến nhà Hằng, liền bị một anh dân quân tên Đa cũng mê Hằng, nổi ghen, tri hô. Thế là cả Hằng và Thanh đều bị bắt, ra tòa. Dạo ấy Đạt làm dự thẩm. Ông chánh án là một người thuộc sắc tộc thiểu số, ông ta cũng thèm muốn Hằng, bèn lập mưu để tên Đa thoả mãn dục tình, rồi đến lượt ông ta. Sau này khi Đạt gặp lại Hằng thì Hằng có một đứa con, để giữ tiếng cho Hằng, Đạt nhận đứa con là con của mình. Hòa muốn triệt hạ uy tín của Đạt trước mặt con cái nên tỏ vẻ nghi ngờ đứa bé là con thật của Đạt. Huyền cũng cho biết hiện Hằng sống ở Sài gòn với đứa con. Càng ngày Đạt càng tỏ tình với Diễm và Diễm cũng bắt đầu cảm thấy yêu Đạt, nhưng biết mẹ mình chống đối, Diễm dè dặt. Tuấn, một người học trò cũ của Thúc, nay là một họa sĩ, rất mê cờ bạc, luôn luôn cần tiền. Huyền vì lòng thương người muốn chạy chọt để giúp Tuấn. Đạt muốn đỡ lấy gánh nặng của Huyền, bèn đến làm quen với Tuấn với ý định khuyên răn Tuấn. Nhưng tại nhà Tuấn, Đạt gặp Trang, em của Tuấn và là một vũ nữ. Đạt khó nhận ra ở người vũ nữ ăn nói bạo dạn, cay cú, có nhiều mánh khóe để làm đàn ông mê say, cô học trò khi xưa của mình, nhút nhát và hay khóc. Vì là nạn nhân của một người bạn của Tuấn, Trang đã hóa thành vũ nữ. Trang thù ghét đàn ông và có tiếng là thứ « rắn hổ mang ». Trang ghét nhất bọn con gái nhà lành, khi được biết Đạt và Diễm yêu nhau, Trang quyết phá tình yêu của hai người. Về phần Tuyết và Huyền, trong lúc Hoà và Uyển đi Đà lạt, hai cô thấy bố mêt mỏi, bơ phờ, mới nảy ra cái ý đưa bố đến nhà bà Hằng để bố vui. Đang lúc tâm hồn trống trải, Thúc nhận lời. Không ngờ khi Thúc và Hằng gặp nhau, hai người bỗng yêu nhau như hỏa diệm sơn bốc lửa. Sau đó Thúc và Hằng lại rủ nhau đi Vũng Tàu để tiếp tục sống một cuộc tình say đắm. Khi Hòa trở về và được biết chồng mình đã ngoại tình, bà có một phản ứng im lặng, lạnh lùng, làm mọi người trong gia đình đâm ra lo sợ. Không khí gia đình không còn êm ấm nữa. Thúc bị thổ huyết, phải vào bệnh viện. Diễm mặc dù yêu Đạt, phải nhận làm lễ cưới gấp với Khải để đem lại niềm vui cho gia đình. Diễm quả quyết với Đạt và mọi người rằng Diễm sẽ tạo hạnh phúc với Khải, và sự quyết định của Diễm không phải là một hành động hy sinh. Về phần Đạt, Đạt đau đớn thấy Diễm đành tâm cắt đứt, Đạt quả quyết với Diễm Đạt vẫn chờ đợi. Còn Trang càng thấy Đạt đau khổ vì Diễm càng tức giận vì Trang đã bắt đầu yêu Đạt. Từ ngày Thúc nằm bệnh viện, gia đình túng quẫn, Uyển, tuy yêu Hướng, một sinh viên nghèo, vẫn muốn làm tiền một trong những người đàn ông giàu có theo đuổi Uyển, để có tiền giúp gia đình. Hướng nghi ngờ, theo dõi đến chỗ hẹn của hai người, và Hướng đã thẳng tay hành hung người đàn ông. Hướng bị bắt, bị vào tù. Bệnh tình của Thúc ngày càng trầm trọng. Nghe lời khuyên của bác sĩ Thoại, bạn của Thúc và là người yêu thầm nhớ trộm Hòa khi xưa, Hòa chẳng những tha thứ cho chồng mà còn mời Hằng đến gặp Thúc. Sau khi Thúc chết, Hằng hạ sinh một đứa con trai. Cũng sau ngày Thúc chết, để gia đình bớt túng quẫn, Huyền xin phép mẹ nghỉ học để đi dạy, Tuyết xin đi hát, Diễm từ khi lấy chồng, mặc dù cố gắng tạo hạnh phúc, nhưng vì Khải ghen nên cảnh gia đình cơm không lành canh không ngọt. Khi Đạt biết Uyển gia nhập hội cờ bạc bịp của Tuấn và lãnh cái việc đi dụ những người đàn ông giàu có bất lương về để Tuấn lột tiền, thì Đạt có ý khuyên nhủ Uyển, trước thái độ hỗn xược của Uyển, Đạt nhận thức vì mình đã yêu Diễm nên mất uy tín với Uyển. Và Đạt có mặc cảm tội lỗi. Uyển và Tuấn bị bắt, bị vào tù. Đối với Uyển, ở tù chung chạ với những cô gái mại dâm là một kinh nghiệm đã biến đổi con ngưòi Uyển, Uyển bắt đầu biết thương những người thiếu may mắn hơn mình. Đạt nhờ luật sư Hoàng, một người bạn, biện hộ cho Uyển. Diễm đã đi lấy chồng, Đạt không còn hy vọng gì nữa, khi Diễm khuyên Đạt nên lấy Trang thì Đạt mệt mỏi để Uyển, lúc đó đã ra tù, và Diễm đứng làm chủ hôn. Sau ngày cưới, Đạt và Trang đi Vũng Tàu một tháng. Còn Diễm và Khải khi ở tiệc cưới ra về, Khải lái xe nhưng vì say rượu, Khải đã gây tai nạn và chết, Diễm bị thương. Một tháng sau, khi hay tin, Đạt sững sờ và có phần quên sự hiện diện của Trang bên cạnh mình. Đạt vẫn còn yêu Diễm.

