“KINH NƯỚC ĐEN”, THẾ GIỚI TIỂU THUYẾT CỦA NGUYỄN THỤY LONG

 

Tên tuổi của Nguyễn Thụy Long rất quen thuộc với độc giả miền Nam thường đọc trên các nhật báo những truyện của ông về du đảng, về những kẻ bất hạnh sống bên lề xã hội ; qua những truyện đó, người ta thấy được một ý nghĩa nhân bản. Trước năm 1975, Nguyễn Thụy Long có trên 30 tác phẩm. Ông không viết những truyện cao xa, bay bướm, lãng mạn, cũng không viết những truyện có màu sắc triết học đôi khi đến mức làm dáng, thời thượng. Nguyễn Thụy Long đi sát với thực tế và chỉ nhìn những vấn đề hiện thực của xã hội miền Nam vào những năm 1960-1970. Ông rút chất liệu từ những thảm trạng của xã hội để làm nguồn sáng tạo cho mình. Lối viết của Nguyễn Thụy Long bình dị, thuộc ngôn ngữ nói, nhưng vẫn đứng đắn, nghiêm trang. Ông xuất hiện trên văn đàn lần đầu tiên với truyện Vác Ngà Voi, năm 1965, tiếp theo là những truyện ra năm 1967 : Sầu Đời, Bước Giang Hồ, Vòng Tay Đàn Ông, Chim Trên Ngọn Khô. Cũng năm 1967, tiểu thuyết Loan Mắt Nhung được độc giả hào hứng đón nhận, và khi truyện được đưa lên màn ảnh cũng được khán giả mến mộ. Sự thành đạt này khiến Nguyễn Thụy Long càng thêm tin tưởng vào ngòi bút của mình.

Qua năm 1969, tiểu thuyết Kinh Nước Đen đánh dấu một giai đoạn mới trên đường sáng tạo của Nguyễn Thụy Long. Kinh Nước Đen cho thấy những con người thiện, ác sống thế nào trong cảnh bần cùng. Kinh Nước Đen do Thứ Tư tạp chí xuất bản ở Sài Gòn. Cuốn tiểu thuyết dày 563 trang, gồm 27 chương. Mỗi chương trình bày một cảnh sống, một chân dung, hoặc hành động của một nhân vật, có khi hai ba chương nối nhau để cho thấy sự diễn biến của một sự kiện, một biến cố.

I Truyện Kinh Nước Đen

Tâm điểm của truyện là gia đình bà Sáu Họ, một người đàn bà nghèo, góa chồng, có 4 người con, ba trai : Hai Dậu, Ba Choát, Tuyển và một gái tên Út. Như những người nghèo khác, bà Sáu Họ sống trong một túp lều ở khu Cầu Muối, ven con kinh nước đen. Bà ngậm ngùi nhớ đến cái chết đau đớn của chồng. Ông Sáu Họ sức yếu phải làm việc lao lực ở Chợ cá, tiền thu nhập không đủ nuôi gia đình nên sinh nợ nần. Một hôm tuy lâm bệnh, ông Sáu Họ vẫn tiếp tục khuân vác nặng nề, ông bèn ngã quỵ và chết. Chủ nợ là Tư Thung không ngần ngại đoạt số tiền phúng điếu của hàng xóm. Hai Dậu tuy còn nhỏ, nhưng đã mục kích cảnh cướp dựt đó và tự nguyện lớn lên sẽ trả thù cho cha. Hai Dậu về sau có vợ tên Hai Đoan. Anh ta thường ra quán uống rượu và dò la hành vi của Tư Thung. Ba Choát, đứa con thứ hai của bà Sáu Họ, là một tên bất lương chỉ biết trộm cắp, Tuyển, đứa con thứ ba, là một thanh niên hiền lành, lo học, rất thương mẹ. Tuyển đi lính, có một cuộc đời ngăn nắp. Tuyển yêu Hiền, một cô gái cùng cảnh ngộ với gia đình bà Sáu Họ, Hiền bán mía ghim để sinh sống và nuôi mẹ là bà Chín Chiêu, một người đàn bà rượu chè từ khi bị chồng bỏ. Hiền nuôi mộng học nghề uốn tóc để cuộc đời khá hơn. Tuyển và Hiền dự định trở nên vợ chồng. Cô em gái của Tuyển tên Út thì bán vé số.

Định mệnh đưa đẩy Hai Dậu vào một hoàn cảnh bi đát, anh ta giết Tư Thung và một tên đàn em ; bị án tử hình, Hai Dậu bị đưa lên máy chém. Hai Đoan vì quá thương chồng hóa điên.

Ba Choát thì suốt đời trộm cắp. Cùng với hai tên đồng lõa, Ba Choát lén vào một nghĩa địa, đào mả của một người Tàu giàu có vừa được chôn cất, vì y biết người Tàu có tục lệ chôn vàng theo người chết. Ba Choát và đồng lõa không ngần ngại vọc tay vào cái xác chết đã sình thối để trộm nữ trang, Ba Choát tìm ra được một chiếc nhẫn hột xoàn, dấu đồng lõa, đem về rửa sạch và nuốt trọng vào bụng, rồi y đi mua một liều thuốc xổ để lấy lại chiếc nhẫn. Nhưng Ba Choát khờ khệch nên bị một người đàn bà buôn lậu thỏa thuận với một người đàn bà chủ một tiệm kim hoàng cướp giật chiếc nhẫn. Tuy nhiên y vẫn bị vào tù vì chuyện đào mả người chết để ăn trộm. Sau vụ chiếc nhẫn, Ba Choát lợi dụng biến cố khủng hoảng Phật giáo và các cuộc biểu tình để lên mặt anh hùng với đàn em và tiếp tục trộm cướp, cuối cùng y bị những người buôn bán trong chợ rượt theo hành hung, và y trút hơi thở cuối cùng.

Phần Tuyển mất người yêu. Tư Thung, khi còn sống, nhờ cho vay ăn lời cắt cổ, trở nên giàu có và đã lợi dụng địa vị giàu có của mình để lường gạt và hại đời con gái của Hiền. Hiền có thai, bị vợ Tư Thung đánh ghen, bèn bỏ đi. Về sau, Hiền có một đứa con và làm nghề gái bán bar. Khi Tuyển trở về, anh đề nghị với Hiền nối lại tình cũ, nhưng Hiền một mực từ chối. Nhân một cuộc tảo thanh Việt cộng trong rừng cao su ở Dầu Tiếng, tiểu đoàn của Tuyển tiếp xúc với người dân trong rừng cao su. Bất ngờ Tuyển làm quen với ông Phó Dư là bạn khi xưa của ông Sáu Họ, Tuyển lại có cảm tình với Thuận, con gái của ông. Đôi bên nhanh chóng tỏ tình với nhau. Tiểu đoàn trưởng của Tuyển bèn đứng ra tổ chức hôn lễ cho đôi lứa. Sau đó Thuận về sống với mẹ chồng, bà Sáu họ, và tỏ ra một nàng dâu ngoan.

Cuộc đời của Út thì lắm chông gai. Út bán vé số, sắp lập gia đình với Thâu, một người cảnh sát hiền lành, thật thà. Chẳng may Út bị Hội Thọt, một tên bất lương, lường gạt, phá hoại đời con gái của Út và bán Út cho một nhà thổ. Út bị tên ma cô chủ nhà thổ đánh đập tơi bời để bắt Út nhận chịu làm điếm. Ít lâu sau Út thoát được nhà thổ, trở thành một gái điếm sang, lấy chồng Mỹ và trở nên giàu có. Tình cờ gặp lại tên Hội Thọt đến xin việc làm, Út bèn trả thù và làm nhục y bằng cách nhổ một bãi nước bọt xuống đất và bắt y quỳ xuống liếm sạch, rồi Út cho y vào làm tôi tớ trong nhà. Nhưng vì Út dễ tin người, trước thái độ lòn cúi của Hội Thọt, Út nhớ mẹ nên giao cho y một số tiền lớn và bảo y đi tìm bà Sáu Họ để giúp bà. Một lần nữa Út bị tên bất lương lường gạt.

Truyện kết thúc khi Út quen biết Chương, một người đàn ông bí ẩn, tốt bụng, và Út yêu Chương, định bỏ người chồng Mỹ già. Chương đưa Út về thăm mẹ. Phần Hội Thọt bị bắt và bị ở tù.

II Truyện Kinh Nước Đen qua lăng kính của xã hội học

Kinh Nước Đen là một tiểu thuyết hiện thực, nêu lên một bối cảnh lịch sử, xã hội vào thời Đệ nhất Cộng hoà ở miền Nam.

Trong cái xã hội bé nhỏ sống ven con kinh nước đen, có ba hạng người : người lương thiện, người xảo trá, bất lương và những nạn nhân. Người lương thiện rất ít, như bà Sáu Họ, vợ chồng Tuyển, Thuận, và Thâu, người chồng sắp cưới của Út. Sau khi biết Út đã phụ bạc mình, Thâu vẫn năn nỉ Út trở lại : Không sao, mình hàn gắn lại còn kịp mà. Nhưng người con gái đang bị tên Hội Thọt mê hoặc từ chối. Và người thanh niên có cái phản ứng của một con người hiền lành, thật thà : Thâu đá tung một cục đá bên đường, nắm tay lại đấm vào cột đèn. Và Thâu bật khóc.

Hạng người thứ hai xảo trá, bất lương thì hoành hành khắp nơi, phía đàn bà có Bảy Lành chuyên bán đồ lậu, đồng lõa với mụ chủ tiệm vàng để đoạt của cắp, và mụ tú bà tên Ba, chủ nhà thổ, ba người đàn bà này tuy không sống ven con kinh nước đen nhưng có quan hệ làm ăn với người dân ở đó. Độc hại nhất là phía đàn ông : Ba Choát, Tư Thung, Hội Thọt, cùng với những tên đàn em. Ba Choát quá tham lam, không lùi trưóc một cơ hội nào, y lại bất hiếu với mẹ. Tư Thung tàn ác với người nghèo và đã ra lệnh cho đàn em giết Chín Chiêu, mẹ của Hiền, để dễ đoạt Hiền. Hội Thọt thì chuyên buôn con gái cho nhà thổ như Út, Hương. Và hạng người thứ ba là những phụ nữ nạn nhân, điển hình nhất là Hiền và Út là những thiếu nữ ngây thơ, dễ tin người.

Cuối cùng các tên bất lương đều bị trừng phạt : Tư Thung và Ba Choát chết vì bạo lực, Hội Thọt ngồi tù nhưng chưa đủ, y bị một người tù bẽ gãy cái chân lành và phải chịu tàn tật suốt đời.

Trường hợp của Hai Dậu đặc biệt, anh ta giết người chỉ vì phẫn uất trước cái ác của Tư Thung, hành vi giết người của Hai Dậu là một hình thức nổi loạn. Nhưng giết người là trái với pháp luật, nên anh ta bị trừng phạt.

Xã hội nhỏ này có hai đặc điểm : đồng tiền dơ bẩn và thảm trạng của người phụ nữ nghèo.

Vì quá tham lam tiền bạc, con người mất nhân tâm, trở nên độc ác, xem đồng loại của mình như những đồ vật có thể đem bán hay thủ tiêu. Kẻ bất lương có hai vũ khí để khai thác và chà đạp người phụ nữ, đó là bạo lực và lời nói gian dối nhằm tạo nên ảo tưởng. Tên ma cô ở nhà thổ dùng bạo lực. Tên Hội Thọt có cái chân thọt nên chỉ biết dùng lời nói để lường gạt. Y trổ tài ba hoa, khoác lác trước một cô gái khờ khạo, dễ tin. Y khoe với Út :

Anh chỉ nói cho mình em nghe thôi nhé !

Út hồi hộp :

Dạ !

Anh là cố vấn của ông bộ trưởng quốc phòng. (tr. 252)

Và y tiếp tục :

Anh đang làm giấy tờ để tháng sau đi Huê kỳ.

Đi Huê kỳ lận !

Ừ, anh đi chữa cái chân (…) Ông cố vấn (ám chỉ ông Ngô Đình Nhu, em Tổng thống Ngô Đình Diệm) biểu anh đi từ mấy tháng nay, nhưng công tác nặng quá nên chưa có lúc rảnh. (…) Cái nước thiệt tàiCái chân teo của anh chữa dễ ợt. (…) Họ sẽ lấy một cái chân người vừa mới chết, lắp sang chân của anh, bắt vít xương rồi nối đường gân. Chỉ một tháng sau là chân anh lành lặn, anh có thể đi đá banh được rồi. (tr. 259-261)

Đồng tiền không do việc làm ăn lương thiện, nên không ở lâu trong tay kẻ bất lương. Mặt khác, đồng tiền biến hóa con người, cho phép con người leo thang xã hội một cách khôi hài. Đó là trường hợp của Út, từ một cô gái bán vé số ở Cầu Muối, Út trở nên một bà lớn giàu có, sống trong một thành phố Sài gòn hoa lệ, có những ông lớn, bà lớn lui tới, trong nhà có tôi tớ, tài xế, rồi sinh ra cờ bạc, bày những trò rỡm như tổ chức long trọng lễ sinh nhật của con chó.

Thân phận người phụ nữ nghèo rất mong manh. Người phụ nữ thất học, ngây thơ, hay tin người, nên dễ rơi vào cạm bẫy của những kẻ bất lương, xảo quyệt, bị biến thành một thứ đồ chơi cho chúng thỏa mãn nhục dục, rồi biến thành món hàng để chúng bán cho nhà thổ. Sau khi bị bầm dập, người phụ nữ cảm thấy mình không còn xứng đáng với người yêu đầu đời. Hiền ý thức sự mất mát đó nên khuyên Tuyển :

Anh nên lấy vợ đi.

Anh không lấy ai hết ngoài em ra.

Sao vậy ?

Anh yêu em !

Khuyên anh không nên lấy điếm về làm vợ. (tr. 274)

Thảm trạng của người phụ nữ là chỉ có một con đường duy nhất, nhục nhã là làm điếm để sống. Ngay cả lúc thương chồng như Hai Đoan, vì muốn có tiền để thăm nuôi chồng trong tù, thì cũng chỉ có cách duy nhất là tự bán thân. Hai Đoan là một người đàn bà rất mực yêu chồng, và khi mục kích chồng lên máy chém, chị ta đau đớn phát điên. Trong cái xã hội nhỏ của con kinh nước đen, không có lối thoát cho người phụ nữ.

III  Nghệ thuật miêu tả hiện thực của Nguyễn Thụy Long

Trong lời tựa cuốn truyện Hạt Giống Của Trời, Nguyễn Thụy Long tuyên bố : Tôi, Nguyễn Thụy Long, một người chuyên viết về những đề tài hiện thực xã hội, tham vọng của tôi chỉ mong sao trình bày đươc lên hết những thảm trạng ghê gớm nhất của tuổi trẻ. Nguyễn Thụy Long viết những dòng này vào năm 1971, lúc đó ông hướng nhiều về tuổi trẻ bất hạnh. Truyện Kinh Nước Đen xuất bản sớm hơn, vào năm 1969, lúc Nguyễn Thụy Long còn quan sát, theo dõi một xóm nghèo. Dù sao lối viết hiện thực của Nguyễn Thụy Long để miêu tả hoàn cảnh những người nghèo khổ hoặc một tuổi trẻ bất hạnh đều rất sống động và dễ lôi cuốn độc giả.

Tiểu thuyết là một thể loại không có quy tắc, nên về hình thức, tác giả muốn miêu tả hiện thực bằng cách nào cũng được. Vả chăng, để có tính chính đáng, tiểu thuyết phải hướng về sự miêu tả thực tế. Tùy theo tác giả và thời đại, thực tế có thể là xã hội, là lịch sử.

Nhà văn Pháp Stendhal, ở thế kỷ 19, quan niệm tiểu thuyết một cách ẩn dụ : tiểu thuyết là một tấm gương đi dạo trên một con đường lớn. Nó phản chiếu trước mắt bạn khi thì màu xanh của bầu trời, khi thì những vũng bùn lầy của con đường (1). Như thế theo Stendhal, tiểu thuyết là tấm gương phản chiếu chính xác và đầy đủ hiện thực.

Qua thế kỷ 20, quan niệm về văn chương hiện thực đã được trau chuốt hơn, tinh tế hơn. Học giả Roland Barthes đưa vào một lý thuyết mới về lối viết hiện thực. Ông nhấn mạnh vào tính quan trọng của cái ông gọi là tác động của hiện thực (l’effet de réel). Ông cho rằng văn bản không thể là một phản ảnh đơn thuần của hiện thực, mà văn bản gồm những điều giống với hiện thực, dưới hình thức những chi tiết cụ thể. Những chi tiết này tạo cái ảo tưởng làm nền tảng cho mỹ học của cái y như thật.

Trở lại truyện của Nguyễn Thụy Long, như tác giả đã khẳng định : ông viết về hiện thực của xã hội. Kinh Nước Đen đưa người đọc vào một thế giới được xem như là hiện thực. Hiện thực đó một phần do tác giả quan sát xã hội mình đang sống, phần khác do trải nghiệm của bản thân Nguyễn Thụy Long trong lao tù. Theo tiểu sử của tác giả, thì sau cuộc đảo chính thứ nhất nhằm lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, năm 1960, ông bị buộc tội oan, phải ngồi tù. Trải nghiệm này có xui khiến tác giả thương người yếu thế, bất hạnh chăng ? Và có ảnh hưởng chăng đến hình ảnh nhà tù được nhắc nhở trong các truyện ? Đặc biệt truyện Tử tội hoan hỉ, xuất bản năm 1972, kể đời sống trong nhà tù với sự nảy sinh tình huynh đệ. Trong Kinh Nước Đen, để tăng tính hiện thực, tác giả đưa vào truyện một giai đoạn lịch sử về cuộc khủng hoảng Phật giáo vào thời Đệ nhất Cộng hòa, với cảnh Hoà thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngày 11/6/1963, và cảnh sinh viên, dân chúng biểu tình.

Dù sao tác giả cũng hư cấu thêm để truyện có phần gay cấn và gây ghê rợn, như cảnh Ba Choát vọc một xác chết đã sình thối để tìm vàng, gây hồi hộp khi tác giả miêu tả nhân vật Út sa vào nhà thổ và bị đánh đập tàn nhẫn, hoặc gây kinh sợ với cảnh Hai Dậu bị lên máy chém, cái đầu rời khỏi thân xác. Nhưng cũng có lúc tác giả đưa vào một cảnh hư cấu vừa cảm động vừa khôi hài, như cảnh người tiểu đoàn trưởng, đầy tinh thần trách nhiệm, điều khiển nghi thức hôn lễ của Tuyển và Thuận trong rừng cao su.

Một cách tự nhiên, vô thức, Nguyễn Thụy Long đã thực hành lý thuyết tác động của hiện thực của Roland Barthes, nghĩa là văn bản gồm những chi tiết cụ thể giống như hiện thực. Ngoài ra, lối viết hiện thực của Nguyễn Thụy Long tương ứng với mỹ học của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Pháp thế kỷ 19. Đặc điểm thứ nhất của mỹ học này là : loại bỏ quá khứ, hiện thực mà tác giả trình bày là hiện thực của thời hiện tại, của lịch sử cận đại, của bối cảnh thời tác giả viết. Đặc điểm thứ hai là nới rộng văn chương đến tầng lớp thấp kém trong xã hội. Đặc điểm thứ ba là nói lên sự thật, dẫu là sự thật xấu xa. Kinh Nước Đen có những đặc điểm trên, vì tự sự nói về hiện tại của những con người sống ven con kinh nước đen, nói về lịch sử cận đại, tức thời Đệ nhất Cộng hòa miền Nam, và đưa vào văn chương những con người nghèo, bất hạnh, sống trong vũng bùn lầy, nói theo tác giả, những tên du đãng, những tên trộm cắp thất học như Ba Choát không hiểu gì về cuộc đấu tranh của giới sinh viên, không có trình độ văn hóa để hiểu ngôn ngữ của họ, nhưng lại xảo quyệt dùng những khẩu hiệu « mật vụ » , « cần lao », « cách mạng » mà y không hiểu, để lên mặt anh hùng với đàn em và đi cướp bóc.

