MỸ HỌC VỀ THÂN XÁC TRONG THƠ NGUYÊN SA

 

 

                     Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt

                     Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư.   (Bây giờ)

Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.

Khi miền Nam khởi đầu một trang sử mới, Mai Thảo đầy nhiệt huyết hô hào cắt đứt với văn học tiền chiến, với quá khứ để xây dựng một nền văn học mới. Đến năm 1968 lập trường của Mai Thảo vẫn kiên trì khi ông viết trong bài « Nói chuyện với những người viết mới » :

Dòng văn học nghệ thuật tiền chiến khép đóng lại trong một trạng thái cạn dòng, khiến cho tiền chiến và hậu chiến trong lãnh vực văn học nghệ thuật Việt Nam, là một chặt đứt hoàn toàn, nguyên nhân sâu xa là bởi vì văn học nghệ thuật tiền chiến xem thường cái công tác mở đường, tạo điều kiện cho lớp người đang tới. Tinh thần tiền chiến là cái tinh thần chiếu trên chiếu dưới. Quan niệm người nghệ sĩ như một cá nhân lạc phách xuất chúng như chúng ta thấy ở con người Nguyễn Tuân, thái độ chiếm giữ địa vị độc tôn của những nhà văn Tự-lực Văn-đoàn là phản ánh cho những chủ tâm ngăn chặn có hệ thống và có thủ đoạn sự thành hình của những người đến sau, của những người đi trước. Bây giờ khác. Những người viết trẻ ở miền Nam có đủ tất cả những điều kiện và những cơ hội tốt đẹp đồng đều như nhau để tạo cho mình một chỗ đứng dưới mặt trời.  (1)

Trong lĩnh vực thơ, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn v.v… quả đã tự tạo cho mình « một chỗ đứng dưới mặt trời ». Thơ tự do, thơ văn xuôi của nhóm Sáng tạo đã đánh dấu một cuộc khởi hành mới. Tâm trạng con người biến đổi với thời cuộc. Không còn những lời yêu đương bay bướm của một Xuân Diệu thời tiền chiến đã từng đưa người đọc vào những say mê mộng tưởng. Thơ miền Nam là tiếng nói thật của ưu tư, của phẫn nộ, của phản kháng. Nguyên Sa nguyền rủa :

cuộc đời chó đẻ

thế kỷ chó đẻ

chiến tranh chó đẻ…  (Nhìn em, nhìn thành phố, nhìn quê hương)

Người đọc không dễ thản nhiên trước lời thịnh nộ đó vì nó biểu hiện một tình cảm chân thật, tự đáy lòng.

Thơ Nguyên Sa đa dạng : thơ tình yêu, thơ chiến tranh, thơ triết lý, siêu hình. Ở hải ngoại thơ ông được in làm bốn tập, và một số bài sáng tác vào cuối đời được in trong cuốn « Cuộc hành trình tên là lục bát ». Biến cố tháng tư năm 1975, tiếp theo là cuộc di tản vĩ đại, đời sống bơ vơ nơi xứ người với tâm trạng lưu đày và sau cùng là bệnh hoạn là những yếu tố đã tác động sâu xa đến tâm lý tác giả khiến cho dòng thơ đã biến đổi. Phần thơ được hình thành ở hải ngoại có cái nét đặc thù của nó, đáng được nghiên cứu. Thơ Nguyên Sa được bàn đến ở đây là thơ sáng tác trước 1975, một đóng góp đáng kể vào nền văn học miền Nam, được trình bày trong tập I và trong phần 2 của tập II.

Đọc thơ theo lối truyền thống là thưởng thức tiết điệu, ý tưởng qua sự phối hợp của hình ảnh và màu sắc. Lối đọc truyền thống chú trọng đến cách gieo vần, ngắt câu, đến nhạc điệu của bài thơ. Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu cho nên nhạc tính được xem là một trong những chuẩn thẩm mỹ của một bài thơ. Nay chúng ta thử đi vào thế giới thơ của Nguyên Sa bằng một cách đọc mới : cách đọc theo phương pháp phê bình chủ đề (critique thématique), đó là một trong những phương pháp đọc và phê bình của Tây phương. Một chi tiết, một hình tượng chỉ có giá trị ý nghĩa cho việc xác định chủ đề nếu nó được lặp lại nhiều lần trong tác phẩm, có khi dưới những hình thức khác nhau.

Hiện tượng luận của Merleau-Ponty (1908-1961) đã ảnh hưởng đến phê bình chủ đề ở Pháp và đã cho phép phương pháp này đi sâu vào các văn bản và phát hiện những chiều kích mới của sự sáng tạo văn chương. Merleau-Ponty cho rằng con người vừa là ý thức vừa là thân xác, cả hai không thể phân chia được, và đối với con người, sống là ở trong thế giới như người ta ở một nơi chốn bằng cách phản ánh nơi chốn đó và tự phản ánh mình trong đó, có một tính nhất quán của con người và đời sống con người trong thế giới. Theo hiện tượng luận, ý thức (conscience) luôn luôn là « ý thức về cái gì », « về mình », « về thế giới », và là « ý thức được hiện thân », tức ý thức phiến diện, không có tính tự chủ. Nhờ sự trung gian của thân xác và của ngôn từ, chủ thể được định nghĩa theo lối mở ra của nó đối với thế giới của vật thể và của con người. Ảnh hưởng của một vật thể hay của một phẩm chất có cảm tính trên trí tưởng tượng của một nhà văn phải được hiểu, từ phương diện hiện tượng luận, như sự biểu hiện của một cách tồn tại cá biệt trên thế giới. Merleau-Ponty nhấn mạnh về sự « hiện thân » của chủ thể trong một thể xác biết tri giác, hành động, nói ; đối với Merleau-Ponty, mọi biểu tượng hóa đều ăn sâu vào một tập tính của thân xác. Ý thức được hiện thân bao giờ cũng chỉ có một cách nhìn phiến diện về thế giới, cách nhìn bị giới hạn bởi thân xác và bởi tầm nhìn, vậy ý thức không thể hiểu thế giới trong tổng thể. Do đó vô thức có một vai trò quan trọng và cần thiết. Giải thích theo hiện tượng luận là nói rõ cái ý nghĩa được bao hàm trong hiện tượng. Phê bình chủ đề là « tháo gỡ » văn bản để đi tìm một sự gắn bó chặt chẽ sâu xa của những yếu tố rời rạc. Jean-Pierre Richard, trong cuốn « L’Univers imaginaire de Mallarmé », cho rằng trình tự hiển nhiên trong tác phẩm không phải là trình tự thật.

Tính nhất thể của con người đưa vào sự sáng tạo, vào cuộc phiêu lưu nghệ thuật những gì khác hơn là những ý tưởng có tính cách lý luận, nó đưa vào những nguyên do tồn tại của con người, những sợ hãi và những kỳ vọng sâu xa. Đọc thơ cũng có nghĩa lắng nghe dòng vô thức của tác giả. Việc lắng nghe không cho chúng ta nắm bắt hoàn toàn cái dòng vô thức đó, nhưng ít ra nó cho chúng ta đến gần bản thể để thấy một khía cạnh nào đó của trải nghiệm của con người qua ngôn từ. Sự lắng nghe vô thức có thể làm nổi bật tính nhất quán của nội tâm.

Đọc thơ Nguyên Sa qua lăng kính chủ đề là làm vỡ tung cấu trúc các bài thơ để dò tìm trong bề sâu một trình tự, một cơ cấu của trí tưởng tượng được xây dựng bởi ý thức và vô thức của tác giả. Trong thơ Nguyên Sa thân xác chiếm hàng đầu, được phóng to và trở thành một ám ảnh.

Thân xác là điều kiện của trải nghiệm của con người. Thân xác chỉ định cách tồn tại của tôi ở đời. Trong khi mà theo siêu hình học, chủ thể đối lập với thân xác, tinh thần đối lập với vật chất thì Merleau-Ponty nhìn thấy trong thân xác một hình thức của tinh thần : phải xóa đi cái lằn phân chia giữa thân xác và tinh thần. Thân xác tôi không hề là một mảnh vật chất, một cụm quá trình sinh lý theo thuyết duy linh hay thuyết duy vật, thân xác tôi không hề bị quy về một hệ thống năng lực làm động cơ, quy về một đối tượng cho cái « Tôi tư duy », thân xác tôi chỉ định một tập hợp các ý nghĩa đã từng được sống qua. Merleau-Ponty còn so sánh thân xác với tác phẩm nghệ thuật :

không phải với đồ vật thực tế mà thân xác có thể được so sánh, nhưng đúng hơn với tác phẩm nghệ thuật. Trong một bức họa hay một bản nhạc, ý tưởng không thể được truyền đạt một cách khác hơn là bằng sự phô trương màu sắc và âm thanh []. Một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, một bản nhạc, là những cá thể, nghĩa là những thực thể mà người ta không thể phân biệt cái biểu hiện với cái được biểu hiện, mà ý nghĩa chỉ được đạt đến bởi một tiếp xúc trực tiếp, cái biểu hiện và cái được biểu hiện tỏa rạng ý nghĩa mà không rời khỏi vị trí của chúng trong thời gian và không gian. Chính trong cái nghĩa đó thân xác chúng ta có thể được so sánh với tác phẩm nghệ thuật. Thân xác là cái điểm mấu chốt của những ý nghĩa sống động… (2)

Nói đến mỹ học về thân xác trong thơ Nguyên Sa trước tiên là nêu lên mạng hình tượng (3) được kiến trúc theo mỹ cảm. Hình tượng càng có chất thơ, càng đạt đến mức độ thẩm mỹ cao khi những yếu tố cách xa nhau, lạ lùng đối với nhau được ghép lại để gây nên, một cách bất ngờ, sự hiển nhiên và đồng thời sự ngạc nhiên, chẳng hạn như trong hai câu thơ :

Sài gòn tối đi học một mình

Cột đèn theo gót bóng lung linh.

Thân xác được tạo nên như thế nào và tồn tại trong một thế giới cảm tính ra sao ? Cuối cùng thân xác có ý nghĩa gì trong cái nhân sinh quan của nhà thơ ?

Thân xác qua cái nhìn của Nguyên Sa

Trong thơ, trí tưởng tượng dựa vào cảm giác để sáng tạo những hình tượng mới cho một thế giới ảo. Trong trường hợp của Nguyên Sa, thân xác là trọng tâm của thế giới ảo. Cả một kiến trúc về thân xác được dựng lên : thân xác khi sống, khi yêu, khi phẫn nộ, khi chết, khi biến hóa.

Trong thân xác, gương mặt chiếm địa vị ưu tiên. Ở trần thế, gương mặt mang dấu ấn của lịch sử, của định mệnh :

Vỗ mạn thuyền xô động, với nếp trán phế binh, với đôi mắt dã tràng mệt mỏi, anh đi vào ngôi nhà nguyện tâm hồn. (Bài giã biệt)

Và thơ mở rộng không gian để ảo hóa gương mặt theo chiều kích của vũ trụ. Vừng trán trở nên bao la :

Trán mênh mông va chạm cửa chân trời  (Bây giờ),

Khi đám mây cao dừng trên nếp trán  (Kỳ diệu).

Để thân xác đồng hóa với vũ trụ thì Tóc em anh sẽ gọi là mây, tóc thường gặp gió :

Kể từ gió thổi trong vừng tóc  (Tương tư),

Tóc thổi gió vào giữa hồn lộng nhạc  (Cảm tạ).

Và tóc của người nam là một bầu trời lồng lộng. Còn đôi mắt của người nữ là …hành tinh lóng lánh  (Cần thiết)

Khi lòng sầu héo hắt thì :

Đôi mắt đẹp từng cánh sao tắt lịm  (Đợi khách)

Đôi môi thì đã có trăng :

Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn  (Buổi sáng học trò),

Vòng môi nhỏ nuôi trăng trong nhịp thở  (Cảm tạ).

Cầu vồng trong vũ trụ cũng phản ánh trên gương mặt :

Người về đây có phải tự trời xa

Với nét mắt vòng cung của cầu vồng che mưa nắng.  (Đẹp)

Cầu vồng trong trí tưởng tượng của loài người là một hiện tượng vừa đơn giản vừa huyền bí, khó nắm bắt. Trí tưởng tượng về vật chất ngập ngừng khi phải đánh dấu cầu vồng : nước không đủ để làm nó xuất hiện, mặt trời không đủ để làm óng ánh tất cả những màu sắc của nó, và nếu cầu vồng nối liền đất với trời nó không hẳn thuộc về đất mà cũng không hoàn toàn thuộc về trời. Tốt hơn nên bàn về tính hai mặt của nó : hình thức và màu sắc. Tính biểu tượng của cầu vồng thể hiện trong Cựu Ước của Thiên Chúa giáo, đặc biệt hình cung – hình thức của cầu vồng –  được nhắc đến. Thượng đế nói với ông Noé : «… Ta đặt vòng cung trong đám mây và nó sẽ trở thành một dấu hiệu của sự liên kết giữa Ta và trái đất… » (4). Trong huyền thoại Hy lạp, trong các tín ngưỡng của các dân tộc Pô li nê di, In đô nê xi a, Nhật bản, cầu vồng được quan niệm như một gạch nối, một chiếc cầu giữa đất và trời, giữa loài người và thần thánh. Vậy hình thức của cầu vồng tương ứng với trí tưởng tượng có tính chất tôn giáo. Cầu vồng là một biểu tượng của sự đi qua, của sự chuyển tiếp. Những màu sắc của cầu vồng mở ra cho trí tưởng tượng những cánh cửa của thế giới huyền ảo.

Ở Nguyên Sa cầu vồng có cả hình thức lẫn màu sắc :

Sài gòn cười đôi môi rất tròn

Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong

Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng

Hay đã đưa dần sang nhớ mong. (Tám phố Sài gòn)

Cầu vồng là lối đi qua của tình yêu giữa mưa và nắng, tức giữa hai thế giới xa cách nhau, thế giới của người nam và người nữ. Cầu vồng cũng là dấu hiệu của sự vui thích, là một giải thoát khỏi thực tế để đi vào trò chơi kỳ ảo, cho nên màu sắc của cầu vồng là màu sắc của hân hoan, của hứa hẹn, được dùng làm màu áo của người nữ :

Để ngày mai giữa mùa xuân lã lướt

Tôi sẽ hái

Giữa đám mây ngũ sắc của cầu vồng

Lấy một mầu cho em dệt áo.   (Nước ngọt)

Ngoài hiện tượng cầu vồng, trong vũ trụ cũng diễn ra một trò chơi cút bắt:

Nếu em là gió tôi sẽ làm trăng. Em là trăng, tôi sẽ là mây. Nếu em là mây, tôi sẽ làm gió thổi. (Gọi em)

Sau gương mặt là đôi vai, biểu tượng của thân phận con người, vì đôi vai phải gánh nặng :

Tiếng hát buồn đè xuống nặng đôi vai (Bây giờ)

Đôi vai phải cam chịu những nỗi thống khổ :

Những thằng ăn không nói có,

Đã chém tổ quốc nát bằm hai vai  (Đám tang Nguyễn Duy Diễn).

Bàn tay có nhiều chức năng. Có bàn tay phẫn nộ ném đá để đập tan mọi thứ tệ đoan và tự trừng phạt chính mình (Ném đá), có bàn tay cắt tóc để trút bỏ những tàn khốc của chiến tranh, những xấu xa của cuộc đời (Cắt tóc ăn Tết), lại có bàn tay bôi xóa hận thù chiến tranh bằng cách ném xuống vực thẳm và lãng quên những khí giới, những ngôi nhà bốc cháy (Vết sẹo). Bàn tay là nguồn tình cảm, yêu thương hay thù ghét đều được thể hiện qua bàn tay. Bàn tay hứa hẹn tình yêu :

Mỗi ngón tay em

Anh vẫn gọi là một cửa đào nguyên.  (Có phải em về đêm nay)

Và khi tình yêu đã đến :

Người ta làm thế nào cắt được

Bốn bàn tay chim khuyên.  (Nga)

Nỗi xúc động cũng được bàn tay diễn đạt :

Bước chân gần lại,

Bàn tay mừng tủi. (Tự do)

Tình yêu thiếu vắng biến năm ngón tay thành năm cành cây, năm nòng súng lạnh, và khi người không biết thương người thì :

chỉ nhìn nhau xa cách như hành tinh

Để những bàn tay lạnh tê bên hè phố. (Tôi sẽ bỏ đi rất xa)

Nơi người nữ, phần thân xác còn lại lẩn khuất trong tà áo. Trong thơ Nguyên Sa tà áo luôn được ca ngợi : tà áo lụa Hà đông, tà áo nữ sinh trong sân trường, ngày thứ bảy trong thành phố Sài gòn có  Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ, và có cái nhìn say mê quanh quẩn trên tà áo huyền thoại đó :

Cánh tay tà áo sát vòng eo

Có nghe đôi mắt vòng quanh áo. (Tám phố Sài gòn)

Tà áo cũng được đồng hóa với thiên nhiên, với sương mù :

Anh về giữa một giòng sông trắng,

Là áo sương mù hay áo em ?  (Paris có gì lạ không em ?)

Tà áo che kín thân xác để kích thích trí tưởng tượng, để mầu nhiệm hóa thân xác người nữ.

Thân xác có nhiều cách để tỏ bày tình yêu :

Hãy cười bằng mắt, ngủ bằng vai

Hãy để môi rót rượu vào môi

Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn . (Tháng sáu trời mưa)

Anh sẽ trở lại bên em – mà cúi đầu mà quỳ gối – mà nghe rụng trong lòng ánh sáng hành tinh. (Sám hối)

Thân xác cần hơi thở để sống :

Hãy thở gấp cho anh nhiều hơi thở  (Người em sáng trong cô độc),

Hãy gửi cho nhau từng hơi thở mùa thu  (Tháng sáu trời mưa),

và hơi thở chỉ tồn tại trong thiên nhiên. Cho nên thân xác hòa mình với thiên nhiên :

Khi em đến nằm ngoan trên đồi cỏ

Có bỡ ngỡ là mặt trời bỡ ngỡ

Có xôn xao là núi lớn xôn xao. (Kỳ diệu)

và được thiên nhiên tôn vinh :

anh thấy những hành tinh

đứng nhìn mắt em

những thảo mộc thơm ngát

đứng nhìn tóc em

những loài thú

run rẩy

những loài thú

lông mượt và dịu hiền

đứng nhìn thân thể em

 rồi cám ơn anh

đã làm vinh quang cho vũ trụ. (Nhìn em, nhìn quê hương …)

Khi phải đo sức với khí giới giết người thì thân xác bị rã rời, phân tán :

Thấy tay dư thấy chân thừa

Thấy tai nghễnh ngãng mắt mù óc không.  (Sân bắn)

Cuối cùng thân xác chết vẫn còn tiếng nói :

Mái tóc anh nói với anh hãy quên mây

Đôi mắt anh nói với anh hãy quên trời tinh tú

……………………………………………..

Thân thể nói với anh hãy quên xác thịt buồn . (Cầu siêu cho Nguyễn Quan Đại chết ở Khe Sanh)

Thân xác và thế giới cảm tính

Thân xác nổi bật trong mạng hình tượng, và quy tụ những cảm giác và tri giác mâu thuẫn nhau : mềm cứng, nặng nhẹ, đóng mở, trên dưới, trong ngoài.

Qua xúc giác, thân xác biết được đặc tính mềm cứng của mọi vật. Mềm gợi lên cảm giác êm dịu, dễ chịu và gây sự thích thú như mái tóc hay những vuốt ve của người yêu :

Có nghe hơi thở cài vương miện

 Lên tóc đen mềm nhung rất nhung,  (Tám phố Sài gòn)

Người tình ở Vũng Tàu nói với anh hãy quên những vuốt ve mềm. (Cầu siêu cho Nguyễn Quan Đại chết ở Khe Sanh)

Mềm còn được cảm thụ qua thính giác và thị giác :

đôi chân người mà tôi không dám nhớ cũng không dám quên

 còn quay đảo giữa điệu nhạc mềm như khói thuốc. (Paris)

Đặc tính cứng thể hiện qua kim loại, và kim loại là biểu tượng của sự tàn bạo :

Hay ở quanh tôi những đồn phòng ngự

Đã biến tôi thành một gã lính canh thô bạo

Đi giầy đinh dẫm nát tâm hồn. (Hai mươi)

Muốn khỏi chứng kiến những thảm họa của chiến tranh thì đã có cái cưa, con dao, cái dùi để cắt xén thân xác (Dặn vợ chưa cưới). Ở đây sự tàn bạo đối với một thân xác bất lực đáp lại sự tàn bạo của chiến tranh. Kim loại gây khổ nạn cho con người, ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo rất rõ :

Hai mươi năm, buồn ở đấy, trên vai

Thân thể nặng đóng đinh bằng tội lỗi. (Lúc chết)

Nước mắt em ơi, đã đóng đinh vào lòng bàn tay anh và linh hồn dớm máu…  (Sám hối)

Chẳng những cảm giác cứng gợi lên sự tàn bạo, nỗi thống khổ mà nó còn báo hiệu việc chẳng lành như sự chia ly:

Rồi cả người

cả Paris nhìn tôi qua một nụ cười nhắn nhủ

nụ cười mềm như ánh nắng của cuộc chia ly

của một buổi sáng mai khi những người phu đổ rác bắt đầu đi

những thùng rác bắt đầu cọ vào nhau

với những tiếng kêu của một loài sắt lạnh

như những tiếng kêu của những chiếc đinh khô, những mình búa rắn. (Paris)

Đặc tính cứng của kim loại, dưới hình thức dây thép gai, là biểu tượng của sự thù ghét :

Dây thép gai đã buộc vào mắt anh gió lốc  (Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi)

Đôi mắt nhìn không vướng một sợi dây thép gai  (Tự do)

Bên cạnh mềm cứng có nặng nhẹ. Cảm giác nặng là một cảm giác không thuận lợi cho thân xác và được gắn liền với thời gian :

Những ngày tháng trên vai buồn bỗng nặng (Áo lụa Hà đông)

Đã lâu rồi vết thời gian chĩu nặng  (Đợi khách)

hay gắn liền với nỗi buồn :

Những chiều mưa mây xám nặng trên vai  (Paris),

Anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya  (Lúc chết)

Nặng cũng là đặc tính của những khí giới giết người : những khẩu súng là những  thỏi sắt nặng. Nhưng có khi cảm giác nặng thể hiện sự ham muốn yêu đương :

Trái thơm ngon nặng chĩu trên môi  (Kỳ diệu)

Sống là nặng và chết là nhẹ. Khi nói về người đã chết :

Này nhìn hai vai nó nhẹ  (Đám tang Nguyễn Duy Diễn)

và khi tưởng tượng mình chết :

Ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài  (Lúc chết)

Cảm giác nhẹ thường gợi lên hơi thở, và trong vũ trụ hơi thở tác động đến sương mù, đến mây :

Lúc sương mù ai thở để sương tan

Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc  (Cần thiết)

Nhẹ nhàng chỉ định cái thoảng qua, cái thì thầm của nỗi niềm :

Chỉ nghe gió thoảng niềm thương nhớ  (Paris, có gì lạ không em ?)

Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ :

Tôi đưa người hay tôi đưa tôi ?  (Tiễn biệt)

Ngoài những cảm giác mềm cứng, nặng nhẹ, còn có những tri giác về không gian : đóng mở, trên dưới, trong ngoài nảy sinh từ ý niệm rằng kiếp người là một nhà tù, và con người là một người tử tù :

Có trăng, hoa, chim bướm thì tôi làm thơ

 Nhưng vẫn không quên

 Chỉ là hiện thân của một người tử tù

 Có gục đầu nhìn cuộc đời

 Cũng chỉ như nhìn khung cửa nhà giam.  (Di chúc)

Nhà tù là một không gian của tối tăm :

Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối. (Sám hối)

Những xiềng xích quấn lấy thân ta

Trong bóng đêm của tâm hồn nổi loạn  (Hịch)

Tình cảm là động cơ của đóng mở. Đóng là cử chỉ chối từ tình thương :

Bàn tay đóng cửa những bàn tay  (Nước ngọt)

Sự thù nghịch có thể dựng lên những ngăn chặn, những đóng kín :

Nhưng tôi phải khóc

Khi những mắt người

Đan thành những lần phên mắt cáo  (Nước ngọt)

Ngược lại, mở là thái độ hiến dâng và đón nhận tình thương :

Cho đến bao giờ cả lòng người cũng yêu đương mà mở toang cửa (Tâm sự)

Những nụ cười có sức đắm say mở rộng chân trời và nguồn sống vô biên.  (Đêm mưa)

Trên dưới và trong ngoài xác định vị trí của người tù :

Ngửa mặt lên cao, trời xanh biêng biếc

Làm sao em không ngó xuống linh hồn. (Mùa xuân buồn lắm em ơi)

Trong bài « Chim », người ở dưới đất đặt câu hỏi với chim bay trên trời. Đó là những câu hỏi của một người mù, điếc, một người bị cô lập trong sự tù đày, trong đêm tối, phải nhờ chim bay tự do trên không trung nhìn dùm cuộc đời. Và khi chết nằm dưới mộ :

Ở trên ấy mây mùa thu có lạnh       

Anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời. (Lúc chết)

Nhưng cuối cùng cái chết được xem như một giải thoát khỏi nhà tù, tức từ trong ra ngoài. Trong bài « Đám tang Nguyễn Duy Diễn », có tiếng hò reo :

Chiếc lưới đã mở rồi

Thế là nó thoát anh  em ơi !

Trong ngoài cũng thể hiện sự xa cách của tình yêu :

Khi bàn tay vẫn ở ngoài tầm bàn tay, đôi mắt ngoài tầm đôi mắt, đôi môi ngoài tầm đôi môi  (Ngoài tầm)

Đóng mở, trên dưới, trong ngoài nói lên cái cảm giác chật hẹp, tù túng khi thân xác bị cầm tù bên trong, bên dưới, và nỗi khát khao thoát ra ngoài không gian vô tận. Thân xác được ảo hóa trong không gian, và không gian làm nảy sinh khái niệm đo lường :

Đo đếm thời gian

Bằng những điếu thuốc lá tắt trong đêm  (Có phải em về đêm nay)

Rồi tôi đo hoang vắng của hồn tôi

Bằng những đêm rất rộng  (Hai mươi)

Còn lo âu làm sao đếm

Còn thống khổ làm sao đo  (Hỏi thăm Sài gòn)

Thân xác và lửa

Nguyên Sa có những bài thơ về nước dưới hai hình thức : mưa và giòng sông. Mưa được gợi lên khi tác giả nói về tình yêu. Mưa là cái cớ để tỏ tình trong « Tháng sáu trời mưa », trong « Đêm mưa », mưa gắn liền với nước mắt để diễn tả nỗi buồn của hai kẻ yêu nhau (Nga). Còn giòng sông có giá trị biểu tượng, biểu tượng của thời gian trôi qua (Hãy đưa tôi ra bờ sông), của miền Nam (Bài hát Cửu long), nhưng biểu tượng độc đáo nhất là nước ngọt, nước ngọt là tình thương (Nước ngọt). Nói chung, hình tượng nước trong thơ Nguyên Sa có tính cách ước lệ, không thể hiện được bề sâu của trí tưởng tượng.

Ngược lại, lửa không đi vào thơ Nguyên Sa một cách rầm rộ như nước, nhưng nó xuất hiện mạnh mẽ đây đó, trong nhiều bài thơ, có khi một cách bất ngờ, và nó là một dấu hiệu đáng chú ý. Lửa bừng lên chẳng hạn trong những câu thơ sau đây :

Em chói sáng trong tình anh cô độc

Cả cuộc đời mộng ảo nhớn bừng lên

Gót kiều thơm chuyển bước : bút thần run

Chờ em đến tuổi trời anh đốt lửa  (Người em sáng trong cô độc)

Có lửa trong điếu thuốc, trong củi đốt cháy, trong bó đuốc, trong ngọn nến trên quan tài, trên cột đèn, trên ngọn hải đăng, có lửa của núi lửa, của hành tinh, của mặt trời và có lửa của đam mê.

Nhà triết học Gaston Bachelard, người chuyên về khoa học luận và chuyên về trí tưởng tượng, đã dùng bốn nguyên tố trong vũ trụ, lửa, nước, đất và không khí, để làm nền tảng cho tư duy của ông về trí tưởng tượng vật chất trong thơ. Theo ông, năng lực của trí tưởng tượng là do những trực giác của chúng ta đối với vật chất. Mỗi trí tưởng tượng cá biệt được đặt dưới dấu hiệu của một nguyên tố. Nguyên tố định hình dòng mơ mộng của trí tưởng tượng. Do đó có thể tìm thấy tính khí thơ của một tác giả bằng cách phân tích hình tượng trong thi phẩm.

Cũng như Bachelard, Gilbert Durand (5) phân biệt hai chiều hướng trong thuyết biểu tượng của lửa, tùy theo lửa phát ra bởi sự va đập hay sự cọ xát. Trong trường hợp va đập, lửa có những nét giống như tia chớp hay mũi tên và nó có một giá trị thanh lọc và chiếu sáng, nó là sự nối dài của ánh sáng. Đó là lửa thần hóa, lửa thăng hoa, nó đối lập với lửa của dục tình phát ra bởi sự cọ xát. Trong thơ Nguyên Sa, lửa có hai bộ mặt : lửa tiêu cực và lửa tích cực. Lửa tiêu cực là lửa thiêu đốt, hủy diệt :

Em sợ thời gian ác như lửa thiêu từng thanh củi. (Nga)

Là lửa tàn phá của chiến tranh, gieo chết chóc :

Bốn phía trời đốt cháy lung tung…  (Chỗ nằm của ta),

những đêm đốt hỏa châu giữa thành phố, trong quê hương, trên thân thể, trên những mắt xót đau.  (Hỏa châu và huyền thoại),

Hầm bia buồn đến mộ sâu

Nghìn cây nến thắp trên đầu đạn bay. (Sân bắn),

Và là lửa của tình yêu tàn tạ :

Hởi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá.  (Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi).

Đối diện với lửa tiêu cực có lửa tích cực. Trước hết có lửa vui :

Với trí tưởng hồng như lửa mới  (Lời dặn bản thân),

Để mớ tóc màu củi chưa đun

Màu gỗ chưa ai ghép làm thuyền

Lùa vào nhau nhóm lửa. (Tôi sẽ sang thăm em),

Lửa tích cực có tác dụng thanh lọc :

Lịch sử đã dạy anh sự đổi thay. Chiến tranh cho ý thức ngọn lửa sáng ngời để hỏa thiêu những cuộc hóa trang tình cảm. (Bài giã biệt).

Lửa đem lại ánh sáng cho những kẻ yêu nhau :

Và nếu đến một ngày không còn ai dám hò hẹn trên bờ sông tôi sẽ về đốt đuốc đứng bên bờ Ngân hà để Chức nữ Ngưu lang nhìn rõ mắt nhau qua đôi bờ sông tình tự. (Đêm mưa)

Lửa thắp sáng được gắn liền với thơ :

Giữa râu gai thơ sáng vẫn đâm chồi  (Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi)

Anh nghe em bước vào thơ sáng lạn  (Kỳ diệu)

Và thơ thăng hoa trong lửa:

Đốt lửa bằng thơ

Tôi ca, tôi hát (Di chúc).

Giữa thân xác và lửa có một quan hệ mật thiết. Lửa bừng lên trên gương mặt :

Có lửa cháy trong mắt buồn da diết (Người em sáng trong cô độc)

Tôi chợt thấy lửa đau trong đáy mắt (Định mệnh chân dài)

Nhưng dù má bừng trong lửa cháy…(Bài hát Cửu long)

Trong câu :  Hãy rộng mở bốn cửa thành Đông Tây Nam Bắc để thơ ta ùa vào từ bốn phía chân trời và thân thể ta ùa vào theo lối mặt trời đi (Hịch), mặt trời là lửa, lửa cuốn hút thân xác.

Đỉnh cao của lửa là hình tượng núi lửa. Lửa trong núi lửa là thứ lửa phun lên, trào ra ồ ạt từ miệng núi, trong bài “Lời dặn bản thân” câu : Cơn bão lửa sẽ nổi lên, sẽ nổi lên làm sao ta dập tắt nhắc nhở hình tượng núi lửa trong hai bài “Bài giã biệt” và “Đêm mưa” :  Cuộc đời đã dạy anh ảo vọng có kích thước của hỏa diệm sơnTôi sẽ bị lưu đày nằm gối đầu trên hỏa diệm sơn để sức lửa thời gian nấu thân thể tôi thành một loài từ thạch, từ thạch là khoáng chất biểu tượng sự thu hút của vũ trụ, của huyền bí.

Thân xác nằm trên núi lửa là dấu hiệu của cái mà Bachelard, trong cuốn “Phân tâm học về lửa” (6), gọi là phức cảm Empédocle (le complexe d’Empédocle). Empédocle là một triết gia Hy lạp (thế kỷ thứ 5 trước công nguyên) đã xây dựng một lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ căn cứ trên bốn nguyên tố, quan hệ giữa bốn nguyên tố đó bị tình yêu (Eros) và sự căm ghét (Polemos) chi phối. Theo truyền thuyết, Empédocle nhảy xuống núi lửa Etna, để lại đôi dép bên bờ miệng núi.

Để hiểu những sắc thái của trí tưởng tượng, Bachelard phân biệt bốn phức cảm về lửa : phức cảm Prométhée, phức cảm Empédocle, phức cảm Novalis và phức cảm Hoffman. Prométhée là một nhân vật của huyền thoại Hy lạp, Prométhée đã trộm lửa trên trời để trao cho loài người. Novalis là một nhà thơ, nhà văn Đức thuộc trường phái lãng mạn đã mơ mộng về sự ấm áp được chia sẻ. Và Hoffmann là nhà văn Đức cần có rượu để sáng tác, rượu của Hoffmann là thứ rượu bừng cháy.

Ở đây cần phân biệt phức cảm do Bachelard quan niệm và phức cảm mà Freud nghiên cứu. Trong cái tựa đề “Phân tâm học về lửa”, cái tên “phân tâm học” được mượn của Freud. Phân tâm học của Bachelard không nghiên cứu sự vận hành của vô thức, mà chỉ diễn tả tư duy hồn nhiên, không chú trọng đến những giấc mộng ban đêm tiết lộ sự dồn nén, mà chú trọng đến sự mơ mộng ban ngày của con người suy tư, “cái hoạt động mơ mộng trong đó còn một tia sáng của ý thức” (7). Chính trong sự mơ mộng, Bachelard thám hiểm mạng hình tượng chứ không thám hiểm vô thức. Bachelard đổi hướng khái niệm phức cảm của Freud. Trong khi mà Freud cho rằng những phức cảm là những cách cư xử vô thức tồn tại một cách phổ quát, thì Bachelard dùng khái niệm phức cảm để chỉ định những mạng hình tượng gắn liền với cùng một mẫu mơ mộng, với cùng một phạm trù người mơ mộng.

Theo tác giả cuốn “Phân tâm học về lửa”, phức cảm Prométhée quy tụ “tất cả những khuynh hướng thúc đẩy tri thức của chúng ta”, phức cảm Novalis tổng hợp “sự thôi thúc đến với lửa được bật lên bởi sự cọ xát, bởi nhu cầu một sức nóng được chia sẻ “, phức cảm Hoffman nhờ rượu mở ra những con đường hư ảo. Riêng phức cảm Empédocle là phức cảm “trong đó tình yêu lửa và sự tôn trọng lửa, bản  năng sống và bản năng chết được kết hợp”, phức cảm Empédocle là biểu tượng của thay đổi, của đổi mới.

Bachelard cho rằng để hiểu trí tưởng tượng của một nhà thơ, cần tìm phức cảm nào đã được những biến hóa trong thơ tiết lộ. Một tác phẩm thơ chỉ có tính nhất quán trong một phức cảm. Nếu thiếu phức cảm, tác phẩm sẽ bị xa lìa nguồn cội của nó, nó không còn liên hệ với vô thức, nó có vẻ lạnh lùng, giả tạo. Trái lại một tác phẩm cho dù chưa được hoàn thành vẫn có một tính nhất quán nếu nó được lồng vào một phức cảm.

Empédocle chọn một cái chết làm cho ông tan trong lửa tinh khiết của núi lửa. Bachelard viết : “Cái chết trong lửa là cái chết ít cô đơn nhất trong những cái chết. Đó là thật sự một cái chết trong đó cả một vũ trụ tiêu tan với nhà tư tưởng”.

Tác phẩm thơ có chức năng vừa sáng tạo vừa tiết lộ cái tôi, cái tôi ở đây không phải là cá thể lịch sử, tức tác giả, mà là bản thể tồn tại trong vũ trụ. Nếu dựa vào tư duy của Bachelard thì phức cảm Empédocle, gồm có bản năng sống và bản năng chết, làm nên tính nhất quán của thơ Nguyên Sa và đưa đến một gợi ý rằng cái chết trong núi lửa là một cái chết để thanh lọc, để tái sinh và đổi mới, điều này phù hợp với quan niệm về cái chết của Thiên Chúa giáo theo đó sau cái chết con người sẽ được sống lại.

Nghệ thuật ngôn từ của Nguyên Sa đã tạo nên một mạng hình tượng đầy gợi cảm về thân xác. Tình yêu, chiến tranh, thân phận con người, từ thế giới thực được đẩy vào thế giới ảo. Thân xác là bản thể bị lửa của thời gian, của cái chết, của sự tái sinh thu hút. Thân xác chối từ khuôn khổ chật hẹp của thân phận tù đày để thoát ra ngoài không gian của vũ trụ, cái hữu hạn đi tìm cái vô tận, cái tuyệt đối.

 

Bài đăng lần đầu trên tạp chí Hợp Lưu, Hoa Kỳ, năm 2005.

Đọc lại, sửa và bổ túc năm 2019.

 

Chú thích :

(1)     Nguyệt san Văn Uyển, số 3, tháng 7-1968.

(2)     Merleau-Ponty Maurice, Phénoménologie de la perception, Paris, Gallimard, 1945, tr. 176-177.

(3)     Trong tiếng Pháp có hai từ « imagination » và « imaginaire » ;  « imagination » là trí tưởng tượng, « imaginaire » là cái được tưởng tượng, ở đây tôi gọi là mạng hình tượng, mạng hình tượng là những hình tượng do trí tưởng tượng của một tác giả tạo ra.

(4)     La Bible de Jérusalem, Le Cerf, Paris, 1973, tr. 25.

(5)     Durand Gilbert, Les Structures anthropologiques de l’imaginaire, Dunod, 1992.

(6)     Bachelard Gaston, La Psychanalyse du feu, Gallimard, 1949.

(7)     Bachelard Gaston, La Poétique de la rêverie, PUF, 1960.

Advertisements

NỖI TRĂN TRỞ CỦA NGƯỜI CẦM BÚT Ở MIỀN NAM THỜI 54-75

 

Vào thời văn học miền Nam phát triển mạnh mẽ và chia ra nhiều khuynh hướng, nhiều dòng văn học, như dòng văn học về nguồn, dòng văn học chiến tranh, dòng văn học trẻ thơ, bụi đời, v.v…lại có hiện tượng nữ giới cầm bút, hiện tượng hướng ngoại với phong trào dịch sách, người ta có thể nghĩ rằng đây là một nền văn học trẻ trung, đa dạng, sung sức, bút lực của các nhà văn không hề suy giảm. Trong bối cảnh đó có nên tự mãn không ? Nhất định là không, vì một vài tiếng nói đầy lo âu đã cất lên để đánh thức giới cầm bút và cả giới độc giả nữa : tiếng nói của nhà văn Huỳnh Phan Anh, nhà văn Nhật Tiến và nhà thơ Nguyên Sa.

Huỳnh Phan Anh là một nhà văn tham gia vào nhiều lĩnh vực : triết học, phê bình văn học, dịch thuật. Khi bàn về văn học, ông có cái nhìn nghiêm khắc và bi quan. Trong cuốn Đi tìm tác phẩm văn chương do Đồng Tháp xuất bản năm 1972, Huỳnh Phan Anh nói đến sự lạm phát về những ấn phẩm sáng tác và những ấn phẩm dịch thuật làm người đọc bị choáng ngợp, mất hướng, và ông cho rằng văn chương đang trải qua một cuộc khủng hoảng. Huỳnh Phan Anh nhận xét : Nói tới văn nghệ miền Nam của những năm 60 (…), không ai có thể phủ nhận được cái thực tế gần gũi, thân mật, không ngừng đập mạnh vào mắt vào tai. Đó là thực tế của một sinh hoạt mà vẻ ngoài giàu có sôi nổi của nó không đánh thức được sự trì trệ, vẻ ngoài hảnh tiến của nó chỉ tố cáo những bước thụt lùi, sa đọa. Nó đến từ những xô bồ, hỗn tạp, bừa bãi của thị trường sách vở, chữ nghĩa. Người đọc có quá nhiều để học, người đọc bị tràn ngập bởi những sách ngày ngày một ồ ạt ra đời. Và đồng thời họ thiếu tác phẩm để đọc (tr. 65). Tác giả nhìn nhận có những nổ lực, những công trình muốn làm mới, làm giàu cho văn chương, nhưng những nổ lực đó quá ít ỏi và bị những thế lực mù quáng, lạc hậu phá hoại. Tác giả gọi những thế lực đó là những cái « dốt nát », « giả ngụy », tạo nên những ngộ nhận nguy hiểm. Huỳnh Phan Anh chỉ trích những trang dâm thư được trang hoàng dưới những lớp phấn son hiện sinh hay hiện thực, ông chỉ trích loại sách nặng về tình dục để thỏa mãn những thị hiếu thấp kém. Tóm lại, việc chỉ trích của Huỳnh Phan Anh chủ yếu nhắm vào chủ đề tình dục, vào ngôn ngữ thô tục.

Khác với cái nhìn tiêu cực của Huỳnh Phan Anh, quan điểm của Nhật Tiến và Nguyên Sa, sau khi nhận xét những khó khăn, trì trệ trong sự sáng tạo của nhà văn, đã nói lên niềm hy vọng xây dựng một nền văn học mới.

 Vào những năm 60, Nhật Tiến là một nhà văn rất trẻ, vừa gia nhập làng văn với tác phẩm đầu tay Những người áo trắng (1959), ông đã được nhà văn lão thành Nhất Linh hướng dẫn, giới thiệu vào Hội Bút Việt mà Nhất Linh là cố vấn. Hội Bút Việt về sau đổi thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Nhật Tiến cũng được Nhất Linh mời hợp tác với Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của ông ngay từ bước đầu. Những sinh hoạt trong lĩnh vực văn học và những tìm tòi về sáng tạo khiến nhà văn trẻ Nhật Tiến có tinh thần trách nhiệm, ông đã biết nhìn xa và lo âu cho tương lai của văn học.

Năm 1962, trong một cuộc hội thảo của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, nhà văn Nhật Tiến có một bài thuyết trình tựa đề : Một vài nhận xét về tình trạng bế tắc trong ngành tiểu thuyết Việt Nam (1). Dựa vào những trải nghiệm của bản thân và qua sự tiếp xúc với văn giới và báo giới, Nhật Tiến đã tập hợp một số nhận xét về tình trạng tiểu thuyết lúc bấy giờ. Diễn giả nêu lên bốn điểm :

1/ Bế tắc về nội dung tác phẩm.

2/ Bế tắc về mặt ấn hành.

3/ Bế tắc về vấn đề tiêu thụ văn nghệ phẩm.

4/ Nguyện vọng của người viết và của các nhà xuất bản tiểu thuyết.

Khó khăn thứ nhất liên quan đến vấn đề sáng tác, một nhà phê bình phàn nàn : Chúng ta nhận định rằng nhà văn ít khi lưu ý đến những vấn đề lớn lao, căn bản trước mắt mà thường quay về với những đề tài đã cũ, lưu tâm đến những mảnh vụn nhiều khi vô nghĩa của cuộc đời… Kết quả : người đọc cho rằng tác giả chú trọng quá đáng về mình, viết những chuyện không đáng viết, khi nói về những đề tài lý thú, lớn lao thì nói một cách sơ sài. Tiểu thuyết trong cái nhìn của diễn giả không phản ánh được cuộc sống hối hả, thấp thỏm, đầy băn khoăn, thắc mắc của thời đó. Nhưng diễn giả không đồng ý với cô Phương Thảo (tức nhà văn Võ Phiến) phụ trách mục điểm sách trên tạp chí Bách Khoa, đã nghiêm khắc chỉ trích một số nhà văn nào đó và nói rằng : … từ nay cuộc sống của ta nếu không có họ cũng chẳng làm sao, biết đâu chẳng đỡ bực mình. Nhật Tiến không đồng ý, ông cho rằng dù sao cũng không thể phủ nhận vai trò người làm văn nghệ. Người làm văn nghệ có cái thiên chức gieo hạt giống đẹp trong một thế giới đen tối do những hoài nghi, thù hận để giành lại tình thương yêu hòa đồng của nhân loại. Nhật Tiến tin tưởng rằng nhà văn Việt Nam đầy thiện chí và can đảm cầm bút. Sở dĩ nhà văn làm người đọc thất vọng lúc bấy giờ là vì thứ nhất nhà văn thiếu kinh nghiệm sống. Đành rằng phải có một óc tưởng tượng dồi dào, nhưng nhà văn cũng phải gây một sức truyền cảm qua ngôn ngữ, nhưng sự truyền cảm phải bắt nguồn từ thực tế. Vậy theo diễn giả, kinh nghiệm sống là điều kiện tất yếu. Nhưng sự thật nhà văn bị cầm chân ở một chỗ vì những ràng buộc hàng ngày, không có cơ hội đi đó đi đây để chân trời được mở rộng.

Nguyên nhân thứ hai là nhà văn không có lập trường vững chắc về sự tương quan giữa mình và tập thể để làm căn bản cho việc sáng tác. Nhà văn chưa tìm ra được một nhân sinh quan rõ rệt. Bởi vậy, trong khi thực tại vẫn như một cơn gió lốc cuốn đi theo chiều hướng của lịch sử, thì nhà văn hình như còn đứng lại lúng túng với vị trí của mình… Trong tình trạng bế tắc đó, một số nhà văn trốn tránh những vấn đề liên quan đến sinh hoạt của xã hội, họ chỉ viết về những đề tài cũ kỹ hoặc về những tình cảm vụn vặt, cho nên tiểu thuyết không phản ánh cảm nghĩ của con  người trong cuộc sống hiện thực.