Thoại đưa Uyển và Huyền vào thăm bệnh viện người cùi và giới thiệu Hội  Bạn những người cùi của ông. Ông ao ước Huyền và Uyển sẽ gia nhập hội, quên cái đau khổ giả tạo của mình để giúp những kẻ đau khổ thật sự. Bất ngờ trong đám bệnh nhân, Uyển nhận ra Trường là người sinh viên trước kia yêu Uyển và đã bị Uyển nhục mạ. Trường từ chối không muốn gặp Uyển, còn Uyển bị sốc và vô cùng hối hận. Trường tự tử sau khi để lại cho Uyển một bức thư đầy oán hờn. Với tư cách là bác sĩ tâm thần, Thoại lập mưu với Hướng vừa ở tù ra, làm một buổi cầu cơ với sự có mặt của Huyền và Uyển với mục đích chửa tâm bệnh cho Uyển. Trong lúc cơ lên, Hướng giả vờ cho Trường lên tiếng nói chuyện với Uyển, Trường khuyên Uyển nên giúp hội Bạn những người cùi, Uyển tin đây là cơ hội để Uyển đền tội. Thế là Uyển nảy ra cái ý gửi thư cho những người đàn ông giàu có đang đeo đuổi mình, và cho họ biết Uyển sẽ nhận làm vợ người nào bằng lòng hiến dâng tài sản của mình cho hội Bạn những người cùi, vì Uyển vẫn tin tưởng vào sắc đẹp đầy sức quyến rũ của mình. Nhưng chẳng có ai trả lời. Uyển chán chường, cảm thấy sắc đẹp của mình là một cái vạ. Nghe tin Tuấn trúng số, Uyển đến gặp Tuấn với mục đích đoạt trọn tiền của Tuấn cho người cùi. Nhưng Tuấn cũng là kẻ tham tiền, cuối cùng Uyển thất thân với Tuấn mà chẳng được gì. Uyển lâm trọng bệnh và từ giã cõi đời.