Ngoài ra, trong Kinh Nước Đen, Nguyễn Thụy Long dùng thị giác, thính giác để tạo nên một không gian hiện thực. Khi về thăm mẹ, Tuyển xúc động tìm lại được nơi chốn mà mình đã sinh ra : Tuyển nhìn thấy ánh đèn tù mù trong những túp lều, một vài tiếng nói chuyện, một câu ca vọng cổ buồn rười rượi, tiếng trẻ con khóc choe choé, tiếng ầu ơ, tiếng cằn nhằn. Tuyển tìm thấy âm thanh quen thuộc đó, khung cảnh đó, mùi vị đặc biệt đó. Tuyển bỗng thấy lòng mình ấm lại, mình đã sinh trưởng ở đây, giữa chốn bùn lầy nước đọng này (tr. 19-20).

Tác giả còn đi xa hơn trong cách làm cho tính hiện thực của không gian nổi bật, với thủ pháp lặp đi lặp lại cảnh con kinh nước đen dưới mắt của nhiều nhân vật.

Bà Sáu Họ, khi ôn lại kỷ niệm xưa với chồng, bà không cần nhìn thấy con kinh, nhưng nó rất gần gũi bà : Bà nghe tiếng sóng vỗ ì ọp ngoài con kinh. Tất cả những âm thanh đó bà nghe quen thuộc, bà đã nghe âm thanh đó từ mấy chục năm trời nay, từ khi bà còn là gái đôi mươi. Bà mường tượng thấy hình ảnh ông Sáu Họ. Người thanh niên hiền lành lưu lạc từ miền Bắc vào đây… (tr. 23-24).

Trong đêm hạnh phúc của Tuyển và Hiền, từ trên cao của khách sạn, đôi lứa nhìn xuống con kinh, nhưng mỗi người với mỗi tâm trạng khác nhau : Hiền thấy mình xa lạ với cảnh vật phía dưới, con đường về đêm vẫn còn tấp nập. Khu nhà lá đông đảo le lói ánh đèn, nhà nàng ở dưới đó. Hiền cố tìm vị trí nhà mình nhưng nàng không tìm nổi. Trên con kinh nước đen ngòm chảy ngang chợ Cầu Ông Lãnh, một vài chiếc ghe thương hồ cắm neo lặng lẽ. Bên kia con kinh là vùng Khánh Hội sáng ánh đèn. (…) Tất cả cảnh vật dưới kia đều quen thuộc với nàng. Vậy mà bây giờ đứng trên cao nhìn xuống, nàng thấy mình xa cách làm sao. Hiền bàng hoàng và thầm trách mình sao lại táo tợn như vậy ? (tr. 38-39)

Còn Tuyển thì : đứng ở cửa sổ nhìn xuống đường. Gió mát lồng lộng. Tuyển nhìn thấy trên con kinh đen một vài ánh đèn tù mù của những ghe thương hồ lờ lững trôi. Lửa cũng bắt đầu nhóm lên trong những xóm nghèo. Nơi đó Tuyển đã ra đời, nàng (Hiền) cũng vậy (tr. 45).

Cả hai đều nhìn con kinh, nhưng Hiền không nhận ra nơi chốn mình ở, cô lại nhìn xa hơn con kinh, qua đến Khánh Hội. Cách nhìn như thế tiết lộ vô thức của Hiền : Hiền không muốn thấy cảnh sống nghèo khổ của mình, mà chỉ ao ước thoát ly khỏi nơi mình sống để có một cuộc đời khá hơn. Cô cảm thấy sự đổi thay bất chợt trong tâm hồn mình nên tự thầm trách. Trong khi đó Tuyển chỉ nhìn con kinh với những xóm nghèo, nơi cả Tuyển và người yêu đều sinh ra, cái không gian này ràng buộc đôi lứa khiến tình yêu vững mạnh hơn, Tuyển chấp nhận và tâm hồn của Tuyển bình an.

Một nhân vật khác là Út, khi đã có chồng Mỹ, có một đời sống vật chất quá đầy đủ, Út bỗng cảm thấy cuộc đời trống rỗng, Út tìm cách gần gũi với người thanh niên bí ẩn mà sau này độc giả biết tên là Chương ; người này vẫn giữ khoảng cách với Út. Út cảm thấy buồn khi nghĩ đến thân phận của mình. Trong đầu Út lờ mờ hiện ra hình ảnh xóm Cầu Muối, con kinh nước đen ngòm chảy qua. Út đã sinh ra ở đó, sống ở đó… Và rồi cuộc đời nàng sẽ ra sao ? (tr. 417-418) Trong ký ức của Út, con kinh nước đen nhắc nhở nguồn gốc của Út mà Út không bôi xóa được, dẫu Út đã có một cuộc đời khác xa. Và khi nhớ đến mẹ, hình ảnh con kinh lại trở về với Út : Khu Cầu Muối, con kinh nước đen chẩy xuôi, căn nhà lá lụp xụp, người mẹ. Ừ lâu lắm nàng không gặp lại mẹ. Bây giờ không biết người ra sao ? (tr. 462)

Vào cuối truyện, bà Sáu Họ tiếp một quân nhân bạn của Tuyển, vừa đi hành quân về, cho tin tức về Tuyển không mấy lạc quan. Hình ảnh con kinh nước đen lại hiện ra khi bà ngậm ngùi nghĩ đến thân phận của bà : Khuôn mặt già nhòa bóng tối, những vết nhăn hình như sâu hơn, bà nhìn ra ngoài con kinh. Bà nghĩ thật nhiều đến những đứa con của mình. Bà xúc động giọng ướt nước mắt :

– Đời bác thật vô phước, suốt từ ngày lấy chồng đến giờ chưa từng hưởng một ngày sung sướng (tr. 559).

Niềm an ủi của bà là đứa bé, con của Tuyển : Đứa bé đói khóc ngặt nghẽo, bà Sáu Họ phải bế nó ra đứng ở đầu cầu gỗ trên con kinh ru. Nước bắt đầu lên, một ngọn gió mát hây hây từ lòng kinh thoảng lên (…) Tiếng ru của bà Sáu Họ làm đứa bé nín khóc (…) Một chiếc ghe thương hồ vừa ghé bến, bà Sáu Họ nghe có tiếng nói cười vẳng lên từ dưới bến. Mấy chục năm qua rồi, cảnh nghèo nàn ở khu này vẫn không có gì thay đổi (tr. 562).

Dưới mắt của bà Sáu Họ, của Tuyển, Hiền, Út, giòng nước của con kinh vẫn trôi qua, vẫn nhắc nhở họ một kiếp nghèo muôn thuở.

Thủ pháp lặp đi lặp lại của Nguyễn Thụy Long khiến cái không gian của con kinh càng thêm đậm nét, cuối cùng con kinh nước đen được khoác lên một giá trị biểu tượng : màu đen của nước là biểu tượng của thân phận rủi ro, đen tối của những con người sống ở đấy.

Tại sao Nguyễn Thụy Long cho độc giả thấy những cảnh đời đen tối như thế ? Trong bài Bạt cuốn Thân Phận Ma Trơi, năm 1999, Nguyễn Thụy Long viết : … xin hãy cho tôi được sống, sinh ra trên một đất nước Việt Nam tươi đẹp, thanh bình và ít có những con người tội nghiệp, chắc chắn tôi sẽ có những đoạn kết đẹp trong những bài văn…

Chính lòng thương người của tác giả đã khiến ngòi bút của ông không rời những kẻ khốn cùng, họ là nguồn sáng tạo của ông. Trong cuốn Hồi Ký Viết Trên « Gác Bút », Nguyễn Thụy Long tuyên bố : Tôi viết, trải tâm sự mình lên trang giấy. Những điều viết ra chẳng giúp gì được cho thu nhập kinh tế gia đình tôi. Nhưng tôi thoải mái như trả dần được một món nợ. Tôi nói là một phần nợ nhỏ, một phần nào cho kẻ trót mang dĩ nghiệp vào thân. Món nợ vĩ đại của nhà văn mà suốt đời, cho đến khi nhắm mắt cũng chưa trả hết, vì đời sống mãi vây quanh, chất liệu quá sức dồi dào. Lúc nào cũng muốn viết và có cảm tưởng mình mắc nợ nó nếu chưa viết được nó lên giấy hay chưa viết đủ.

Là một nhà văn, Nguyễn Thụy Long luôn cảm thấy bị thôi thúc bởi vấn đề sáng tạo, chất liệu sáng tạo của ông là tầng lớp thấp kém trong xã hội : những người khốn cùng, bất hạnh, những kẻ bất lương sống ngoài vòng pháp luật. Với chất liệu đó, Nguyễn Thụy Long xây dựng một thế giới hiện thực mà chính ông là một chứng nhân.

(1)  Stendhal, Le Rouge et le Noir, 1831.

Tài liệu tham khảo :

Roland Barthes, L’effet de réel, Le Bruissement de la langue, Seuil, 1984.

Yves Stalloni, Écoles et courants littéraires, Armand Colin, 2004.

 

NHỮNG NHÂN VẬT ĐI VẮNG CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

 

Năm 1994, giữa lúc ở hải ngoại Trần Vũ cho đăng truyện Giấc Mơ Thổ thì trong nước Nguyễn Bình Phương có tác phẩm Những Đứa Trẻ Chết Già ra mắt độc giả. Cả hai nhà văn đều sinh vào những năm 60, cả hai đều có một nghệ thuật mang dấu ấn riêng để xây dựng một thế giới kỳ ảo. Không hẹn mà cả hai gặp nhau trong việc tìm tòi và cố gắng đi xa trong một thể loại đòi hỏi nhiều tưởng tượng.

Riêng Nguyễn Bình Phương, từ tác phẩm này đến tác phẩm khác, tác giả dường như muốn đi xa trong việc thăm dò vô thức của con người. Và kỳ ảo là hình thức thích hợp nhất để đưa người đọc vào cái thế giới bí ẩn của vô thức. Truyện Người Đi Vắng xuất bản năm 1999 là một trong những tác phẩm được sáng tạo theo cách thức đó.

Người Đi Vắng là truyện một gia đình trong một làng quê, gồm ba thế hệ : người ông là cụ Điển, người cha là ông Điều và mấy chị em : Muôn, Thắng, Kỷ, Sơn và Yến. Vào đầu truyện có cảnh ngày giỗ mẹ với đông đủ mấy chị em. Muôn là chị cả, lấy chồng xa, Thắng làm công chức trong một cơ quan, có vợ là Hoàn, Thắng ở bên nhà cha mẹ vợ là ông bà Khánh, tại thành phố Thái Nguyên, Hoàn là một văn công, tức một diễn viên trong một đoàn kịch, Kỷ là người lo mọi việc trong ngôi nhà cổ, Sơn sống lông bông, chưa ổn định, Yến học sư phạm. Gia đình này là trung tâm của truyện. Xung quanh gia đình, ngoài ông bà Khánh, có những nhân vật như lão Bính ở cạnh nhà cụ Điển, lúc bé, lão là bạn chăn trâu với ông Điều, Cương, Thư và Phượng là bạn đồng nghiệp của Hoàn, Chung, bạn đồng nghiệp của Thắng và Hà, một cô gái trẻ vừa đến làm việc ở văn phòng Thắng.

Vợ chồng Thắng dần dần xa lạ với nhau. Hoàn ngoại tình với Cương. Một buổi sáng, trong khi Cương đi mua thức ăn, thì Hoàn, thay vì chờ Cương trở vể, bỗng nhiên ra đường phóng xe chay nhanh, bị tai nạn. Được đưa vào bệnh viện, Hoàn chìm vào một cơn hôn mê dài. Tai nạn này làm đảo lộn cuộc sống của mọi người. Thắng buồn rầu lo lắng, Yến vào viện giúp đỡ bà Khánh săn sóc Hoàn, Sơn đến nhà ông bà Khánh giúp công việc lặt vặt. Sơn quanh quẩn bên ông Khánh nhưng lòng trí bị thu hút bởi tiếng nhạc bên láng giềng. Sơn ao ước thấy tận mắt dàn máy com-pắc nghe nhạc của vợ chồng người láng giềng. Trước tình trạng hôn mê không thay đổi của Hoàn, Thắng quyết định đưa Hoàn về nhà. Yến cũng về theo, cô luôn luôn ngồi bên giường Hoàn với một cuốn truyện. Cương đến thăm Hoàn, thấy mặt mày Hoàn hốc hác, đôi mắt vô thần, Cương đâm ra khiếp sợ, từ đó anh dần dần xa mọi người và trôi vào cơn hoan tưởng. Thắng một phần buồn về tình trạng vô phương cứu chữa của Hoàn, phần phải chịu đựng thái độ bất bình thường của Chung ở cơ quan, anh này bị một người thiến lợn ám ảnh từ thuở bé đến mức trở nên điên. Hà làm quen với Sơn, cả hai bắt đầu gần gũi nhau, Hà quyến luyến Sơn, nhưng Sơn có vẻ thiếu tha thiết. Trong khi đó ngôi nhà cụ Điển bị mọt nhặm gắm lâu ngày có khuynh hướng sụp đổ nay mai, cho nên Muôn và Thắng đóng góp vào việc xây lại ngôi nhà, Kỷ là người điều khiển việc xây cất. Xung quanh ngôi nhà cũ, Kỷ cho thợ đào móng để ngôi nhà mới được rộng hơn. Cụ Điển thì chống việc bỏ ngôi nhà cũ, cụ trù nhiều điều xui xẻo cho cái nhà mới. Trong thời gian này, Thắng cảm thấy lẻ loi, có vợ cũng như không ; Thư lại tìm cách đến gần Thắng, thế là hai người có liên hệ tình dục với nhau. Trong khi Kỷ hì hục đào móng với nhóm thợ thì những điều nói gở của cụ Điển trở thành sự thực : một hiện tượng kỳ lạ xảy ra : trong hầm móng có một khúc thịt lớn dần, bổ nó với cái cuốc thì có máu trào ra, hầm móng đã đào sâu được một thước thì bỗng bị lấp đầy, bằng phẳng như cũ. Cụ Điển bèn bỏ nhà ra đi.

Phần Sơn, khi sắp sửa trở về nhà để giúp Kỷ, theo lời khuyên của Thắng, thì bất ngờ Sơn thấy vợ chồng người láng giềng khóa cổng, lên xe đi. Sơn trở vào nhà ông Khánh, lên ban công, thấy cửa sổ láng giềng hé mở, cơn cám dỗ quá mạnh, Sơn bèn lấy một tấm ván bắt ngang từ ban công qua cửa sổ. Phải vất vả lắm Sơn mới vào được bên trong ngôi nhà, quờ quạng mãi bất ngờ anh ta thấy một đứa bé, nó hét lên, Sơn vụt bịt chặt miệng nó, và rủi ro đứa bé chết. Sơn hoảng hốt, trở lại tấm ván để trở về bên nhà ông Khánh nhưng anh ta sẩy chân ngã xuống mặt đất và chết ngay.

Lối dựng truyện

Truyện Người Đi Vắng không được chia ra thành chương, truyện cứ liên miên trôi qua như một dòng sông, đi từ nhân vật này đến nhân vật khác, làm như người đọc được đưa vào một giấc mơ dài. Cũng như trong tác phẩm Những Đứa Trẻ Chết Già, trong Người Đi Vắng cũng có hai mạch truyện được ghép song song với nhau. Cốt truyện được trình bày bên cạnh một truyện lịch sử : truyện khởi binh của Đội Cấn ở Thái Nguyên, vào năm 1917-1918. Truyện lịch sử này có liên hệ gì với truyện chính vừa kể trên không ? Trong Những Đứa Trẻ Chết Già, liên hệ giữa hai mạch truyện là liên hệ gia đình. Ở đây liên hệ giữa hai mạch truyện có thể nói là liên hệ địa lý : cả hai truyện đều xảy ra ở Thái Nguyên, cái đền Xương Rồng là nơi có cuộc giao tranh giữa quân Pháp và nghĩa quân của Đội Cấn khi xưa, đã hiện diện trong truyện : khi Hoàn phóng xe nhanh cô đã vượt qua cái nơi gần đền Xương Rồng, còn Thư vào đền, thắp hương nhìn pho tượng lạnh lùng và tưởng tượng một cảnh rước dâu khi xưa. Cảnh ngọn đồi Đội Cấn vẫn thấp thoáng trong truyện.

Trong mạch truyện 2, có hai nhân vật chính là Đội Cấn và Lương Lập Nham. Đội Cấn là Đại Đô đốc, phất cờ khởi nghĩa cho Thái Nguyên Quang Phục Quân, Ông vào đánh đồn lính khố xanh, giải thoát Lương Lập Nham và các tù nhân. Ông chống cự quân Pháp trong năm ngày. Nhưng Đội Cấn không làm nên việc lớn nếu không có Lương Lập Nham bên cạnh. Lập Nham là người đi nhiều, hiểu nhiều, có chiến lược, được tôn làm quân sư. Mặc dù Đội Cấn và Lương Lập Nham đồng ý chí tranh đấu, nhưng giữa hai người có sự xa cách vì một người phụ nữ, người này được Lập Nham huấn luyện tinh thần, và vì chính nghĩa đã nhận làm vợ Đội Cấn, trong khi đó Lập Nham yêu thầm cô ta. Truyện kết thúc bằng sự thất bại của cuộc khởi binh và cái chết dũng cảm của Lập Nham và Đội Cấn.

Cả hai mạch truyện đều kết thúc bằng sự thất bại, sự sụp đổ và cái chết.

Thế giới kỳ ảo    

Trong Người Đi Vắng thế giới thực và thế giới ảo xen kẽ nhau. Có những giấc mơ đi xa cốt truyện, khiến người đọc không biết kẻ lên tiếng là ai. Chẳng hạn tiếng nói người chị ru em ngoài bãi tha ma, hoặc từ nghĩa địa Dốc Lim, một người xưng tôi kể chuyện về bố mẹ mình, hoặc người đàn bà không mặt đối thoại với người chồng bạc tình mà cuối cùng bà ta giết, rồi biến mất. Còn chị Ngãi, thằng Cu và Lệ bỗng dưng không biết từ đâu xuất hiện. Chị Ngãi nhắc đến cây nhãn, phải chăng cây nhãn trong vườn nhà cụ Điển ? Và như thế chị Ngãi thuộc dòng họ cụ Điển ?

Có nhiều nhân vật nằm mơ : Thắng, ông Khánh, ngay cả Hoàn trong hôn mê cũng có những giấc mơ. Giấc mơ lan tràn khắp nơi. Ngay trong văn phòng của Thắng, cả ba nhân vật đều có một giấc mơ riêng : Hà mơ thấy đang chạy dọc dãy phố vắng người, gặp đám sương mù hỏi nó : « Thế nào con nhà quê ? ». Chung thì nằm mơ thấy mình nằm xuống đống rơm và nghe người cha nói : « Không bàn cãi gì nữa, tôi bảo thiến là thiến… Đừng có lải nhải, tôi quyết rồi. Thiến cha nó đi cho rảnh nợ. » Chung co rúm người lại, hai tay bưng chặt hạ bộ (tr. 217). Còn Thắng mơ thấy mình trong một cảnh chiến tranh : có tiếng thét, người chạy, đại liên nổ.

Lại có một nhân vật nằm mơ bốn lần, lần nào cũng kêu mình bị vu oan, mặc dù nhân vật nhìn nhận đã bóp cổ một người. Phải chăng nhân vật này là ông Điều, bố của Thắng ? Phải chăng vì ám ảnh đó mà ông trở nên một người suốt ngày ngồi bất động, với cái nhìn vô cảm ?

Trong truyện, thế giới ảo mênh mông, choán ngợp. Có lúc phải ráp lại những đoạn ảo và thực xa rời nhau để hiểu một nhân vật. Chẳng hạn nhân vật Chung. Vào đầu truyện là một đứa bé đi lang thang ngoài đồng vào lúc trời sắp mưa, nó chờ gặp lũ bạn ; có tiếng rao của người thiến lợn làm nó hoảng sợ. Tim thằng bé nhói đau, chân tay bủn rủn, dái nó co lại, quắt đi, cố gắng lẩn vào giữa bụng để được an toàn (tr. 7). Rồi có độc thoại của một người kể về hành động của một người con gái tên Tuyết, cô này đã thiến một lão già đã hiếp cô, nhưng cô lại bị người độc thoại bóp cổ và thả xác xuống sông. Sau đó có rất nhiều trang nói về những ám ảnh, những hoang tưởng và những giấc mơ của Chung ở cơ quan. Cuối cùng Chung kể rằng người bạn gái của anh ta đã chết vì ngã xuống sông. Phải ráp lại tất cả những đoạn trên đây mới thấy rõ tâm bệnh của nhân vật Chung.