Nguyên nhân thứ ba là các nhà văn chịu ảnh hưởng của một số tác phẩm ngoại quốc và viết những cái không phù hợp với văn hóa nước nhà, với cảm quan của người đọc khiến người đọc khó lòng theo dõi.

Nguyên nhân thứ tư là nhà văn lo ngại bị kiểm duyệt. Diễn giả cho rằng nhà văn là nhân chứng của thời đại, không thể đi ngược lại với thực tế, không thể che đậy, dấu diếm với bất cứ giá nào, không thể phản bội thiên chức của mình để đánh lừa độc giả.

Trên đây là những nguyên nhân của bế tắc thứ nhất về nội dung tác phẩm. Bế tắc thứ hai là việc ấn hành tác phẩm, tức hoạt động của nhà xuất bản. Sau khi thao thức, cực nhọc để viết một tác phẩm, nhà văn vấp phải khó khăn đầu tiên với nhà xuất bản, không vì tiền nhuận bút, bởi có tiền nhuận bút nào xứng đáng với công lao xây dựng một tác phẩm. Thế mà tác giả xem việc in sách của mình như một ân huệ lớn. Ân huệ đó không đến với bất cứ nhà văn nào. Sở dĩ nhà văn gặp khó khăn là vì các nhà xuất bản thất bại trong việc ấn hành tiểu thuyết. Một số đóng cửa, một số chuyển sang việc tái bản sách tiền chiến hoặc in ấn những cuốn truyện thích hợp với thị hiếu thấp kém của một số người đọc. Nhà văn có cảm tưởng mình bị bỏ quên. Nếu có cố gắng lắm thì phải chịu mang nợ nần hoặc hy sinh bán đi những nhu yếu phẩm để có tiền in sách. Và khi sách in ra cũng chẳng bán được bao nhiêu.

Bế tắc thứ ba là từ phía người đọc. Thông thường người đọc có vai trò chủ yếu trong sự tồn tại của tác phẩm. Chính người đọc làm cho tác phẩm sống và đồng thời cũng làm cho các nhà xuất bản khởi sắc. Nhưng trong tình trạng những năm 60, người đọc cũng như tác giả trước tiên phải lo chuyện mưu sinh. Sau nữa là những lý do mà diễn giả Nhật Tiến nêu lên trong bài thuyết trình :

– Ý thức đọc sách của đa số quần chúng còn ở trong tình trạng thấp kém. Dấu hiệu của sự kém cỏi đó là vô số sách về ái tình nhảm nhí, đầm đìa nước mắt, phiêu lưu kiếm hiệp được in ấn công phu, bán với giá rẻ để đáp ứng thị hiếu người đọc. Lại có chuyện một người Tầu không thông tiếng Việt đứng đầu một cơ quan ấn hành và bán loại tiểu thuyết rẻ tiền. Những người đầu cơ văn hóa này làm ăn rất phát đạt.

– Nhu cầu đọc tiểu thuyết không phải là một nhu cầu cần thiết. Theo diễn giả, hạng người đọc đáng kể nhất là giới trí thức có trình độ đọc sách cao và nhất là những công chức, sinh viên và học sinh. Tuy nhiên họ không ảnh hưởng đến việc bán sách vì lẽ họ có những nhu cầu khác ưu tiên hơn nhu cầu tiểu thuyết. Ví dụ đối với một sinh viên có chút tiền túi thì việc đầu tiên là phải mua sách giáo khoa cho việc nghiên cứu, sau là nhu cầu đi xem một phim hấp dẫn để tiêu khiển, rồi đến một chầu kem. Còn tiểu thuyết mới ra thì không cần phải vội vã, trước sau gì cũng sẽ đọc.

– Về phía tác giả, trong cuộc sống hấp tấp vội vàng, với nhiều lo âu, tính toán, làm sao có được một trạng thái tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng để nghĩ đến việc viết ?

Tóm lại, những khó khăn liên kết với nhau, làm nên một cái vòng lẩn quẩn :

– Vì tình trạng vật chất, nhà văn không có đủ điều kiện để viết sách hay.

– Không có sách hay để thu hút người đọc.

– Sự thờ ơ của người đọc khiến các nhà xuất bản tê liệt.

– Hoạt động của nhà văn lại tùy thuộc nhà xuất bản.

Cuối cùng diễn giả đưa ra hai nguyện vọng : nguyện vọng của người viết và nguyện vọng của các nhà xuất bản. Về phía các nhà xuất bản, diễn giả lặp lại những nguyện vọng của ông Nguyễn Đình Vượng, một nhân vật quan trọng trong giới xuất bản thời đó. Ông Vượng mong :

– Tổ chức lại ngành phát hành, hoạt động này sẽ được giao phó cho một người tha thiết với việc phổ biến văn hóa.

– Phát hành thư mục hàng tháng.

– Cần sự tham gia của các cơ quan như Bộ Giáo dục để giảng dạy cách đọc sách, như Đài phát thanh để có những hoạt động nhằm mục đích khuyến khích việc đọc sách.

– Mở nhiều giải văn cương.

– Trông nhờ vào sự nâng đỡ của chính phủ.

Vể phía các nhà văn, họ mong ước :

– Việc kiểm duyệt của nhà cầm quyền sáng suốt và thận trọng hơn. Người làm văn nghệ ước ao được giữ vai trò chủ động của mình trong khi sáng tác, được nói lên tiếng nói trung trực của mình với độc giả, và mong đưọc hoàn thành thiên chức của mình.

– Việc in ấn tác phẩm của họ không bị giới gian thương bóc lột.

– Tác phẩm của họ cần được phổ biến sâu rộng trong quần chúng.

– Quy tụ những người cầm bút vào một tổ chức để bênh vực quyền lợi của nhà văn.

Phần kết luận của nhà văn Nhật Tiến mang nhiều kỳ vọng cho tương lai của văn học : Nhà văn Việt Nam hiện tại mơ ước một ngày mai sáng sủa và tốt đẹp hơn, một ngày mai có những luồng gió mới quét sạch rác rưới làm vướng chân người hiện tại đồng thời mở đường khai lối cho những thế hệ nhà văn kế tiếp có phương tiện, có điều kiện xây đắp một tương lai văn hóa của dân tộc.

Điều đáng chú ý là trong bài thuyết trình của Nhật Tiến, diễn giả thường nhắc đến thiên chức của nhà văn. Dù bao khó khăn nghiệt ngã, Nhật Tiến vẫn đặt niềm tin vào thiên chức đó, để đi đến việc xây dựng một tương lai cho nền văn học.

Về phần nhà thơ Nguyên Sa, tên tuổi của ông đã lẫy lừng trên văn đàn. Cũng như Huỳnh Phan Anh và Nhật Tiến, tác giả bài thơ Áo lụa Hà Đông không tránh được những ưu tư trước tình trạng văn học lúc bấy giờ. Nguyên Sa cũng quan tâm đến vấn đề sáng tạo, nhưng không phải một sáng tạo bị lúng túng trong một hoàn cảnh vật chất khó khăn hay bị chậm bước bởi óc hướng ngoại, thời thượng, mà là một sáng tạo vươn cao, có tầm cỡ, một sáng tạo được cách tân. Trong bài bình luận : Rời bỏ nền văn chương trú ẩn đăng trên tạp chí Đất Nước, tháng 12 – 1967, Nguyên Sa, sau khi phân tích cái cũ cái mới trong văn chương, và phàn nàn về thứ văn chương trú ẩn trong cái động đá, đã tổng kết tình trạng văn học ở miền Nam sau việc hô hào làm mới văn học, ông đã sáng suốt xác định thế nào là mới trong văn học.

Chúng ta còn nhớ vào những năm 50, Mai Thảo và nhóm Sáng Tạo hô hào cắt đứt với văn học tiền chiến để lên đường xây dựng một văn học mới. Nhưng đến năm 1967, nền văn học mới đó đã đi đến đâu ?

Để có cái nhìn đầy đủ, công bình, Nguyên Sa trở về quá khứ. Trước hết ông khẳng định lập trường của ông đối với tiền chiến và thế hệ năm mươi – sáu mươi ở miền Nam. Phải nhìn nhận Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam đều có những tác phẩm gây xúc động. Về thơ thì Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương là những hòn đảo kỳ diệu của biển ngôn ngữ… Ở miền Nam có những tác phẩm làm Nguyên Sa phấn khởi : tùy bút của Mai Thảo, truyện tình của Chu Tử, truyện trẻ thơ của Duyên Anh, thế giới giang hồ của Nguyễn Thụy Long, thơ Trần Dạ Từ.

Nguyên Sa nhận xét thế hệ năm mươi – sáu mươi chống văn học tiền chiến ở một điểm căn bản : họ cho rằng văn học tiền chiến quá lãng mạn. Nhưng theo Nguyên Sa, văn chương tiền chiến không lãng mạn. Vũ Trọng Phụng không phải là một tác giả lãng mạn. Những cây bút trong nhóm Hàn Thuyên không thể bị xem là lãng mạn. Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn mang ảnh hưởng của văn chương lãng mạn Pháp không đơn giản chỉ là lãng mạn. Nguyên Sa định nghĩa lãng mạn là sự xúc động quá mãnh liệt, sự trữ tình bi thảm hóa. Các thế hệ năm mươi – sáu mươi ở miền Nam đã ồn ào chống lại văn học tiền chiến vì muốn làm mới văn học. Sự khát khao sáng tạo khiến họ vội vã, giãn lược cách phê phán của họ và sự phủ nhận của họ thiếu tính thuyết phục.

Nói chung, cả tiền chiến và thế hệ năm mươi – sáu mươi ở miền Nam đều sáng tạo theo cái khuôn sáng tạo đã có trước. Nguyên Sa gọi đó là văn chương trú ẩn, trú ẩn trong những cái động đá kiên cố. Tây phương có tả chân thì Trương Tửu tả chân, Tây phương có tượng trưng thì Bích Khê có tượng trưng, Tây phương siêu thực thì Nguyễn Xuân Sanh có Xuân Thu Nhã Tập.

Còn thế hệ năm mươi – sáu mươi muốn làm mới ra sao ? Văn chương của họ hướng về hiện sinh, dấn thân (theo Sartre) và tiểu thuyết mới (theo Alain Robbe-Grillet). Khi những cây bút ở miền Nam tự nhận mình là hiện sinh, là dấn thân, họ có sáng tác đúng với những lý thuyết của hiện sinh, của dấn thân không ? Hay chỉ vội vàng, lớt phớt những buồn nôn, những phi lý ? Mà nếu có viết đúng với các trường phái hiện sinh, dấn thân, tiểu thuyết mới, tả chân, lãng mạn, siêu thực hay hiện thực thì, theo Nguyên Sa, cũng chưa phải là sáng tạo. Đó chỉ là làm mới trong khuôn khổ một cái mới đã có.

Cái mới mà chúng ta cần đạt đến, nó không được thuộc về cái mới của người khác, của một nước ngoại bang, nó phải bắt nguồn từ dân tộc, mặc dù nước ta đang ở trong hoàn cảnh chiến tranh, trong hoàn cảnh phân chia thế giới, không thể nói đến quốc gia cực đoan, nhưng tinh thần dân tộc vẫn tồn tại. Nguyên Sa tuyên bố : Chúng tôi vẫn yêu dân tộc, biết mơ ước những gì dân tộc mơ ước, biết hãnh diện về những gì dân tộc hãnh diện. Cho nên chúng tôi khao khát có những công trình văn chương, khoa học, không phải chỉ để cho tác giả của các công trình đó mãn nguyện mà còn để cho đồng bào của các tác giả đó hãnh diện. Dân tộc đòi hỏi sự tiến bộ và đổi thay về văn hóa. Cần có sự đóng góp liên tục vào cái gia tài văn hóa đã có.

Còn về những sản phẩm khoa học, văn chương chung của nhân loại như sản phẩm của Pasteur, Molière, Racine, v.v… thì ở các nhà trường đều giảng dạy. Nhà giáo đứng trên bục giảng về sáng tạo của người khác. Người sáng tạo thì khác với nhà giáo. Người sáng tạo chỉ sáng tạo văn học nghệ thuật cho riêng mình. Cách thức sáng tạo của ai là chỉ thuộc về người đó.

Vậy tất cả văn học vẫn còn ở trong khuôn khổ truyền thống. Nguyên Sa thúc giục người cầm bút đi tìm cái mới dù cho chưa biết hướng đi.

Đó là cuộc phiêu lưu. Có thể trước mặt sẽ là sự khám phá thần thánh. Có thể là sự gục ngã. Gục gã vì dại khờ. Gục ngã vì điên loạn. Nhưng trong văn nghệ cũng như trong tình ái, chẳng thà gục ngã trong dại khờ còn hơn sống mãi trong khôn ngoan. Chết ở chân trời thử thách, chết trong cuộc phiêu lưu còn hơn sống mãi tầm gửi trong động đá trú ẩn êm ấm.

Tóm lại, Nguyên Sa có tầm nhìn vượt khỏi những tuyên bố ồn ào, vượt khỏi những sản phẩm văn nghệ không ngừng xuất hiện, để báo hiệu những nguy cơ trú ẩn, những bắt chước cái mới của người khác. Tiếng nói của Nguyên Sa là tiếng nói của một người cầm bút không tự để mình bị ru ngủ, ông băn khoăn, thao thức và sáng suốt nhận thấy rằng việc sáng tạo ở miền Nam trong những năm 50-60 chưa thoát khỏi cái khuôn của người đi trước. Nguyên Sa nuôi một tham vọng lớn cho giới cầm bút bằng cách đòi hỏi một sáng tạo thật sự mới, thật sự độc lập, phát xuất từ tinh thần dân tộc.

 

(1) Tài liệu tham khảo : Câu Chuyện Văn Chương, Nxb Khai Trí Sài Gòn, 1969.

SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI CẦM BÚT THEO LINH MỤC THANH LÃNG

 

Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã dìu dắt nhiều thế hệ sinh viên. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu, phần đóng góp của ông vào chữ quốc ngữ, văn học Thiên Chúa giáo và văn học sử Việt Nam rất lớn lao.

Năm 1967, nhân mừng sinh nhật năm thứ mười của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, linh mục Thanh Lãng đã phát biểu ý kiến về sứ mạng người cầm bút. Trước khi nghe linh mục nói về đề tài này, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua Trung Tâm Văn Bút.

Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời đó là một chi nhánh của Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế gọi là PEN Club International do bà Catherine Amy Dawson Scott thành lập năm 1921. Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế là một hiệp hội tập hợp những nhà văn của tất cả các nước, những nhà văn tha thiết với những giá trị hòa bình, bao dung và tự do, thiếu những giá trị đó không thể có sáng tạo được.

PEN là do từ Anh ngữ pen (cây bút) tóm tắt những nghề viết :

P : Poets : những người làm thơ ; Playwrights : những người viết kịch

E : Essayists : những người viết biên khảo ; Editors : những người xuất bản

N : Novelists : những tác giả viết tiểu thuyết ; Non fiction authors : những tác giả viết ngoài hư cấu.

Năm 1957, nhà văn Đỗ Đức Thu sang Đông Kinh (Tokyo) dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29, và đã tích cực vận động cho Việt Nam. Kết quả là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam được nhận vào Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế.

Ở miền Nam, kể từ những năm 60, Trung Tâm Văn Bút là một cơ quan văn hóa tuy không có tầm cỡ lớn, nhưng đã đạt được nhiều thành tích tốt đẹp. Về nội bộ, các ủy ban chấp hành được bầu theo định kỳ. Năm 1961, chủ tịch của ủy ban chấp hành là nhà văn Nhất Linh. Năm 1967, chủ tịch là nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Ngoài ra, Trung Tâm Văn Bút tổ chức những sinh hoạt văn hóa như ấn hành những tập kỷ yếu, tổ chức những buổi diễn thuyết, hội thảo, trao những giải thưởng văn chương, xuất bản những tuyển tập, v.v…

Để khai mạc cuộc hội thảo đánh dấu mười năm của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, chủ tịch Vũ Hoàng Chương giới thiệu cùng cử tọa văn hữu Thanh Lãng.

Cất lời trước cử tọa, linh mục Thanh Lãng nhắc rằng kỷ niệm mười năm thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là kỷ niệm sự lựa chọn và chấp nhận một lý tưởng làm văn chương nghệ thuật bởi một số người cầm bút. Lý tưởng đó đã được trình bày trong Hiến Chương của Văn Bút, và có thể được tóm tắt qua bốn điểm sau đây :

1/ Văn chương nghệ thuật không nên có biên giới.

2/ Văn chương nghệ thuật là tài sản chung của nhân loại.

3/ Người làm văn chương nghệ thuật cần hiểu biết sự tương giao nhau như là thành phần của một nhân loại duy nhất và hoà bình.

4/ Người làm văn chương nghệ thuật cần đề cao lý tưởng Tự do và Bao dung.

Sau đó linh mục Thanh Lãng đưa ra vấn đề Sứ Mạng Của Người Cầm Bút và nói rõ rằng đây không phải là một bài diễn thuyết mà là một hội thoại. Tuy thế, sau hơn nửa thế kỷ, điều quan trọng nhất đối với chúng ta, người đọc hôm nay, là  quan niệm của linh mục Thanh Lãng về người cầm bút được trình bày trong bài của linh mục, do đó những trao đổi giữa linh mục và vài người trong cử tọa không cần thiết nêu ra trong bài này.

Linh mục Thanh Lãng nói rõ : ông chỉ đặt vấn đề và đưa ra những thắc mắc để những người cầm bút cùng ý thức, cùng suy nghĩ chung với nhau. Những câu hỏi được đặt ra là :

Nhà văn có một sứ mạng gì không ?

Lịch sử người cầm bút với sứ mạng người cầm bút tương quan phản ứng ra sao ?

Diễn giả định nghĩa : Nói sứ mạng nhà văn, hay nói nhà văn có sứ mạng là nói nhà văn có mang theo một mệnh lệnh nào do ơn trên đâu đó trao cho mình : gọi là « sứ mạng » hay gọi là « mạng lệnh », hay gọi nôm na là điều dạy làm, điều dạy gửi.

Và diễn giả giải thích định nghĩa đó như sau, sứ mạng bao gồm :

– Người ra lệnh, « Người sai gửi »,

– Người mang lệnh, người đi gửi,

– Người nhận lệnh, người tiếp nhận vật gửi,

– Lệnh, tức đồ vật gửi đi.

Nếu đưa định nghĩa này vào lĩnh vực văn học nghệ thuật thì :

– Người ra lệnh hay người sai gửi sứ điệp là hồn thiêng dân tộc, là nhân loại, là trời đất.

– Người mang lệnh, người đi gửi sứ điệp là nhà văn.

– Người nhận lệnh, người nhận sứ điệp là độc giả.

– Sứ điệp là tác phẩm văn học. Gọi tác phẩm là sứ điệp vì viết là nói với độc giả, bộc lộ với độc giả, san sẻ, tỏ bày với độc giả. Vậy viết là ý muốn nói với ai điều gì, một tâm sự gì.

Có khi nhà văn tuyên bố chỉ viết cho mình, nhưng những điều nhà văn muốn nói ra rơi vào chữ viết, mà chữ viết là một phương tiện truyền bá. Cho nên dù muốn dù không, dù ý thức hay vô thức, tác phẩm nào cũng là một sứ điệp. Diễn giả cho biết không có nghệ thuật nào mà không thưa gửi, nghĩa là không phải là một sứ điệp, và không có nhà văn nào mà không phải là sứ giả. Xin tóm tắt sau đây vài ví dụ trong nhiều ví dụ diễn giả đã đưa ra :

Thơ của Nguyễn Trãi là sứ điệp và Nguyễn Trãi là sứ giả ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị của đất nước, cỏ cây. Lục Vân Tiên là sứ điệp của Nho giáo. Các nhà văn cuối thế kỷ 19 là sứ giả của chiến tranh bi thảm, của quật khởi chống Pháp. Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí là sứ điệp của Hòa bình. Tự Lực Văn Đoàn là sứ điệp của chiến tranh, của tiến bộ.

Diễn giả nhận xét người cầm bút hôm nay ở trong hoàn cảnh chiến tranh, với những tệ đoan như tham nhũng, mọi giá trị tôn giáo, văn hóa, xã hội bị đảo lộn và lý do của mọi xung đột giữa cá nhân, đoàn thể, dân tộc, cuộc chém giết nhau vì hệ tư tưởng, lý do của những tai họa đó là lý tưởng Tự do không được tôn trọng.

Bản tính con người là Tự do mà bản chất Tự do là được lựa chọn (…). Người cầm bút hôm nay phải là một sứ giả được sai đi, đi để đến với những người nhận sứ điệp là cá nhân, là đoàn thể, là dân tộc, là nhân loại (…). Không ai được chối bỏ mình là sứ giả vì mình được nhìn như vậy (1).

Vậy vai trò của sứ giả tức nhà văn như thế nào ? Theo diễn giả, sứ giả cần biến cái đẹp, tức văn chương, thành nguồn vui sống cho con người đang đau khổ, tuyệt vọng, biến cái đẹp thành nhịp cầu yêu thương giữa mọi người. Sứ giả cần biến chữ viết tức tác phẩm thành phương tiện chuyên chở lời nhắn với mọi người rằng con Người chỉ là con Người khi có Tự do. Qua sứ điệp, tức tác phẩm, sứ giả cần cổ động, ca tụng quyền lựa chọn tức quyền tự do của mọi người, ca tụng tinh thần bao dung, chấp nhận nhau, khuyến khích tinh thần phân công và hợp tác giữa các giới khác nhau, ủng hộ các tổ chức văn hóa, xã hội, chính trị. Sau cùng, sứ giả cần dấn thân để chống lại mọi lý thuyết, mọi cá nhân, đoàn thể, đảng phái, mọi dân tộc đi ngược lại với lý tưởng Tự do. Và làm thế nào để sứ điệp trở thành một Thiên trường ca ca ngợi Hoà bình.

Trong văn học Pháp, tác phẩm được gọi là message, thông điệp, tác giả là émetteur, người phát (thông điệp), và độc giả là récepteur, người tiếp nhận (thông điệp). Người phát ra thông điệp quan niệm rằng tự họ làm ra thông điệp để truyền đi, để gửi đến người tiếp nhận. Chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa quan niệm của Tây phương và quan niệm của linh mục Thanh Lãng

Linh mục Thanh Lãng đi xa hơn, ông đặt lý tưởng Tự do trên hết, để làm nền tảng cho con người, cho văn chương. Để phụng sự một lý tưởng cao đẹp như thế, trước hết tác phẩm không chỉ là một thông điệp mà là một sứ điệp mang một mệnh lệnh thiêng liêng, và cương vị của nhà văn được nâng cao : nhà văn không chỉ là người phát ra một thông điệp mà là một sứ giả, người vâng mệnh trên là hồn dân tộc đem sứ điệp tự do đến với mọi người. Khi ý thức được cái thiên chức đó, nhà văn không còn tự giam mình trong một thái độ trốn tránh, thụ động nữa, không còn viết những cái tầm thường, nông cạn, không xứng đáng là một sứ điệp thật sự. Linh mục Thanh Lãng đã mở rộng vấn đề sáng tạo văn chương, ông đã thiêng liêng hóa chức năng của nhà văn. Quan niệm của linh mục có khả năng đánh thức giới cầm bút khiến họ suy nghĩ xa hơn về việc dấn thân của một nhà văn trong xã hội, trong đất nước.