II Tác phẩm Yêu qua lưới đọc xã hội học

 Khi nhà văn viết một truyện hư cấu, bao giờ nhà văn cũng dựa vào những yếu tố, những chi tiết có thật ngoài đời, nhờ thế truyện hư cấu có tính thuyết phục và lôi cuốn người đọc. Cho nên văn chương, nói rõ hơn truyện văn xuôi, mang dấu ấn của xã hội. Nhà văn Pháp Louis de Bonald, vào thế kỷ 19, đã từng nhận xét : La littérature est l’expression de la société, comme la parole est l’expression de l’homme (Văn chương là sự biểu đạt của xã hội, như lời nói là sự biểu đạt của con người). Lời nhận xét này dọn đường cho ngành phê bình văn học theo xã hội học.

1/ Những bước tiến của phê bình văn học theo xã hội học

Việc hình thành của phê bình văn học theo xã hội học đã qua nhiều giai đoạn. Khởi đầu là những lý luận của hai nhà triết học Mác xít Georg Lukács (1885-1971) và Lucien Goldmann (1913-1970), họ quan niệm tác phẩm văn học như một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, như một « phản ánh » của một bối cảnh hay của một hệ tư tưởng. Thế hệ phê bình Mác xít đến sau gồm có : Louis Althusser, Jacques Dubois, Renée và Etienne Balibar và Pierre Macherey. Họ cố định nghĩa văn chương như hình thức của một hệ tư tưởng có biệt tính. Diễn giải của họ là một diễn giải theo chủ nghĩa duy vật.

Rồi đến phê bình văn học theo xã hội học hiện nay. Các nhà phê bình muốn cách đọc văn bản phải làm nổi bật Lịch sử và xã hội, phải tìm hiểu xã hội đi vào tác phẩm văn học như thế nào, tìm những âm vang của diễn ngôn xã hội và diễn ngôn của Lịch sử. Đọc tác phẩm theo phương pháp của xã hội học là đọc cái minh bạch, rõ ràng và nhất là đọc cái được hiểu ngầm.

Đọc tác phẩm văn học theo phương pháp xã hội học không có nghĩa là đem những lý luận đã có trước ứng dụng vào tác phẩm. Vì những lý luận đó tuy đã có công đi tiên phong trong ngành xã hội học, nhưng chúng đã được đặt trên nền tảng của Lịch sử và những xã hội thời xưa.

Ngày nay, mọi cách đọc đều là một phát minh, một sáng tạo và là một công việc nghiên cứu. Việc đọc ở mức độ của nó, nó góp phần vào việc phong phú hóa và vào sự tiến bộ của tâm thức xã hội và lịch sử, cũng như viết và sáng tạo vậy. Việc giải thích văn bản ngay cả khi nó dựa vào những phát hiện của lý luận xưa, nó có thể góp phần vào việc uốn nắn cái tâm thức về hiện thực dưới nhiều khía cạnh, mặc dù đây là một uốn nắn bấp bênh. Chính ở mức độ của việc giải thích, cũng như ở mức độ của viết và sáng tạo, mới luôn luôn có một tổng hợp mới giữa cơ sở hạ tầng / kiến trúc thượng tầng, giữa tâm thức / phi tâm thức, giữa hình thức cũ được bảo tồn / hình thức mới được tạo nên, v.v…

Vậy cách đọc theo phê bình xã hội học là một vận hành không chỉ khởi đầu bằng những văn bản sáng lập, mà cốt yếu khởi đầu bằng sự nghiên cứu và bằng một cố gắng tìm tòi để làm xuất hiện những vấn đề mới và đặt ra những câu hỏi mới.

2/ Nhìn lại người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa

Truyện Yêu không khỏi làm người đọc kinh ngạc trước những đổi thay của người phụ nữ trong xã hội miền Nam vào những năm 60. Để có cái nhìn đối chiếu chỉ cần xem qua vài tác phẩm văn học trong quá khứ.