Ngoài ra, kỳ ảo cũng nảy sinh từ những ám ảnh dai dẳng nơi anh em Thắng, đó là tiếng mọt trong ngôi nhà cổ :

Thắng đang ở nhà cha mẹ vợ. Đột nhiên Thắng lặng đi, anh nghe tiếng mọt từ phía Linh Nham vọng lại. Tiếng mọt cồn cào nghiến ngấu… (tr. 286)

Sơn đang ngồi với Hà ở sân vận động. Tiếng mọt mênh mông, dai dẳng, nghiến ngấu làm da thịt Sơn ngứa ngáy, bứt rứt (tr. 291).

Còn đối với Kỷ ở trong ngôi nhà thì : Tiếng mọt mênh mông lúc rào lên khi lắng xuống nhưng không tắt, nó làm Kỷ ngứa ran, ngứa từ trong tim ngứa ra, ngứa khắp các mạch máu, tế bào, tóc cũng ngứa. (tr. 360)

Phải chăng tiếng mọt là tiếng gọi của tổ tiên, của những người chết đã có công xây dựng ngôi nhà cổ ?

Những uẩn khúc tâm lý

Đời sống nội tâm của các nhân vật với những giấc mơ, ám ảnh, hoan tưởng tiết lộ những vấn đề tâm lý của họ. Họ có thể sống trong một tâm trạng bứt rứt, hoặc đâm ra sợ hãi, một sự sợ hãi không có lối thoát, để rồi sau cùng họ hóa điên. Đó là hậu quả của cái mà phân tâm học gọi là phức cảm.

Trong truyện Người Đi Vắng có ba loại phức cảm : phức cảm tự ti (complexe d’infériorité), phức cảm phạm tội (complexe de culpabilité) và phức cảm bị hoạn (complexe de castration).

Phức cảm tự ti là phức cảm của hai nhân vật trẻ : Hà và Sơn. Sống ở thành thị, Hà muốn gột bỏ cái gốc quê của mình, vì muốn tỏ ra mình là người thành thị, văn minh, nhưng cô cứ bị gốc quê ám ảnh. Đã nhiều lần, một đám sương mù chắn đường Hà để mắng : Đồ nhà quê ! Đám sương mù biểu tượng cho vô thức của Hà.

Sơn là người khổ nhất với cái phức cảm tự ti của mình. Sơn cũng ở nhà quê, anh đến giúp ông bà Khánh, anh muốn tự tạo cho mình một cái bề ngoài văn minh nên anh không ngần ngại nói láo, nói khoát với Hà và ông Khánh để tự tâng bốc mình. Anh khao khát được nhập bọn với đám thanh niên ở thành thị, và nhất là khao khát được thấy và chiếm hữu cái dàn máy nghe nhạc com-pắc của người láng giềng. Phức cảm tự ti nơi Sơn quá mạnh, nên anh không ngại hiểm nguy, trèo qua nhà láng giềng. Trong cơn ham muốn mù quáng, Sơn đã vô tình giết một đứa bé và đã chết trong cơn hốt hoảng chạy trốn.

Phức cảm thứ hai là phức cảm phạm tội của Cương. Cương và Hoàn cùng ở trong một đoàn kịch. Cương bị Hoàn quyến rũ, chinh phục, và có liên hệ tình dục với Hoàn, mặc dù biết Hoàn đã có chồng là Thắng. Khi Thắng mời Cương đi uống bia, Cương kín đáo nhìn Thắng dò xét : trước bộ mặt buồn chán, nhăn nhúm của Thắng, Cương nhìn Thắng rùng mình. Vậy ngay từ đầu, Cương đã ý thức về việc phạm tội của mình. Rồi khi được tin Hoàn bị tai nạn, chìm vào hôn mê, Cương bị khủng hoản tinh thần, anh thật sự cảm thấy mình phạm tội vì đã dan díu với Hoàn. Từ lúc ở viện về Cương thờ thẩn, như người mất hồn. Một nỗi lo lắng ám ảnh Cương mỗi khi nhớ lại thái độ của Thắng (tr. 184). Cương sợ Thắng biết. Bên ngoài dãy nhà của đoàn, có cái hàng rào và một con ngựa đeo cái chuông, đây là nơi mà trước kia Hoàn và Cương thường ra ngồi cạnh nhau. Giờ đây Cương bị Hoàn ám ảnh nên ra đấy ngồi. Có lần Cương nằm mơ thấy một người lạ mặt dẫn Hoàn đến, đẩy Hoàn ngã xuống và nói : Nó bị tội thì ta đánh, ngươi đừng có can (tr. 113). Người lạ mặt biết rõ cả hai đều phạm tội. Dần dà con người Cương không còn bình thường nữa, cứ lặp đi lặp lại với mọi người cái câu : Đâu mà, có chuyện ấy đâu mà. Em thề. Cương bị phức cảm phạm tội dằn vặt, thế rồi anh ta leo lên con ngựa, phóng đi mất dạng.

Phức cảm thứ ba là phức cảm bị hoạn của Chung. Phức cảm này nổi bật từ đầu đến cuối truyện. Chúng ta đã thấy Chung bị người thiến lợn ám ảnh như thế nào từ thuở bé. Trong một độc thoại Chung kể đã làm tình với Tuyết. Tuyết khen bộ phận sinh dục của Chung khiến Chung nghĩ : Mẹ cha mấy lão thiến lợn thế mà hồi bé chúng nó cứ dọa thiến mình. Sao không đến đây mà nghe Tuyết khen. Sau đó Tuyết xúi Chung giết cái lão già đã hiếp Tuyết trước đây. Chung đồng ý, nhưng rốt cuộc chính Tuyết đã thiến lão già. Vô tình Tuyết đóng vai người thiến lợn đã ám ảnh Chung từ tuổi thơ. Và Chung đã bóp cổ Tuyết như muốn giết cái ám ảnh đó. Không ai biết vụ án mạng này, nhưng từ đó khủng hoản tinh thần của Chung ngày càng nặng hơn.

Theo phân tâm học, phức cảm bị hoạn là một khía cạnh của phức cảm Œdipe. Đứa bé trai giữa 3 và 5 tuổi có phức cảm Œdipe khiến nó yêu mẹ nó, muốn chiếm hữu mẹ nó và xem cha nó như tình địch. Người lớn thường hăm dọa sẽ thiến đứa bé để trừng phạt nó về một điều gì, trong trí tưởng tượng của nó, người trừng phạt phải là người cha, vì nó đã yêu mẹ. Vậy phức cảm bị hoạn đi liền với phức cảm Œdipe. Khi đứa bé trở thành người lớn, sự yêu thích người khác phái làm cho phức cảm Œdipe giảm dần rồi biến đi. Trường hợp của Chung là trường hợp một phức cảm bị hoạn không được giải quyết ở tuổi người lớn. Về phương diện tâm lý, Chung vẫn là một đứa bé, ám ảnh và sợ hãi làm cho Chung hóa điên.

Bên cạnh những phức cảm trên đây, vấn đề ham muốn nhục dục cũng nổi bật trong truyện, đặc biệt là ham muốn của người nữ. Hoàn, Phượng, Tuyết là những người nữ đầy ham muốn, và không ngần ngại nói đến sự ham muốn của mình một cách táo bạo, không chút giữ gìn. Tuyết khen bộ phận sinh dục của Chung, như đã nói trên. Phượng thì sau khi Hoàn bị tai nạn, cô liền thay thế Hoàn bên cạnh Cương, Phượng thẳng tay chê khả năng làm tình của Cương. Hãy xem mẩu đối thoại sau đây giữa Phượng và Cương : – Loại tay như anh, khoản ấy yếu lắm (…) Từ hôm qua, hai lần, thua cả hai lại còn. – Anh chưa quen… với lại chúng nó bảo như thế nào ấy nhỉ… Ờ, chưa đến chợ đã hết tiền phải không nhỉ ? – Không biết nhục lại còn cười (tr. 189).

Còn Hoàn trước khi bị tai nạn đã chinh phục Cương về tình dục và khẳng định với Cương : Anh chưa biết đâu, em ít đòi hỏi nhưng mà nếu đã làm em cũng mãnh liệt chả kém ai (tr. 115).

Năm 1966, tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng ra mắt độc giả ở miền Nam đã gây xôn xao không ít. Người ta chưa từng thấy một cô giáo ngỡ ngàng, rạo rực trước cậu học trò của mình, chỉ vì ngửi thấy cái mùi thơm từ chiếc áo len của cậu con trai, thấy một khoảng da bụng và cổ chân của cậu ta. Khướu giác và thị giác đã làm nảy sinh ham muốn nơi cô giáo Trâm, và ham muốn ngừng lại đấy. Nhưng cuốn truyện đã gây nên nhiều sự phê phán, vì xã hội miền Nam lúc bấy giờ hãy còn kỷ cương, còn nhiều cấm kỵ.

Giờ đây, trong một xã hội vào cuối thế kỷ 20, đối với những người phụ nữ trong truyện của Nguyễn Bình Phương, không còn những cấm kỵ, đạo đức truyền thống gì nữa, họ không ngần ngại khẳng định những đòi hỏi nhục dục của họ, họ tự do ngoại tình, tự do liên hệ tình dục. Một cách táo bạo, không thẹn thùng che dấu, người phụ nữ đã nói lên dâm tính của mình. Sự kiện này cho thấy xã hội đã thay đổi quá nhiều.

Những người đi vắng

Cuối cùng, các nhân vật đều là những người đi vắng. Thắng và Hoàn tuy là vợ chồng, nhưng người này đi vắng đối với người kia. Hoàn than với Cương : Lúc nào Thắng cũng âm thầm nuốt tất cả mọi thứ vào người không chịu nhả ra cái gì… Bí ẩn đến khó chịu (tr. 31). Còn Thắng thì nghĩ Hoàn là tảng đá khép kín, không có cửa. Và tình trạng hôn mê của Hoàn là một sự đi vắng vĩnh viễn đối với mọi người. Về phần Thắng vẫn làm việc đều đều ở cơ quan, vẫn sống chung với bên nhà vợ, vẫn ân cần với các em Kỷ, Sơn, Yến ; nhưng trước câu hỏi đột ngột của Thư : Thế  từ trước đến nay anh làm gì ? Thắng sững sờ, không nhớ trong bao nhiêu năm đã làm gì. Vậy bằng một cách nào đó Thắng đã đi vắng.

Trong ngôi nhà cổ còn lại bốn người đàn ông : cụ Điển, Ông Điều, lão Bính bên láng giềng thường qua chơi và Kỷ. Trong bốn người hết ba người đi vắng : cụ Điểu và lão Bính suốt ngày kể chuyện xưa, cãi vã nhau ; họ đi quá xa vào quá khứ, đóng cả vai Đội Cấn và Lương Lập Nham, họ bị cắt rời với hiện tại. Ông Điều biến thành một pho tượng, ông ngồi im lìm, đôi mắt nhìn vào hư không, ông cũng bị cắt đứt với hiện tại, ông đi vắng.

Yến tuy hiện diện thường xuyên bên giường của Hoàn, nhưng cô mê mải đọc truyện, dửng dưng, lạnh lùng với những người xung quanh. Lại thêm Yến có cái tật rảy cồn khắp nơi, mùi cồn quá mạnh khiến mọi người khó chịu bỏ đi. Yến ẩn núp sau các cuốn tiểu thuyết và mùi cồn để đi vắng.

Cương rời xa mọi người, Cương đi vắng vì mặc cảm phạm tội. Và tâm bệnh của Chung cũng là một sự đi vắng, đi vắng không trở về.

Thế giới truyện Người Đi Vắng của Nguyễn Bình Phương là một thế giới ảo. Cái ảo lan tràn trong đời sống thực tế, xâm chiếm cái thực dưới hình thức giấc mơ, độc thoại, hoang tưởng, v.v… Nhân vật dần dần trôi vào cái ảo, như Yến và Sơn được xe cứu thương chở vào một con đường vô tận, Cương cởi con ngựa đi vào nơi vô định, ông Khánh từ giã vợ con đi vào giấc mơ… Chi tiết kỳ ảo dồn dập quá nhiều, như trong truyện Những đứa trẻ chết già, khiến người đọc phải đóng vai trò người điều tra để theo dõi từng nhân vật.

Kỳ ảo của Nguyễn Bình Phương không gây áy náy cho người đọc như những truyện kỳ ảo của Hoffmann, Guy de Maupassant hay Prosper Mérimée, mặc dù có cảnh bãi tha ma, có những hiện tượng lạ lùng như tiếng mọt trong ngôi nhà cổ mà từ xa nhân vật nghe thấy, như khúc thịt rướm máu trong hầm móng của ngôi nhà. Những nhân vật trong thế giới kỳ ảo của Nguyễn Bình Phương là những con người cô đơn, không giao tiếp được với những kẻ khác, vì họ bị cầm tù trong nội tâm của họ và bị vô thức khống chế. Nói một cách khác, kỳ ảo của Nguyễn Bình Phương trong truyện Người Đi Vắng là một nghệ thuật nhằm khai triển khía cạnh phân tâm học của cốt truyện, bằng cách làm nổi bật vô thức của con người và cho vô thức một tiếng nói.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRUYỆN “LÃO KHỔ” CỦA TẠ DUY ANH : CÁ THỂ HAY TẬP THỂ CHO MỘT TRIẾT LÝ SỐNG ?

 

Văn học Việt Nam vào thời hậu chiến đã dần dần khởi sắc. Đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, các nhà văn thuộc thế hệ trẻ hoàn toàn thoát khỏi sự trói buộc của một hệ tư tưởng nặng nề mà các nhà văn đàn anh trước kia đã phải gánh chịu. Khi tiếp xúc với văn học thế giới, tư duy và nghệ thuật của các nhà văn trẻ càng  phong phú, đa dạng thêm. Mỗi tác giả tìm cho mình một hướng đi, một cách làm mới sự sáng tạo. Làm mới không có nghĩa bứt gốc để đi xa. Nhà văn hóa Nguyễn Đăng Thục đã từng tuyên bố : Chúng ta chỉ có thể hoàn toàn là chúng ta khi thể hiện được nguồn gốc của chính mình. Do đó nếu sáng tạo văn chương khởi đầu từ nguồn gốc của mình để đi đến thế giới thì cuộc hành trình của cái tôi xác thực hơn.

Tạ Duy Anh trong truyện Lão Khổ không đi đâu xa, vẫn ở nơi cội nguồn để làm tái sinh một miền quê. Ông không làm mới hình thức, nhưng có thể nói về tư duy ông đã đưa người đọc vào những trăn trở về con người đối diện với thân phận của mình, với thế giới siêu hình, một vấn đề của nhân loại nói chung. Tác giả cho biết ông bắt đầu viết truyện này năm 1984, năm ông 25 tuổi, truyện bị bỏ dở, được viết lại và ra mắt độc giả năm 1992, rồi bị cấm tái bản trong 10 năm. Tác phẩm Lão Khổ mà chúng ta bàn đến ở đây được tái bản năm 2014. Đây là một tự sự có nhiều lắp ghép, thực và ảo, quá khứ và hiện tại xen kẽ nhau. Tiểu thuyết Lão Khổ vẽ lên một bức tranh xã hội với con người lăn lóc, vật vã trong cơn lốc của lịch sử. Con người với bao thiện chí, bao lòng thành đã lao vào một cuộc chiến đấu, nhưng rồi cảm thấy có cái gì bất ổn, có cái gì lung lay và tự tra vấn mình.

Tạ Duy Anh thường viết về cái ác của con người, nhưng có nên dừng lại ở cái ác do tác giả miêu tả không ? Trong truyện Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, xuất bản năm 2002, có biết bao chuyện đẫm máu : giết người, tự tử, nhưng đằng sau sự tàn bạo là nỗi khắc khoải, ray rứt của con người về lai lịch, về sự hiện hữu của mình trên đời. Tôi là ai ? Tôi có phải là tôi không ? Trong truyện Lão Khổ cũng có những cảnh đấu tố, trả thù, chém giết ghê rợn, và khi nhìn xa hơn cũng có nỗi khắc khoải về cái tôi hiện sinh. Hai Duy, con của lão Khổ, cũng bị ray rứt ngay từ thời thơ ấu bởi những câu hỏi : vì sao mình có trên đời này và khi chết người ta thành cái gì ? Nhưng phải nói cái tôi trong Lão Khổ sâu đậm nhất là cái tôi xã hội. Tôi phải sống như thế nào trong xã hội ?

Truyện Lão Khổ

Ở một miền thôn quê Bắc Việt có hai làng : làng Đồng và làng Vực. Ở làng Đồng có một người nông dân được gọi là lão Khổ. Lão Khổ sống trong cảnh nghèo khốn từ thuở nhỏ, nhưng cũng được ông nội dạy dỗ. Năm 16 tuổi, Khổ đi chăn trâu, rồi lùa vịt trên sông và, sau khi hai đứa em chết vì đói, Khổ làm thợ cày. Tất cả những công việc liên tiếp đó, Khổ làm cho một ông chủ duy nhất : cụ chánh tổng. Về sau lão Khổ vào đội du kích, bí mật liên lạc với công an nội thành, lão đã từng giết một tên lính Ma rốc của đoàn quân viễn chinh Pháp. Khi còn làm việc cho  chánh tổng, lão Khổ đã đưa một nhân vật được gọi là ông Sáu và một nhóm người lén lút vào dinh cơ chánh tổng để đấu tố chủ nhà và đốt cháy khu nhà lá. Trong thời gian lão Khổ ở trong đội du kích, người chỉ huy lão là Vũ Xuân, một người bạn chiến đấu hết mình, mà lão thương mến. Nhưng do một lệnh trên mà lão không thể thấu hiểu, Vũ Xuân bị bắt và bị xử tử, biến cố này làm lão Khổ kinh khiếp, bị chao đảo và thương tiếc bạn. Nhưng rồi lão vẫn giữ vững niềm tin rằng lão tranh đấu cho nhân dân. Có một thời lão Khổ hoạt động tích cực cho đồng bào và lên đến đỉnh cao của quyền lực.

Rồi bỗng nhiên một đội cải cách về làng bắt lão, kết tội lão là Việt gian, theo chân đế quốc, đem lão ra đấu tố. Vườn đất của lão bị tịch thu, lão phải kiện cáo trong bảy năm mới lấy lại được của cải. Cuối cùng lão rút về sống ẩn dật trong vườn đất của mình.

Trong đời lão Khổ, ngoài những chuyện lớn lao làm cho dân làng, lão còn một mối lo âu, căm giận đứa con tên Hai Duy. Lão có sáu người con, chỉ có Hai Duy không giống các anh chị em nó. Nó gầy yếu, đen đủi. Lão Khổ càng bám vào thực tế, càng căm ghét những thứ hảo huyền chừng nào thì Hai Duy càng thích mơ mộng chừng đó, nó thích tưởng tượng một thế giới thần tiên như trong các truyện cổ tích. Hai Duy đâm ra kinh sợ bố và lớn lên nó âm thầm thù ghét bố, chống đối bố. Lão Khổ thì muốn uốn nắn đứa con theo kiểu sắt thép, ông tức giận bèn đốt tất cả những hình vẽ, nhật ký của Hai Duy ; người con trai từ đấy tỏ ra lầm lì, mặc cảm. Khi lớn lên, Hai Duy không còn nhìn mọi người theo quan điểm của bố nữa. Bố đã đấu tố lão Tự trước kia là một lý trưởng bị liệt vào hạng hào lý. Lão Tự sạt nghiệp, rơi vào cảnh nghèo đói, đến ôm chân lão Khổ van lạy, xin tha cho con cái của lão đang đói rách. Nhưng lão Khổ tỏ ra cứng rắn một cách tàn nhẫn, vì cho đó là kẻ thù của nhân dân. Lão Khổ trả lời : Không đời nào tôi quên được mối thù với ông. Phải để con cái ông nó thấu tội ác của bố nó. (…) Chúng tôi để ông sống là phúc lắm đó. Hai Duy chứng kiến cái cảnh đó và bắt đầu có một thái độ nhân hậu hơn đối với cha con lão Tự. Lại nữa Hai Duy có một thứ cảm tình đặc biệt đối với Giang Tâm, đứa con gái của lão Tự. Hai Duy bỏ nhà ra đi, để lại một bức thư cho bố. Lão Khổ lấy làm nhục nhã và căm tức.