(1) Câu Chuyện Văn Chương, Nxb Khai Trí Sài Gòn, 1969, tr. 491-492.

Paris, tháng 12 – 2018

NGUYỄN THỊ THỤY VŨ VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA LỊCH SỬ

 

Vào năm 1942, khi Vũ Ngọc Phan, tác giả bộ sách Nhà văn hiện đại, giới thiệu cuốn truyện Một linh hồn của Thụy An, ông nhận xét văn học đang ở trong tình trạng chờ đợi nữ giới cầm bút để viết tiểu thuyết, vì lúc bấy giờ việc người nữ sáng tác tiểu thuyết là một sự kiện hiếm hoi. Do đó cuốn Một linh hồn của Thụy An phải được xem như một biến cố văn học.

Nếu vào những năm 60-70 nhà phê bình Vũ Ngọc Phan mục kích được hàng loạt tác phẩm của nữ giới xuất hiện ở miền Nam thì sự mong đợi của ông đã được toại nguyện. Nối gót các bậc đàn chị như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, có Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng…, cả một đội ngũ ra tay viết, không mệt mỏi.

Trong khi Nhã Ca, Túy Hồng, quê miền Trung, đem xứ Huế vào tác phẩm của mình thì Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh trưởng ở miền sông nước Cửu Long, vẽ lên trong các truyện của bà cái không gian chằng chịt những sông rạch và con người sống ở đấy.

Năm 1966, Nguyễn Thị Thụy Vũ bước vào làng văn với tập truyện đầu tay Mèo Đêm, mở đầu cho một loạt truyện ra mắt đều đều cho đến năm 1973. Cả thảy mười tác phẩm, ba tập truyện ngắn : Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông và bảy truyện dài : Thú Hoang, Ngọn Pháo Bông, Khung Rêu (Giải thưởng Văn Học Toàn Quốc, 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm và Cho Trận Gió Kinh Thiên (1).

Chủ đề lớn nhất làm nên tính nhất quán của mười tác phẩm là người phụ nữ. Hiếm hoi lắm mới có truyện về đàn ông như hai truyện ngắn : Trôi SôngChiều Mênh Mông (tập truyện Chiều Mênh Mông). Nguyễn Thị Thụy Vũ trước sau cầm bút cũng chỉ để viết về người phụ nữ, nhưng không phải bất cứ người phụ nữ nào mà chủ yếu là những người phụ nữ chào đời và lớn lên ở miền đất Tiền giang, vào lúc xã hội dần dần đi vào thời hiện đại. Để theo dõi thân phận của những người phụ nữ đó qua những thời biến động của đất nước, thiết tưởng cần đọc các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ qua lưới đọc của phê bình xã hội (sociocritique).

Claude Duchet định nghĩa phê bình của xã hội học là cách phê bình nhằm chính văn bản như cái nơi mà tính xã hội nào đó được diễn ra.

Phê bình xã hội đọc trong văn bản những khía cạnh, những hiện tượng có tính lịch sử, xã hội, hệ tư tưởng và văn hóa, phản ánh của hiện thực : văn bản không thể có được nếu không có hiện thực. Và cách đọc của phê bình xã hội không cứ phải dựa vào những lý thuyết như của Karl Max, Georg Lukács, Lucien Goldmann, vì các lý thuyết đó trở nên xưa, không thích hợp với một hiện thực phong phú, phức tạp của ngày nay. Mọi cách đọc văn bản ngày nay là phát minh và tìm tòi, nó góp phần vào việc phong phú hóa, vào sự tiến bộ của tâm thức về xã hội và lịch sử.

Vậy chúng ta thử đi vào thế giới truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ theo cách đọc của phê bình xã hội.

I  Một thời suy tàn

Dù muốn dù không, nhà văn bao giờ cũng đưa ít nhiều trải nghiệm của mình vào tác phẩm. Vĩnh Long là nơi Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh ra và lớn lên. Trước mắt tác giả : cảnh sông nước, tuổi mới lớn, thời học sinh, nếp sống ở tỉnh lẻ, các bậc cha mẹ với những phong tục, tập quán lỗi thời, sự chờ đợi tương lai… tất cả được lồng vào một xã hội xưa cũ, tàn dư của thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Một xã hội được cấu trúc bởi hai giai cấp giàu, nghèo, và sự phân chia giai cấp rất rõ rệt.

Ở giai cấp người giàu, chủ nhà là bậc phú hộ có uy quyền, được trọng vọng, nể nang. Họ gìn giữ thanh danh và cái bề ngoài. Trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya, ông Đốc phủ sứ nói với con trai và con dâu : Gia đình mình là một thế gia vọng tộc, nhứt nhứt mọi thứ đều phải vượt những thứ thiên hạ thường tình. (tr. 104) Còn bà Phủ trong truyện Khung Rêu, khi cảnh nhà sa sút, thường nói với chồng : Phải gói ghém sự xuống dốc. Giàu thì thiên hạ ganh tị, còn nghèo thì bị họ khinh khi. Thà bị ganh tị hơn. (tr.120)

Ruộng lúa là cái gạch nối giữa hai giai cấp. Người giàu khai thác sức lao động của người nghèo để có lúa mà bán. Hàng năm tá điền đi ghe chở lúa đến nhà chủ điền và tỏ vẻ khúm núm. Họ đem theo bộ quần áo tốt nhất để mặc khi đong lúa với chủ điền. Thức ăn đi đường của họ là « một hũ mắm đồng, vài con khô sặc, một chai nước mắm », nếu khát thì đã có nước sông.

Phần chủ điền, hàng năm cũng đi ghe quan sát ruộng lúa của mình và thu lúa. Nhưng đến thời tinh thần tranh đấu của nhân dân bừng dậy, giới tá điền bắt đầu phẫn nộ trước sự bất công. Trong truyện Khung Rêu, ông Phủ đi ghe thăm ruộng đất, ông có nghe đâu đó ở vùng Cà Mau, Rạch Giá, dân tá điền chống lại chủ điền, nhưng ở vùng ông tá điền vẫn còn khúm núm chào ông lớn, vẫn còn run sợ khi thấy bóng chủ điền, nên ông yên tâm ; thêm nữa Pháp đã trở lại trong vùng. Ngờ đâu tá điền thuê đất của ông nay đã thay đổi thái độ. Đặc biệt một người tá điền tên Đực đã bị ông Phủ phá hoại cuộc đời con gái của người yêu, anh ta càng tỏ ra xấc xược, hung dữ, khiến ông Phủ vội trở về. Chẳng những ông không còn hy vọng thu được lúa mà còn bị tá điền đoạt ruộng đất. Trong truyện Thú Hoang, ông nội của Liễu xưa kia có ruộng cò bay thẳng cánh, ông thường đi ghe từ Vĩnh Long về miệt Hóc Hỏa để thu lúa. Rồi thời thế không yên, ruộng ông bị tịch thu. Lần cuối cùng ông đi thu lúa, hai tháng sau ghe của ông trở về mà không có ông, ông bị tá điền đâm trọng thương, rồi chết.

Bức tường ngăn chia giàu nghèo có khi gây nên cảnh éo le về tình cảm. Nhân vật cô Ba Ngoạn trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya bị người cha gọi về Cần Thơ để gã chồng, nhưng cô đã yêu con trai của một người tá điền. Cô dư biết cha cô sẽ không bao giờ chấp nhận làm thông gia với một tá điền. Cô tâm sự với những chị em trong nhà : … tôi đã lỡ yêu một người đàn ông không cùng một giai cấp với tụi mình. Ảnh là con người tá điền của má tôi. (tr. 98) Cô Ba Ngoạn tự tử hụt khi hay tin người yêu đi lấy vợ vì vâng lời cha mẹ và hay tin cha của cô đã đuổi gia đình người tá điền ra khỏi ruộng đất của ông.

Giai cấp giàu khinh rẻ giai cấp nghèo ; người nghèo thì thủ phận, họ bị dồn vào cái thế của người nô lệ phải phục tùng giới phú hộ có quyền thế. Có những trường hợp người nghèo lại sung sướng, hãnh diện được công khai gần gũi với người giàu, như trong truyện ngắn Trôi Sông (tập truyện Chiều Mênh Mông), lão Tự là một phu lục lộ, lão sung sướng, hãnh diện vì một quan tri phủ về hưu lấy con gái độc nhất của lão làm vợ thứ tám. Mỗi lần quan tri phủ cho gọi lão đến thì lão lật đật giở cái tráp bằng cây thông lôi bộ đồ bà ba vải xe lửa trắng đổi màu ngà còn ngát mùi lông não (…). Chùi vội đôi guốc cây (…). Lão soi mặt vào miếng kiếng bể (…). Lão sửa lại chiếc khăn vải Tây đỏ chít trên đầu. Nỗi vui mừng lẫn lo lắng cồn cào tâm hồn lão (…). Đi đến đâu lão không quên khoe lão là cha vợ quan tri phủ. (tr. 14)

Quan niệm giai cấp đã ăn sâu vào tư tưởng của lớp người có uy thế. Trong Nhang tàn thắp khuya, Thục Nghi về làm dâu một nhà quyền quý đông con gái : Thục Nghi bắt đầu cảm thấy bọn con gái thuộc nơi quyền quý thật khó mà gột rửa thành kiến nặng nề về giai cấp. (tr. 188)

Trong các truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ, ngôi nhà tổ phụ, ngôi nhà hương hỏa thường xuất hiện như nhắc nhở một thời đã qua. Ngôi nhà thường được xây cất bên bờ sông, có nhà thủy tạ để chủ nhà ra hóng mát và để đoàn ghe của tá điền cập bến nộp lúa, trong nhà lại có lẫm lúa, dấu hiệu giàu có của chủ nhà, một khu vườn rộng với cây cối rậm rạp bao quanh nhà. Ngôi nhà hương hỏa là một biểu tượng của dòng dõi người phú hộ. Trung đường trải dài ba gian, là cái nơi có những bàn thờ, lư hương, bình hoa mà đến ngày giỗ được con cháu và tôi tớ trong nhà lau chùi bóng loáng, hoa quả được long trọng chưng lên. Mặc dù ngôi nhà đã đến thời mục nát, nhưng nó vẫn là cái nơi tụ họp của gia đình họ hàng, cái nơi mà gia đình có thể che đậy sự suy sụp của mình bằng cách dọn những mâm cỗ linh đình vào những ngày cúng ông bà tổ tiên, ngày giỗ những người quá cố hoặc vào dịp Tết, cúng đưa ông Táo về Trời, cúng giao thừa ; gia đình lo việc thờ phụng, cúng bái một cách long trọng.

2/ Người phụ nữ trong một xã hội bảo thủ

Cuối thời phong kiến, tinh thần trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại trong xã hội. Sự bất bình đẳng lại càng mạnh hơn nếu người đàn ông có tiền của và quyền thế. Người phú hộ có quyền có năm thê bảy thiếp, ông Đốc Phủ sứ trong Nhang tàn thắp khuya có ba người vợ, trong Thú Hoang, ông nội của Liễu có sáu người vợ và trong truyện Trôi Sông ông quan tri phủ có tám người vợ. Chỉ có người phụ nữ phải chịu thiệt thòi.

Trong truyện Khung Rêu, tuy ông Phủ không có nhiều vợ, nhưng ông cũng đã dùng uy quyền để làm cho một cô gái nhà nghèo mang thai, Ngà, tên cô gái, đến ở thuê trong nhà để trả nợ cho cha là một tá điền.

Về phần bà Phủ, vì tinh thần trọng nam, bà ao ước cho ông Phủ một đứa con trai, mặc dù ông đã có ba người con trai với người vợ trước đã khuất bóng. Nhưng định mệnh đã mỉa mai cho bà Phủ một đứa con nửa trai nửa gái, điều làm bà rất đau khổ.

Nhân vật cụ bà trong truyện Chiều xuống êm đềm thì có mặc cảm tội lỗi đối với chồng vì bà chỉ sinh được hai người con gái.

Tuy con gái không được quý bằng con trai, nhưng cũng phải được dạy dỗ để có nết na và giỏi giang việc nhà. Bà Phủ nuôi hai đứa cháu gái trong nhà, bà đem những thành ngữ chữ Hán, pho kinh Phật ra răn dạy, bà nghiêm khắc theo dõi hai cô cháu và không muốn họ gần con trai : Nam nữ thọ thọ bất thân. Con gái như rơm khô dễ bắt lửa. Con trai là thứ lửa nguy hiểm. Lửa để gần rơm nếu không cháy cũng tròn trèm. (tr. 35) Bà xem việc nuôi con gái như một nỗi lo âu, một việc quá vất vả mà bà phải gánh lấy : Nuôi con gái khác nào đem giặc về nhà. Bà Phủ là người dựa vào đạo đức thời xưa để cản trở tình yêu của các cô gái.

Trong một xã hội bảo thủ, người ta khó chấp nhận cái mới. Nhất là khi cái mới được phụ nữ yêu chuộng. Vào thời Pháp đô hộ, người tỉnh lẻ không quen thấy những cái mới lạ, trong truyện Chiều Xuống Êm Đềm, cụ bà tuy hãnh diện có con gái lấy chồng dân Tây, nhưng cụ phật ý : Tao coi bộ con Thông nó làm nhiều chuyện không được… thuận nhãn cho lắm. Ai đời nó bận áo tân thời, tô son trét phấn như đào hát bội, lại còn liều mạng lái xe nữa… Rủi có bề gì thì sao đây ? (…) Ai đời, cái chuyện học tiếng Tây mà cũng đem ra khoe. (tr. 47, 49)

Người phú hộ khi tiếp xúc với người Pháp, thì bị lóa mắt bởi cái uy quyền của nước bảo hộ, bị óc nô lệ ru ngủ ; họ xem sự hiện diện của người Pháp như một bảo đảm cho đời sống của họ, họ không cần hiểu biết sâu xa về tình trạng của đất nước và thiếu tinh thần yêu nước. Trong Khung Rêu, ông Phủ nói : Tôi thích Tây cai trị, Tây mà đi rồi, mình chết đói cả đám (…). Tôi nói thiệt đa, nếu con cháu tôi chộn rộn bắt chước tụi học sinh bỏ học, bỏ nhà đi theo bọn phản loạn đó, lập tức tôi đi báo cho Tây nó biết liền và nếu cần tôi đem đóng trăn tụi nó, rồi đem nộp gấp. (tr. 315)

Trong khi ông Phủ hăm dọa con cháu, thì có một phong trào lên đường tranh đấu. Hoàng, một thanh niên ở trọ nhà ông Phủ đã bí mật biến mất. Rồi hai người con của ông Phủ, Thụ và Chiêu, cũng lên đường.

3/ Nỗi niềm của người phụ nữ trong một bối cảnh lịch sử sôi động

Giữa lúc thanh niên, học sinh nghe theo tiếng gọi của cuộc đấu tranh thì đời sống của người phụ nữ ở tỉnh lẻ ra sao ?

Hậu quả đầu tiên là tình yêu của đôi lứa tan vỡ. Trong truyện Thú Hoang, một nhóm bạn gái cùng lớn lên trong niềm vô tư, vui sướng dưới mái học đường : Đức, Liễu, Oanh, Kim, Sáo. Mỗi người có một đời sống tình cảm riêng.

Liễu thầm yêu Nam, người trưởng lớp đệ tứ thời còn học sinh. Nam dáng người cao, đạo mạo, có tài ngâm thơ, điều khiển hùng hồn bản nhạc quốc thiều vào những buổi chào cờ, tình yêu của Liễu vừa chớm nở thì Nam đi tập kết.

Đức có tài viết bích báo với cái tên Hiệp Đức, là một cô gái trâng tráo, sẵn sàng chọc tức, gây chuyện với mọi người. Đức yêu Lập, mang thai, uống thuốc phá thai trong khi Lập bỏ lên Sài Gòn hoạt động trong giới cải lương.

Oanh là người bạn tốt, vui vẻ với mọi người. Oanh có một cuộc đời phẳng lặng : Oanh lấy chồng và sống trọn đời ở tỉnh lẻ. Sáo cũng lấy chồng ở tỉnh lẻ.

Bên cạnh những người bạn đó, Kim có một đời sống tình cảm bi thảm. Kim tính trầm lặng, lãng mạn, thích màu tím, yêu văn thơ. Kim ở trọ để đi học, bị hai người con trai chủ nhà hiếp. Kim buồn khổ, nhưng Kim và Huấn yêu nhau, Huấn thông cảm nỗi bất hạnh của người yêu và tìm cách nâng đỡ tinh thần người yêu. Chính Huấn cũng đã có một thời thơ ấu bất hạnh, cha Huấn bị Tây chém, hai người anh đi bộ đội chống Pháp, tử trận năm 1946. Huấn có tài ăn nói, dễ chinh phục bạn bè. Huấn hoạt động chống Pháp trong phạm vi học đường, bằng cách phổ biến truyền đơn, báo chí, cờ xí, biểu ngữ. Rồi Huấn bị tình nghi, lo trốn tránh lưới công an, cuối cùng phải trốn thoát. Trước khi xa nhau, Huấn và Kim đã sống qua những giây phút ái ân say đắm mà kết quả là Kim mang thai. Kim cảm thấy sung sướng được mang cái mầm sống của người yêu và hết sức nâng niu cái thai. Nhưng rủi ro Kim bị tình nghi, bị bắt và bị tra tấn đến trụy thai. Từ đó con người của Kim đã đổi khác. Kim trở về sống với gia đình, làm thư ký hành chánh và bày ra chới búp bê, nâng niu con búp bê như đứa con thật của mình và âu yếm nhắc đến « Ba Huấn ». Kim và Đức ở trong hai hoàn cảnh khác nhau. Kim trở về quê sống cuộc đời của một người phụ nữ độc thân, chỉ yêu có một lần trong đời. Kim đau đớn vì mất đứa con với người yêu. Còn Đức thì muốn mau mau tống khứ cái bào thai của kẻ bạc tình để làm lại một cuộc đời mới.

Trong truyện Khung Rêu cũng có một mối tình tan vỡ vì thời cuộc, mối tình đi đến một kết thúc thê thảm. Tịnh, cháu gái của ông Phủ đã đỗ bằng thành chung và làm nghề dạy học. Tịnh yêu Hoàng, người con trai ở trọ trong nhà, tiếng vĩ cầm của Hoàng đưa Tịnh vào những mộng mơ lãng mạn, Tịnh lén bà Phủ đi chơi với Hoàng. Cô có nghề nghiệp, một ít ruộng đất và tư trang, cô quan niệm hạnh phúc rất đơn giản và thổ lộ với người yêu : Em chỉ thấy tình yêu trong khung cảnh một tỉnh lẻ mới đằm thắm nhiệm mầu. Ở đây gần thiên nhiên, có sông sau nhà, có vườn cây tràn ngập bóng mát. (tr. 290) Tình yêu đang ở giai đoạn say đắm thì Hoàng bỗng bí mật đi chiến khu. Tịnh nhớ nhung chờ đợi, rồi tuyệt vọng và dần dần chìm vào cơn điên. Bà Phủ đưa Tịnh lên Sài Gòn chửa trị, sau đó Tịnh vào dưỡng trí viện Biên Hòa và năm năm sau Tịnh chết.

4/ Người phụ nữ ở tỉnh lẻ trước sự lựa chọn : thoát ly hay chịu đựng

Trong cảnh suy tàn của giai cấp phú hộ, bà Phủ trong truyện Khung Rêu tiêu biểu cho người phụ nữ gương mẫu của thời xưa, một người phụ nữ chính chuyên, lo việc tề gia nội trợ, một mình chống đỡ cảnh nhà sa sút. Khi bà hay tin ông Phủ có quan hệ chùng lén với một người tớ gái khiến người này mang thai, bà nghiêm khắc trừng trị ông Phủ bằng cách bỏ bê việc nhà, dọn ra nhà sàn để ở riêng, bà cạo đầu và suốt ngày tụng kinh, niệm Phật ; đối với ông Phủ bà giữ thái độ im lặng, lạnh lùng. Bà có ý định tự tử khi nghĩ đến sự phụ bạc của chồng và nghĩ đến Chiêu, đứa con tật nguyền của bà, nhưng bà lại thôi vì nghĩ đứa con sẽ cần bà. Khi Tịnh, cháu của ông Phủ, bị mất trí, chính bà đã thân hành đưa Tịnh đi chửa bệnh. Và khi ông Phủ mất, bà đã bán tư trang để lo việc an táng ông Phủ một cách long trọng. Bà cao thượng tha thứ cho chồng : Bà nhìn xác chồng (…), bà nói như rên rỉ : « Mình sướng hơn tôi nhiều. Mình bỏ đi đúng lúc lắm. Nếu sống khôn thác thiên, mình hãy giúp tôi theo mình với (…). Tôi hứa kể từ đây tôi sẽ không còn hờn giận mình nữa. (tr. 347)

Đòi hỏi lớp người phụ nữ trẻ tuổi thời đó, có ít nhiều học vấn, phải noi gương bà Phủ là một điều không thể có được. Bánh xe lịch sử không bao giờ quay lùi.  Đời sống ở tỉnh lẻ vẫn còn tinh thần thủ cựu, hẹp hòi, dư luận thường phê phán khắc khe những người phụ nữ đã lầm lỡ, cảnh sống trở nên nặng nề, nhàm chán. Trong bối cảnh đó, người phụ nữ ý thức mình đứng trước một sự lựa chọn : hoặc chấp nhận một cuộc sống quá ràng buộc của truyền thống, tập tục, hoặc ra đi để xây dựng một cuộc đời tự do, tốt đẹp hơn.