Truyện Lạnh lùng của Nhất Linh chẳng hạn, ra mắt độc giả năm 1936, kể một người phụ nữ tên Nhung góa chồng vào lúc hãy còn rất trẻ, tâm hồn dễ say đắm, khao khát yêu đương, nhưng bị giam cầm trong lễ giáo truyền thống. Tiết hạnh khả phong, Nhung phải thờ chồng, thủ tiết với chồng suốt đời. Khi biết Nhung lén lút yêu Nghĩa, bà Án, bà mẹ chồng, mắng người làm, nhưng thật ra để ám chỉ Nhung. Bà nói với con Nhài : Thôi biết điều thì về với chồng con cho phải đạo vợ chồng. Đừng có học cái thói lăng loàn ấy nữa, làng nước người ta cười cho. Chúng mày tưởng rằng nhà hạ lưu thì không cần gì sao ? Người sang thì tiếng lớn, người hèn thì tiếng nhỏ, nhưng ở đời ai cũng có danh tiếng của mình (1). Trong cách nhìn của bà Án, Nhung không có chút may mắn nào để tìm được hạnh phúc cho đời mình.

Đó là thân phận người phụ nữ bị lễ giáo, đạo đức nghiền nát vào những năm 30. Qua những năm 40 thì sao ? Trong truyện Một người đàn ông đi tìm một người đàn bà của Vũ Bằng, đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, năm 1942, người phụ nữ đã được tự do buôn bán, tự do gặp gỡ đàn ông. Trâm yêu Hải, nhưng Trâm phải chấp nhận làm vợ bé của Hải. Một hôm Hải ra đi để xây mộng làm giàu, nhưng cảm thấy không cần cho Trâm biết. Trâm tưởng Hải đã chết, nên khóc lóc đau khổ. Đàn bà chung quanh xúm lại an ủi, có bà nói : Mình là đàn bà, mình buôn bán làm ăn thủ phận. Còn đàn ông phải để cho họ bay nhảy chứ… Một lần nữa, người phụ nữ tuy tương đối được tự do, nhưng vẫn thiệt thòi, vẫn phải an phận, chấp nhận làm vợ bé tức một địa vị không chính thức, chấp nhận sự coi thường của người chồng : đàn bà không xứng đáng chia sẻ những tham vọng của chồng.

Hai thập niên sau, vào những năm 60, ở miền Nam đã có nhiều thay đổi. Học giả Lê Văn Siêu, trong bài nói chuyện Những lối nói Việt-Nam, ngày 25-3-1962, tại trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài gòn, đã nói về xã hội cũ và xã hội mới : Hai con người mới và cũ ở hai xã hội mới và cũ ấy, hẳn là phải khác nhau, mặc dầu trong những cốt cách vẫn còn nguyên vẹn một con người Việt Nam, không giống một con người nào khác trên thế giới… Tác giả nhận xét sự khác biệt giữa cũ và mới trong lối sống, lối hiểu, lối suy nghĩ và lối nói. Về người phụ nữ thì tác giả nói : Ngày xưa, người con gái chưa chồng, không bao giờ dám nói chuyện đàng hoàng với những người trai không quen biết. Ngay giữa nơi hội hè đình đám cũng e thẹn, có cạy răng ra mới nói nửa lời, mà cũng còn đắn đo chán ra, để tránh sự xuyên tạc, tránh những ký hiệu và biểu tượng gì khiến người ta có thể hiểu sai. Nhưng ngày nay thì các cô giao thiệp bạo dạn lắm (2).

3/ Bối cảnh văn hóa trong truyện Yêu

Đặc tính của phê bình theo xã hội học là thiết lập những liên hệ giữa xã hội và tác phẩm văn học, và miêu tả những liên hệ đó.

Cuốn Yêu ra đời năm 1963, non mười năm sau ngày ký Hiệp định Genève chia đôi đất nước ; xã hội thời tiền chiến đã dần dần lùi vào dĩ vãng, miền Nam đang tin tưởng xây dựng tương lai, và xã hội miền Nam đang chuyển dần từ cái cũ sang cái mới. Xã hội trong truyện Yêu phản ánh xã hội bên ngoài, tuy đây là một truyện hư cấu. Những nhân vật trong truyện thuộc giới trung lưu, trí thức, ngoài luật sư Hoàng và bác sĩ Thoại là những người có chức vị trong xã hội, có tiền của, các nhân vật chính : Đạt, Thúc là những nhà giáo mơ mộng, lãng mạn, giàu chữ nghĩa nhưng nghèo tiền bạc. Cũng cần nhắc lại tác giả Chu Tử trước khi trở thành nhà báo, nhà văn đã từng là nhà giáo.