Về phía làng Vực, có một nhân vật tiêu biểu cho đám hào lý, đó là chánh tổng, chủ của lão Khổ thời lão còn trẻ và nghèo khổ. Cụ chánh tổng là một người đàn ông khoảng 50 tuồi, có một bề ngoài trưởng giả, cụ đội khăn lượt, mặc áo the, chống gậy trổ đầu rồng bịt bạc. Cận vệ của cụ là Tư Vọc, một người cháu và là người duy nhất cụ tin cậy, ngoài ra cụ còn có một bầy chó dữ để bảo đảm an toàn cho cụ. Cơ ngơi của cụ gồm một ngôi « nhà Tây » đồ sộ, mênh mông, bí hiểm, có nhiều ngõ ngách không dễ cho người lạ lẻn vào, và một khu nhà lá. Cụ chánh tổng càng già yếu chừng nào thì bà vợ thứ ba càng tươi trẻ, nõn nà chừng đó. Cụ lo âu cho tình hình bấp bênh với sự hiện diện của Việt Minh nổi dậy chống Pháp, năm 1942, cụ cho đứa cháu Tư Vọc đi học trường sĩ quan và mong Tây lập một bốt trong vùng để được che chở. Sở dĩ cụ nhận thuê thằng Khổ giữ trâu, rồi lùa vịt, rồi cày bừa là vì cụ không muốn gây sự với ông nội nó là lão Thủ, một nhà thâm nho được dân trong vùng kính nể. Khi thấy thằng bé Khổ lần đầu, cụ chánh bị đôi mắt nó gây ấn tượng : Rõ là cặp mắt con phượng non chẳng qua gặp buổi tao loạn dập vùi đành phải giấu dưới cái bề ngoài hèn mọn. Trong cặp mắt ấy cụ như thấy có một ngọn lửa đến lúc nào đó đốt cháy cả cơ đồ của cụ. Sau ngày bị lão Khổ và ông Sáu đem một nhóm người vào tàn phá cơ ngơi, cụ chánh tổng khôn khéo lo xa, thu xếp mọi việc và đem cả gia đình đến vùng công giáo để đi vào Nam. Trước khi đi, cụ giao phó cơ ngơi cho Năm Cận, em của Tư Vọc.

Về phần Tư Vọc, sau khi tốt nghiệp sĩ quan, trở về tiếp tục phụng sự cụ chánh tổng. Tư Vọc lén lút tằng tịu với bà Ba, có người tôi tớ bắt gặp cảnh dâm ô, Tư Vọc sợ bị lộ tẩy liền giết người này. Tư Vọc vào Nam, mấy chục năm sau trở về nói giọng Nam và có cả một túi vàng. Người em Năm Cận mừng rỡ, lo trùng tu nhà thờ tổ, giữ việc hương khói và mời bà con dòng họ đến để ăn mừng. Rủi cho Tư Vọc trong một cơn ác mộng anh ta đã đâm chết người em Năm Cận vì tưởng đó là lão Khổ.

Một người dân quê trong cơn lốc của lịch sử

Trọng tâm của truyện là nhân vật lão Khổ, xoay quanh nhân vật này có ít nhất 16 nhân vật có tên hẳn hòi, xa hơn có nhóm này nhóm nọ và dân chúng trong làng. Cả một xã hội được dựng lên trong đó có hai giai cấp giàu và nghèo. Ở làng Vực chánh tổng đứng đầu giai cấp hào lý, giai cấp người giàu chuyên bóc lột sức lao động của người nghèo và dựa vào uy quyền của người Pháp. Phía giai cấp nghèo ở làng Đồng có lão Khổ một mực chống lại những người lão gọi là « bọn hào lý » mà lão thù ghét. Có hai kẻ thù không đội trời chung là lão Khổ ở làng Đồng và Tư Vọc ở làng Vực, cả hai khi nhỏ đều được ông nội của lão Khổ dạy dỗ. Về sau Tư Vọc thấy lão Khổ vì quá nghèo phải đến làm thuê cho chánh tổng thì lấy làm vui mừng vì sẽ được dịp sai khiến, chà đạp lão Khổ.

Truyện xảy ra trong một thời lịch sử có nhiều biến động. Có thể nói thời gian trong truyện trải dài từ năm 1942, khi Việt Minh nổi lên đánh Pháp, đến thời đất nước phân chia, có những người rời khỏi làng quê để vào Nam, trong khi ở miền Bắc có chính sách cải cách ruộng đất và những cuộc đấu tố, rồi đến thời hậu chiến.

Lão Khổ đã sống qua những giai đoạn lịch sử đó như thế nào ? Là một nông dân đã từng sống trong cảnh nghèo khốn, bần cùng, lão muốn xã thân hy sinh cho những người cùng cảnh ngộ, vì lão được giáo dục về tinh thần hy sinh, lão nghĩ rằng lão có sứ mệnh lớn lao phải hy sinh trước mọi người. Lão gia nhập đội du kích để chống Pháp, lão dẫn đầu một nhóm người để xâm nhập vào dinh cơ của chánh tổng để tố khổ nhân vật này, người đã từng khai thác sức lao động của lão, và người đã bị đôi mắt lửa của lão khi còn nhỏ gây ấn tượng. Những đặc điểm của lão Khổ là tính ngay thẳng, không biết nói dối, một tấm lòng hy sinh có thể nói là bất tận và niềm tin rằng những gì mình làm cho tập thể đều đúng, dẫu cho cá nhân có bị mất mát điều gì đi nữa ; do đó lão không biết sợ là gì. Lập trường của lão Khổ cũng do ảnh hưởng phần nào của Vũ Xuân, người bạn và là người đã chỉ huy lão. Vũ Xuân đã từng nói : Tôi nguyện hy sinh đời tôi cho những kẻ đang rên xiết khổ đau.  Lão Khổ giàu lòng thương người, như khi thấy một người ăn mày gần chết vì đói khát, lão bèn đem đến cho người này một bát trà sâm, hành động này khiến lão bị đánh dập và bị đuổi khỏi nhà của chủ.

Nói chung, lão Khổ có làm điều gì ác không ? Lão đã giết một tên lính Ma rốc chăng ? Theo lão, đó là vì « đồng bào ». Lão đã đấu tố lão Tự chăng, một lý trưởng có nhà đất nay biến thành một kẻ ăn mày, con cái đói rách. Cũng theo lão, đó là một tên hào lý, kẻ thù của dân. Khi tiếp quản xã Hoàng, lão thẳng tay thi hành lệnh trên : lão tống giam tất cả những kẻ chống đối, xóa sổ các quan lại và bắt họ đi cuốc đất, bắt kẻ tu hành hoàn tục ; tất cả vì ích lợi chung. Bà Khổ thấy chồng mình vĩ đại nhưng nó có cái gì tàn bạo. Từ trên đỉnh cao của quyền lực, Lão Khổ luôn luôn hô hào : Cải cách ruộng đất là cuộc đại thắng lợi của lịch sử đấu tranh cách mạng. Và lão tin chắc những gì lão đã làm là vì đồng bào.

Và rồi xảy ra những điều mà lão Khổ không thể hiểu được : Vũ Xuân, người bạn đã hăng hái chiến đấu với lão, bỗng bị bắt và bị đem ra xử tử ; trong khi lão tận tình phụng sự dân chúng thì một đội cải cách về làng kết tội lão là Việt gian, theo đế quốc, lão bị đấu tố và thấy rõ bộ mặt phản bội của những người thân. Từ đỉnh cao của quyền lực lão Khổ bỗng rơi xuống nấc thang cuối cùng với bao nhục nhã, ê chề. Lại có một nhân vật cho lão thấy rõ sự thất bại của con người lão. Đó là ông Bông, một người biết chữ nghĩa và đã từng tỏ ra khinh bỉ lão Khổ. Lão tức giận, báo cho cấp huyện biết ông Bông cầm đầu quân phiến loạn. Thế là lão Khổ được dịp bắt bỏ tù ông Bông. Ra khỏi tù, ông Bông bán nhà đất, rời bỏ làng quê và thề một ngày kia sẽ trả thù lão Khổ. Vài chục năm sau ông Bông trở về, lão Khổ tưởng kẻ thù sắp hại mình, và lão kinh ngạc khi thấy ông Bông đầy lòng cao thượng, quên hết quá khứ. Lão Khổ tự cảm thấy xấu hổ và thất bại một cách đau đớn. Có nhìều điều vượt quá sự hiểu biết của lão. Cũng như tình yêu của đứa con của lão với con bé Giang Tâm, hai đứa khác giai cấp, khác hoàn cảnh sống và cách xa nhau qua không gian và thời gian, thế mà chúng yêu nhau. Chỉ có những giọt nước mắt của đứa con gái mới đánh thức cái gì thật thiêng liêng trong lão.

Đã nhiều lần, lão ngồi cứng như tượng đá, để ngẫm về thế sự, về số kiếp. Tại sao tất cả những gì lão muốn làm nên điều tốt đẹp đều đem lại cho lão toàn là tai vạ ? Lão tin vào tập thể, bám vào tập thể để sống nhưng chỉ gặp toàn là đớn đau, nhục nhã. Lão cần có niềm tin để sống, nhưng niềm tin của lão bị lung lay. Hai mươi năm sau lão vẫn thấy sự đau khổ của thân phận con người. Lão kêu lên : Số phận là cái cóc gì ? Cuối đời, lão tự cảm thấy cô đơn, tự hỏi ý nghĩa cuộc sống là gì ? Vì không tìm ra ý nghĩa nên cuộc đời lão long đong. Tranh giành để làm gì ? Lão là gì trước vũ trụ ? Không là gì cả.

Nếu lão Khổ đừng căm giận đứa con, đừng gạt bỏ những tư duy mà nó trình bày trong thư, biết đâu lão sẽ có một cái nhìn khác đi về cuộc đời ?

Nền tảng của một triết lý sống 

Lão Khổ và người con Hai Duy tâm tính xung khắc nhau. Người cha càng hăng hái tranh đấu cho cộng đồng thì người con càng thu mình, sống cô lập để mơ mộng. Người cha bám vào thực tế để hoạt động, người con sống trong mộng tưởng và không ngớt suy nghĩ ; nhìn từ bên ngoài thì một bên năng động, một bên thụ động. Người cha căm giận vì đứa con không giống mình, đứa con thì thù ghét cha. Trong một cơn phẫn nộ, lão Khổ đã đốt hết những hình vẽ, những trang nhật ký của đứa con, như thể lão muốn tàn phá, bôi xóa những cái gì không phù hợp với lão. Hành động này vừa tàn bạo vừa nói lên thái độ không khoan dung của lão, một thái độ độc tài. Đứa con thay vì phục tùng cha thì đã nổi loạn và bỏ nhà ra đi. Hai bên đều cứng rắn, không nhân nhượng. Sự ra đi của đứa con là một nhục nhã ê chề đối với lão Khổ, đứa con đã tỏ ra chống lại lão trước mặt dân làng.

Như đã nói trên, từ thời thơ ấu Hai Duy đã băn khoăn về hai vấn đề lớn lao : tại sao mình hiện hữu trên đời ? Con người chết rồi sẽ ra sao ? Đó cũng là những vấn đề chủ yếu làm các nhà triết học xưa nay đã bao phen trăn trở.

Trong thư Hai Duy gửi cho bố, anh nói những sự thật mà bố không ngờ được. Người con ví làng Đồng như một ngục tù mà bố vừa là cai ngục vừa là tù nhân. Người con cảm thấy ngột ngạt trong cái « vương quốc » đó, nơi mà mọi người ăn nói như nhau, phản ứng như nhau, nơi mọi người đều vô cảm, cúi đầu phục tùng quyền lực. Người con muốn sống trong một thế giới khác, một thế giới có tự do, chân lý, và từ chối cái tương lai mà người cha hứa với cộng đồng. Hai Duy buộc cha phải tự xét mình, phải chọn lựa một trong hai động lực của con người : tình yêu hay thù hận. Sức mạnh của người cha là quyền lực, sức mạnh của người con là tình yêu, là sự khao khát tự do, chân lý. Người cha sống cho cộng đồng, cho tập thể, người con sống cho riêng mình, cho cá thể. Thế giới tập thể của người cha làm liên tưởng đến tác phẩm 1984 của George Orwell, liên tưởng đến những chế độ cực quyền, trong đó con người biến thành cái máy, chỉ biết tuân lệnh trên, không còn đời sống tình cảm, không còn biết tư duy. Lão Khổ đã mù quáng thi hành lệnh trên, không còn thì giờ và khả năng suy nghĩ nữa. Và lão nhìn nhận lão đã thất bại. Trong thế giới cá thể của người con, trái lại con người có óc phê phán, có đời sống tình cảm, có tự do lựa chọn.

Sau một thời gian dài vắng mặt, Hai Duy trở về quê tìm lại người yêu và gặp lại người cha. Người đọc có thể tưởng tượng hai bố con có đủ sáng suốt, nghị lực và tình thương để dung hòa hai cách nhìn, hai nhân sinh quan chống đối nhau.

Tác giả Tạ Duy Anh, trong bài tựa gọi là : Lời viết riêng cho độc giả của Nhã Nam, cho biết đã chọn người cha làm mẫu cho nhân vật lão Khổ và sau này bạn bè cũng đồng hóa tác giả với cái tên Khổ. Thông thường tiểu thuyết hoặc truyện ngắn đi từ những sự kiện, những biến cố có thật, rồi được hư cấu thêm, được mỹ hóa để thành một tác phẩm nghệ thuật, điều này là một hiện tượng thường xuyên trong những sáng tác nghệ thuật. Tiểu thuyết Lão Khổ trước tiên được xây dựng từ một nhân vật có thật, và sau nữa nó phảng phất tính tự truyện nếu đứng về phương diện nhân vật người con. Vậy chúng ta có thể nghĩ rằng đây là một tác phẩm tâm huyết của Tạ Duy Anh. Qua sự chống đối giữa hai cha con, hai thế hệ, tác giả có ý muốn đưa ra một vấn đề có tính hệ tư tưởng chăng ? Chọn lựa cái lợi cho cá thể hay cái lợi cho tập thể để làm nền tảng cho một triết lý sống, cho một xã hội ? Vì con người cần có một triết lý, dù lắm khi là vô thức, để hướng dẫn đời sống của mình. Lịch sử, văn hóa của loài người cho thấy cần dung hòa hai quan điểm của hai cha con trên đây để tránh những nguy cơ cực đoan và để đi đến một xã hội nếu không lý tưởng thì cũng giúp con người có đủ điều kiện để sống cho mình và sống chung với kẻ khác.

Từ chuyện một nông dân ở một làng quê nhỏ bé, Tạ Duy Anh đã gợi lên những trăn trở về ý nghĩa cuộc sống của con người trong xã hội, đó là một vấn đề lớn lao thuộc lĩnh vực triết học và xã hội học.

        

 

MỸ HỌC VỀ THÂN XÁC TRONG THƠ NGUYÊN SA

 

 

                     Thế kỷ chúng tôi trót buồn trong mắt

                     Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư.   (Bây giờ)

Qua hai câu thơ đó Nguyên Sa đã diễn tả tâm trạng của thế hệ ông, thế hệ của những người trai trẻ ở miền Nam thời 1954-75, đã nuôi nhiều kỳ vọng cho tương lai đất nước, nhưng chẳng bao lâu đầy tuyệt vọng trong một quê hương khói lửa.

Khi miền Nam khởi đầu một trang sử mới, Mai Thảo đầy nhiệt huyết hô hào cắt đứt với văn học tiền chiến, với quá khứ để xây dựng một nền văn học mới. Đến năm 1968 lập trường của Mai Thảo vẫn kiên trì khi ông viết trong bài « Nói chuyện với những người viết mới » :

Dòng văn học nghệ thuật tiền chiến khép đóng lại trong một trạng thái cạn dòng, khiến cho tiền chiến và hậu chiến trong lãnh vực văn học nghệ thuật Việt Nam, là một chặt đứt hoàn toàn, nguyên nhân sâu xa là bởi vì văn học nghệ thuật tiền chiến xem thường cái công tác mở đường, tạo điều kiện cho lớp người đang tới. Tinh thần tiền chiến là cái tinh thần chiếu trên chiếu dưới. Quan niệm người nghệ sĩ như một cá nhân lạc phách xuất chúng như chúng ta thấy ở con người Nguyễn Tuân, thái độ chiếm giữ địa vị độc tôn của những nhà văn Tự-lực Văn-đoàn là phản ánh cho những chủ tâm ngăn chặn có hệ thống và có thủ đoạn sự thành hình của những người đến sau, của những người đi trước. Bây giờ khác. Những người viết trẻ ở miền Nam có đủ tất cả những điều kiện và những cơ hội tốt đẹp đồng đều như nhau để tạo cho mình một chỗ đứng dưới mặt trời.  (1)

Trong lĩnh vực thơ, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Nguyễn Đức Sơn v.v… quả đã tự tạo cho mình « một chỗ đứng dưới mặt trời ». Thơ tự do, thơ văn xuôi của nhóm Sáng tạo đã đánh dấu một cuộc khởi hành mới. Tâm trạng con người biến đổi với thời cuộc. Không còn những lời yêu đương bay bướm của một Xuân Diệu thời tiền chiến đã từng đưa người đọc vào những say mê mộng tưởng. Thơ miền Nam là tiếng nói thật của ưu tư, của phẫn nộ, của phản kháng. Nguyên Sa nguyền rủa :

cuộc đời chó đẻ

thế kỷ chó đẻ

chiến tranh chó đẻ…  (Nhìn em, nhìn thành phố, nhìn quê hương)

Người đọc không dễ thản nhiên trước lời thịnh nộ đó vì nó biểu hiện một tình cảm chân thật, tự đáy lòng.

Thơ Nguyên Sa đa dạng : thơ tình yêu, thơ chiến tranh, thơ triết lý, siêu hình. Ở hải ngoại thơ ông được in làm bốn tập, và một số bài sáng tác vào cuối đời được in trong cuốn « Cuộc hành trình tên là lục bát ». Biến cố tháng tư năm 1975, tiếp theo là cuộc di tản vĩ đại, đời sống bơ vơ nơi xứ người với tâm trạng lưu đày và sau cùng là bệnh hoạn là những yếu tố đã tác động sâu xa đến tâm lý tác giả khiến cho dòng thơ đã biến đổi. Phần thơ được hình thành ở hải ngoại có cái nét đặc thù của nó, đáng được nghiên cứu. Thơ Nguyên Sa được bàn đến ở đây là thơ sáng tác trước 1975, một đóng góp đáng kể vào nền văn học miền Nam, được trình bày trong tập I và trong phần 2 của tập II.

Đọc thơ theo lối truyền thống là thưởng thức tiết điệu, ý tưởng qua sự phối hợp của hình ảnh và màu sắc. Lối đọc truyền thống chú trọng đến cách gieo vần, ngắt câu, đến nhạc điệu của bài thơ. Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu cho nên nhạc tính được xem là một trong những chuẩn thẩm mỹ của một bài thơ. Nay chúng ta thử đi vào thế giới thơ của Nguyên Sa bằng một cách đọc mới : cách đọc theo phương pháp phê bình chủ đề (critique thématique), đó là một trong những phương pháp đọc và phê bình của Tây phương. Một chi tiết, một hình tượng chỉ có giá trị ý nghĩa cho việc xác định chủ đề nếu nó được lặp lại nhiều lần trong tác phẩm, có khi dưới những hình thức khác nhau.