Có những người phụ nữ chấp nhận ở lại. Truyện Nhang Tàn Thắp Khuya cho thấy một loạt chân dung phụ nữ trong một gia đình quyền quý : bà Đốc Phủ sứ, bà Chợ Lớn, bà Út, là ba bà vợ của ông Đốc Phủ sứ, và các phụ nữ khác : Thục Nghi, Tư Kiên, Sáu Niệm, hai chị em Hai Diệm và Ba Ngoạn, Quế Hương. Trong số các cô gái trẻ có những cô có trình độ học vấn : cô Sáu Niệm học trường Tây, cô Hai Diệm và cô Ba Ngoạn đều có bằng thành chung, họ yêu thích văn thơ. Trong khi cô Ba Ngoạn sẽ chọn một con đường táo bạo để tự giải phóng mình thì cô Quế Hương và Thục Nghi an phận với nếp sống cổ truyền. Cô Quế Hương là chủ một tiệm may, cô làm ăn phát đạt. Một ông Hội đồng Quản hạt góa vợ, hai con, hơn cô 13 tuổi, có ý định hỏi cô làm vợ. Khi hay tin, trong nhà đều kinh ngạc, nhưng cô Quế Hương tuyên bố thẳng thừng : Đối với tôi, luôn luôn chỉ cần môn đăng hộ đối. Ông ta há không phải là người có danh giá, có ăn học hay sao ? (tr. 201) Vậy là cô Quế Hương chấp nhận một cuộc hôn nhân theo lý trí. Thục Nghi là người giàu tình cảm, không hết kinh ngạc trước một người con gái như cô Quế Hương xem nặng lý trí đến mức hy sinh đời sống tình cảm. Phần Thục Nghi, cô mới 20 tuổi, sắp làm mẹ. Thục Nghi là một cô dâu được bên nhà chồng quý trọng : cô vừa đảm đang việc nhà vừa khôn khéo đối xử với mọi người. Đức, chồng của cô, yêu thương cô với một tình yêu trang nghiêm, chừng mực, Đức có xu hướng trọng nghĩa trước tình. Mà Thục Nghi thì trẻ trung, lãng mạn, khao khát một tình yêu say đắm, cho nên cô cảm thấy yếu đuối trước mối tình tha thiết của một người con trai tên Duy đồng trang lứa với cô. Cuối cùng Thục Nghi lòng buồn xao xuyến chấp nhận cuộc đời do định mệnh an bài. Thục Nghi nhìn bức tường bằng bê tông có gắn phía trên những miểng chai, bức tường biểu tượng cho sự ngăn cản, đóng kín cuộc đời của Thục Nghi từ đây. Và thành phố Vĩnh Long hiện lên qua cái nhìn buồn bã của Thục Nghi : Thành phố già nua, trầm lặng với sông rạch vây quanh, in dấu tháng ngày trống rỗng trôi qua. Buổi trưa, nắng trải lên trên các con đường tráng nhựa, cái hè phố, các dãy tiệm. Nơi đây sẽ giam hãm nàng suốt đời trong nỗi buồn duyên tủi phận, bên cạnh người chồng sớm cằn cỗi trong tâm hồn. (tr. 246)

Trong khi Thục Nghi ngoan ngoãn cúi đầu trước một xã hội bảo thủ, thì những người con gái khác nuôi mộng thoát ly. Trong một cuộc sống vẫn giữ lề thói xưa, cảm giác chung của những người con gái ở tỉnh lẻ là cái không khí ngột ngạt, khó thở, thiếu một chân trời mới lạ. Ý muốn thoát ly ám ảnh họ. Trong truyện ngắn Một Buổi Chiều (tập truyện Mèo Đêm), người con gái tên Linh sống một mình ở Long Xuyên, trong một ngôi nhà cổ, thổ lộ : Đêm nào tôi cũng nghe tiếng sông róc rách sau nhà, tiếng tàu xà lan chạy xình xịch. Đêm nào tôi cũng chìm trong những tiếng động đó. Tôi phải ra đi. Ra khỏi cái nhà này, cuộc đời tôi sẽ thay đổi (…). Cuộc đời ở đây đè nặng làm tôi nghẹt thở. (tr. 17-18)

Liễu, cô gái kể truyện trong Thú Hoang, làm nghề giảng tập viên, cũng cùng một tâm trạng, cô nói : Tôi đã từng nuôi dưỡng ý tưởng thoát ly khỏi tỉnh này, để tìm một không khí mới. Tôi sẽ rời bỏ ngôi nhà cổ âm thầm với tiếng cắc kè trên đầu kèo, như lời nguyền rủa tương lai từng đêm, với đàn chuột lắt chí chóe dưới đáy tủ nghe nhức nhối, rờn rợn trong tâm não và tôi sẽ đi trốn mùi ngan ngát của hoa hoàng lan, lẫn hoa dạ lý thơm suốt đêm làm tôi muốn chết ngộp. Tôi ngại nghe tiếng chim heo hét lên buốt óc vào lúc tảng sáng và tiếng xà lan xình xịch bên kia sông. Tôi muốn chạy trốn bối cảnh nhàm chán đó cùng những âm thanh rã rời buồn nản như cuộc sống tôi hiện tại. (tr. 23-24)

Đức, bạn của Liễu, càng quyết liệt hơn trong ý muốn rời bỏ cuộc sống ở tỉnh lẻ. Đức đã từng lầm lỡ và ý thức về những lời phê bình nghiêm khắc của người dân Vĩnh Long. Đức xem Sài Gòn như một vùng đất mênh mông hay một con sông lớn, nơi có thể bôi xóa tông tích và quá khứ của mình để xây dựng lại cuộc đời. Đức thúc giục Liễu lên Sài Gòn học Anh văn, đi làm cho Mỹ. Cô viết trong thơ cho bạn : Hãy làm thứ chim bói cá, gặp mồi là chớp liền. Sài Gòn là một con sông rộng có nhiều mồi… (tr. 22)

Nhân vật Nguyệt trong truyện Cho Trận Gió Kinh Thiên cũng có những mơ ước như thế. Nguyệt quê ở Vĩnh Long, cô là con của một người trọc phú nhiều vợ, nhiều con, ông từ bỏ mẹ của Nguyệt trước khi cô sinh ra. Nguyệt lên Sài Gòn, mang mặc cảm về tông tích của mình, cô quyết sẽ có một cuộc đời khác.

5/ Sài Gòn : một chân trời mới hay một thế giới ảo ?

Sài Gòn hoa lệ đã trở nên một huyền thoại đối với các cô gái tỉnh lẻ. Tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ không cho người đọc biết tiếp chuyện của Đức và Liễu ra sao trong cái dòng sông mênh mông có nhiều mồi. Chỉ thấy trong tuyện Một buổi chiều có cô Linh đã từng là một giảng tập viên ở Long Xuyên, trong Nắng chiều vàng có một cô giáo đến dạy học cho một cô điếm tên Mi-sen, và trong truyện dài Ngọn Pháo Bông, một cô giáo tên Lan dạy Anh văn cho các cô gái điếm. Các cô giáo trên đây có thể làm liên tưởng đến nhân vật Liễu vốn là một giảng tập viên ở quê nhà, và nếu nhìn xa hơn, người đọc sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của tác giả… Dù sao trong số các phụ nữ ở tỉnh lẻ lên Sài Gòn, đã có hai nhân vật được miêu tả rõ ràng, đó là cô Ba Ngoạn trong Nhang Tàn Thắp Khuya và Nguyệt trong Cho Trận Gió Kinh Thiên, còn lại là nhóm phụ nữ hoặc từ thôn quê bị lường gạt để lên Sài Gòn làm nghề buôn hương bán phấn hoặc những thiếu nữ vì hoàn cảnh gia đình mà bị sa vào cạm bẫy.

Cô Ba Ngoạn, như chúng ta đã thấy, sau mối tình tan vỡ vì vấn đề giai cấp, cô có những dự định to lớn. Cô là người thông minh có học, có óc tự lập và có bản lĩnh. Cô muốn thoát ly và cô sáng suốt nhận định : Tại sao một người con gái muốn sống tự lập, muốn thoát ly khỏi cái không khí nặng nề và cái lề thói cổ hủ của gia đình, thì thiên hạ trút lên đầu bao nhiêu là tội lỗi ? Nên hư gì thì cũng do mình… Cô nói với người anh của cô : Anh quên một điều là gia đình ta là gia đình có giáo dục, lại dòng dõi trâm anh thế phiệt nữa. Em không dại gì làm cho gia phong mình bại hoại đâu. (tr. 220) Cô làm thơ, viết văn, đăng trên các báo ở Sài Gòn và cô thật sự vào nghề. Cô nói : Thế nào tôi cũng phải đi. Văn đàn rất cần nữ giới đóng góp. (tr. 211) Các bậc cha mẹ : bà Hội đồng Hạc, mẹ của cô Quế Hương, ông Đốc Phủ sứ, ông Năm, cha của cô Ba Ngoạn, đều phản đối. Ông Năm lúc đầu đăng bài trên báo tìm con, rồi đăng bài từ con. Ở Sài Gòn cô Ba Ngoạn giao thiệp rộng, cô mở phòng tiếp khách để bàn luận về văn thơ gọi là salon littéraire, cô uốn tóc, học nhảy đầm, lái xe hơi, chơi quần vợt. Cuối cùng cô lấy một người Pháp, chủ nhiệm một tờ báo Pháp ngữ. Tóm lại, nơi cô Ba Ngoạn có một hiện tượng hoá thân mà gia đình ở quê nhà khó lòng theo kịp.

Nhân vật thứ hai là Nguyệt, cũng ở Vĩnh Long lên Sài Gòn. Nguyệt là một người con gái sống theo lý trí, có óc tính toán. Nguyệt thuê nhà trong một khu lao động để sống với người tình là Đồng. Một dịp để tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ đưa người đọc vào cái thế giới ồn ào, náo nhiệt của lớp phụ nữ bình dân, mà những đặc điểm là : ngồi lê đôi mách, cãi lộn và chửi bới. Những môn giải trí mà họ yêu thích là đánh bài và xem tuồng cải lương. Ngày giỗ của Đức Cửu Thiên Huyền Nữ là một biến cố trong xóm, mọi người háo hức ra vào sân miễu, nơi tiếng trống vang lên trong khói hương, đèn đuốc. Nguyệt mới dọn đến đã sớm biết chuyện của mỗi người trong xóm. Nguyệt có cảm tưởng ở đây bày ra một sân khấu chật hẹp mà mọi người trong xóm lần lượt diễn tuồng bừa bãi trước mắt nàng. (tr. 52) Từ xa đến, cô khám phá đời sống, cách ăn ở của lớp người bình dân nơi đây. Nhất là ngôn ngữ của đàn bà, một thứ ngôn ngữ thô tục, hung tợn. Đối với họ, chửi là tỏ ra có uy quyền. Họ chửi có vần có điệu, từ vựng phong phú, đem phơi bày những phần kín của thân thể, những bài tiết của thân thể. Nổi bật nhất là nhân vật bà Tư : Khuôn mặt bà nhiều thịt hum húp như bị chứng phù thủng không thể làm giảm ánh mắt sắc sảo và cặp mày xếch ngược, đầy uy quyền. Năm Út, bà Xành, bà Bảy Sánh chửi dồi dào, dai dẳng, nhưng vẫn thua bà Tư : Bà sáng tác câu chửi, bà lựa chữ thật mau lẹ, thật thú vị, thật thấm vào cơn đau xót người nghe. (tr.277) Nguyệt nhận thấy đàn bà trong xóm can thiệp vào đời sống của nhau quá nhiều, nhưng có cái hay là họ tương trợ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Vào thời đó, chiến cuộc xảy ra trên đất nước, làm xuất hiện trong xã hội miền Nam một hạng người xa lạ, nhiều tiền : người Mỹ. Riêng đối với người trong xóm, sự kiện này làm thay đổi những toan tính của họ về đời sống vật chất. Những người phụ nữ bình dân, thất học, không cần biết vì sao có người Mỹ đến đây, chỉ cần biết họ nhiều tiền và đó là một nguồn lợi đáng kể. Bà Tư Búp thường chửi bới, rẻ rúng chồng và đi làm điếm cho Mỹ, bà ta ăn mặc đẹp đẽ, đeo vàng. Còn bà Ngộ và bà Ba Xành khi xưa đi làm bếp cho Tây và còn mần việc khác nữa, nay bà Ngộ muốn giới thiệu cho bà Ba Xành một người Mỹ để nấu ăn. Bà Ngộ còn muốn cho bà bạn của mình mượn cuốn sách để học tiếng Mỹ. Hồi mới đi làm cho Mẽo, cũng nhờ nó mà tôi nói một vài tiếng Mẽo. Khổ cho bà Ba Xành là bà mù chữ. Nhưng lời đề nghị của bà Ngộ cũng đủ làm cho bà Ba Xành sung sướng khi bà nghĩ bà sẽ có tiền sửa sang nhà cửa, trong nhà bà sẽ có đủ tiện nghi : quạt máy, tủ lạnh, ti vi, bếp ga, bàn phấn, giường nệm mousse…

Nguyệt cũng đi làm cho Mỹ, nhưng ở mức độ cao hơn : cô làm thư ký cho một sở Mỹ. Nguyệt bị Hưng, người tình thứ nhất phụ bạc, vả chăng cô cho đó là một mối tình quá tinh khiết, cô muốn tình yêu phải đi kèm với những rạo rực của thể xác. Đối với Đồng, một thanh niên đẹp trai nhưng bị chột mắt, thì cô không có tình yêu, chỉ lạm dụng tình yêu và lòng tốt của Đồng, cô quan niệm Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài, mặc dù Nguyệt chỉ muốn Đồng là người tình, không là chồng. Nguyệt luôn luôn tính toán, vụ lợi. Trước kia, tuy bị người cha trọc phú bỏ rơi, nhưng Nguyệt vẫn mơ được hưởng gia tài, nên cô theo đạo Thiên Chúa, đi nhà thờ. Vì cha của cô tuy nhiều vợ nhưng vẫn theo tôn giáo này. Khi thấy việc đi nhà thờ không làm lung lay người cha, cô không giữ đạo nữa. Với đàn ông cô còn tính toán xa hơn : sau Hưng và Đồng, cô nhắm người Mỹ. Cô muốn lăn vào một cuộc phiêu lưu với nhiều người đàn ông. Trong thời gian sống với Đồng, Nguyệt đi chơi với mấy người Mỹ trong sở. Bob Granger, viên trưởng phòng, đưa cô đi ăn ở nhà hàng, cầu hôn với cô và hứa sẽ đưa cô về sống ở Philadelphia, nhưng Nguyệt không mấy ham thích đời sống ở Mỹ vì khác văn hóa, cô chỉ nuôi mộng giàu sang, trở về quê nhà làm lóa mắt mọi người. Thế là Nguyệt bỏ Đồng, rời xa xóm lao động. Cô trở thành chiêu đãi viên hàng không, buôn lậu và trở nên giàu có.

Ở Sài Gòn, Ba Ngoạn và Nguyệt là hai mẫu người phụ nữ leo thang trong xã hội, người hoan hỉ chọn lựa con đường văn hóa, kẻ tìm hạnh phúc trong thế giới tiền bạc. Đối với họ, Sài Gòn là một chân trời mới. Nhưng đối với giới phụ nữ sống về đêm thì Sài Gòn là một thế giới ảo khiến họ trượt chân rơi xuống vực thẳm của sa đọa. Tập truyện ngắn Lao Vào Lửa và truyện dài Ngọn Pháo Bông là những truyện về chủ đề gái điếm. Có những cô gái vì hoàn cảnh gia đình sa sút, vì rủi ro nên sa vào con đường phải bán thân như cô Tú, trong truyện ngắn Lao Vào Lửa ; cô là con một ông phu xích lô bị bại liệt, không còn khả năng nuôi một bầy con tám đứa, cô Tú đành trở thành cô Tina rước khách ở bar Honeymoon.

Truyện Ngọn Pháo Bông kể cuộc đời của một cô gái điếm tên Thắm. Từ một cô gái quê mùa thất học, bị hiếp năm 18 tuổi, Thắm bị một người đàn bà dụ dỗ đưa lên Sài Gòn và lần lần trở thành một cô điếm hạng sang, có nhiều khách Mỹ, được đàn em kính nể. Vào tuổi 40, Thắm bâng khuâng nghĩ vể cuộc đời sa đọa của mình, ao ước bỏ nghề và tạo một gia đình bình thường, đôi khi Thắm nhớ về quê nhà có cảnh ruộng đồng. Ngọn Pháo Bông có dáng dấp một tiểu thuyết trinh thám. Vào truyện có cảnh Thắm bị giết ngay trong phòng của cô, và Cường, người đàn ông sống nhờ vào cô, đã biến mất, tiền bạc và tư trang của cô không còn nữa.

Đối với hạng phụ nữ bị bắt buộc hay tự do chọn lựa lối sống phóng đãng sa đọa, vào một lúc nào đó họ phải đối đầu với một vấn đề hệ trọng : vấn đề làm mẹ.  Trong truyện ngắn Gái Độc Không Trái (tập truyện Chiều Mênh Mông), người kể truyện là một cô gái điếm gần 40 tuổi, cô này đã phá thai nhiều lần, lần này cô lại mang thai, người bạn tên Thành giới thiệu với cô một y tá có tiếng phá thai không làm đau đớn. Cô ta nghĩ : …tôi đâu phải là hạng đàn bà nặng tình mẫu tử (…). Thế giới của tôi là quán rượu chìm lờ mờ trong cảnh đèn đỏ, trong khói thuốc như sa mù buổi sáng. Cuộc đời của tôi thu gọn trên chiếc giường… Cũng có lúc cô ta nghĩ đến cuộc đời làm mẹ, nghĩ đến tình mẫu tử, nhưng rồi cô ta bị cuộc sống quen thuộc cuốn đi.

Người gái điếm ý thức thân phận thấp hèn của mình trong xã hội : Đi đâu ai mà chẳng biết danh tụi tui là me Tây me Mỹ. Người ta lúc nào cũng kêu mình là « con đĩ » chớ có ai tôn làm « bà đĩ » bao giờ đâu… (Nắng chiều vàng, tr. 70, Mèo Đêm)

Qua những cuộc biến thiên của đất nước, từ thời Pháp đô hộ đến thời kháng chiến, thời đất nước phân chia đưa đến cuộc chiến tranh Nam Bắc, xã hội miền Nam đã biến đổi nhiều, và thân phận người phụ nữ cũng nổi trôi theo những biến đổi đó. Sống trong một xã hội bảo thủ với những kỷ cương xưa cũ, người phụ nữ có ý muốn thoát ly để tự giải phóng mình. Mặt khác, một hiện tượng xã hội đã xảy ra trong thời chiến : sự hiện diện của người Mỹ làm nảy sinh lòng tham lam tiền bạc nơi một số người phụ nữ khiến họ mất phẩm giá, mất đạo đức. Đây là mặt trái của xã hội miền Nam. Khi phơi bày mặt trái này, tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ có quá bi quan chăng ? Dù sao xã hội miền Nam cũng có một bộ mặt tích cực với những người phụ nữ đã có những bước tiến khá dài trên con đường văn hóa để tự giải phóng mình và để tiến dần đến vấn đề nữ quyền. Nhưng nếu cho rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ miêu tả mặt trái của xã hội thời đó thì hoàn toàn không đúng. Đọc tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng ta sẽ thấy cái nhìn của bà bao quát cả nữ giới, đặc biệt nữ giới ở tỉnh lẻ đồng bằng sông Cửu Long. Với trải nghiệm của bản thân, tác giả thấu rõ đời sống tâm lý phong phú, đa dạng của người phụ nữ. Bà miêu tả sự khắc khoải, những ray rứt âm thầm của tâm hồn người nữ, những vùng vẫy, chờ đợi, khát khao, mong ước, và khi gặp nỗi thống khổ thì chỉ biết chịu đựng cho đến lúc tâm thần suy sụp, có khi lại mạnh dạn ra đi.

Điều đáng chú ý là Nguyễn Thị Thụy Vũ tự tạo cho mình một nghệ thuật miêu tả hướng về thị giác ; truyện của bà mang nhiều màu sắc, màu sắc áo quần người phụ nữ, màu sắc của đồ vật trong không gian, của thảo mộc trong thiên nhiên, đôi khi quá nhiều màu sắc làm choáng ngợp ; sau thị giác là khứu giác, đặc biệt trong  Khung Rêu : mùi bồ kết, mùi hoa nguyệt quế và mùi dạ lý, mùi hoa bưởi lẫn hoa cau, mùi trái cây chín, v.v…. Mùi thơm của các loài hoa trong vườn, đôi lúc quá ngào ngạt, quá dai dẳng khiến người con gái muốn rời bỏ nơi chốn để đi xa, có lúc mùi thơm lại làm người con gái càng thêm lưu luyến với cái nơi sống của mình. Tác giả cũng thường nhân cách hóa thiên nhiên : Mặt trời đang dãy chết bên kia sông… Sự vắng ngắt của buổi chiều ôm chầm lấy tôi và dìm tôi như muốn ngộp thở…

Với một nghệ thuật miêu tả rất riêng biệt như thế và với một ngôn ngữ rặt miền Nam, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã vẽ lên một bức tranh của nữ giới theo sự thăng trầm của đất nước và trong một xã hội có lắm đổi thay.

 

(1) Tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đều được Hội Nhà Văn tái bản năm 2017.

 

Paris, tháng 11 – 2018

 

 

 

 

SÁNG TẠO CỦA THẢO TRƯỜNG

 

Văn học miền Nam tuy có một tuổi thọ rất ngắn, nhưng chỉ trong vòng hai mươi năm, biết bao tác phẩm đã nở rộ trong một bầu không khí tự do, ngoài sự thống trị của mọi hệ tư tưởng, ngoài mọi áp bức chính trị. Tác phẩm của Thảo Trường đã thành hình trong bối cảnh đó, và đã góp phần xây dựng nền văn học miền Nam mà Thảo Trường là một trong những nhà văn trụ cột.

Năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, một thanh niên 18 tuổi tên Trần Duy Hinh, về sau trở thành nhà văn lấy bút hiệu Thảo Trường, đã rời bỏ quê hương miền Bắc, đành giã từ người mẹ thân yêu để theo làn sóng di cư vào Nam. Đối với người thanh niên này, một cuộc phiêu lưu bắt đầu từ đây, phiêu lưu qua những biến cố lịch sử, qua khói lửa chiến tranh, qua ngục tù cộng sản, để cuối đời trôi giạt đến một cái xứ xa lạ, và từ biệt cõi đời ở đấy. Nhưng cuộc phiêu lưu đã đem lại cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm để đời.

Cũng như Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường cầm bút rất sớm, đồng thời ông cũng làm bổn phận của một người trai thời loạn. Ông nhập ngủ và dấn thân cho chính nghĩa Quốc gia. Ở Thảo Trường, chữ nghĩa đồng hành mật thiết với trải nghiệm và suy tư. Chữ nghĩa được cân nhắc, nâng niu, quý trọng để nói dùm tác giả bao ưu tư, bao sầu muộn trước sự đảo điên của thế cuộc.

Thử Lửa là tập truyện ngắn đầu tay của Thảo Trường, xuất bản năm 1962. Trong một cuộc phỏng vấn do Đặng Phú Phong thực hiện    trên diễn đàn Saigon Times, tháng 8 năm 2008, Thảo Trường cho biết những truyện ngắn trong Thử Lửa đều được viết từ 1956 (năm ông 20 tuổi) đến 1960, và đều đăng trên tạp chí Sáng Tạo. Thử Lửa mở đầu cho một loạt tác phẩm, những tập truyện ngắn như : Chạy trốn (1964), Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp (1966), Chung cuộc (1968) ; về tiểu thuyết thì có : Vuốt mắt (1969), Bên trong (1969), Th. Trâm (1969), Ngọn đèn (1970), Cánh đồng đã mất (1971), Bên đường rầy xe lửa (1971), Người khách lạ trên quê hương (1972), Lá xanh (1972), Cát (1974), và trường thiên tiểu thuyết Bà Phi đăng feulleton trên báo trước 1975, dài mấy nghìn trang. Ngoài ra, Thảo Trường có một tập tùy bút : Hà Nội, nơi giam giữ cuối cùng (1973).