Về phương diện văn hóa, ảnh hưởng của Pháp vẫn còn sâu đậm. Bài thơ tủ  mà Đạt thường giảng cho học trò của mình là bài thơ La mort du loup (Cái chết của con chó sói) của Alfred de Vigny. Trong một thư của Diễm gửi cho Đạt, Diễm thú thật sở dĩ mê tác giả Pháp Pierre Benoit là vì ông này năm sáu mươi tuổi mới lấy con một người bạn, một cách để Diễm tỏ tình với Đạt. Còn Hằng, người yêu của Thúc, cũng là một nhà giáo, bình luận dong dài về triết lý bi đát (la Philosophie tragique) của Clément Rosset, khi bà nhắc đến tình yêu trong tác phẩm A farewell to arms (Giã từ vũ khí) của Hemingway. Uyển thì khi chết có để lại mấy trang nhật ký kể nội dung kịch phẩm Le malentendu (Ngộ nhận) của Camus, để kết luận rằng : cuộc đời tàn bạo, bi đát.

Ngoài những tác phẩm Tây phương được trích dẫn, các nhân vật trong truyện Yêu có lúc cũng dùng Pháp ngữ xen kẻ vào lời nói của mình. Thúc cho Đạt là một rêveur incorrigible (một người mơ mộng không chữa được). Trang tự cho mình là một thứ voleuse d’amants (một thứ đàn bà cướp người yêu). Trang lại còn pha thêm tiếng Anh : Such is life (Đời là thế).

Không gian của truyện gồm những nơi chốn thể hiện những hoạt động của một xã hội đương đại : trụ sở cảnh sát, nhà tù, bệnh viện người cùi, phòng trà, vũ trường…

Một xã hội do đồng tiền chế ngự. Uyển dùng sắc đẹp của mình để quyến rủ những người đàn ông giàu có. Đặc biệt Tuấn là nhân vật biểu tượng cho sự ham muốn đồng tiền. Anh ta nói : Người ta chỉ triết lý suông khi nào không có tiền, chứ đã có tiền rồi, thì …a-lê-hấp ! sống đã chứ ! (tr. 97)

4/ Từ xã hội cũ đến xã hội mới

Trong tác phẩm Yêu, những dấu ấn của xã hội xưa vẫn tồn tại, như chủ nghĩa gia trưởng (paternalisme), quan niệm thứ bậc giữa thầy trò, hôn nhân phải do cha mẹ sắp đặt. Chủ nghĩa gia trưởng vẫn tồn tại nơi những người đàn ông có tuổi tác, chức vị. Khi Uyển bị bắt và đưa đến ông biện lý, ông này có giọng quở trách như một người cha mắng con : Cô là một thiếu nữ có học, con nhà gia giáo… Cha cô là một giáo sư, vậy mà sao cô hư hỏng sớm thế ? (tr.314)

Và trước thái độ sừng sộ của Uyển, ông biện lý lên giọng nghiêm khắc : Được lắm ! Tôi sẽ dạy cho cô biết tôn trọng mọi người. (tr. 314)

Một nhân vật khác cũng có thái độ và hành vi của một người gia trưởng. Đó là Thoại. Thoại là một bác sĩ tâm thần nhưng lại hướng dẫn chị em Uyển như một gia trưởng. Ông đưa Huyền và Uyển đến một bệnh viện chữa người cùi và giảng cho hai chị em biết là ở đời có những kẻ đau khổ thật sự như những người cùi. Ông khuyến khích hai chị em tham gia vào hội giúp người cùi của ông. Ông giảng rất hăng, và từ vai trò một gia trưởng ông bước sang vai trò một nhà truyền giáo. Khi Uyển ra tù, Thoại muốn cứu Uyển khỏi cái ám ảnh đã vô tình giết Trường. Hành động của Thoại là hành động của một người cha muốn cứu đứa con.