Hiện tượng luận của Merleau-Ponty (1908-1961) đã ảnh hưởng đến phê bình chủ đề ở Pháp và đã cho phép phương pháp này đi sâu vào các văn bản và phát hiện những chiều kích mới của sự sáng tạo văn chương. Merleau-Ponty cho rằng con người vừa là ý thức vừa là thân xác, cả hai không thể phân chia được, và đối với con người, sống là ở trong thế giới như người ta ở một nơi chốn bằng cách phản ánh nơi chốn đó và tự phản ánh mình trong đó, có một tính nhất quán của con người và đời sống con người trong thế giới. Theo hiện tượng luận, ý thức (conscience) luôn luôn là « ý thức về cái gì », « về mình », « về thế giới », và là « ý thức được hiện thân », tức ý thức phiến diện, không có tính tự chủ. Nhờ sự trung gian của thân xác và của ngôn từ, chủ thể được định nghĩa theo lối mở ra của nó đối với thế giới của vật thể và của con người. Ảnh hưởng của một vật thể hay của một phẩm chất có cảm tính trên trí tưởng tượng của một nhà văn phải được hiểu, từ phương diện hiện tượng luận, như sự biểu hiện của một cách tồn tại cá biệt trên thế giới. Merleau-Ponty nhấn mạnh về sự « hiện thân » của chủ thể trong một thể xác biết tri giác, hành động, nói ; đối với Merleau-Ponty, mọi biểu tượng hóa đều ăn sâu vào một tập tính của thân xác. Ý thức được hiện thân bao giờ cũng chỉ có một cách nhìn phiến diện về thế giới, cách nhìn bị giới hạn bởi thân xác và bởi tầm nhìn, vậy ý thức không thể hiểu thế giới trong tổng thể. Do đó vô thức có một vai trò quan trọng và cần thiết. Giải thích theo hiện tượng luận là nói rõ cái ý nghĩa được bao hàm trong hiện tượng. Phê bình chủ đề là « tháo gỡ » văn bản để đi tìm một sự gắn bó chặt chẽ sâu xa của những yếu tố rời rạc. Jean-Pierre Richard, trong cuốn « L’Univers imaginaire de Mallarmé », cho rằng trình tự hiển nhiên trong tác phẩm không phải là trình tự thật.

Tính nhất thể của con người đưa vào sự sáng tạo, vào cuộc phiêu lưu nghệ thuật những gì khác hơn là những ý tưởng có tính cách lý luận, nó đưa vào những nguyên do tồn tại của con người, những sợ hãi và những kỳ vọng sâu xa. Đọc thơ cũng có nghĩa lắng nghe dòng vô thức của tác giả. Việc lắng nghe không cho chúng ta nắm bắt hoàn toàn cái dòng vô thức đó, nhưng ít ra nó cho chúng ta đến gần bản thể để thấy một khía cạnh nào đó của trải nghiệm của con người qua ngôn từ. Sự lắng nghe vô thức có thể làm nổi bật tính nhất quán của nội tâm.

Đọc thơ Nguyên Sa qua lăng kính chủ đề là làm vỡ tung cấu trúc các bài thơ để dò tìm trong bề sâu một trình tự, một cơ cấu của trí tưởng tượng được xây dựng bởi ý thức và vô thức của tác giả. Trong thơ Nguyên Sa thân xác chiếm hàng đầu, được phóng to và trở thành một ám ảnh.

Thân xác là điều kiện của trải nghiệm của con người. Thân xác chỉ định cách tồn tại của tôi ở đời. Trong khi mà theo siêu hình học, chủ thể đối lập với thân xác, tinh thần đối lập với vật chất thì Merleau-Ponty nhìn thấy trong thân xác một hình thức của tinh thần : phải xóa đi cái lằn phân chia giữa thân xác và tinh thần. Thân xác tôi không hề là một mảnh vật chất, một cụm quá trình sinh lý theo thuyết duy linh hay thuyết duy vật, thân xác tôi không hề bị quy về một hệ thống năng lực làm động cơ, quy về một đối tượng cho cái « Tôi tư duy », thân xác tôi chỉ định một tập hợp các ý nghĩa đã từng được sống qua. Merleau-Ponty còn so sánh thân xác với tác phẩm nghệ thuật :

không phải với đồ vật thực tế mà thân xác có thể được so sánh, nhưng đúng hơn với tác phẩm nghệ thuật. Trong một bức họa hay một bản nhạc, ý tưởng không thể được truyền đạt một cách khác hơn là bằng sự phô trương màu sắc và âm thanh []. Một cuốn tiểu thuyết, một bài thơ, một bản nhạc, là những cá thể, nghĩa là những thực thể mà người ta không thể phân biệt cái biểu hiện với cái được biểu hiện, mà ý nghĩa chỉ được đạt đến bởi một tiếp xúc trực tiếp, cái biểu hiện và cái được biểu hiện tỏa rạng ý nghĩa mà không rời khỏi vị trí của chúng trong thời gian và không gian. Chính trong cái nghĩa đó thân xác chúng ta có thể được so sánh với tác phẩm nghệ thuật. Thân xác là cái điểm mấu chốt của những ý nghĩa sống động… (2)

Nói đến mỹ học về thân xác trong thơ Nguyên Sa trước tiên là nêu lên mạng hình tượng (3) được kiến trúc theo mỹ cảm. Hình tượng càng có chất thơ, càng đạt đến mức độ thẩm mỹ cao khi những yếu tố cách xa nhau, lạ lùng đối với nhau được ghép lại để gây nên, một cách bất ngờ, sự hiển nhiên và đồng thời sự ngạc nhiên, chẳng hạn như trong hai câu thơ :

Sài gòn tối đi học một mình

Cột đèn theo gót bóng lung linh.

Thân xác được tạo nên như thế nào và tồn tại trong một thế giới cảm tính ra sao ? Cuối cùng thân xác có ý nghĩa gì trong cái nhân sinh quan của nhà thơ ?

Thân xác qua cái nhìn của Nguyên Sa

Trong thơ, trí tưởng tượng dựa vào cảm giác để sáng tạo những hình tượng mới cho một thế giới ảo. Trong trường hợp của Nguyên Sa, thân xác là trọng tâm của thế giới ảo. Cả một kiến trúc về thân xác được dựng lên : thân xác khi sống, khi yêu, khi phẫn nộ, khi chết, khi biến hóa.

Trong thân xác, gương mặt chiếm địa vị ưu tiên. Ở trần thế, gương mặt mang dấu ấn của lịch sử, của định mệnh :

Vỗ mạn thuyền xô động, với nếp trán phế binh, với đôi mắt dã tràng mệt mỏi, anh đi vào ngôi nhà nguyện tâm hồn. (Bài giã biệt)

Và thơ mở rộng không gian để ảo hóa gương mặt theo chiều kích của vũ trụ. Vừng trán trở nên bao la :

Trán mênh mông va chạm cửa chân trời  (Bây giờ),

Khi đám mây cao dừng trên nếp trán  (Kỳ diệu).

Để thân xác đồng hóa với vũ trụ thì Tóc em anh sẽ gọi là mây, tóc thường gặp gió :

Kể từ gió thổi trong vừng tóc  (Tương tư),

Tóc thổi gió vào giữa hồn lộng nhạc  (Cảm tạ).

Và tóc của người nam là một bầu trời lồng lộng. Còn đôi mắt của người nữ là …hành tinh lóng lánh  (Cần thiết)

Khi lòng sầu héo hắt thì :

Đôi mắt đẹp từng cánh sao tắt lịm  (Đợi khách)

Đôi môi thì đã có trăng :

Trăng ở trên môi và gió ở trong hồn  (Buổi sáng học trò),

Vòng môi nhỏ nuôi trăng trong nhịp thở  (Cảm tạ).

Cầu vồng trong vũ trụ cũng phản ánh trên gương mặt :

Người về đây có phải tự trời xa

Với nét mắt vòng cung của cầu vồng che mưa nắng.  (Đẹp)

Cầu vồng trong trí tưởng tượng của loài người là một hiện tượng vừa đơn giản vừa huyền bí, khó nắm bắt. Trí tưởng tượng về vật chất ngập ngừng khi phải đánh dấu cầu vồng : nước không đủ để làm nó xuất hiện, mặt trời không đủ để làm óng ánh tất cả những màu sắc của nó, và nếu cầu vồng nối liền đất với trời nó không hẳn thuộc về đất mà cũng không hoàn toàn thuộc về trời. Tốt hơn nên bàn về tính hai mặt của nó : hình thức và màu sắc. Tính biểu tượng của cầu vồng thể hiện trong Cựu Ước của Thiên Chúa giáo, đặc biệt hình cung – hình thức của cầu vồng –  được nhắc đến. Thượng đế nói với ông Noé : «… Ta đặt vòng cung trong đám mây và nó sẽ trở thành một dấu hiệu của sự liên kết giữa Ta và trái đất… » (4). Trong huyền thoại Hy lạp, trong các tín ngưỡng của các dân tộc Pô li nê di, In đô nê xi a, Nhật bản, cầu vồng được quan niệm như một gạch nối, một chiếc cầu giữa đất và trời, giữa loài người và thần thánh. Vậy hình thức của cầu vồng tương ứng với trí tưởng tượng có tính chất tôn giáo. Cầu vồng là một biểu tượng của sự đi qua, của sự chuyển tiếp. Những màu sắc của cầu vồng mở ra cho trí tưởng tượng những cánh cửa của thế giới huyền ảo.

Ở Nguyên Sa cầu vồng có cả hình thức lẫn màu sắc :

Sài gòn cười đôi môi rất tròn

Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong

Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng

Hay đã đưa dần sang nhớ mong. (Tám phố Sài gòn)

Cầu vồng là lối đi qua của tình yêu giữa mưa và nắng, tức giữa hai thế giới xa cách nhau, thế giới của người nam và người nữ. Cầu vồng cũng là dấu hiệu của sự vui thích, là một giải thoát khỏi thực tế để đi vào trò chơi kỳ ảo, cho nên màu sắc của cầu vồng là màu sắc của hân hoan, của hứa hẹn, được dùng làm màu áo của người nữ :

Để ngày mai giữa mùa xuân lã lướt

Tôi sẽ hái

Giữa đám mây ngũ sắc của cầu vồng

Lấy một mầu cho em dệt áo.   (Nước ngọt)

Ngoài hiện tượng cầu vồng, trong vũ trụ cũng diễn ra một trò chơi cút bắt:

Nếu em là gió tôi sẽ làm trăng. Em là trăng, tôi sẽ là mây. Nếu em là mây, tôi sẽ làm gió thổi. (Gọi em)

Sau gương mặt là đôi vai, biểu tượng của thân phận con người, vì đôi vai phải gánh nặng :

Tiếng hát buồn đè xuống nặng đôi vai (Bây giờ)

Đôi vai phải cam chịu những nỗi thống khổ :

Những thằng ăn không nói có,

Đã chém tổ quốc nát bằm hai vai  (Đám tang Nguyễn Duy Diễn).

Bàn tay có nhiều chức năng. Có bàn tay phẫn nộ ném đá để đập tan mọi thứ tệ đoan và tự trừng phạt chính mình (Ném đá), có bàn tay cắt tóc để trút bỏ những tàn khốc của chiến tranh, những xấu xa của cuộc đời (Cắt tóc ăn Tết), lại có bàn tay bôi xóa hận thù chiến tranh bằng cách ném xuống vực thẳm và lãng quên những khí giới, những ngôi nhà bốc cháy (Vết sẹo). Bàn tay là nguồn tình cảm, yêu thương hay thù ghét đều được thể hiện qua bàn tay. Bàn tay hứa hẹn tình yêu :

Mỗi ngón tay em

Anh vẫn gọi là một cửa đào nguyên.  (Có phải em về đêm nay)

Và khi tình yêu đã đến :

Người ta làm thế nào cắt được

Bốn bàn tay chim khuyên.  (Nga)

Nỗi xúc động cũng được bàn tay diễn đạt :

Bước chân gần lại,

Bàn tay mừng tủi. (Tự do)

Tình yêu thiếu vắng biến năm ngón tay thành năm cành cây, năm nòng súng lạnh, và khi người không biết thương người thì :

chỉ nhìn nhau xa cách như hành tinh

Để những bàn tay lạnh tê bên hè phố. (Tôi sẽ bỏ đi rất xa)

Nơi người nữ, phần thân xác còn lại lẩn khuất trong tà áo. Trong thơ Nguyên Sa tà áo luôn được ca ngợi : tà áo lụa Hà đông, tà áo nữ sinh trong sân trường, ngày thứ bảy trong thành phố Sài gòn có  Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ, và có cái nhìn say mê quanh quẩn trên tà áo huyền thoại đó :

Cánh tay tà áo sát vòng eo

Có nghe đôi mắt vòng quanh áo. (Tám phố Sài gòn)

Tà áo cũng được đồng hóa với thiên nhiên, với sương mù :

Anh về giữa một giòng sông trắng,

Là áo sương mù hay áo em ?  (Paris có gì lạ không em ?)

Tà áo che kín thân xác để kích thích trí tưởng tượng, để mầu nhiệm hóa thân xác người nữ.

Thân xác có nhiều cách để tỏ bày tình yêu :

Hãy cười bằng mắt, ngủ bằng vai

Hãy để môi rót rượu vào môi

Hãy cầm tay bằng ngón tay bấn loạn . (Tháng sáu trời mưa)

Anh sẽ trở lại bên em – mà cúi đầu mà quỳ gối – mà nghe rụng trong lòng ánh sáng hành tinh. (Sám hối)

Thân xác cần hơi thở để sống :

Hãy thở gấp cho anh nhiều hơi thở  (Người em sáng trong cô độc),

Hãy gửi cho nhau từng hơi thở mùa thu  (Tháng sáu trời mưa),

và hơi thở chỉ tồn tại trong thiên nhiên. Cho nên thân xác hòa mình với thiên nhiên :

Khi em đến nằm ngoan trên đồi cỏ

Có bỡ ngỡ là mặt trời bỡ ngỡ

Có xôn xao là núi lớn xôn xao. (Kỳ diệu)

và được thiên nhiên tôn vinh :

anh thấy những hành tinh

đứng nhìn mắt em

những thảo mộc thơm ngát

đứng nhìn tóc em

những loài thú

run rẩy

những loài thú

lông mượt và dịu hiền

đứng nhìn thân thể em

 rồi cám ơn anh

đã làm vinh quang cho vũ trụ. (Nhìn em, nhìn quê hương …)

Khi phải đo sức với khí giới giết người thì thân xác bị rã rời, phân tán :

Thấy tay dư thấy chân thừa

Thấy tai nghễnh ngãng mắt mù óc không.  (Sân bắn)

Cuối cùng thân xác chết vẫn còn tiếng nói :

Mái tóc anh nói với anh hãy quên mây

Đôi mắt anh nói với anh hãy quên trời tinh tú

……………………………………………..

Thân thể nói với anh hãy quên xác thịt buồn . (Cầu siêu cho Nguyễn Quan Đại chết ở Khe Sanh)

Thân xác và thế giới cảm tính

Thân xác nổi bật trong mạng hình tượng, và quy tụ những cảm giác và tri giác mâu thuẫn nhau : mềm cứng, nặng nhẹ, đóng mở, trên dưới, trong ngoài.

Qua xúc giác, thân xác biết được đặc tính mềm cứng của mọi vật. Mềm gợi lên cảm giác êm dịu, dễ chịu và gây sự thích thú như mái tóc hay những vuốt ve của người yêu :

Có nghe hơi thở cài vương miện

 Lên tóc đen mềm nhung rất nhung,  (Tám phố Sài gòn)

Người tình ở Vũng Tàu nói với anh hãy quên những vuốt ve mềm. (Cầu siêu cho Nguyễn Quan Đại chết ở Khe Sanh)

Mềm còn được cảm thụ qua thính giác và thị giác :

đôi chân người mà tôi không dám nhớ cũng không dám quên

 còn quay đảo giữa điệu nhạc mềm như khói thuốc. (Paris)

Đặc tính cứng thể hiện qua kim loại, và kim loại là biểu tượng của sự tàn bạo :

Hay ở quanh tôi những đồn phòng ngự

Đã biến tôi thành một gã lính canh thô bạo

Đi giầy đinh dẫm nát tâm hồn. (Hai mươi)

Muốn khỏi chứng kiến những thảm họa của chiến tranh thì đã có cái cưa, con dao, cái dùi để cắt xén thân xác (Dặn vợ chưa cưới). Ở đây sự tàn bạo đối với một thân xác bất lực đáp lại sự tàn bạo của chiến tranh. Kim loại gây khổ nạn cho con người, ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo rất rõ :

Hai mươi năm, buồn ở đấy, trên vai

Thân thể nặng đóng đinh bằng tội lỗi. (Lúc chết)

Nước mắt em ơi, đã đóng đinh vào lòng bàn tay anh và linh hồn dớm máu…  (Sám hối)

Chẳng những cảm giác cứng gợi lên sự tàn bạo, nỗi thống khổ mà nó còn báo hiệu việc chẳng lành như sự chia ly:

Rồi cả người

cả Paris nhìn tôi qua một nụ cười nhắn nhủ

nụ cười mềm như ánh nắng của cuộc chia ly

của một buổi sáng mai khi những người phu đổ rác bắt đầu đi

những thùng rác bắt đầu cọ vào nhau

với những tiếng kêu của một loài sắt lạnh

như những tiếng kêu của những chiếc đinh khô, những mình búa rắn. (Paris)

Đặc tính cứng của kim loại, dưới hình thức dây thép gai, là biểu tượng của sự thù ghét :

Dây thép gai đã buộc vào mắt anh gió lốc  (Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi)

Đôi mắt nhìn không vướng một sợi dây thép gai  (Tự do)

Bên cạnh mềm cứng có nặng nhẹ. Cảm giác nặng là một cảm giác không thuận lợi cho thân xác và được gắn liền với thời gian :

Những ngày tháng trên vai buồn bỗng nặng (Áo lụa Hà đông)

Đã lâu rồi vết thời gian chĩu nặng  (Đợi khách)

hay gắn liền với nỗi buồn :

Những chiều mưa mây xám nặng trên vai  (Paris),

Anh chợt đau vầng trán nặng đêm khuya  (Lúc chết)

Nặng cũng là đặc tính của những khí giới giết người : những khẩu súng là những  thỏi sắt nặng. Nhưng có khi cảm giác nặng thể hiện sự ham muốn yêu đương :

Trái thơm ngon nặng chĩu trên môi  (Kỳ diệu)

Sống là nặng và chết là nhẹ. Khi nói về người đã chết :

Này nhìn hai vai nó nhẹ  (Đám tang Nguyễn Duy Diễn)

và khi tưởng tượng mình chết :

Ngón buông xuôi cho nhẹ bớt hình hài  (Lúc chết)

Cảm giác nhẹ thường gợi lên hơi thở, và trong vũ trụ hơi thở tác động đến sương mù, đến mây :

Lúc sương mù ai thở để sương tan

Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc  (Cần thiết)

Nhẹ nhàng chỉ định cái thoảng qua, cái thì thầm của nỗi niềm :

Chỉ nghe gió thoảng niềm thương nhớ  (Paris, có gì lạ không em ?)