Sau một thời gian dài gác bút vì ở tù cộng sản trong 17 năm, tác giả cầm bút trở lại ở hải ngoại, và cho ra các tác phẩm như những tập truyện ngắn : Tiếng thì thầm trong bụi tre gai (1995),  Tầm xa cũ bắn hiệu quả (1999), Miểng (2006), và ba tiểu thuyết : Đá mục (1998), Mây trôi (2002) và Thềm đá xanh rêu (2007). Chưa kể nhiều tiểu thuyết khác mà Thảo Trường dự định cho xuất bản, nhưng rủi ro ông lìa đời trước khi các dự định được thực hiện.

Ngần ấy tác phẩm chứng tỏ sức viết của Thảo Trường rất dồi dào, kiên trì. Có thể nói, sáng tạo của Thảo Trường trải qua ba thời kỳ mà tôi gọi : thời của dòng sông, thời khói lửa và thời xa xứ.

Thời của dòng sông

Trong những năm đầu sống ở miền Nam, Thảo Trường là một thanh niên mới lớn, vừa nhập vào cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam, nên có những trăn trở, ray rứt rất sớm. Trong các truyện đầu, Thảo Trường thường nhắc đến tuổi thơ, nói đến tình yêu đôi lứa với những bâng khuâng, những ảo tưởng của tuổi trẻ, rồi đến vấn đề chết, một vấn đề lớn lao của con người. Và từ ý nghĩ tự do lựa chọn một cái chết, tác giả hướng về con sông Bến Hải tượng trưng cho sự chia đôi đất nước. Ý muốn dấn thân bắt đầu từ đây chăng ?

Chủ đề chết hiển hiện trong tập Thử Lửa. Có một truyện mang tựa đề Xác chết. Trong truyện Cái hố, người con trai thắc mắc về sự chết chóc, nó muốn biết cái mùi khét khi da thịt bị đốt cháy. Còn truyện Trần gian kể một vụ tự tử hụt,  nhân vật muốn tự tử vì chưa tìm thấy chân lý ở đời. Trong truyện Làm quen có hai loại chết : cái chết do mình muốn và cái chết do kẻ khác gây ra. Một người con gái trước ngày cưới bỗng nhiên tự tử, cô ta có cái ý nghĩ điên rồ là chết để người yêu, một họa sĩ, vẽ mình sau khi mình chết và vẽ … tình yêu. Còn cái chết kia là cái chết của hai người do một tai nạn giao thông gây ra. Trong những suy nghĩ về cái chết trong truyện này thấp thoáng màu sắc của thuyết hiện sinh. Trong cuốn L’existentialisme est un humanisme (Thuyết hiện sinh là một chủ nghĩa nhân văn), tác giả Jean Paul Sartre viết : … không có thuyết quyết định, con người tự do, con người là sự tự do (…) con người bị đày phải tự do. Bị đày, bởi vì con người không tự tạo ra mình, và mặt khác con người lại tự do, bởi vì một khi bị vứt ra trên đời, con người chịu trách nhiệm về tất cả những điều mình làm.

Nhân vật của Thảo Trường thì nghĩ : Mình đã không có thẩm quyền gì về sự sinh ra của mình, thì ít nhất để đền bù lại mình cũng phải có ý kiến, thái độ về cái chết của mình chứ. Phải làm thế nào trên đời này không còn những bất trắc. Cái chết là việc quan trọng nhất trong đời sống. Vậy thì sự chấm dứt của mỗi cá nhân phải do chính cá nhân ấy định đoạt. Như thế để chứng tỏ kể từ khi ra đời mình cũng đã biết được mình, mình hoàn toàn tự do. Cái chết của tôi, tôi đã định đoạt trước, vì vậy tôi nhập ngũ. (tr. 84)

Cái chết được nhân vật chọn lựa không phải là đơn giản tự sát, một hình thức tiêu cực ; nhân vật chọn cho cái chết của mình một ý nghĩa cao đẹp, đó là dấn thân cho đất nước bằng cách nhập ngũ. Dấn thân cho đất nước vào một giai đoạn rối  bời, khiến con người ngẩn ngơ. Đối với nhân vật trong truyện, nhập ngũ là để đối phó với một đe dọa lớn : sự chia đôi đất nước mà con sông hiền hòa kia bị bắt buộc đóng cái vai trò biểu tượng. Trong thời kỳ sáng tạo đầu đời này, Thảo Trường đã bị con sông ám ảnh và linh cảm một tương lai không mấy sáng sủa. Cho nên tôi gọi thời gian này là thời của dòng sông.

Trong truyện Làm quen, khi người kể truyện đứng gác trên lô cốt, nhìn về dòng sông thì có những trăn trở về sự phân chia địa lý, nhưng tin tưởng không có chia cách trong lòng người :

Ý nghĩ đầu tiên của tôi về con sông này : nó chỉ là biên giới của đất đai, nó không là biên giới của tư tưởng. Người bên kia hay bên này không qua lại nhau, nhưng những tư tưởng phát sinh từ tâm hồn người bên này hay bên kia thì cũng nẩy nở sang bên kia hay bên này (…) Quốc lộ vẫn bò dài nam bắc, chiếc cầu qua sông rất vững chắc, nước chảy hiền từ. Tôi cố gắng phân biệt ra biên giới nhưng không được, vẫn chỉ là làng mạc, đồng ruộng và đường đi, muôn đời muôn thuở vẫn là hình ảnh quê hương tôi. Dù đã bị giới hạn cái quyền tự do tung tăng chạy nhảy trên đất nước, để phải dừng chân ở ngọn đồi này, tôi cũng vẫn tự bảo mình rằng bên kia là của mình, phải là của mình. Mười ba triệu người đằng sau tôi chắc cũng tin như vậy ? Tôi đứng gác ở tiền tuyến cho nửa dân tộc yêu nhau và tin tưởng con sông trước mặt tôi sẽ không là biên giới. (tr. 89-90)

Nhân vật trong truyện từ chối sự phân chia lãnh thổ một cách vô lý, để vẫn tha thiết yêu thương cái không gian bên này và bên kia gọi là quê hương, vẫn nhận thức không gian đó là sở hữu thiêng liêng của mình.

Đặc biệt truyện Mầu và sắc nói lên nỗi trăn trở, buồn phiền về sự ngăn chia và niềm tin vào tình yêu thương của con người. Truyện Mầu và sắc là nỗi niềm của một nhà giáo đã từng sống gần con sông chia đôi đất nước, và sắp rời xa nơi này. Nhân vật bâng khuâng : Cũng chỉ là một dòng sông, cũng chỉ là một chiếc cầu (…) Tôi chưa giám dùng chữ biên giới, có lẽ vì trong tôi nó còn tiềm ẩn một niềm tin. (tr 15) Có những cái không thể chia cắt được : … không khí tôi thở có thể là từ bên này hay bên kia bởi làn gió hiu hiu từ cửa biển thổi vào. (tr. 15)

Trong suy nghĩ của một nhà giáo có nhiệm vụ gieo trong tâm hồn của trẻ thơ tình yêu thương mọi người, có sự cần thiết bỏ đi những chướng ngại gây chia rẽ : những cuộc biểu tình, những biểu ngữ, khẩu hiệu, những bản đồ tham mưu, những chiến lược. Phải phá tan sự dửng dưng của hai người cán bộ đứng gác ở hai đầu cầu, hai người không bao giờ cười với nhau. Nhưng phải công nhận khó mà hàn gắn sự chia cắt : Nhưng thực ra vấn đề không ở con sông, không ở chiếc cầu, không ở cột cờ. Nó ở trong lòng con người hai miền, nó ở trong lòng chúng ta. (tr. 23) Cũng như trong truyện Làm quen, ở đây nhân vật cũng tra vấn sự vô lý của một phân chia đất đai, một chia cách lòng người.

Phải nói dòng sông là một đề tài gây trăn trở, bứt rứt, một ám ảnh của Thảo Trường. Nhưng đã đến lúc không còn bâng khuâng về vai trò vô lý của con sông nữa. Bánh xe lịch sử vẫn quay, và bộ mặt hung thần của chiến tranh đã hiện đến cận kề.

Thời khói lửa

Khi chiến tranh lan tràn khắp nơi, Thảo Trường bước qua một giai đoạn mới : ông dấn thân hết mình, ông đi tác chiến dọc ngang trên khắp lãnh thổ miền Nam. Và khi cầm bút, ông không còn loay hoay với những khắc khoải về sự phân chia đất nước, sự chia cắt tình người, giờ đây ông thao thức, ông bị dằn vặt bởi thân phận con người trong chiến tranh. Có hai truyện ngắn có thể tượng trưng cho thời kỳ sáng tạo này. Một truyện rất nổi tiếng : Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp, ra năm 1964, và một truyện ít được người đọc biết đến, đăng trên tạp chí Đất Nước, số 6, tháng 9 và 10 năm 1968, truyện : Trong hầm trú ẩn. Trong hai truyện này, tác giả miêu tả hoàn cảnh sống của hai nạn nhân chiến tranh. Thảo Trường có lối viết rất sâu sắc, người đọc khó quên những nhân vật của ông.

Truyện Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp là truyện một người phụ nữ quê mùa, nạn nhân của thời cuộc, bị ép giữa hai chủ nghĩa cộng sản và Quốc gia. Vào truyện, tác giả khéo léo dàn cảnh thiên nhiên : một con kinh dài với những con lạch chảy từ một cánh đồng bao la tràn vào. Đường đi nhỏ hẹp có những chiếc cầu khỉ. Cây cối hai bên bờ quá um tùm đến nỗi ánh sáng mặt trời khó len lõi vào đến mặt nước, nhà cửa lưa thưa đây đó. Chị Tư lớn lên và sống trong cái không gian của nước và thảo mộc này. Chị không hề biết đến cái thế giới lớn lao bên ngoài. Chị lập gia đình với anh Tư, vợ chồng chỉ sống với nhau sáu tháng, sau đó anh Tư đi tập kết biền biệt. Nơi chị Tư sống ngày càng không yên. Có những người lạ mặt, bạn anh Tư, lúc đầu thấp thoáng trong khu xóm, dần dà ra mặt hẳn hòi. Có tiếng súng nổ, đồn dân vệ bị đốt cháy. Chị Tư phải học tập chính trị, chị sành sõi với những danh từ « tự do », « dân chủ », « căm thù », v.v… Nhưng quân đội Quốc gia trở lại, đồn dân vệ được xây cất lại. Lần này chị Tư học tập với phía Quốc gia, chị biết rành rọt Ấp chiến lược là gì. Sự hiểu biết của chị giàu thêm, chị biết tới hai chủ nghĩa : cộng sản và nhân vị. Nhân vị là một triết thuyết được chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm đề cao. Nhưng, một lần nữa, những xây dựng của phía Quốc gia bị tàn phá, « Ấp chiến lược » trở thành « Ấp chiến đấu » của các anh cán bộ. Một hôm chị Tư được giao phó một trọng trách. Cần nhớ trong suốt thời gian chị tiếp xúc với các anh cán bộ, thỉnh thoảng chị nhận được thư anh Tư do các anh này chuyển lại. Anh Tư không nói gì đến tình vợ chồng, trong khi chị Tư cảm thấy cô đơn, anh chỉ khuyến khích chị chuyên tâm tranh đấu. Chị được đề cử đi binh vận, chị phải lên chợ quận mở một quán cháo với một người cán bộ vờ làm em chị và vờ gia nhập dân vệ. Chị Tư nhận lời một cách miễn cưỡng. Ở quán cháo chị Tư quen biết với một anh binh sĩ truyền tin. Hoàn cảnh đưa đẩy chị Tư dan díu với cả hai người : người cán bộ, chú em vờ và anh binh sĩ truyền tin. Chẳng bao lâu chị mang thai, chị lấy làm lo lắng, không biết cái thai là con của ai. Người cán bộ nói cái thai là con của Đảng. Chị Tư bơ phờ trở về ngôi nhà lụp xụp bên bờ con kinh. Người cán bộ đã đào ngũ dân vệ, đi theo chị và không ngớt hà hiếp chị, áp bức chị. Một hôm anh ta bắt chị phải tự tay kẻ một biểu ngữ « Đả đảo Đế quốc Mỹ », tự mình leo lên cây, gắn biểu ngữ và tự tay buộc một trái lựu đạn sau tấm biểu ngữ. Tác giả dùng kỹ thuật lặp lại để nói lên sự khó nhọc của người đàn bà mang thai gần đến ngày sinh : Chị Tư ì ạch kẻ khầu hiệu (…). Chị Tư ì ạch vác thang ra gốc cây trước nhà. Chị Tư ì ạch mang cái bụng chửa lên thang. Chị Tư ì ạch đóng đinh tấm bảng. Chị Tư ì ạch cột sợi giây oan nghiệt từ chốt lựu đạn sang một cành cây, trước cặp mắt khuyến khích của anh cán bộ đứng dưới. (tr. 11)

Rồi cuộc hành quân của quân đội Quốc gia dừng lại ở con kinh. Các cán bộ đều biến mất. Trong khi toán lính đi lục soát bên ngoài, thì người sĩ quan chỉ huy vào nhà chị Tư, quan sát khắp nơi. Một người lính vào báo tin có một khẩu hiệu đả đảo Mỹ. Người sĩ quan ra lệnh không ai được đụng vào cái khẩu hiệu ; đã có hai người lính bỏ mạng vì giật một khẩu hiệu, làm nổ một trái lựu đạn ở phía sau. Khi biết chính chị Tư đã treo khẩu hiệu và gài một trái lựu đạn, người sĩ quan ra lệnh cho chị ra gỡ xuống, chị Tư van lạy ông ta vì chị sợ chết. Người sĩ quan lại biết thêm chồng chị Tư đi tập kết đã mười năm, ông ta lớn tiếng bắt chị phải ra gỡ trái lựu đạn, ông ta rút súng, chị Tư đâm hoảng. Chị Tư ì ạch với cây gậy dựa nơi góc nhà. Chị Tư ì ạch bước ra gốc cây. Chị Tư ì ạch dơ gậy lên giáng thật mạnh vào tấm bảng (…). Khi trái lựu đạn rơi xuống, chị bỏ chạy, toán lính thì nằm rạp xuống đất. Nhưng lựu đạn không nổ. Chị Tư té nhào xuống đất, chị bị động thai. Người sĩ quan bế chị vào nhà, đặt chị lên giường. Đêm hôm đó chị sinh một đứa bé thiếu tháng, và người sĩ quan đã làm cái công việc đỡ đẻ cho chị một cách tận tụy ; ông ta cảm thấy vui khi nghe đứa bé khóc. Lần đầu tiên chị Tư và người sĩ quan mỉm cười với nhau. Mấy hôm sau người sĩ quan đi khai sinh cho đứa bé, vì chị Tư không biết cha nó là ai, người sĩ quan bèn cho đứa bé tên họ của mình.

Truyện kết thúc bằng một lời nhắn tin của người sĩ quan với đứa bé khi nó lớn lên. Người sĩ quan nhắn với nó rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào, trước khi  quyết định làm một việc gì, nó phải nghĩ đến nỗi thống khổ của một người đàn bà mang thai, nghĩ đến những người mẹ đã bị nhiều chủ nghĩa hành hạ. Xin cậu hãy nghĩ tới cái hình ảnh đó (…) vì tôi chính là tên sĩ quan đã hành hạ mẹ cậu, đã đỡ đẻ cho mẹ cậu sau khi các đồng đội của tôi chết vì những thứ khẩu hiệu như cái khẩu hiệu « Đả đảo Đế quốc Mỹ » ấy.

Trong truyện Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp, những biến cố xảy ra dồn dập như để nhanh chóng đẩy người phụ nữ vào một hoàn cảnh không lối thoát, nỗi bất hạnh như giáng xuống thân phận một con người chỉ biết hứng chịu. Như đã nói, chị Tư bị ép giữa hai chủ nghĩa, chị đối diện với hai quyền lực mâu thuẫn nhau, chịu sự áp đặt của hai guồng máy tuyên truyền chống đối nhau, và cả trong thú nhục dục, chị hưởng thụ với hai đại diện của hai chủ nghĩa chống đối nhau. Tác giả dùng trạng từ ì ạch để nói lên sự khốn khổ của chị Tư trước hai quyền lực : chị tuân lệnh anh cán bộ cộng sản ì ạch leo lên cây, gài trái lựu đạn, chị tuân lệnh người sĩ quan Quốc gia ì ạch gỡ trái lựu đạn. Bên nào cũng hành hạ chị, bắt chị ì ạch gài, gỡ. Nhưng cuối cùng chị mỉm cười khi chị phát hiện lòng nhân ái của người sĩ quan.

Truyện ngắn thứ hai là truyện Trong hầm trú ẩn. Từ một con kinh ở miền Đồng tháp, người đọc đi vào không gian một khu xóm gần thành phố, để gặp một nạn nhân khác của chiến tranh.

Mở đầu truyện Trong hầm trú ẩn, cảnh chiến tranh tạo ngay một không khí bất an, gây lo sợ : trực thăng vần vũ trên trời, những tràng hỏa tiễn rơi xuống, những tiếng nổ làm rung chuyển nhà cửa.

Miện, nhân vật trong truyện, trước khi trở thành một người tàn phế, đã từng chỉ huy một tiểu đội, tham dự nhiều trận đánh, có lần chiến công của anh đã vang lừng trong dư luận. Nhưng rồi anh bị trọng thương, chân phải bị cưa, anh được lệnh giải ngũ, từ đó anh về sống với vợ con ở cái khu xóm ngoại ô này. Hằng ngày Miện giữ con cho vợ đi làm, anh cũng thường khập khiễng trên đôi nạng gỗ, ra quán cà phê uống nước, kể cho lũ trẻ con nghe cái thời oanh liệt của mình. Vợ Miện đi làm thuê ở một sở Mỹ, thường đem về những hộp thịt, thuốc hút, bia và các sản phẩm thường dùng của Mỹ. Chị ta cũng đem về những cái bao không, Miện liền đi đào đất bỏ đầy bao và kéo về nhà, chồng chất quanh bộ ván ngựa để làm thành cái hầm trú ẩn. Một hôm vợ Miện chạy về nhà than không đi làm được, vì có những người lính mang súng, ăn mặc lộn xộn, lạ lùng, đứng gác khắp nơi và xua mọi người trở về nhà. Vợ Miện lo sợ nếu không đi làm thì sẽ bị đuổi, Miện chống nạng lê chân đến khe cửa nhìn ra ngoài, rồi nói nhỏ với vợ : Tụi nó. Vậy là chiến tranh đã tràn đến cái khu xóm ngoại ô này. Miện bị vây hãm, và ngôi nhà tôn của hai vợ chồng cùng cái hầm trú ẩn trở nên cái không gian chật hẹp cầm tù Miện. Khi nghe tiếng súng nổ, Miện lầm bầm : Tiên sư mấy anh Cộng sản. Nhưng Miện có tới hai kẻ thù : Cộng sản và Mỹ. Đối với Mỹ, Miện không cần nhìn xa hiểu rộng với những lập luận chính trị, hệ tư tưởng gì cho rắc rối. Không, anh chống Mỹ chỉ vì… anh ghen, vì sợ người Mỹ xúc phạm đến vợ mình. Miện tưởng tượng người Mỹ thèm muốn phụ nữ Việt Nam, và lợi dụng địa vị làm chủ có nhiều tiền của họ để cưỡng ép những người phụ nữ nghèo, làm dưới quyền họ. Cho nên Miện không ngớt tra hỏi vợ, mặc dù chị vợ quả quyết không có chuyện gì, Miện vẫn không yên lòng. Có lần vợ Miện cười, tỏ vẻ coi thường cử chỉ ve vãn của người Mỹ, Miện liền tát vợ một cái tát nảy lửa. Nhưng rồi anh xin lỗi vợ, tỏ lòng thương yêu vợ và lấy làm khổ tâm. Miện nói : Em như thế này. Cổ trắng như thế này. Vai đầy như thế này… Đến anh… mà anh còn hằng ngày thèm muốn huống hồ tụi nó, tụi dâm đảng đó, tránh sao chúng không tìm cách gỡ gạc.

Tuy chống Mỹ, nhưng thường ngày Miện vẫn ăn đồ hộp của Mỹ, vẫn hút thuốc Mỹ. Lòng anh uất ức, quặn đau. Anh đối mặt với hai kẻ thù : kẻ thù ở ngoài kia, đang mang súng AK, làm chủ khu xóm, và kẻ thù trong nhà, ngay trong hầm trú ẩn, hiện diện trong các món ăn, đồ uống, nó bám chặt lấy anh và như trêu cợt anh, anh không làm sao thoát khỏi kẻ thù này. Bị dằn vặt, Miện lầm lì bỏ ăn. Người vợ không hiểu, cằn nhằn, trách anh không ăn sao không nói trước để chị ta lỡ mở hộp thịt, giờ phải vứt đi, thật là phí, thời buổi khó khăn, đâu phải ai cũng được ăn các thứ đó. Thường khi Miện hay nói : Đồ vứt đi. Đồ của Mỹ. Mẹ cóc ăn làm đếch gì mà mang về. Lần này nghe vợ trách, Miện phát cáu : Đổ cho chó nó ăn. Vợ trả lời nhà không có chó. Miện nói : Thì đổ đi và coi như tôi đã ăn rồi, ăn hết rồi. Con chó này đã ăn hết rồi. Được không ?

Nỗi đau xót xa nhất của Miện là cái thân thể tàn phế của anh, khiến anh không còn chiến đấu được nữa. Anh tiếc không còn được vẫy vùng như trước kia : Mẹ cóc chúng đứng ngơ ngơ như thế kia mà không thấy thằng lính nào phe mình vào cả. Ngày xưa tao đâu có chịu thế. Tao nhào vào làm liền. Bây giờ chúng nó ỉ có trực thăng của tụi Mỹ, động một tí là kêu trực thăng bắn tùm lum, làm sao không cháy nhà cháy xóm (…) Tao mà không tàn tật như thế này. Chúng mày sức mấy còn đứng đây. Cái chân cụt của Miện trở nên một ám ảnh, anh thường lầm bầm trong miệng : Mẹ cóc ông mà không bị cụt chân (…) Tao mà không cụt chân thì phải biết (…) Mẹ cóc thằng nào nó tỉa mình mà độc quá.

Miện trở nên bất lực trước cuộc đời, chẳng những anh không còn là một người lính ra trận mà anh còn ăn nhờ vào sức lao động của vợ. Anh lấy làm tủi hổ : Phải, em đi làm cực khổ nuôi anh. Anh biết và anh thấy nhục quá. Anh què rồi mà. Anh muốn chết quá !

Cuộc chạm trán với kẻ thù bên ngoài xảy ra hai lần. Lần đầu một người cộng quân đứng trước nhà nói với Miện :

Còn ông nội này nữa. Cụt chân hả ? Chắc lính chứ gì. Có vào trong nhà ngồi không hay định nấp nom rình mò gì quân đội nhân dân đây.