Lễ giáo, kỷ cương của thời xưa đặc biệt được nhân vật Hòa bênh vực mạnh mẽ. Hòa là một phụ nữ đoan chính, luôn luôn làm tròn bổn phận một người vợ, một người mẹ. Trước vụ ngoại tình của chồng, bà nghĩ nếu bà ở trong hoàn cảnh của chồng, bà sẽ có đủ nghị lực để chống trả sự cám dỗ, vì bà đặt bổn phận trên tình cảm. Bà cũng tôn trọng quan niệm thứ bậc giữa thầy trò như trong xã hội xưa. Cho nên khi hay tin Đạt ngõ ý muốn hỏi Diễm làm vợ, bà kinh ngạc, rồi lấy làm bực tức, khó chịu, bà nghiêm khắc chỉ trích Đạt và tìm cách triệt hạ uy tín của Đạt. Bà nói với Đạt : Thời buổi này, thiếu gì những giáo sư đã lợi dụng uy tín, địa vị của mình để quyến rũ học trò mình… Một ông giáo sư mà muốn chiếm đoạt tình yêu của học trò mình thì còn gì dễ dàng bằng, còn gì thuận tiện bằng… Nhưng dù người ta có viện bất cứ lý do gì để bào chữa, tôi vẫn cho rằng làm như vậy tức là lợi dụng, tức là sang đoạt tình cảm, và một người giáo sư dù có yêu thực tình, cũng không có quyền lấy học trò của mình. Một giáo sư dù vô tình hay hữu ý – làm cho học trò của mình say mê mình – tức là có tội rồi… (tr. 106)

Và Hòa đã dùng uy quyền của một người mẹ để buộc Diễm lấy Khải. Khi Diễm xin phép mẹ đến gặp Đạt lần cuối trước khi lấy chồng, Hòa nhắc con :… con cần nhớ là con đến thăm ông ấy để thanh toán tình cảm, chứ không phải để làm cho tình cảm thêm rắc rối. (tr. 193)

Hòa cũng có quan niệm truyền thống về người phụ nữ. Sau khi nghe kể chuyện Hằng thất thân dễ dàng với đàn ông, Hòa cho Hằng là thứ « đàn bà thối thây ».

Khi lãng mạn hóa tình yêu giữa thầy trò, có thể nói Chu Tử đã đánh dấu một cuộc cách mạng trong cách cư xử giữa thầy trò và dọn đường cho những tác phẩm khác cùng chủ đề, như cuốn Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, ra năm 1966. Chu Tử đã xóa bỏ cái ranh giới giữa thầy trò, làm đảo lộn thứ bậc giữa thầy trò, do đó uy tín của người thầy bị suy sụp. Khi Uyển nghe Đạt khuyên can mình đừng gia nhập tổ chức cờ bạc bịp của Tuấn thì cô tức giận, trở nên hỗn xược, cô không còn gọi Đạt là thầy mà là anh : Tôi vẫn đinh ninh là từ khi anh tỏ tình yêu với con Diễm, thì anh cũng tự động chối bỏ cái chức « thầy » đối với chúng tôi, cái địa vị « bạn bè » đối với Ba tôi… Chứ anh vừa muốn yêu con Diễm, vừa muốn đóng vai « thầy» của chúng tôi, bạn của Ba chúng tôi, đâu có được ! (tr. 300)

Còn cô vũ nữ Trang, cũng là học trò của Đạt và yêu Đạt ; khi thấy Đạt đau khổ vì phải đoạn tuyệt với Diễm, mà lại điên cuồng muốn hôn Trang, thì Trang đâm ghen tức, phẫn nộ và thẳng thắn mắng chửi Đạt : Anh là một đứa đê hèn, một đứa khốn nạn, anh biết không ? Anh cao thượng, anh đứng đắn, anh không dám hôn con khốn nạn, anh nhè tôi anh hôn, vì tôi là con đĩ, ai hôn mà chả được ! Tôi ghê tởm cái đứng đắn, cao thượng của anh ! (tr. 211)

Nếu uy tín của người thầy bị sụp đổ trong đời sống tình cảm, thì ngoài xã hội, uy tín đó vẫn tồn tại. Bằng chứng khi Tuyết tập tành làm ca sĩ, ra trình diễn ở một phòng trà, có một nhóm du đãng, bộ hạ của một nữ ca sĩ khác cạnh tranh với Tuyết, lao vào phá đám, hăm dọa Tuyết, thì bất thình lình Đạt xuất hiện, tên du đãng cầm đầu nhóm nhận ra Đạt là thầy cũ của mình, bèn ra lệnh cho đàn em rút lui êm thấm.