Tôi muốn hỏi thầm người rất nhẹ :

Tôi đưa người hay tôi đưa tôi ?  (Tiễn biệt)

Ngoài những cảm giác mềm cứng, nặng nhẹ, còn có những tri giác về không gian : đóng mở, trên dưới, trong ngoài nảy sinh từ ý niệm rằng kiếp người là một nhà tù, và con người là một người tử tù :

Có trăng, hoa, chim bướm thì tôi làm thơ

 Nhưng vẫn không quên

 Chỉ là hiện thân của một người tử tù

 Có gục đầu nhìn cuộc đời

 Cũng chỉ như nhìn khung cửa nhà giam.  (Di chúc)

Nhà tù là một không gian của tối tăm :

Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối. (Sám hối)

Những xiềng xích quấn lấy thân ta

Trong bóng đêm của tâm hồn nổi loạn  (Hịch)

Tình cảm là động cơ của đóng mở. Đóng là cử chỉ chối từ tình thương :

Bàn tay đóng cửa những bàn tay  (Nước ngọt)

Sự thù nghịch có thể dựng lên những ngăn chặn, những đóng kín :

Nhưng tôi phải khóc

Khi những mắt người

Đan thành những lần phên mắt cáo  (Nước ngọt)

Ngược lại, mở là thái độ hiến dâng và đón nhận tình thương :

Cho đến bao giờ cả lòng người cũng yêu đương mà mở toang cửa (Tâm sự)

Những nụ cười có sức đắm say mở rộng chân trời và nguồn sống vô biên.  (Đêm mưa)

Trên dưới và trong ngoài xác định vị trí của người tù :

Ngửa mặt lên cao, trời xanh biêng biếc

Làm sao em không ngó xuống linh hồn. (Mùa xuân buồn lắm em ơi)

Trong bài « Chim », người ở dưới đất đặt câu hỏi với chim bay trên trời. Đó là những câu hỏi của một người mù, điếc, một người bị cô lập trong sự tù đày, trong đêm tối, phải nhờ chim bay tự do trên không trung nhìn dùm cuộc đời. Và khi chết nằm dưới mộ :

Ở trên ấy mây mùa thu có lạnh       

Anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời. (Lúc chết)

Nhưng cuối cùng cái chết được xem như một giải thoát khỏi nhà tù, tức từ trong ra ngoài. Trong bài « Đám tang Nguyễn Duy Diễn », có tiếng hò reo :

Chiếc lưới đã mở rồi

Thế là nó thoát anh  em ơi !

Trong ngoài cũng thể hiện sự xa cách của tình yêu :

Khi bàn tay vẫn ở ngoài tầm bàn tay, đôi mắt ngoài tầm đôi mắt, đôi môi ngoài tầm đôi môi  (Ngoài tầm)

Đóng mở, trên dưới, trong ngoài nói lên cái cảm giác chật hẹp, tù túng khi thân xác bị cầm tù bên trong, bên dưới, và nỗi khát khao thoát ra ngoài không gian vô tận. Thân xác được ảo hóa trong không gian, và không gian làm nảy sinh khái niệm đo lường :

Đo đếm thời gian

Bằng những điếu thuốc lá tắt trong đêm  (Có phải em về đêm nay)

Rồi tôi đo hoang vắng của hồn tôi

Bằng những đêm rất rộng  (Hai mươi)

Còn lo âu làm sao đếm

Còn thống khổ làm sao đo  (Hỏi thăm Sài gòn)

Thân xác và lửa

Nguyên Sa có những bài thơ về nước dưới hai hình thức : mưa và giòng sông. Mưa được gợi lên khi tác giả nói về tình yêu. Mưa là cái cớ để tỏ tình trong « Tháng sáu trời mưa », trong « Đêm mưa », mưa gắn liền với nước mắt để diễn tả nỗi buồn của hai kẻ yêu nhau (Nga). Còn giòng sông có giá trị biểu tượng, biểu tượng của thời gian trôi qua (Hãy đưa tôi ra bờ sông), của miền Nam (Bài hát Cửu long), nhưng biểu tượng độc đáo nhất là nước ngọt, nước ngọt là tình thương (Nước ngọt). Nói chung, hình tượng nước trong thơ Nguyên Sa có tính cách ước lệ, không thể hiện được bề sâu của trí tưởng tượng.

Ngược lại, lửa không đi vào thơ Nguyên Sa một cách rầm rộ như nước, nhưng nó xuất hiện mạnh mẽ đây đó, trong nhiều bài thơ, có khi một cách bất ngờ, và nó là một dấu hiệu đáng chú ý. Lửa bừng lên chẳng hạn trong những câu thơ sau đây :

Em chói sáng trong tình anh cô độc

Cả cuộc đời mộng ảo nhớn bừng lên

Gót kiều thơm chuyển bước : bút thần run

Chờ em đến tuổi trời anh đốt lửa  (Người em sáng trong cô độc)

Có lửa trong điếu thuốc, trong củi đốt cháy, trong bó đuốc, trong ngọn nến trên quan tài, trên cột đèn, trên ngọn hải đăng, có lửa của núi lửa, của hành tinh, của mặt trời và có lửa của đam mê.

Nhà triết học Gaston Bachelard, người chuyên về khoa học luận và chuyên về trí tưởng tượng, đã dùng bốn nguyên tố trong vũ trụ, lửa, nước, đất và không khí, để làm nền tảng cho tư duy của ông về trí tưởng tượng vật chất trong thơ. Theo ông, năng lực của trí tưởng tượng là do những trực giác của chúng ta đối với vật chất. Mỗi trí tưởng tượng cá biệt được đặt dưới dấu hiệu của một nguyên tố. Nguyên tố định hình dòng mơ mộng của trí tưởng tượng. Do đó có thể tìm thấy tính khí thơ của một tác giả bằng cách phân tích hình tượng trong thi phẩm.

Cũng như Bachelard, Gilbert Durand (5) phân biệt hai chiều hướng trong thuyết biểu tượng của lửa, tùy theo lửa phát ra bởi sự va đập hay sự cọ xát. Trong trường hợp va đập, lửa có những nét giống như tia chớp hay mũi tên và nó có một giá trị thanh lọc và chiếu sáng, nó là sự nối dài của ánh sáng. Đó là lửa thần hóa, lửa thăng hoa, nó đối lập với lửa của dục tình phát ra bởi sự cọ xát. Trong thơ Nguyên Sa, lửa có hai bộ mặt : lửa tiêu cực và lửa tích cực. Lửa tiêu cực là lửa thiêu đốt, hủy diệt :

Em sợ thời gian ác như lửa thiêu từng thanh củi. (Nga)

Là lửa tàn phá của chiến tranh, gieo chết chóc :

Bốn phía trời đốt cháy lung tung…  (Chỗ nằm của ta),

những đêm đốt hỏa châu giữa thành phố, trong quê hương, trên thân thể, trên những mắt xót đau.  (Hỏa châu và huyền thoại),

Hầm bia buồn đến mộ sâu

Nghìn cây nến thắp trên đầu đạn bay. (Sân bắn),

Và là lửa của tình yêu tàn tạ :

Hởi người yêu có bàn tay anh buông ra như tàn thuốc lá.  (Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi).

Đối diện với lửa tiêu cực có lửa tích cực. Trước hết có lửa vui :

Với trí tưởng hồng như lửa mới  (Lời dặn bản thân),

Để mớ tóc màu củi chưa đun

Màu gỗ chưa ai ghép làm thuyền

Lùa vào nhau nhóm lửa. (Tôi sẽ sang thăm em),

Lửa tích cực có tác dụng thanh lọc :

Lịch sử đã dạy anh sự đổi thay. Chiến tranh cho ý thức ngọn lửa sáng ngời để hỏa thiêu những cuộc hóa trang tình cảm. (Bài giã biệt).

Lửa đem lại ánh sáng cho những kẻ yêu nhau :

Và nếu đến một ngày không còn ai dám hò hẹn trên bờ sông tôi sẽ về đốt đuốc đứng bên bờ Ngân hà để Chức nữ Ngưu lang nhìn rõ mắt nhau qua đôi bờ sông tình tự. (Đêm mưa)

Lửa thắp sáng được gắn liền với thơ :

Giữa râu gai thơ sáng vẫn đâm chồi  (Tình yêu đàn ông ba mươi tuổi)

Anh nghe em bước vào thơ sáng lạn  (Kỳ diệu)

Và thơ thăng hoa trong lửa:

Đốt lửa bằng thơ

Tôi ca, tôi hát (Di chúc).

Giữa thân xác và lửa có một quan hệ mật thiết. Lửa bừng lên trên gương mặt :

Có lửa cháy trong mắt buồn da diết (Người em sáng trong cô độc)

Tôi chợt thấy lửa đau trong đáy mắt (Định mệnh chân dài)

Nhưng dù má bừng trong lửa cháy…(Bài hát Cửu long)

Trong câu :  Hãy rộng mở bốn cửa thành Đông Tây Nam Bắc để thơ ta ùa vào từ bốn phía chân trời và thân thể ta ùa vào theo lối mặt trời đi (Hịch), mặt trời là lửa, lửa cuốn hút thân xác.

Đỉnh cao của lửa là hình tượng núi lửa. Lửa trong núi lửa là thứ lửa phun lên, trào ra ồ ạt từ miệng núi, trong bài “Lời dặn bản thân” câu : Cơn bão lửa sẽ nổi lên, sẽ nổi lên làm sao ta dập tắt nhắc nhở hình tượng núi lửa trong hai bài “Bài giã biệt” và “Đêm mưa” :  Cuộc đời đã dạy anh ảo vọng có kích thước của hỏa diệm sơnTôi sẽ bị lưu đày nằm gối đầu trên hỏa diệm sơn để sức lửa thời gian nấu thân thể tôi thành một loài từ thạch, từ thạch là khoáng chất biểu tượng sự thu hút của vũ trụ, của huyền bí.

Thân xác nằm trên núi lửa là dấu hiệu của cái mà Bachelard, trong cuốn “Phân tâm học về lửa” (6), gọi là phức cảm Empédocle (le complexe d’Empédocle). Empédocle là một triết gia Hy lạp (thế kỷ thứ 5 trước công nguyên) đã xây dựng một lý thuyết về nguồn gốc vũ trụ căn cứ trên bốn nguyên tố, quan hệ giữa bốn nguyên tố đó bị tình yêu (Eros) và sự căm ghét (Polemos) chi phối. Theo truyền thuyết, Empédocle nhảy xuống núi lửa Etna, để lại đôi dép bên bờ miệng núi.

Để hiểu những sắc thái của trí tưởng tượng, Bachelard phân biệt bốn phức cảm về lửa : phức cảm Prométhée, phức cảm Empédocle, phức cảm Novalis và phức cảm Hoffman. Prométhée là một nhân vật của huyền thoại Hy lạp, Prométhée đã trộm lửa trên trời để trao cho loài người. Novalis là một nhà thơ, nhà văn Đức thuộc trường phái lãng mạn đã mơ mộng về sự ấm áp được chia sẻ. Và Hoffmann là nhà văn Đức cần có rượu để sáng tác, rượu của Hoffmann là thứ rượu bừng cháy.

Ở đây cần phân biệt phức cảm do Bachelard quan niệm và phức cảm mà Freud nghiên cứu. Trong cái tựa đề “Phân tâm học về lửa”, cái tên “phân tâm học” được mượn của Freud. Phân tâm học của Bachelard không nghiên cứu sự vận hành của vô thức, mà chỉ diễn tả tư duy hồn nhiên, không chú trọng đến những giấc mộng ban đêm tiết lộ sự dồn nén, mà chú trọng đến sự mơ mộng ban ngày của con người suy tư, “cái hoạt động mơ mộng trong đó còn một tia sáng của ý thức” (7). Chính trong sự mơ mộng, Bachelard thám hiểm mạng hình tượng chứ không thám hiểm vô thức. Bachelard đổi hướng khái niệm phức cảm của Freud. Trong khi mà Freud cho rằng những phức cảm là những cách cư xử vô thức tồn tại một cách phổ quát, thì Bachelard dùng khái niệm phức cảm để chỉ định những mạng hình tượng gắn liền với cùng một mẫu mơ mộng, với cùng một phạm trù người mơ mộng.

Theo tác giả cuốn “Phân tâm học về lửa”, phức cảm Prométhée quy tụ “tất cả những khuynh hướng thúc đẩy tri thức của chúng ta”, phức cảm Novalis tổng hợp “sự thôi thúc đến với lửa được bật lên bởi sự cọ xát, bởi nhu cầu một sức nóng được chia sẻ “, phức cảm Hoffman nhờ rượu mở ra những con đường hư ảo. Riêng phức cảm Empédocle là phức cảm “trong đó tình yêu lửa và sự tôn trọng lửa, bản  năng sống và bản năng chết được kết hợp”, phức cảm Empédocle là biểu tượng của thay đổi, của đổi mới.

Bachelard cho rằng để hiểu trí tưởng tượng của một nhà thơ, cần tìm phức cảm nào đã được những biến hóa trong thơ tiết lộ. Một tác phẩm thơ chỉ có tính nhất quán trong một phức cảm. Nếu thiếu phức cảm, tác phẩm sẽ bị xa lìa nguồn cội của nó, nó không còn liên hệ với vô thức, nó có vẻ lạnh lùng, giả tạo. Trái lại một tác phẩm cho dù chưa được hoàn thành vẫn có một tính nhất quán nếu nó được lồng vào một phức cảm.

Empédocle chọn một cái chết làm cho ông tan trong lửa tinh khiết của núi lửa. Bachelard viết : “Cái chết trong lửa là cái chết ít cô đơn nhất trong những cái chết. Đó là thật sự một cái chết trong đó cả một vũ trụ tiêu tan với nhà tư tưởng”.

Tác phẩm thơ có chức năng vừa sáng tạo vừa tiết lộ cái tôi, cái tôi ở đây không phải là cá thể lịch sử, tức tác giả, mà là bản thể tồn tại trong vũ trụ. Nếu dựa vào tư duy của Bachelard thì phức cảm Empédocle, gồm có bản năng sống và bản năng chết, làm nên tính nhất quán của thơ Nguyên Sa và đưa đến một gợi ý rằng cái chết trong núi lửa là một cái chết để thanh lọc, để tái sinh và đổi mới, điều này phù hợp với quan niệm về cái chết của Thiên Chúa giáo theo đó sau cái chết con người sẽ được sống lại.

Nghệ thuật ngôn từ của Nguyên Sa đã tạo nên một mạng hình tượng đầy gợi cảm về thân xác. Tình yêu, chiến tranh, thân phận con người, từ thế giới thực được đẩy vào thế giới ảo. Thân xác là bản thể bị lửa của thời gian, của cái chết, của sự tái sinh thu hút. Thân xác chối từ khuôn khổ chật hẹp của thân phận tù đày để thoát ra ngoài không gian của vũ trụ, cái hữu hạn đi tìm cái vô tận, cái tuyệt đối.

 

Bài đăng lần đầu trên tạp chí Hợp Lưu, Hoa Kỳ, năm 2005.

Đọc lại, sửa và bổ túc năm 2019.

 

Chú thích :

(1)     Nguyệt san Văn Uyển, số 3, tháng 7-1968.

(2)     Merleau-Ponty Maurice, Phénoménologie de la perception, Paris, Gallimard, 1945, tr. 176-177.

(3)     Trong tiếng Pháp có hai từ « imagination » và « imaginaire » ;  « imagination » là trí tưởng tượng, « imaginaire » là cái được tưởng tượng, ở đây tôi gọi là mạng hình tượng, mạng hình tượng là những hình tượng do trí tưởng tượng của một tác giả tạo ra.

(4)     La Bible de Jérusalem, Le Cerf, Paris, 1973, tr. 25.

(5)     Durand Gilbert, Les Structures anthropologiques de l’imaginaire, Dunod, 1992.

(6)     Bachelard Gaston, La Psychanalyse du feu, Gallimard, 1949.

(7)     Bachelard Gaston, La Poétique de la rêverie, PUF, 1960.

NỖI TRĂN TRỞ CỦA NGƯỜI CẦM BÚT Ở MIỀN NAM THỜI 54-75

 

Vào thời văn học miền Nam phát triển mạnh mẽ và chia ra nhiều khuynh hướng, nhiều dòng văn học, như dòng văn học về nguồn, dòng văn học chiến tranh, dòng văn học trẻ thơ, bụi đời, v.v…lại có hiện tượng nữ giới cầm bút, hiện tượng hướng ngoại với phong trào dịch sách, người ta có thể nghĩ rằng đây là một nền văn học trẻ trung, đa dạng, sung sức, bút lực của các nhà văn không hề suy giảm. Trong bối cảnh đó có nên tự mãn không ? Nhất định là không, vì một vài tiếng nói đầy lo âu đã cất lên để đánh thức giới cầm bút và cả giới độc giả nữa : tiếng nói của nhà văn Huỳnh Phan Anh, nhà văn Nhật Tiến và nhà thơ Nguyên Sa.

Huỳnh Phan Anh là một nhà văn tham gia vào nhiều lĩnh vực : triết học, phê bình văn học, dịch thuật. Khi bàn về văn học, ông có cái nhìn nghiêm khắc và bi quan. Trong cuốn Đi tìm tác phẩm văn chương do Đồng Tháp xuất bản năm 1972, Huỳnh Phan Anh nói đến sự lạm phát về những ấn phẩm sáng tác và những ấn phẩm dịch thuật làm người đọc bị choáng ngợp, mất hướng, và ông cho rằng văn chương đang trải qua một cuộc khủng hoảng. Huỳnh Phan Anh nhận xét : Nói tới văn nghệ miền Nam của những năm 60 (…), không ai có thể phủ nhận được cái thực tế gần gũi, thân mật, không ngừng đập mạnh vào mắt vào tai. Đó là thực tế của một sinh hoạt mà vẻ ngoài giàu có sôi nổi của nó không đánh thức được sự trì trệ, vẻ ngoài hảnh tiến của nó chỉ tố cáo những bước thụt lùi, sa đọa. Nó đến từ những xô bồ, hỗn tạp, bừa bãi của thị trường sách vở, chữ nghĩa. Người đọc có quá nhiều để học, người đọc bị tràn ngập bởi những sách ngày ngày một ồ ạt ra đời. Và đồng thời họ thiếu tác phẩm để đọc (tr. 65). Tác giả nhìn nhận có những nổ lực, những công trình muốn làm mới, làm giàu cho văn chương, nhưng những nổ lực đó quá ít ỏi và bị những thế lực mù quáng, lạc hậu phá hoại. Tác giả gọi những thế lực đó là những cái « dốt nát », « giả ngụy », tạo nên những ngộ nhận nguy hiểm. Huỳnh Phan Anh chỉ trích những trang dâm thư được trang hoàng dưới những lớp phấn son hiện sinh hay hiện thực, ông chỉ trích loại sách nặng về tình dục để thỏa mãn những thị hiếu thấp kém. Tóm lại, việc chỉ trích của Huỳnh Phan Anh chủ yếu nhắm vào chủ đề tình dục, vào ngôn ngữ thô tục.

Khác với cái nhìn tiêu cực của Huỳnh Phan Anh, quan điểm của Nhật Tiến và Nguyên Sa, sau khi nhận xét những khó khăn, trì trệ trong sự sáng tạo của nhà văn, đã nói lên niềm hy vọng xây dựng một nền văn học mới.

 Vào những năm 60, Nhật Tiến là một nhà văn rất trẻ, vừa gia nhập làng văn với tác phẩm đầu tay Những người áo trắng (1959), ông đã được nhà văn lão thành Nhất Linh hướng dẫn, giới thiệu vào Hội Bút Việt mà Nhất Linh là cố vấn. Hội Bút Việt về sau đổi thành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam. Nhật Tiến cũng được Nhất Linh mời hợp tác với Giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay của ông ngay từ bước đầu. Những sinh hoạt trong lĩnh vực văn học và những tìm tòi về sáng tạo khiến nhà văn trẻ Nhật Tiến có tinh thần trách nhiệm, ông đã biết nhìn xa và lo âu cho tương lai của văn học.

Năm 1962, trong một cuộc hội thảo của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, nhà văn Nhật Tiến có một bài thuyết trình tựa đề : Một vài nhận xét về tình trạng bế tắc trong ngành tiểu thuyết Việt Nam (1). Dựa vào những trải nghiệm của bản thân và qua sự tiếp xúc với văn giới và báo giới, Nhật Tiến đã tập hợp một số nhận xét về tình trạng tiểu thuyết lúc bấy giờ. Diễn giả nêu lên bốn điểm :

1/ Bế tắc về nội dung tác phẩm.

2/ Bế tắc về mặt ấn hành.

3/ Bế tắc về vấn đề tiêu thụ văn nghệ phẩm.

4/ Nguyện vọng của người viết và của các nhà xuất bản tiểu thuyết.