Vợ Miện lanh miệng :

Dạ thưa các anh, nhà tôi không phải lính. Nhà tôi bị đụng xe

Miện nổi nóng, muốn chửi lại, nhưng vợ Miện đã nhanh nhẹn đóng cửa, kéo Miện vào trong nhà và dịu dàng vuốt ve anh. Nhưng Miện quát : Việc chó gì phải nói dối. Cứ nói mẹ nó là tao đi đánh chúng nó bị thương đó. Tao đâu có đụng xe mà nhục mạ tao. Mẹ cóc chứ thân này đã kể như bỏ rồi. Vứt đi rồi. Phế thải rồi.

Lần chạm trán thứ hai với kẻ thù là khi hai người lạ mặt cầm súng đập cửa bước vào, hạch hỏi và bảo có gì ăn thì đem ra ủng hộ bộ đội. Rồi một người hỏi Miện :

Anh làm gì ?

Thất nghiệp (…) Vợ tôi làm bồi cho Mỹ. Tôi ăn nhờ nó.

Hai người cầm súng mỉa mai :

Sướng nhỉ !

Miện gật đầu :

Sướng.

Rồi hai kẻ lạ mặt lên giọng khiêu khích :

À anh chàng cụt chân. Hạ sĩ phải không ? Tụi tôi biết rồi (…) Sao ? Bây giờ còn bắn súng được nữa không ? Sao không đi lính nữa đi ?

Miện phải cố hết sức để đừng chửi lại. Vợ Miện nhanh nhảu đưa mấy hộp thịt, rồi vội vàng đóng cửa. Chị lại vuốt ve mơn trớn chồng, khuyên chồng nên nhẫn nhục.

Truyện của Thảo Trường như một hình ảnh chớp nhoáng của một hoàn cảnh trong chiến tranh. Ngôn ngữ của nhân vật Miện là ngôn ngữ của phẫn nộ, của cay đắng tận cùng ; khí giới của Miện không còn là cây súng, chỉ còn lời nói, Miện đã trút vào lời nói tất cả những căm phẫn, uất ức của con người bị dồn vào tuyệt vọng.

Truyện ngắn Trong hầm trú ẩn của Thảo Trường nói lên thân phận bi đát của con người trong thảm họa chiến tranh. Miện đương đầu với kẻ thù ngoài mặt trận vì chính nghĩa. Miện, nếu còn sống sót, thì không còn là con người như trước kia nữa. Anh rơi vào tình trạng bất lực. Ban đêm nằm trong hầm trú ẩn có ánh sáng hỏa châu đôi lúc chiếu vào, Miện thấy rõ chiếc chân cụt đang ngọ nguậy. Thân thể bị suy thoái. Anh mất chỗ đứng trong xã hội. Anh không còn được tiếp xúc với những người chung quanh, bèn quay ra kể chuyện với lũ trẻ con trong xóm. Anh bị cướp mất lời nói. Anh chỉ có thể trút những lời hằn học, những cơn phẫn nộ cho vợ hoặc khi anh độc thoại. Nhưng anh phải câm nín trước lời cáo buộc, lời khiêu khích của những kẻ có quyền lực : những người cộng quân. Kẻ mạnh tướt đoạt lời nói của kẻ yếu.

Do những mất mát đó, Miện bị chiến tranh tước quyền làm người. Anh biết thế nào là nhục nhã, nhục nhã khi phải ăn uống những thực phẩm của Mỹ, khi phải chịu thiệt thòi trước cái nhìn khinh bỉ của những người cộng quân, và anh tự cho mình là một con chó. Lịch sử đẩy Miện vào tận cùng cay đắng, tuyệt vọng và xóa tên anh.

Trong hai truyện của thời kỳ khói lửa này, hai nhân vật, một nữ một nam, đều hứng chịu chiến tranh. Chị Tư không được chung sống với chồng như chị mong muốn. Chị bị một cơn cuồng phong cuốn chị vào những căm thù vượt quá sự hiểu biết của chị. Miện cũng bị cơn cuồng phong của căm thù, của tàn bạo làm cho thân thể anh tàn phế.

Thế rồi chiến tranh chấm dứt. Và hình phạt kẻ thắng trận dành cho kẻ thua trận là những trại học tập, những nhà tù. Thảo Trường đã trải qua 18 nơi giam giữ từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vô Nam. Mười bảy năm sau, ông từ địa ngục trở về, tóc bạc, sức yếu, ông lên đường sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Ông cầm bút trở lại. Một thời kỳ mới trong sáng tạo của ông bắt đầu.

Thời xa xứ

Sau 17 năm không làm bạn với chữ nghĩa, nhưng trong tâm hồn của người tù lâu năm biết bao kỷ niệm, biết bao suy tưởng được tích lũy. Giờ đây Thảo Trường không rời chữ nghĩa, như để bù lại thời gian đã mất. Nhưng lối viết của Thảo Trường trên đất Mỹ, nơi ông dung thân như ông nói, nó không còn như trước nữa. Một tiếng nói từ nội tâm sâu thẳm của con người với bao trải nghiệm đau thương dần dần thành hình dưới ngòi bút. Cũng trong cuộc phỏng vấn của Đặng Phú Phong, khi nói về thời gian sống ở Mỹ, Thảo Trường tuyên bố : Tôi dành toàn bộ thời gian để ngẫm nghĩ về thời chiến, thời tù đã qua và đời lưu vong hiện tại. Tôi gửi gấm những suy nghĩ đó vào những sáng tác. Tôi không biết chép sử và cũng không thích viết hồi ký. Dù Thảo Trường không thích viết hồi ký, nhưng những truyện viết trong thời kỳ này phần nhiều có dáng dấp một hồi ký, một hồi ký không liên tục, đi từ truyện này sang truyện khác, mỗi truyện là một hình ảnh của quá khứ  tù đày bừng sáng. Những chuyện trong tù tác giả kể lại đều có thật. Qua một hồi ký phân mảnh như thế, người đọc có thể nhận ra trong các trại giam cộng sản nhiều nhân vật của giới văn nghệ miền Nam : những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, người phụ trách chương trình thi văn « Tao đàn » trên đài phát thanh của thời miền Nam, và cả một nhà sử học đã từng bôn ba xứ người, nay về chết trong một trại giam. Có thể hiểu rằng tác giả muốn dùng một hình thức gián tiếp để kể truyện, tự gọi mình là « ông lão », « bác tù già », gọi người vợ gặp lại sau 17 năm xa cách là « bà lão ».

Ký ức của Thảo Trường còn mang quá nhiều kỷ niệm của 17 năm tù. Những kỷ niệm trở thành ám ảnh. Bên cạnh những truyện nói về một hoàn cảnh sống trong trại giam như Những đứa trẻ đầu thai giữa hàng rào, Con bò, Tiếng thì thầm trong bụi tre gai, lại có những truyện trong đó lối viết của Thảo Trường qua lại giữa hiện tại ở Mỹ và quá khứ ở Việt Nam, những chuyện cũ mới xen kẽ nhau, đan vào nhau theo kỹ thuật liên tưởng, như trong các truyện Hạt thóc, Cơn sốt. Truyện Cơn sốt bắt đầu bằng đời sống của ông lão trên đất Mỹ, tiếp đến kỷ niệm trong tù, ông lão bị bệnh sốt rét nặng, từ trong rừng được khiêng đến bệnh xá trại giam, rồi được đưa đến bệnh viện tỉnh, cơn hôn mê kéo dài, rồi truyện trở lại đời sống ở Mỹ, v.v…

Truyện Cơn sốt kể đời sống của một gia đình được đoàn tụ sau 17 năm xa cách. Bà lão ngày nào dắt díu đàn con thơ dại đến cái đất Mỹ này, vừa học tiếng người, vừa lao động mưu sinh để lo cho đàn con ăn học. Ngày nay con cái đã lớn khôn, thành tài ; bà lão lại có một xí nghiệp làm đồ gỗ rất phát đạt. Bà là một doanh nhân thành đạt, bà điều khiển vài chục nhân công và một bà Mỹ già làm quản lý, họ tuân lệnh bà răm rắp. Bà nói tiếng Mỹ nghe hấp dẫn, dùng thành thạo các máy vi tính, máy fax, máy chuyển tiền vào trương mục ngân hàng, bà thuộc lòng các số điện thoại, theo dõi thị trường hàng hóa, theo dõi khách hàng. Một người đàn bà như thế không còn chỗ nào chê được.

Còn ông lão ? Cái xứ Mỹ này có phải là thiên đường của ông không, sau khi ông đã từ địa ngục cộng sản trở về ? Sang Mỹ, ông được vợ con thương yêu, chiều chuộng, ông sống trong sung túc, về mặt nào ông cũng được đầy đủ. Nhưng sao ông cảm thấy có một khoảng cách lớn giữa ông với mọi người, có một sự chênh lệch quá lớn giữa ông và họ, khó lòng cho ông khỏa lấp. Ông nói tiếng Mỹ dở ; khi xưa ông lái máy bay, nhảy dù, giờ đây ở cái xứ xe cộ tuôn chảy như nước, ông chóng mặt không lái xe được, ngồi trước tay lái ông chậm chạp bị xe sau bấm còi inh ỏi. Bà lão giải thích :

– Ở Mỹ, nó bấm còi xe là nó chửi mình đấy.

Ông ngô ghê hỏi :

– Ở Mỹ nó chửi nhau bằng máy à ?

Cái bao tử Việt Nam của ông nó đòi hỏi ngày ba bữa cơm, thế mà bà lão vừa cắn một miếng pizza vừa nói chuyện liên miên trong điện thoại. Thêm một khám phá cho ông lão : ở cái xứ này thì giờ quý lắm, thì giờ là công việc, là tiền. Ông lão dí dỏm gọi bà lão là « bà Mỹ » còn ông là « kẻ lưu vong ».

Nhưng ông lão không chịu ăn không ngồi rồi. Ngoài việc gặp các ông lão cựu tù binh khác cũng sang Mỹ theo diện HO như ông, ông lão bày ra việc đi lượm ve chai, hộp nhôm, đồ nhựa, các loại có thể được tái chế, để bán lại. Ông biến cái xe đạp thể dục của đứa con trai thành cái xe thồ có hai cái giỏ hai bên, và cứ thế ngày ngày ông đạp xe quanh quẩn trong lối xóm, dọc bờ biển, chất đầy ve chai, hộp nhôm trong hai cái giỏ và thở gió biển. Ông lão cho như thế là có ích lợi và tốt cho sức khỏe. Nhưng ông vẫn mang tâm trạng mình khác với mọi người. Với ông không có vấn đề thích nghi hay hội nhập gì cả, vì trong thâm tâm ông kỷ niệm quê nhà, tù đày vẫn còn đấy.

Trong truyện dài Đá mục, tác giả viết : Ông lão thấy rõ ràng cuộc đổi đời của mình thật là phi lý. Tự nhiên tình thế xoay chiều, « sông núi đã biến thiên, thời đại đã xa cách », đang từ miền đất quen thuộc bao đời, u mê một cơn, mở mắt ra đã thấy mình sống ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Mình trở thành một kẻ dưới hạng thứ dân, cái gì cũng thấp kém, cái gì cũng không bằng người, cái gì cũng phải học tập lại. Từ cách ăn mặc, đi đứng, nói năng, cư xử… đến cách suy nghĩ, yêu thương, giận hờn… đều phải xem xét lại cho phù hợp với đời sống xung quanh. Mình đang là người Kinh ở quê nhà, nay hóa ra người Thượng ở quê người. Mà trong cái giới người Thượng này mình lại còn là người Thượng mới không giống người Thượng cũ. (…) Cho dù anh có vào quốc tịch người Kinh ở đây đi nữa thì anh cũng vẫn không giống họ….

Ông lão không thể là người Thượng cũ được, nói gì đến việc trở thành người Kinh. Điều khiến ông lão quá xa lạ với cái xứ Mỹ này là cái chấn thương tâm lý, cái chấn thương của thời ở tù cộng sản. Trong suốt 17 năm sống trong lao tù cộng sản, Thảo Trường là một chứng nhân của nhiều hoàn cảnh đau thương. Ông biết thế nào là tàn ác, là hẹp hòi, ngu ngốc, là nhục nhã, là chịu đựng ; giọng kể truyện của ông khi ngậm ngùi, đau xót, khi dí dỏm, mỉa mai.

Có một truyện đặc biệt nói về cái chết, về sự chấm dứt cuộc đời của những người lính bại trận, bị tất cả bỏ rơi, chìm vào lãng quên. Đó là truyện Tiếng thì thầm trong bụi tre gai. Trại giam Rừng Lá có hai đặc điểm : trước hết nó được bao quanh bằng những hàng rào tre gai vuông vắn, thành quách, sừng sững như là dấu ấn của một thời hận thù nghiệt ngã, để lại cho lịch sử. Đặc điểm thứ hai là nó có một nghĩa địa riêng, nơi chôn rất nhiều hài cốt tù binh. Chính nơi này có hai nấm mộ của hai người tù trẻ. Một người là đại úy Lam, một hôm anh thắt cổ trên cây tự sát, vì không muốn là gánh nặng cho đứa em gái phải lo thăm nuôi, hai anh em mồ côi cha mẹ. Ba ngày sau người ta mới tìm ra xác của đại úy Lam, lúc đó xác đã bị thối rữa. Người thứ nhì là một sĩ quan rất trẻ vừa ra trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Vì quá tin cộng sản, người sĩ quan trẻ này vào trại giam hy vọng sẽ sớm được trở về. Người vợ trẻ của anh thường vào thăm nuôi, hai vợ chồng vừa mới lấy nhau, chưa có con. Mỗi lần vợ đến thăm, hai vợ chồng quá thương nhau, chỉ biết nhìn nhau rơi nước mắt. Một hôm người sĩ quan trẻ được tin vợ anh đã biến mất ; anh thường nghe nói vợ tù binh bỏ chồng đi lấy người khác. Anh quá đau đớn vượt hàng rào bị công an bắn chết. Chôn cất anh xong thì người vợ đến, chị cho biết chị bị bắt giam hai tháng vì tội mua cá định bán lại lấy tiền đi thăm nuôi chồng. Người vợ trẻ chỉ còn biết khóc lóc thảm thiết trên ngôi mộ chồng. Ngoài ra, có một ngôi mộ không thuộc quản lý của trại giam. Người ta cho biết đó là ngôi mộ của một người lính Cộng hòa bị Việt Cộng sát hại năm 1968, ngôi một được dân trong vùng săn sóc chu đáo. Trong trại giam Rừng Lá có bác tù già đã chứng kiến hàng trăm người tù ra khỏi trại giam, mà mình thì vẫn còn ở lại ; từ trên một nghìn người tù, nay chỉ còn lại mười hai người. Bác tù già mang tâm trạng cô đơn của một kẻ bị bỏ rơi. Rồi bác tù để ý đến ngôi mộ bên ngoài, bác đi nhặt những cành cây khô đem lại đốt trước mộ như làm một buổi lễ truy điệu. Bác tù binh già nghĩ rằng hôm nay bác chiêu hồn, truy điệu, tưởng nhớ, tri ân, ngậm ngùi… những liệt sĩ vị quốc vong thân vốn từng là đồng đội chiến hữu. Mặc cho kẻ thù triệt hạ, mặc cho đồng minh phản bội phủi tay, mặc cho lãnh đạo bỏ chạy và đồng ngũ quên lãng, mặc cho thời gian lạnh lùng trôi qua, mặc cho lịch sử sang trang… hôm nay, ở đây, có người tù binh già thì thầm với anh, thì thầm với các anh, trong nỗi cô đơn tột cùng của kẻ sống người chết, nỗi cô đơn tột cùng của những người lính đã mãn phần hay đang là tù binh. (tr. 84)

Có lời kinh truy điệu nào hay hơn cho những người lính đã nằm xuống ?

Qua ba thời kỳ sáng tạo, thời của dòng sông, thời khói lửa và thời xa xứ, Thảo Trường một mực trung thành với lập trường của mình, là tranh đấu cho tự do, chống lại một hệ tư tưởng cực quyền gây bao tàn phá, khổ đau, hận thù. Cho nên sáng tạo của Thảo Trường bắt nguồn từ sự dấn thân cho một lý tưởng, dấn thân là chủ đề của phần lớn các tác phẩm của ông, dấn thân bất cứ trong bối cảnh lịch sử nào, dẫu cho phải trả một giá rất đắt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ, CON ĐƯỜNG ĐẠO ĐỨC, TRÍ TUỆ CỦA NHIỀU THẾ HỆ HỌC SINH

 

Xuân đi học coi người hớn hở, câu thơ giản dị này mở đầu cho bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, đã khắc sâu vào ký ức của biết bao thế hệ học sinh, nhất là những thế hệ thuộc nửa đầu thế kỷ 20. Dù sau này có đi Đông đi Tây, dù học cao hiểu rộng hay chỉ có một trình độ tầm thường, dù giàu sang phú quý hay sống trong cảnh nghèo túng, những thế hệ đã từng học ê a câu thơ trò Xuân đi học, hay Thương người như thể thương thân, đều vẫn giữ trong lòng cái kỷ niệm một thời thơ ấu được hấp thụ một nền giáo dục trong sáng với những giá trị vững bền.

Vào thời đại toàn cầu hóa, thời đại của Internet, của facebook, youtube, mà đọc lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư, có thể sẽ có người mỉm cười mà cho rằng giáo dục này quá xưa, quá ngây ngô. Thưa, xin chớ vội phê phán nghiêm khắc. Đúng là ở thời đại chúng ta, nhờ những tiến bộ không ngừng của khoa học, kỹ thuật, chúng ta đi xa, hiểu rộng, những hiểu biết quá dồn dập nên lắm khi có hiện tượng khó tiếp thu hoặc không kịp tiếp thu. Nền văn minh khoa học, kỹ thuật lại có một khía cạnh tiêu cực : trong tình trạng toàn cầu hóa, biên giới văn hóa giữa các nước mờ đi, con người ngày càng mất gốc. Có hai nguy cơ đe dọa sự tồn tại văn hóa Việt Nam : người trong nước có xu hướng vọng ngoại, với ý nghĩ rằng cái gì của người cũng tốt hơn, đẹp hơn của ta ; người ở hải ngoại thì ngày càng quên ngôn ngữ mẹ đẻ, nói gì đến lịch sử, văn hóa nước nhà. Đó là nhận xét chung, đương nhiên không phải ai cũng rơi vào một trong hai trường hợp đó. Bên cạnh hiện tượng mất gốc còn có hiện tượng mất đạo đức. Vào thời đại chúng ta, mấy ai can đảm hô hào những nguyên lý căn bản của đạo đức thời xưa ?

Thế cho nên bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư nhắc nhở chúng ta một nền văn hóa giáo dục của quá khứ đã đào tạo nhiều thế hệ về tình người, về cách ăn ở, đối xử giữa con người với nhau. Quốc Văn Giáo Khoa Thư là một bộ sách gồm ba cuốn được soạn cho các lớp bậc tiểu học : cuốn Luân Lý Giáo Khoa Thư cho lớp Đồng Ấu và hai cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư cho lớp Dự Bị và lớp Sơ Đẳng. Cả ba cuốn được xuất bản và tái bản nhiều lần kể từ những năm 1920. Bộ sách do một số học giả biên soạn, đứng đầu là Trần Trọng Kim (1883-1953), ngoài những hoạt động chính trị đã đưa tên tuổi ông vào lịch sử, Trần Trọng Kim còn là một học giả uyên bác, am hiểu Hán học và Tây học, một nhà giáo và là tác giả của những cuốn sách như : Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm (đồng soạn), Nho giáo. Bên cạnh Trần Trọng Kim có Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận. Tất cả các soạn giả đều là nhà giáo, đều hiểu biết nhu cầu của con em ở bậc tiểu học.

Có một điều không tránh khỏi là bộ sách mang dấu ấn của thời gian, của thời xưa với những quan niệm không còn phù hợp với những quan niệm và cách nhìn  của chúng ta ngày nay. Nhưng phần chính của văn hóa giáo dục trong bộ sách vẫn sáng ngời như ngọn hải đăng.

Trong hai cuốn dành cho các lớp Dự Bị và Sơ Đẳng, ở cuối mỗi bài có phần giải nghĩa những chữ khó, thêm phần Bài tập và phần Làm văn. Cuốn của lớp Dự Bị, ở cuối bài lại có thêm một lời khuyên : Đừng bỏ phí thì giờ, Ta nên giúp đỡ lẫn nhau, v. v… Còn trong cuốn Luân lý cho lớp Đồng Ấu, mỗi bài được kết thúc bằng một câu cách ngôn rất dễ nhớ đối với trẻ em : Con có cha như nhà có nóc, Chị ngã em nâng, Gần mực thì đen. Phần nhiều ý chính của mỗi bài ở ngay trong tựa đề của bài : Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa, Có học phải có hạnh, Không nên khinh những nghề lao lực. Thú vật cũng được dùng cho việc giáo huấn : Con hổ và con chuột nhắt, Con rùa và con chuột, theo kiểu những bài ngụ ngôn của La Fontaine.

Trong ba cuốn sách, mỗi bài được minh họa, hình vẽ tuy thô sơ nhưng làm vui mắt trẻ em và gây chú ý đến bài học. Còn đối với người đọc như chúng ta ngày nay, thì những hình vẽ đó biểu hiện xã hội thời xưa : đàn ông và nam sinh mặc chiếc áo dài truyền thống, đàn ông búi tóc hoặc đội khăn đóng hay khăn đầu rìu, đàn bà mặc áo dài, vấn tóc, hoặc đội nón quai thao. Không gian cũng được minh họa : có cảnh đồng ruộng, cảnh một lớp học, một nhà ga, cảnh Cửa Ngọ Môn ở Huế, v. v…

Qua nội dung của ba cuốn sách, có hai chủ đề nổi bật : đạo đức và trí tuệ.

Về luân lý, đạo đức, xã hội thời xưa là một xã hội nông nghiệp, đặt nền tảng trên đạo đức truyền thống. Một xã hội đề cao Không Tử, Mạnh Tử, có thứ bậc tôn ti, thờ phụng tổ tiên, lấy tình thương đối xử với người trên kẻ dưới, tình thương và kính trọng cha mẹ, lòng biết ơn thầy, tình thương người già, người tàn tật, người tôi tớ. Trong nền đạo đức cổ truyền, gia đình là yếu tố cốt lõi. Trong bộ sách, các soạn giả cho thấy cảnh đầm ấm của một gia đình, cảnh một bữa cơm ngon, cảnh ngày giỗ trong gia đình, và đưa ra những lời khuyên về việc phụng thờ tổ tiên, lòng yêu mến gia tộc, lòng biết ơn và giúp đỡ cha mẹ. Thường các soạn giả chọn những giai thoại để giáo dục trẻ con, như gương hiếu thảo của ông Tử Lộ, lòng kính thương chị của ông Lý Tích chẳng hạn. Phần trong gia đình là thế, còn ngoài xã hội, vào thời vua chúa thì có những nghi lễ, tế tự, như Lễ Tế Nam Giao. Trẻ em cũng phải biết rằng sống trong xã hội thì phải tuân theo pháp luật. Ở trường học, người học trò phải chuyên cần trong việc học, phải đối đải tốt và đoàn kết với bạn bè. Tốt với bạn nhưng cũng phải biết lựa bạn mà chơi.

Tóm lại, bộ sách đề cao những đức hạnh cần có, và khuyên tránh những tật xấu.