Vậy trong truyện Yêu, Hoà là người của xã hội truyền thống, xã hội cũ. Đối diện với Hoà có hai người con gái sống theo thời mới, xã hội mới, đó là Trang và Uyển. Trang vì hoàn cảnh đưa đẩy đã trở thành một vũ nữ, tuy thế Trang căm ghét đàn ông, cô sống một cuộc đời độc lập, đơn độc, cho đến khi gặp lại thầy cũ là Đạt và làm vợ Đạt. Chẳng những Trang xóa thứ bậc thầy trò qua hôn nhân, mà cô còn mắng nhiếc Đạt khi nổi cơn ghen.

Còn Uyển là một cô gái đã thoát xa khuôn phép của lễ giáo xưa. Cô ăn nói tự do, không chút dè dặt ; khi nghe bố báo tin thầy Đạt muốn đi hỏi Diễm làm vợ, Uyển phản ứng ngay : Sao ông ấy không hỏi con, Ba nhỉ ? (tr. 13) Cách ăn nói bộc trực như thế hoàn toàn khác xa sự e lệ, dè dặt của các cô gái thời trước do học giả Lê Văn Siêu miêu tả trong bài nói chuyện của ông. Uyển biết mình đẹp, đầy tự tin, cô sống tự do, sống bất cần đời, cô chưa biết tình yêu thật sự và chỉ xem đàn ông với cái nhìn đầy vụ lợi, vụ lợi không riêng cho cô mà cho những người cô thương. Thật ra Uyển giàu tình thương người, trong thời gian ở tù cô cảm thấy thương những người bạn tù, rồi cô thương người cùi. Nhưng vì những tính toán điên rồ, Uyển đã rơi vào tuyệt vọng và đi đến cái chết.

Hoà và Uyển là hai thái cực, hai biểu tượng đi ngược nhau : Hoà là biểu tượng của xã hội xưa và Uyển là biểu tượng của xã hội hiện đại.

Truyện Yêu tiết lộ một hiện tượng lịch sử, xã hội quan trọng : sự chuyển mình của xã hội miền Nam vào những năm 60. Sự chuyển mình đó trước hết do ảnh hưởng của văn hóa Pháp để lại. Sau nữa xã hội miền Nam là một xã hội tự do, cởi mở, dễ dàng tiếp nhận những tập tục, những học thuyết mới đến từ Tây phương. Do đó dù muốn dù không xã hội miền Nam cũng đổi thay, những ranh giới chia cách thứ bậc giữa cha mẹ, con cái, giữa thầy trò đều bị xóa mờ ; con cái nói chuyện ngang hàng với cha mẹ, bông đùa với cha mẹ, như Tuyết khi cô can thiệp vào những tranh cãi của cha mẹ ; học trò không còn kính nể thầy như trước. Và điều quan trọng nhất là trong cái xã hội mới của miền Nam, bỗng nhiên nữ quyền biểu lộ mạnh mẽ ; người phụ nữ như Uyển trở nên hoàn toàn tự do, tự do trong cách suy nghĩ, ăn nói, đối xử với kẻ khác, tự do lựa chọn đời sống theo ý mình. Yếu tố quyết định của sự biến đổi này là học vấn, học vấn giải phóng người phụ nữ, nhờ học vấn địa vị của người phụ nữ được nâng cao trong xã hội. Có thể nói, qua truyện Yêu, nữ quyền là một trong những động lực của sự chuyển mình của xã hội miền Nam.

 

 

Chú thích :

(1)  Nhất Linh, Lạnh lùng, Nxb Hội Nhà Văn, 2010, tr. 103.

(2) Lê Văn Siêu, Văn Minh Việt Nam, tr. 216.