Khó khăn thứ nhất liên quan đến vấn đề sáng tác, một nhà phê bình phàn nàn : Chúng ta nhận định rằng nhà văn ít khi lưu ý đến những vấn đề lớn lao, căn bản trước mắt mà thường quay về với những đề tài đã cũ, lưu tâm đến những mảnh vụn nhiều khi vô nghĩa của cuộc đời… Kết quả : người đọc cho rằng tác giả chú trọng quá đáng về mình, viết những chuyện không đáng viết, khi nói về những đề tài lý thú, lớn lao thì nói một cách sơ sài. Tiểu thuyết trong cái nhìn của diễn giả không phản ánh được cuộc sống hối hả, thấp thỏm, đầy băn khoăn, thắc mắc của thời đó. Nhưng diễn giả không đồng ý với cô Phương Thảo (tức nhà văn Võ Phiến) phụ trách mục điểm sách trên tạp chí Bách Khoa, đã nghiêm khắc chỉ trích một số nhà văn nào đó và nói rằng : … từ nay cuộc sống của ta nếu không có họ cũng chẳng làm sao, biết đâu chẳng đỡ bực mình. Nhật Tiến không đồng ý, ông cho rằng dù sao cũng không thể phủ nhận vai trò người làm văn nghệ. Người làm văn nghệ có cái thiên chức gieo hạt giống đẹp trong một thế giới đen tối do những hoài nghi, thù hận để giành lại tình thương yêu hòa đồng của nhân loại. Nhật Tiến tin tưởng rằng nhà văn Việt Nam đầy thiện chí và can đảm cầm bút. Sở dĩ nhà văn làm người đọc thất vọng lúc bấy giờ là vì thứ nhất nhà văn thiếu kinh nghiệm sống. Đành rằng phải có một óc tưởng tượng dồi dào, nhưng nhà văn cũng phải gây một sức truyền cảm qua ngôn ngữ, nhưng sự truyền cảm phải bắt nguồn từ thực tế. Vậy theo diễn giả, kinh nghiệm sống là điều kiện tất yếu. Nhưng sự thật nhà văn bị cầm chân ở một chỗ vì những ràng buộc hàng ngày, không có cơ hội đi đó đi đây để chân trời được mở rộng.

Nguyên nhân thứ hai là nhà văn không có lập trường vững chắc về sự tương quan giữa mình và tập thể để làm căn bản cho việc sáng tác. Nhà văn chưa tìm ra được một nhân sinh quan rõ rệt. Bởi vậy, trong khi thực tại vẫn như một cơn gió lốc cuốn đi theo chiều hướng của lịch sử, thì nhà văn hình như còn đứng lại lúng túng với vị trí của mình… Trong tình trạng bế tắc đó, một số nhà văn trốn tránh những vấn đề liên quan đến sinh hoạt của xã hội, họ chỉ viết về những đề tài cũ kỹ hoặc về những tình cảm vụn vặt, cho nên tiểu thuyết không phản ánh cảm nghĩ của con  người trong cuộc sống hiện thực.

Nguyên nhân thứ ba là các nhà văn chịu ảnh hưởng của một số tác phẩm ngoại quốc và viết những cái không phù hợp với văn hóa nước nhà, với cảm quan của người đọc khiến người đọc khó lòng theo dõi.

Nguyên nhân thứ tư là nhà văn lo ngại bị kiểm duyệt. Diễn giả cho rằng nhà văn là nhân chứng của thời đại, không thể đi ngược lại với thực tế, không thể che đậy, dấu diếm với bất cứ giá nào, không thể phản bội thiên chức của mình để đánh lừa độc giả.

Trên đây là những nguyên nhân của bế tắc thứ nhất về nội dung tác phẩm. Bế tắc thứ hai là việc ấn hành tác phẩm, tức hoạt động của nhà xuất bản. Sau khi thao thức, cực nhọc để viết một tác phẩm, nhà văn vấp phải khó khăn đầu tiên với nhà xuất bản, không vì tiền nhuận bút, bởi có tiền nhuận bút nào xứng đáng với công lao xây dựng một tác phẩm. Thế mà tác giả xem việc in sách của mình như một ân huệ lớn. Ân huệ đó không đến với bất cứ nhà văn nào. Sở dĩ nhà văn gặp khó khăn là vì các nhà xuất bản thất bại trong việc ấn hành tiểu thuyết. Một số đóng cửa, một số chuyển sang việc tái bản sách tiền chiến hoặc in ấn những cuốn truyện thích hợp với thị hiếu thấp kém của một số người đọc. Nhà văn có cảm tưởng mình bị bỏ quên. Nếu có cố gắng lắm thì phải chịu mang nợ nần hoặc hy sinh bán đi những nhu yếu phẩm để có tiền in sách. Và khi sách in ra cũng chẳng bán được bao nhiêu.

Bế tắc thứ ba là từ phía người đọc. Thông thường người đọc có vai trò chủ yếu trong sự tồn tại của tác phẩm. Chính người đọc làm cho tác phẩm sống và đồng thời cũng làm cho các nhà xuất bản khởi sắc. Nhưng trong tình trạng những năm 60, người đọc cũng như tác giả trước tiên phải lo chuyện mưu sinh. Sau nữa là những lý do mà diễn giả Nhật Tiến nêu lên trong bài thuyết trình :

– Ý thức đọc sách của đa số quần chúng còn ở trong tình trạng thấp kém. Dấu hiệu của sự kém cỏi đó là vô số sách về ái tình nhảm nhí, đầm đìa nước mắt, phiêu lưu kiếm hiệp được in ấn công phu, bán với giá rẻ để đáp ứng thị hiếu người đọc. Lại có chuyện một người Tầu không thông tiếng Việt đứng đầu một cơ quan ấn hành và bán loại tiểu thuyết rẻ tiền. Những người đầu cơ văn hóa này làm ăn rất phát đạt.

– Nhu cầu đọc tiểu thuyết không phải là một nhu cầu cần thiết. Theo diễn giả, hạng người đọc đáng kể nhất là giới trí thức có trình độ đọc sách cao và nhất là những công chức, sinh viên và học sinh. Tuy nhiên họ không ảnh hưởng đến việc bán sách vì lẽ họ có những nhu cầu khác ưu tiên hơn nhu cầu tiểu thuyết. Ví dụ đối với một sinh viên có chút tiền túi thì việc đầu tiên là phải mua sách giáo khoa cho việc nghiên cứu, sau là nhu cầu đi xem một phim hấp dẫn để tiêu khiển, rồi đến một chầu kem. Còn tiểu thuyết mới ra thì không cần phải vội vã, trước sau gì cũng sẽ đọc.

– Về phía tác giả, trong cuộc sống hấp tấp vội vàng, với nhiều lo âu, tính toán, làm sao có được một trạng thái tâm hồn thanh thản, nhẹ nhàng để nghĩ đến việc viết ?

Tóm lại, những khó khăn liên kết với nhau, làm nên một cái vòng lẩn quẩn :

– Vì tình trạng vật chất, nhà văn không có đủ điều kiện để viết sách hay.

– Không có sách hay để thu hút người đọc.

– Sự thờ ơ của người đọc khiến các nhà xuất bản tê liệt.

– Hoạt động của nhà văn lại tùy thuộc nhà xuất bản.

Cuối cùng diễn giả đưa ra hai nguyện vọng : nguyện vọng của người viết và nguyện vọng của các nhà xuất bản. Về phía các nhà xuất bản, diễn giả lặp lại những nguyện vọng của ông Nguyễn Đình Vượng, một nhân vật quan trọng trong giới xuất bản thời đó. Ông Vượng mong :

– Tổ chức lại ngành phát hành, hoạt động này sẽ được giao phó cho một người tha thiết với việc phổ biến văn hóa.

– Phát hành thư mục hàng tháng.

– Cần sự tham gia của các cơ quan như Bộ Giáo dục để giảng dạy cách đọc sách, như Đài phát thanh để có những hoạt động nhằm mục đích khuyến khích việc đọc sách.

– Mở nhiều giải văn cương.

– Trông nhờ vào sự nâng đỡ của chính phủ.

Vể phía các nhà văn, họ mong ước :

– Việc kiểm duyệt của nhà cầm quyền sáng suốt và thận trọng hơn. Người làm văn nghệ ước ao được giữ vai trò chủ động của mình trong khi sáng tác, được nói lên tiếng nói trung trực của mình với độc giả, và mong đưọc hoàn thành thiên chức của mình.

– Việc in ấn tác phẩm của họ không bị giới gian thương bóc lột.

– Tác phẩm của họ cần được phổ biến sâu rộng trong quần chúng.

– Quy tụ những người cầm bút vào một tổ chức để bênh vực quyền lợi của nhà văn.

Phần kết luận của nhà văn Nhật Tiến mang nhiều kỳ vọng cho tương lai của văn học : Nhà văn Việt Nam hiện tại mơ ước một ngày mai sáng sủa và tốt đẹp hơn, một ngày mai có những luồng gió mới quét sạch rác rưới làm vướng chân người hiện tại đồng thời mở đường khai lối cho những thế hệ nhà văn kế tiếp có phương tiện, có điều kiện xây đắp một tương lai văn hóa của dân tộc.

Điều đáng chú ý là trong bài thuyết trình của Nhật Tiến, diễn giả thường nhắc đến thiên chức của nhà văn. Dù bao khó khăn nghiệt ngã, Nhật Tiến vẫn đặt niềm tin vào thiên chức đó, để đi đến việc xây dựng một tương lai cho nền văn học.

Về phần nhà thơ Nguyên Sa, tên tuổi của ông đã lẫy lừng trên văn đàn. Cũng như Huỳnh Phan Anh và Nhật Tiến, tác giả bài thơ Áo lụa Hà Đông không tránh được những ưu tư trước tình trạng văn học lúc bấy giờ. Nguyên Sa cũng quan tâm đến vấn đề sáng tạo, nhưng không phải một sáng tạo bị lúng túng trong một hoàn cảnh vật chất khó khăn hay bị chậm bước bởi óc hướng ngoại, thời thượng, mà là một sáng tạo vươn cao, có tầm cỡ, một sáng tạo được cách tân. Trong bài bình luận : Rời bỏ nền văn chương trú ẩn đăng trên tạp chí Đất Nước, tháng 12 – 1967, Nguyên Sa, sau khi phân tích cái cũ cái mới trong văn chương, và phàn nàn về thứ văn chương trú ẩn trong cái động đá, đã tổng kết tình trạng văn học ở miền Nam sau việc hô hào làm mới văn học, ông đã sáng suốt xác định thế nào là mới trong văn học.

Chúng ta còn nhớ vào những năm 50, Mai Thảo và nhóm Sáng Tạo hô hào cắt đứt với văn học tiền chiến để lên đường xây dựng một văn học mới. Nhưng đến năm 1967, nền văn học mới đó đã đi đến đâu ?

Để có cái nhìn đầy đủ, công bình, Nguyên Sa trở về quá khứ. Trước hết ông khẳng định lập trường của ông đối với tiền chiến và thế hệ năm mươi – sáu mươi ở miền Nam. Phải nhìn nhận Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam đều có những tác phẩm gây xúc động. Về thơ thì Xuân Diệu, Huy Cận, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương là những hòn đảo kỳ diệu của biển ngôn ngữ… Ở miền Nam có những tác phẩm làm Nguyên Sa phấn khởi : tùy bút của Mai Thảo, truyện tình của Chu Tử, truyện trẻ thơ của Duyên Anh, thế giới giang hồ của Nguyễn Thụy Long, thơ Trần Dạ Từ.

Nguyên Sa nhận xét thế hệ năm mươi – sáu mươi chống văn học tiền chiến ở một điểm căn bản : họ cho rằng văn học tiền chiến quá lãng mạn. Nhưng theo Nguyên Sa, văn chương tiền chiến không lãng mạn. Vũ Trọng Phụng không phải là một tác giả lãng mạn. Những cây bút trong nhóm Hàn Thuyên không thể bị xem là lãng mạn. Các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn mang ảnh hưởng của văn chương lãng mạn Pháp không đơn giản chỉ là lãng mạn. Nguyên Sa định nghĩa lãng mạn là sự xúc động quá mãnh liệt, sự trữ tình bi thảm hóa. Các thế hệ năm mươi – sáu mươi ở miền Nam đã ồn ào chống lại văn học tiền chiến vì muốn làm mới văn học. Sự khát khao sáng tạo khiến họ vội vã, giãn lược cách phê phán của họ và sự phủ nhận của họ thiếu tính thuyết phục.

Nói chung, cả tiền chiến và thế hệ năm mươi – sáu mươi ở miền Nam đều sáng tạo theo cái khuôn sáng tạo đã có trước. Nguyên Sa gọi đó là văn chương trú ẩn, trú ẩn trong những cái động đá kiên cố. Tây phương có tả chân thì Trương Tửu tả chân, Tây phương có tượng trưng thì Bích Khê có tượng trưng, Tây phương siêu thực thì Nguyễn Xuân Sanh có Xuân Thu Nhã Tập.

Còn thế hệ năm mươi – sáu mươi muốn làm mới ra sao ? Văn chương của họ hướng về hiện sinh, dấn thân (theo Sartre) và tiểu thuyết mới (theo Alain Robbe-Grillet). Khi những cây bút ở miền Nam tự nhận mình là hiện sinh, là dấn thân, họ có sáng tác đúng với những lý thuyết của hiện sinh, của dấn thân không ? Hay chỉ vội vàng, lớt phớt những buồn nôn, những phi lý ? Mà nếu có viết đúng với các trường phái hiện sinh, dấn thân, tiểu thuyết mới, tả chân, lãng mạn, siêu thực hay hiện thực thì, theo Nguyên Sa, cũng chưa phải là sáng tạo. Đó chỉ là làm mới trong khuôn khổ một cái mới đã có.

Cái mới mà chúng ta cần đạt đến, nó không được thuộc về cái mới của người khác, của một nước ngoại bang, nó phải bắt nguồn từ dân tộc, mặc dù nước ta đang ở trong hoàn cảnh chiến tranh, trong hoàn cảnh phân chia thế giới, không thể nói đến quốc gia cực đoan, nhưng tinh thần dân tộc vẫn tồn tại. Nguyên Sa tuyên bố : Chúng tôi vẫn yêu dân tộc, biết mơ ước những gì dân tộc mơ ước, biết hãnh diện về những gì dân tộc hãnh diện. Cho nên chúng tôi khao khát có những công trình văn chương, khoa học, không phải chỉ để cho tác giả của các công trình đó mãn nguyện mà còn để cho đồng bào của các tác giả đó hãnh diện. Dân tộc đòi hỏi sự tiến bộ và đổi thay về văn hóa. Cần có sự đóng góp liên tục vào cái gia tài văn hóa đã có.

Còn về những sản phẩm khoa học, văn chương chung của nhân loại như sản phẩm của Pasteur, Molière, Racine, v.v… thì ở các nhà trường đều giảng dạy. Nhà giáo đứng trên bục giảng về sáng tạo của người khác. Người sáng tạo thì khác với nhà giáo. Người sáng tạo chỉ sáng tạo văn học nghệ thuật cho riêng mình. Cách thức sáng tạo của ai là chỉ thuộc về người đó.

Vậy tất cả văn học vẫn còn ở trong khuôn khổ truyền thống. Nguyên Sa thúc giục người cầm bút đi tìm cái mới dù cho chưa biết hướng đi.

Đó là cuộc phiêu lưu. Có thể trước mặt sẽ là sự khám phá thần thánh. Có thể là sự gục ngã. Gục gã vì dại khờ. Gục ngã vì điên loạn. Nhưng trong văn nghệ cũng như trong tình ái, chẳng thà gục ngã trong dại khờ còn hơn sống mãi trong khôn ngoan. Chết ở chân trời thử thách, chết trong cuộc phiêu lưu còn hơn sống mãi tầm gửi trong động đá trú ẩn êm ấm.

Tóm lại, Nguyên Sa có tầm nhìn vượt khỏi những tuyên bố ồn ào, vượt khỏi những sản phẩm văn nghệ không ngừng xuất hiện, để báo hiệu những nguy cơ trú ẩn, những bắt chước cái mới của người khác. Tiếng nói của Nguyên Sa là tiếng nói của một người cầm bút không tự để mình bị ru ngủ, ông băn khoăn, thao thức và sáng suốt nhận thấy rằng việc sáng tạo ở miền Nam trong những năm 50-60 chưa thoát khỏi cái khuôn của người đi trước. Nguyên Sa nuôi một tham vọng lớn cho giới cầm bút bằng cách đòi hỏi một sáng tạo thật sự mới, thật sự độc lập, phát xuất từ tinh thần dân tộc.

 

(1) Tài liệu tham khảo : Câu Chuyện Văn Chương, Nxb Khai Trí Sài Gòn, 1969.

SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI CẦM BÚT THEO LINH MỤC THANH LÃNG

 

Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã dìu dắt nhiều thế hệ sinh viên. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu, phần đóng góp của ông vào chữ quốc ngữ, văn học Thiên Chúa giáo và văn học sử Việt Nam rất lớn lao.

Năm 1967, nhân mừng sinh nhật năm thứ mười của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, linh mục Thanh Lãng đã phát biểu ý kiến về sứ mạng người cầm bút. Trước khi nghe linh mục nói về đề tài này, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua Trung Tâm Văn Bút.

Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời đó là một chi nhánh của Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế gọi là PEN Club International do bà Catherine Amy Dawson Scott thành lập năm 1921. Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế là một hiệp hội tập hợp những nhà văn của tất cả các nước, những nhà văn tha thiết với những giá trị hòa bình, bao dung và tự do, thiếu những giá trị đó không thể có sáng tạo được.

PEN là do từ Anh ngữ pen (cây bút) tóm tắt những nghề viết :

P : Poets : những người làm thơ ; Playwrights : những người viết kịch

E : Essayists : những người viết biên khảo ; Editors : những người xuất bản

N : Novelists : những tác giả viết tiểu thuyết ; Non fiction authors : những tác giả viết ngoài hư cấu.

Năm 1957, nhà văn Đỗ Đức Thu sang Đông Kinh (Tokyo) dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29, và đã tích cực vận động cho Việt Nam. Kết quả là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam được nhận vào Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế.

Ở miền Nam, kể từ những năm 60, Trung Tâm Văn Bút là một cơ quan văn hóa tuy không có tầm cỡ lớn, nhưng đã đạt được nhiều thành tích tốt đẹp. Về nội bộ, các ủy ban chấp hành được bầu theo định kỳ. Năm 1961, chủ tịch của ủy ban chấp hành là nhà văn Nhất Linh. Năm 1967, chủ tịch là nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Ngoài ra, Trung Tâm Văn Bút tổ chức những sinh hoạt văn hóa như ấn hành những tập kỷ yếu, tổ chức những buổi diễn thuyết, hội thảo, trao những giải thưởng văn chương, xuất bản những tuyển tập, v.v…

Để khai mạc cuộc hội thảo đánh dấu mười năm của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, chủ tịch Vũ Hoàng Chương giới thiệu cùng cử tọa văn hữu Thanh Lãng.

Cất lời trước cử tọa, linh mục Thanh Lãng nhắc rằng kỷ niệm mười năm thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là kỷ niệm sự lựa chọn và chấp nhận một lý tưởng làm văn chương nghệ thuật bởi một số người cầm bút. Lý tưởng đó đã được trình bày trong Hiến Chương của Văn Bút, và có thể được tóm tắt qua bốn điểm sau đây :

1/ Văn chương nghệ thuật không nên có biên giới.

2/ Văn chương nghệ thuật là tài sản chung của nhân loại.

3/ Người làm văn chương nghệ thuật cần hiểu biết sự tương giao nhau như là thành phần của một nhân loại duy nhất và hoà bình.

4/ Người làm văn chương nghệ thuật cần đề cao lý tưởng Tự do và Bao dung.

Sau đó linh mục Thanh Lãng đưa ra vấn đề Sứ Mạng Của Người Cầm Bút và nói rõ rằng đây không phải là một bài diễn thuyết mà là một hội thoại. Tuy thế, sau hơn nửa thế kỷ, điều quan trọng nhất đối với chúng ta, người đọc hôm nay, là  quan niệm của linh mục Thanh Lãng về người cầm bút được trình bày trong bài của linh mục, do đó những trao đổi giữa linh mục và vài người trong cử tọa không cần thiết nêu ra trong bài này.

Linh mục Thanh Lãng nói rõ : ông chỉ đặt vấn đề và đưa ra những thắc mắc để những người cầm bút cùng ý thức, cùng suy nghĩ chung với nhau. Những câu hỏi được đặt ra là :

Nhà văn có một sứ mạng gì không ?