Ngoài đạo đức được xem như nền tảng của phẩm giá con người, Quốc Văn Giáo Khoa Thư còn dẫn người học trò tiểu học vào lĩnh vực văn hóa, bằng việc mở mang trí tuệ để hiểu biết vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, rồi đến lịch sử, văn học. Trước hết, muốn được khỏe mạnh để học tập, người học trò phải giữ vệ sinh cho thân thể. Về việc học hành đã có gương chăm học của Thừa Cung. Rồi biết bao điều trong vũ trụ cần hiểu biết : tinh tú trên trời, những hiện tượng của thời tiết, sự ích lợi của thú vật, của thảo mộc. Trẻ em cũng cần hiểu biết cái thế giới quanh mình. Nếu ở thôn quê thì được biết đến làng mạc, nơi có chùa, có những nhân vật như ông lý trưởng và người tuần phu, công việc đồng áng được giải thích rõ ràng, cùng với những dụng cụ như cái cày, cái cối giả gạo. Lại có bài ca dao Khuyên về làm ruộng, hay ca ngợi cái thú chăn trâu. Nếu ở thành thị thì phát hiện những thành phố lớn : Sài Gòn, Huế, những thắng cảnh như Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội, Lăng tẩm ở Huế. Qua những bài học, trẻ em ý thức trong xã hội có những tổ chức để đời sống con người được dễ dàng hơn, tiện lợi hơn, như đường xe lửa, nhà ga, những trung tâm có những sinh hoạt chuyên môn như nhà bưu điện mà thời đó gọi là nhà dây thép, Viện Pasteur, v. v…

Ngoài việc giúp trẻ em phát hiện thế giới hiện thực, việc mở mang trí tuệ còn đưa đến hai vấn đề văn hóa lớn : lịch sử và văn học.

Quốc Văn Giáo Khoa Thư giúp trẻ em biết yêu đất nước qua những bài về lịch sử. Trước tiên, trẻ em cần biết mình có một quê hương đẹp, còn gọi là đất nước. Môn lịch sử giảng cho trẻ em không cần đưa ra năm tháng của các biến cố và nhiều chi tiết rắc rối như trong các pho sách lịch sử của người lớn, mà chỉ kể chuyện, những chuyện có sức thu hút ; tên của các vị anh hùng sẽ in sâu vào trí nhớ. Trẻ em dễ theo dõi chuyện Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Tầu ; rồi đến ông Ngô Quyền cũng đánh đuổi giặc Tầu trên sông Bạch Đằng, thắng trận, ông lên làm vua và đóng đô ở Cổ Loa. Qua các trận đánh, trẻ em có một ý niệm về người anh hùng của đất nước. Phần vua Lê Thánh Tôn, thì ngài đánh Chiêm Thành để mở mang bờ cõi, ngài lại giỏi văn thơ, quan tâm đến lịch sử và địa lý của nước nhà. Lại có gương hy sinh đáng nhớ của ông Lê Lai liều mình cứu chúa ; còn ông Tô Hiến Thành, văn võ vẹn toàn, thì rất thương dân, thương nước. Các nhân vật lịch sử được kể lại trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư đều nêu cao lòng yêu nước. Ngoài ra, trí óc trẻ con còn non nớt, rất gần gũi với những chuyện hoang đưòng, nên khó quên truyện gươm thần của vua Lê Lợi.

Tóm lại, cách trình bày lịch sử của Quốc Văn Giáo Khoa Thư đối với học trò bậc tiểu học rất dễ hiểu, có sức lôi cuốn và góp phần vào việc tạo nên những người công dân tốt.

Sau lịch sử, trẻ em tiểu học được tiếp cận văn học dân gian truyền khẩu, tức ca dao, kho tàng của văn hóa nước nhà. Các soạn giả đã chọn những bài ca dao phản ánh đời sống ở nông thôn khi xưa, như về công việc đồng áng quanh năm : Tháng giêng là tháng ăn chơi / Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…, về nỗi lo âu của nhà nông : Người ta đi cấy lấy công / Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề… Hoặc những bài gồm những lời khuyên có tính đạo đức : Con ơi, muốn nên thân người, / Lắng tai nghe lấy những lời mẹ chaLàm trai quyết chí tu thân / Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo… Hoặc bài về hoa sen : Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, đầy tính ẩn dụ.

Thể thơ lục bát của ca dao giàu nhạc điệu, khiến trẻ em dễ học, nhớ lâu, và đồng thời giúp trẻ em phát hiện cái đẹp của văn chương. Ngoài ca dao còn có thơ cổ cũng cùng mục đích khuyên răn : Thương người như thể thương thân… hoặc cho thấy một cảnh đẹp của thiên nhiên : Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Ngoài ra, ở học đường trẻ em còn được biết việc tổ chức các khoa thi ngày xưa và bởi đâu có chữ quốc ngữ ngày nay.

Bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư giúp trẻ em thời trước vừa có trí khôn đã phát hiện vị trí của mình trong gia đình, ngoài xã hội, và nhiệm vụ của mình đối với mọi người. Qua những nguyên lý đạo đức, phẩm giá con người được khẳng định và nâng cao ; và qua những đề tài giáo huấn đa dạng, việc mở mang trí tuệ ở bậc tiểu học có thể nói là đầy đủ vào thời đó. Đặc biệt những bài lịch sử trong bộ sách đã in sâu vào tâm hồn trong trắng của tuổi mới lớn ; phải chăng những bài lịch sử đó đã đắp nền phần nào cho lòng yêu nước của toàn dân hiện nay, trước hiểm họa xâm lăng của Trung Quốc ? Biết bao thế hệ học sinh đã được hưởng cái công lao giáo dục của các soạn giả.

 

 

 

 

 

 

 

 

VÕ PHIẾN NHỚ LÀNG

 

Tác phẩm văn chương thường được xây dựng với ít nhiều trải nghiệm của tác giả trong một thế giới hiện thực ; do đó tác phẩm phản ánh đời sống hằng ngày, phản ánh xã hội. Ngòi bút của nhà văn khi dừng lại ở những chuyện linh tinh của cuộc đời, ở những kỷ niệm, khi chăm chú theo dõi những biến cố liên quan đến đời sống trong xã hội, lại càng chăm chú hơn đến một biến cố lịch sử lớn lao như chiến tranh, làm khuynh đảo cả một xã hội, cả đất nước. Cho nên ở miền Nam, trước năm 1975, chiến tranh đã tràn vào văn học, đọc truyện dài, truyện ngắn, tiểu luận, tùy bút, thơ, nơi đâu cũng có khói lửa chiến tranh.

Về phần Võ Phiến, ông không nhìn chiến tranh qua thảm họa Tết Mậu thân chẳng hạn, hoặc qua cái chết của người lính, qua những trận đánh lớn ; Võ Phiến nhìn chiến tranh qua hình ảnh một làng quê, và ông vẽ lên chân dung một người dân quê chất phác bị dồn vào tận cùng nỗi tuyệt vọng.

Tên tuổi của Võ Phiến tưởng không cần thiết phải giới thiệu dài dòng, vì ông được xem như một trong những nhà văn trụ cột của miền Nam thời 54-75. Ông viết nhiều thể loại : truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, ông cũng là tác giả của một tập thơ. Một trong những đặc điểm của Võ Phiến là sự gắn bó với làng quê. Qua những truyện và tùy bút, người đọc được đưa về cảnh đồng quê để biết rõ người ông, người bà của tác giả, để làm quen với những nhân vật trong làng như anh Bốn Thôi với sáu người vợ của anh, như ông tú Từ Lâm suốt đời đi lang thang,  ông Tam Khoang với phong cách uống chè Huế của ông, v.v… Rồi chẳng bao lâu làng quê trở nên một chiến địa. Bài tùy bút Nhớ làng của Võ Phiến dựng lên một khung cảnh loạn lạc, đảo điên, đe dọa mạng sống con người.

Năm 1992, nhà Văn Nghệ ở California xuất bản tập tùy bút Quê của Võ Phiến gồm ba bài : Nhớ làng, Khách xá qui tâm và Cái lạnh nửa người. Tác giả viết bài tùy bút Nhớ làng trước đó hai mươi năm, tức năm 1972, khi ông còn ở quê nhà, và chiến tranh đang đến mức độ tàn khốc.

Trong văn học Việt Nam, thể loại tùy bút rất được nhiều nhà văn ưa chuộng. Nhưng tùy bút là gì ? Theo Trương Chính, trong bài tựa cuốn Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, tùy bút là bài viết theo ngọn bút gặp đâu nói đó, không có hệ thống, rất linh động và cũng rất linh tinh. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, khi đề tựa một cuốn tùy bút của Võ Phiến, năm 1973, thì định nghĩa như sau : Tùy bút – tùy hứng mà phóng bút – là một thể rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Nhưng ông nói thêm rằng tính nghệ thuật rất cần thiết, đó là một thể văn khó viết, cho nên một bài tùy bút hoặc thành công hoặc thất bại, không có sự lưng chừng. Đúng là phải có nghệ thuật để viết một bài tùy bút hay, vì khi tác giả được tự do tản mạn, đi từ ý tưởng này sang ý tường khác, đôi khi thiếu mạch lạc, và nếu không có chủ ý thuyết phục người đọc về một điều gì rõ ràng, thì tác giả dễ rơi vào sự tầm thường, sự nhàm chán.

Vậy thử xem Võ Phiến nhớ làng như thế nào. Ông có gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy không ?

Nhân đọc những câu thơ của Yến Lan, người cùng quê Bình Định với ông, Võ Phiến bỗng ngậm ngùi nhớ đến làng mình. Câu hỏi đầu tiên của tác giả : Làng đâu ? kéo theo nhiều tin tức chiến sự do báo chí và đài phát thanh không ngớt truyền đi khắp nơi, vào thời điểm tháng 6 năm 1972. Năm 1972 là cái năm có nhiều trận đánh khốc liệt trên toàn lãnh thổ miền Nam, cái năm có mùa hè đỏ lửa. Thời gian báo hiệu thảm trạng của làng : làng đang ngập chìm trong khói lửa, đang trở nên một vị trí nổi tiếng. Trong làng ngày đêm sư đoàn 3 Sao Vàng của bên kia không ngớt đánh nhau với trung đoàn 41 bên này. Rồi một chiếc phi cơ Mỹ rớt ngay xuống làng, tác giả tự hỏi nó rơi đúng vào chỗ nào. Một dịp để nhắc đến những nhân vật trong làng mà tác giả đã cho xuất hiện trong các truyện và tùy bút trước đây, đó là những người dân quê mộc mạc mà những hành động khi xưa đã trở thành những kỷ niệm bất hủ của làng : nào là chị vợ bé anh Bốn Thôi với người đàn ông câu ếch trong bài tùy bút Lại thư nhà, nào là chị Bốn Chìa Vôi, anh Năm Cán Vá trong truyện Chim và rắn, nào là ông Bái Công trong truyện Về một xóm quê.

Làng quê trở thành nơi chốn quyết liệt của sự sống chết. Hai chiến thuật đối đầu nhau : một bên là biển người và một bên là vũ khí tối tân, kết quả : có vô số người chết : xác địch, xác ta. Ai nấy đều rõ một khi Sao Vàng đến thì sự tai ương ra sao.

Nói đến xác địch xác ta, tác giả liên tưởng đến sự gặp gỡ anh Ấm Sứt năm trước, anh là một người dân làng đã ra sống ở tỉnh, làm nghề thợ vịn cho Mỹ, lương khá, thợ vịn là để giúp việc lặt vặt cho thợ chính cống. Tác giả theo anh Ấm về nhà, được biết lý do anh bỏ làng ra đi. Số là một hôm lực lượng bên kia cho người về bắt tất cả trai tráng trong làng dẫn đi. Anh Ấm có nhiệm vụ tải thương. Đêm hôm đó một trận chiến xảy ra, lực lượng bị tấn công tứ phía, mạnh ai nấy chạy. Anh Ấm Sứt chạy trốn, sau đó anh đem gia đình lên sống ở tỉnh. Trong buổi họp mặt ở nhà anh Ấm, tác giả được quen biết với một người đàn ông có lòng tốt đã giúp anh Ấm có việc làm. Người này vừa mất hai người con trai, người con cả đi lính bị súng cối bắn vào đồn, gọi là cối vào, chết ngay, người con thứ hai đang ở ngoài vườn, hai bên đánh nhau, trong đồn bắn ra, gọi là câu ra, thế là chết. Tác giả ngẫm nghĩ về trường hợp anh Ấm Sứt, nếu trước đó anh đang tham gia công cuộc giải phóng mà rủi ro chết ngoài ruộng, hoặc bây giờ anh làm công việc xây cất cho Mỹ mà chết vì một quả mìn của đặc công, vậy xác của anh tùy nơi chết được xem khi thì xác địch khi thì xác ta. Lập trường của anh ra sao ? Hai người con ông bạn tốt bụng, người bị bên kia cối, người bị bên này câu. Đâu là địch đâu là ta, và có gì thay đổi trong tư tưởng của họ ?

Chuyện chém giết lạị được báo chí loan tin : ở xã nọ gần làng tác giả, một viên xã phó đã xử tử nhiều dân làng, hung thần bị bắt và sắp bị đưa ra tòa xử. Thì ra hung thần không ai xa lạ mà chính là anh Năm Hà. Trước kia anh ta là một nông dân, một người đàn ông xấu xí, gầy đét, giọng nói khó nghe. Anh lấy một người phụ nữ không đẹp, nhưng có một thân hình khêu gợi. Từ ngày anh Năm Hà lấy vợ anh bỗng thay đổi nhiều, anh ăn mặc khá hơn, phát âm khá hơn, anh bắt đầu có một đời sống xã hội : anh làm cán bộ, tham dự những buổi hội họp, ngôn ngữ của anh cũng thay đổi, anh thích ăn nói kiểu cách. Lúc đó vào thời kháng chiến, anh có dịp tiếp đón những cán bộ cao cấp tại nhà. Có lần một đại đội trưởng ở trọ nhà anh. Một hôm ở ngoài đồng về, anh Năm Hà bắt gặp qua khe cửa cảnh chị vợ ngoại tình, anh không trông thấy gì nhiều, chỉ thấy một bàn chân rướn cong lên. Nhưng cũng đủ cho anh thấy thế giới quanh anh sụp đổ. Từ đó cuộc đời của anh đã thay đổi. Mười năm sau, anh là một người nông dân sống vất vả, cực nhọc. Đến những năm 60, tình hình an ninh ở miền quê không mấy sáng sủa. Anh Năm Hà được bầu làm ấp trưởng, anh sống trong tình trạng trên đe dưới búa. Anh bị cộng sản tìm cách hại anh nhiều lần, có lần anh bị bắn gãy một cánh tay. Anh phải chống trả quyết liệt, chém giết lung tung để tự bảo vệ mạng sống. Khi an ninh được vãn hồi, anh Năm Hà bị tình nghi có hành động mập mờ : vào thời kháng chiến anh phục vụ cho bên kia, về sau anh phục vụ cho bên này, chẳng những anh bị tình nghi mà anh còn bị xem là hung thần. Hung thần Năm Hà quê mùa, xấu xí, tàn phế, vì không chịu rời bỏ làng quê nên mới phải chém giết theo luật rừng. Hung thần sắp ra trước pháp đình để các ông quan tòa học cao hiểu rộng, sống cuộc đời sung sướng, an bình nơi đô thị, xét xử.

Bài tùy bút gợi lên một không gian là cái làng. Dân làng khốn đốn vì cộng sản chiếm làng ban đêm, Quốc gia làm chủ ban ngày. Chiến tranh xuất hiện với « Sao Vàng », với chiến thuật biển người, và chiến tranh cũng có bộ mặt dữ tợn của một chiếc phi cơ Mỹ : nó đã gầm thét dữ dằn rồi nó đã rơi xuống

Qua cảnh chiến tranh có hai nhân vật nổi bật : anh Ấm Sứt và anh Năm Hà. Chuyện anh Ấm Sứt bỏ làng lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, đôi lúc có phần khôi hài làm người đọc tạm quên trong chốc lát cái hoàn cảnh mất gốc của anh. Khi còn ở trong làng và bị bên kia bắt lùa đi để làm cái công việc tải thương ban đêm, anh phải học tập về những khúc tre chẻ ra và lật ngửa, trong đêm tối màu trắng của tre là dấu chỉ đường. Việc chạy trốn của anh tuy rất hồi hộp, nhưng lối kể chuyện của tác giả có phần dí dỏm : Anh Ấm Sứt hôm đó chạy trối chết. Anh chạy đến đâu, tưởng như phi cơ rít chận đầu đến đó. Dĩ nhiên, anh không chạy theo dấu thẻ tre. Với bên kia anh Ấm Sứt học tập về thẻ tre, với Mỹ anh làm thợ vịn. Ở tỉnh anh có vẻ hài lòng vì có công ăn việc làm, anh lại mở tiệc mừng đứa con thi đậu vào trường công. Nhưng anh chưa ý thức được sự mất mát lớn lao của anh : anh đã mất làng. Làng là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi cha ông của anh đã sống trong truyền thống địa phương và là nơi anh được dân làng biết đến và nể nang. Giờ đây anh là kẻ mất gốc, anh chỉ là một tay thợ vịn không ra gì, sống lạc loài ở thành thị.

Nhân vật thứ hai là anh Năm Hà. Anh hành động ngược lại, anh không chịu rời làng. Trong cuộc đời của anh Năm Hà có hai thời kỳ : thời kỳ xây dựng và thời kỳ sụp đổ. Vào thời kỳ xây dựng, anh Năm Hà vốn là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng. Nhưng từ ngày anh cưới được người vợ trẻ, có một thân hình hấp dẫn, anh bỗng đổi khác : anh trau chuốt cách ăn mặc, cách ăn nói. Lúc bấy giờ vào thời kháng chiến, anh Năm xông xáo tham gia vào những hoạt động xã hội, chính trị trong làng xã. Phải nói những cố gắng để ra khỏi tình trạng một nông dân tầm thường đã gây cho anh Năm Hà nhiều vất vả. Anh muốn chứng tỏ anh không phải là người tầm thường. Nhưng rồi anh bị tình phụ. Đến thời kỳ thứ hai là thời kỳ sụp đổ, cuộc đời anh Năm Hà xuống dốc. Chiến tranh lan tràn ở thôn quê, anh Năm Hà bị áp lực của đôi bên, một mình anh phải tả xung hữu đột, anh chém giết lung tung để tự cứu mạng sống, anh không còn biết đâu là thiện đâu là ác. Và trước mắt thiên hạ anh đã trở nên một hung thần.

Có sự chênh lệch trong cách miêu tả hai nhân vật. Mặc dù Võ Phiến tạo nên một anh Ấm Sứt khôi hài, anh ta chạy thục mạng, lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, nhưng người đọc không biết gì về nét mặt, hình dung của anh Ấm Sứt. Còn anh Năm Hà thì rất đậm nét : … anh ta trông khổ não. Người gầy choắt và đen, khuôn mặt hóp lại (…) anh ta lạc giọng, tắt tiếng : nói khàn khàn, gần như không phát ra âm. Và sau khi xảy ra nhiều vụ chém giết trong làng khiến anh Năm bị xem là hung thần,  anh xấu xí, khù khờ, người quắt queo, má hóp, tay cụt, kỳ hình dị dạng…  Sở dĩ anh Năm Hà được tô đậm nét là vì anh là trọng tâm của bài tùy bút, là biểu tượng của sự thống khổ của người dân quê trong cuộc chiến. Nếu không có chiến tranh, anh Năm Hà sẽ là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng, được dân trong làng nể nang. Nhưng chiến tranh đã biến anh thành một quái vật, một hung thần. Chiến tranh đã tha hóa con người, đã hủy diệt cái phần cao đẹp của con người.

Nếu phải tìm cho hai nhân vật Năm Hà và Ấm Sứt một hình tượng, thì Năm Hà là người đứng thẳng, người đối đầu với chiến tranh và hứng chịu mọi hậu quả, Ấm sứt là người cúi xuống, người tránh né chiến tranh.

Có hai sự kiện cho thấy thân phận của người dân quê bị rơi vào một tình trạng chông chênh : thứ nhất là sự phân biệt xác địch, xác ta, phải dựa vào tiêu chuẩn nào ? Dựa vào lý do của cái chết, tức bị pháo vào hay bị câu ra ? Hay dựa vào nơi chết, tức vùng của địch hay vùng của ta ? Cách phân biệt như thế hoàn toàn vô lý, không phản ánh tư tuởng, lập trường của người chết. Vấn đề khó phân biệt « xác ta, xác địch » nói lên tình trạng bi thảm và sự vô lý của cuộc chiến tranh tương tàn, của huynh đệ tương tàn. Thứ hai là sự chênh lệch giữa thế giới của người dân quê nghèo, mộc mạc, thất học, nạn nhân của chiến tranh và thế giới của những ông quan tòa có học, quen cảnh sống sung sướng, an toàn ở thành thị. Hai hạng người trong xã hội xa lạ đối với nhau, hạng người được đời ưu đãi có quyền xét xử hạng người khốn đốn, trơ trụi, không có khả năng giải bày những uẩn khúc của mình. Anh Năm Hà sẽ câm nín trước một xã hội khắt nghiệt, nhưng hình hài quắt queo, tàn phế của anh có khả năng biện hộ cho anh không ? Hậu vận của anh rồi đây sẽ ra sao ?

Võ Phiến nhớ làng, ông nhắc đến những nhân vật của làng khi xưa như muốn làm tái sinh những nhân vật đó, làm tái sinh làng quê. Nhưng ông phải nhìn nhận rằng chiến tranh không những đã tàn phá thôn làng mà còn tha hóa con người.

Bài tùy bút được cấu trúc mạch lạc, nội dung gần với truyện ngắn, vì có một cốt truyện. Hình ảnh làng quê làm nên tính nhất quán của bài tùy bút. Võ Phiến vượt xa cái định nghĩa của tùy bút là gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Ông có một nghệ thuật tinh tế để xây dựng tùy bút. Trong bài Nhớ làng, ông phóng bút với một ý tưởng chủ đạo, rồi ý tưởng dần dần được tán rộng theo cách liên tưởng.

Người đọc Võ Phiến đã quen với từ rất Võ Phiến : Nhưng còn Ngô Xuân H… là ai vậy cà ? Và rồi có những trạng từ rất bình dân như : còn lâu, sức mấy, tạo nên một sự gần gũi với người dân quê :

có những số thiệt hại còn lâu mới kiểm điểm được.

Sức mấy ! Anh mong gì ngo ngoe nổi trước pháp luật ?

Văn phong của Võ Phiến tuôn chảy tự nhiên khi dí dỏm kể chuyện anh Ấm Sứt chạy trốn, khi chua xót nhận xét thân phận anh Năm Hà : Trong khi anh Năm Hà lặn ngụp trong sắt máu, trong cảnh giết chóc dã man, thì những vị đó lớn lên ở những đô thị an lành, học ở những trường đại học… nghiên cứu về luật pháp…

Võ Phiến đã biến anh Năm Hà thành một biểu tượng của người dân quê nạn nhân của chiến tranh. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng hình hài quắt quéo của anh Năm Hà vẫn sừng sững trước lịch sử, như một nỗi oán hận.