Lịch sử người cầm bút với sứ mạng người cầm bút tương quan phản ứng ra sao ?

Diễn giả định nghĩa : Nói sứ mạng nhà văn, hay nói nhà văn có sứ mạng là nói nhà văn có mang theo một mệnh lệnh nào do ơn trên đâu đó trao cho mình : gọi là « sứ mạng » hay gọi là « mạng lệnh », hay gọi nôm na là điều dạy làm, điều dạy gửi.

Và diễn giả giải thích định nghĩa đó như sau, sứ mạng bao gồm :

– Người ra lệnh, « Người sai gửi »,

– Người mang lệnh, người đi gửi,

– Người nhận lệnh, người tiếp nhận vật gửi,

– Lệnh, tức đồ vật gửi đi.

Nếu đưa định nghĩa này vào lĩnh vực văn học nghệ thuật thì :

– Người ra lệnh hay người sai gửi sứ điệp là hồn thiêng dân tộc, là nhân loại, là trời đất.

– Người mang lệnh, người đi gửi sứ điệp là nhà văn.

– Người nhận lệnh, người nhận sứ điệp là độc giả.

– Sứ điệp là tác phẩm văn học. Gọi tác phẩm là sứ điệp vì viết là nói với độc giả, bộc lộ với độc giả, san sẻ, tỏ bày với độc giả. Vậy viết là ý muốn nói với ai điều gì, một tâm sự gì.

Có khi nhà văn tuyên bố chỉ viết cho mình, nhưng những điều nhà văn muốn nói ra rơi vào chữ viết, mà chữ viết là một phương tiện truyền bá. Cho nên dù muốn dù không, dù ý thức hay vô thức, tác phẩm nào cũng là một sứ điệp. Diễn giả cho biết không có nghệ thuật nào mà không thưa gửi, nghĩa là không phải là một sứ điệp, và không có nhà văn nào mà không phải là sứ giả. Xin tóm tắt sau đây vài ví dụ trong nhiều ví dụ diễn giả đã đưa ra :

Thơ của Nguyễn Trãi là sứ điệp và Nguyễn Trãi là sứ giả ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị của đất nước, cỏ cây. Lục Vân Tiên là sứ điệp của Nho giáo. Các nhà văn cuối thế kỷ 19 là sứ giả của chiến tranh bi thảm, của quật khởi chống Pháp. Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí là sứ điệp của Hòa bình. Tự Lực Văn Đoàn là sứ điệp của chiến tranh, của tiến bộ.

Diễn giả nhận xét người cầm bút hôm nay ở trong hoàn cảnh chiến tranh, với những tệ đoan như tham nhũng, mọi giá trị tôn giáo, văn hóa, xã hội bị đảo lộn và lý do của mọi xung đột giữa cá nhân, đoàn thể, dân tộc, cuộc chém giết nhau vì hệ tư tưởng, lý do của những tai họa đó là lý tưởng Tự do không được tôn trọng.

Bản tính con người là Tự do mà bản chất Tự do là được lựa chọn (…). Người cầm bút hôm nay phải là một sứ giả được sai đi, đi để đến với những người nhận sứ điệp là cá nhân, là đoàn thể, là dân tộc, là nhân loại (…). Không ai được chối bỏ mình là sứ giả vì mình được nhìn như vậy (1).

Vậy vai trò của sứ giả tức nhà văn như thế nào ? Theo diễn giả, sứ giả cần biến cái đẹp, tức văn chương, thành nguồn vui sống cho con người đang đau khổ, tuyệt vọng, biến cái đẹp thành nhịp cầu yêu thương giữa mọi người. Sứ giả cần biến chữ viết tức tác phẩm thành phương tiện chuyên chở lời nhắn với mọi người rằng con Người chỉ là con Người khi có Tự do. Qua sứ điệp, tức tác phẩm, sứ giả cần cổ động, ca tụng quyền lựa chọn tức quyền tự do của mọi người, ca tụng tinh thần bao dung, chấp nhận nhau, khuyến khích tinh thần phân công và hợp tác giữa các giới khác nhau, ủng hộ các tổ chức văn hóa, xã hội, chính trị. Sau cùng, sứ giả cần dấn thân để chống lại mọi lý thuyết, mọi cá nhân, đoàn thể, đảng phái, mọi dân tộc đi ngược lại với lý tưởng Tự do. Và làm thế nào để sứ điệp trở thành một Thiên trường ca ca ngợi Hoà bình.

Trong văn học Pháp, tác phẩm được gọi là message, thông điệp, tác giả là émetteur, người phát (thông điệp), và độc giả là récepteur, người tiếp nhận (thông điệp). Người phát ra thông điệp quan niệm rằng tự họ làm ra thông điệp để truyền đi, để gửi đến người tiếp nhận. Chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa quan niệm của Tây phương và quan niệm của linh mục Thanh Lãng

Linh mục Thanh Lãng đi xa hơn, ông đặt lý tưởng Tự do trên hết, để làm nền tảng cho con người, cho văn chương. Để phụng sự một lý tưởng cao đẹp như thế, trước hết tác phẩm không chỉ là một thông điệp mà là một sứ điệp mang một mệnh lệnh thiêng liêng, và cương vị của nhà văn được nâng cao : nhà văn không chỉ là người phát ra một thông điệp mà là một sứ giả, người vâng mệnh trên là hồn dân tộc đem sứ điệp tự do đến với mọi người. Khi ý thức được cái thiên chức đó, nhà văn không còn tự giam mình trong một thái độ trốn tránh, thụ động nữa, không còn viết những cái tầm thường, nông cạn, không xứng đáng là một sứ điệp thật sự. Linh mục Thanh Lãng đã mở rộng vấn đề sáng tạo văn chương, ông đã thiêng liêng hóa chức năng của nhà văn. Quan niệm của linh mục có khả năng đánh thức giới cầm bút khiến họ suy nghĩ xa hơn về việc dấn thân của một nhà văn trong xã hội, trong đất nước.

(1) Câu Chuyện Văn Chương, Nxb Khai Trí Sài Gòn, 1969, tr. 491-492.

Paris, tháng 12 – 2018

NGUYỄN THỊ THỤY VŨ VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA LỊCH SỬ

 

Vào năm 1942, khi Vũ Ngọc Phan, tác giả bộ sách Nhà văn hiện đại, giới thiệu cuốn truyện Một linh hồn của Thụy An, ông nhận xét văn học đang ở trong tình trạng chờ đợi nữ giới cầm bút để viết tiểu thuyết, vì lúc bấy giờ việc người nữ sáng tác tiểu thuyết là một sự kiện hiếm hoi. Do đó cuốn Một linh hồn của Thụy An phải được xem như một biến cố văn học.

Nếu vào những năm 60-70 nhà phê bình Vũ Ngọc Phan mục kích được hàng loạt tác phẩm của nữ giới xuất hiện ở miền Nam thì sự mong đợi của ông đã được toại nguyện. Nối gót các bậc đàn chị như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, có Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng…, cả một đội ngũ ra tay viết, không mệt mỏi.

Trong khi Nhã Ca, Túy Hồng, quê miền Trung, đem xứ Huế vào tác phẩm của mình thì Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh trưởng ở miền sông nước Cửu Long, vẽ lên trong các truyện của bà cái không gian chằng chịt những sông rạch và con người sống ở đấy.

Năm 1966, Nguyễn Thị Thụy Vũ bước vào làng văn với tập truyện đầu tay Mèo Đêm, mở đầu cho một loạt truyện ra mắt đều đều cho đến năm 1973. Cả thảy mười tác phẩm, ba tập truyện ngắn : Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông và bảy truyện dài : Thú Hoang, Ngọn Pháo Bông, Khung Rêu (Giải thưởng Văn Học Toàn Quốc, 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm và Cho Trận Gió Kinh Thiên (1).

Chủ đề lớn nhất làm nên tính nhất quán của mười tác phẩm là người phụ nữ. Hiếm hoi lắm mới có truyện về đàn ông như hai truyện ngắn : Trôi SôngChiều Mênh Mông (tập truyện Chiều Mênh Mông). Nguyễn Thị Thụy Vũ trước sau cầm bút cũng chỉ để viết về người phụ nữ, nhưng không phải bất cứ người phụ nữ nào mà chủ yếu là những người phụ nữ chào đời và lớn lên ở miền đất Tiền giang, vào lúc xã hội dần dần đi vào thời hiện đại. Để theo dõi thân phận của những người phụ nữ đó qua những thời biến động của đất nước, thiết tưởng cần đọc các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ qua lưới đọc của phê bình xã hội (sociocritique).

Claude Duchet định nghĩa phê bình của xã hội học là cách phê bình nhằm chính văn bản như cái nơi mà tính xã hội nào đó được diễn ra.

Phê bình xã hội đọc trong văn bản những khía cạnh, những hiện tượng có tính lịch sử, xã hội, hệ tư tưởng và văn hóa, phản ánh của hiện thực : văn bản không thể có được nếu không có hiện thực. Và cách đọc của phê bình xã hội không cứ phải dựa vào những lý thuyết như của Karl Max, Georg Lukács, Lucien Goldmann, vì các lý thuyết đó trở nên xưa, không thích hợp với một hiện thực phong phú, phức tạp của ngày nay. Mọi cách đọc văn bản ngày nay là phát minh và tìm tòi, nó góp phần vào việc phong phú hóa, vào sự tiến bộ của tâm thức về xã hội và lịch sử.

Vậy chúng ta thử đi vào thế giới truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ theo cách đọc của phê bình xã hội.

I  Một thời suy tàn

Dù muốn dù không, nhà văn bao giờ cũng đưa ít nhiều trải nghiệm của mình vào tác phẩm. Vĩnh Long là nơi Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh ra và lớn lên. Trước mắt tác giả : cảnh sông nước, tuổi mới lớn, thời học sinh, nếp sống ở tỉnh lẻ, các bậc cha mẹ với những phong tục, tập quán lỗi thời, sự chờ đợi tương lai… tất cả được lồng vào một xã hội xưa cũ, tàn dư của thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Một xã hội được cấu trúc bởi hai giai cấp giàu, nghèo, và sự phân chia giai cấp rất rõ rệt.

Ở giai cấp người giàu, chủ nhà là bậc phú hộ có uy quyền, được trọng vọng, nể nang. Họ gìn giữ thanh danh và cái bề ngoài. Trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya, ông Đốc phủ sứ nói với con trai và con dâu : Gia đình mình là một thế gia vọng tộc, nhứt nhứt mọi thứ đều phải vượt những thứ thiên hạ thường tình. (tr. 104) Còn bà Phủ trong truyện Khung Rêu, khi cảnh nhà sa sút, thường nói với chồng : Phải gói ghém sự xuống dốc. Giàu thì thiên hạ ganh tị, còn nghèo thì bị họ khinh khi. Thà bị ganh tị hơn. (tr.120)

Ruộng lúa là cái gạch nối giữa hai giai cấp. Người giàu khai thác sức lao động của người nghèo để có lúa mà bán. Hàng năm tá điền đi ghe chở lúa đến nhà chủ điền và tỏ vẻ khúm núm. Họ đem theo bộ quần áo tốt nhất để mặc khi đong lúa với chủ điền. Thức ăn đi đường của họ là « một hũ mắm đồng, vài con khô sặc, một chai nước mắm », nếu khát thì đã có nước sông.

Phần chủ điền, hàng năm cũng đi ghe quan sát ruộng lúa của mình và thu lúa. Nhưng đến thời tinh thần tranh đấu của nhân dân bừng dậy, giới tá điền bắt đầu phẫn nộ trước sự bất công. Trong truyện Khung Rêu, ông Phủ đi ghe thăm ruộng đất, ông có nghe đâu đó ở vùng Cà Mau, Rạch Giá, dân tá điền chống lại chủ điền, nhưng ở vùng ông tá điền vẫn còn khúm núm chào ông lớn, vẫn còn run sợ khi thấy bóng chủ điền, nên ông yên tâm ; thêm nữa Pháp đã trở lại trong vùng. Ngờ đâu tá điền thuê đất của ông nay đã thay đổi thái độ. Đặc biệt một người tá điền tên Đực đã bị ông Phủ phá hoại cuộc đời con gái của người yêu, anh ta càng tỏ ra xấc xược, hung dữ, khiến ông Phủ vội trở về. Chẳng những ông không còn hy vọng thu được lúa mà còn bị tá điền đoạt ruộng đất. Trong truyện Thú Hoang, ông nội của Liễu xưa kia có ruộng cò bay thẳng cánh, ông thường đi ghe từ Vĩnh Long về miệt Hóc Hỏa để thu lúa. Rồi thời thế không yên, ruộng ông bị tịch thu. Lần cuối cùng ông đi thu lúa, hai tháng sau ghe của ông trở về mà không có ông, ông bị tá điền đâm trọng thương, rồi chết.

Bức tường ngăn chia giàu nghèo có khi gây nên cảnh éo le về tình cảm. Nhân vật cô Ba Ngoạn trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya bị người cha gọi về Cần Thơ để gã chồng, nhưng cô đã yêu con trai của một người tá điền. Cô dư biết cha cô sẽ không bao giờ chấp nhận làm thông gia với một tá điền. Cô tâm sự với những chị em trong nhà : … tôi đã lỡ yêu một người đàn ông không cùng một giai cấp với tụi mình. Ảnh là con người tá điền của má tôi. (tr. 98) Cô Ba Ngoạn tự tử hụt khi hay tin người yêu đi lấy vợ vì vâng lời cha mẹ và hay tin cha của cô đã đuổi gia đình người tá điền ra khỏi ruộng đất của ông.

Giai cấp giàu khinh rẻ giai cấp nghèo ; người nghèo thì thủ phận, họ bị dồn vào cái thế của người nô lệ phải phục tùng giới phú hộ có quyền thế. Có những trường hợp người nghèo lại sung sướng, hãnh diện được công khai gần gũi với người giàu, như trong truyện ngắn Trôi Sông (tập truyện Chiều Mênh Mông), lão Tự là một phu lục lộ, lão sung sướng, hãnh diện vì một quan tri phủ về hưu lấy con gái độc nhất của lão làm vợ thứ tám. Mỗi lần quan tri phủ cho gọi lão đến thì lão lật đật giở cái tráp bằng cây thông lôi bộ đồ bà ba vải xe lửa trắng đổi màu ngà còn ngát mùi lông não (…). Chùi vội đôi guốc cây (…). Lão soi mặt vào miếng kiếng bể (…). Lão sửa lại chiếc khăn vải Tây đỏ chít trên đầu. Nỗi vui mừng lẫn lo lắng cồn cào tâm hồn lão (…). Đi đến đâu lão không quên khoe lão là cha vợ quan tri phủ. (tr. 14)

Quan niệm giai cấp đã ăn sâu vào tư tưởng của lớp người có uy thế. Trong Nhang tàn thắp khuya, Thục Nghi về làm dâu một nhà quyền quý đông con gái : Thục Nghi bắt đầu cảm thấy bọn con gái thuộc nơi quyền quý thật khó mà gột rửa thành kiến nặng nề về giai cấp. (tr. 188)

Trong các truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ, ngôi nhà tổ phụ, ngôi nhà hương hỏa thường xuất hiện như nhắc nhở một thời đã qua. Ngôi nhà thường được xây cất bên bờ sông, có nhà thủy tạ để chủ nhà ra hóng mát và để đoàn ghe của tá điền cập bến nộp lúa, trong nhà lại có lẫm lúa, dấu hiệu giàu có của chủ nhà, một khu vườn rộng với cây cối rậm rạp bao quanh nhà. Ngôi nhà hương hỏa là một biểu tượng của dòng dõi người phú hộ. Trung đường trải dài ba gian, là cái nơi có những bàn thờ, lư hương, bình hoa mà đến ngày giỗ được con cháu và tôi tớ trong nhà lau chùi bóng loáng, hoa quả được long trọng chưng lên. Mặc dù ngôi nhà đã đến thời mục nát, nhưng nó vẫn là cái nơi tụ họp của gia đình họ hàng, cái nơi mà gia đình có thể che đậy sự suy sụp của mình bằng cách dọn những mâm cỗ linh đình vào những ngày cúng ông bà tổ tiên, ngày giỗ những người quá cố hoặc vào dịp Tết, cúng đưa ông Táo về Trời, cúng giao thừa ; gia đình lo việc thờ phụng, cúng bái một cách long trọng.

2/ Người phụ nữ trong một xã hội bảo thủ

Cuối thời phong kiến, tinh thần trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại trong xã hội. Sự bất bình đẳng lại càng mạnh hơn nếu người đàn ông có tiền của và quyền thế. Người phú hộ có quyền có năm thê bảy thiếp, ông Đốc Phủ sứ trong Nhang tàn thắp khuya có ba người vợ, trong Thú Hoang, ông nội của Liễu có sáu người vợ và trong truyện Trôi Sông ông quan tri phủ có tám người vợ. Chỉ có người phụ nữ phải chịu thiệt thòi.

Trong truyện Khung Rêu, tuy ông Phủ không có nhiều vợ, nhưng ông cũng đã dùng uy quyền để làm cho một cô gái nhà nghèo mang thai, Ngà, tên cô gái, đến ở thuê trong nhà để trả nợ cho cha là một tá điền.

Về phần bà Phủ, vì tinh thần trọng nam, bà ao ước cho ông Phủ một đứa con trai, mặc dù ông đã có ba người con trai với người vợ trước đã khuất bóng. Nhưng định mệnh đã mỉa mai cho bà Phủ một đứa con nửa trai nửa gái, điều làm bà rất đau khổ.

Nhân vật cụ bà trong truyện Chiều xuống êm đềm thì có mặc cảm tội lỗi đối với chồng vì bà chỉ sinh được hai người con gái.

Tuy con gái không được quý bằng con trai, nhưng cũng phải được dạy dỗ để có nết na và giỏi giang việc nhà. Bà Phủ nuôi hai đứa cháu gái trong nhà, bà đem những thành ngữ chữ Hán, pho kinh Phật ra răn dạy, bà nghiêm khắc theo dõi hai cô cháu và không muốn họ gần con trai : Nam nữ thọ thọ bất thân. Con gái như rơm khô dễ bắt lửa. Con trai là thứ lửa nguy hiểm. Lửa để gần rơm nếu không cháy cũng tròn trèm. (tr. 35) Bà xem việc nuôi con gái như một nỗi lo âu, một việc quá vất vả mà bà phải gánh lấy : Nuôi con gái khác nào đem giặc về nhà. Bà Phủ là người dựa vào đạo đức thời xưa để cản trở tình yêu của các cô gái.

Trong một xã hội bảo thủ, người ta khó chấp nhận cái mới. Nhất là khi cái mới được phụ nữ yêu chuộng. Vào thời Pháp đô hộ, người tỉnh lẻ không quen thấy những cái mới lạ, trong truyện Chiều Xuống Êm Đềm, cụ bà tuy hãnh diện có con gái lấy chồng dân Tây, nhưng cụ phật ý : Tao coi bộ con Thông nó làm nhiều chuyện không được… thuận nhãn cho lắm. Ai đời nó bận áo tân thời, tô son trét phấn như đào hát bội, lại còn liều mạng lái xe nữa… Rủi có bề gì thì sao đây ? (…) Ai đời, cái chuyện học tiếng Tây mà cũng đem ra khoe. (tr. 47, 49)

Người phú hộ khi tiếp xúc với người Pháp, thì bị lóa mắt bởi cái uy quyền của nước bảo hộ, bị óc nô lệ ru ngủ ; họ xem sự hiện diện của người Pháp như một bảo đảm cho đời sống của họ, họ không cần hiểu biết sâu xa về tình trạng của đất nước và thiếu tinh thần yêu nước. Trong Khung Rêu, ông Phủ nói : Tôi thích Tây cai trị, Tây mà đi rồi, mình chết đói cả đám (…). Tôi nói thiệt đa, nếu con cháu tôi chộn rộn bắt chước tụi học sinh bỏ học, bỏ nhà đi theo bọn phản loạn đó, lập tức tôi đi báo cho Tây nó biết liền và nếu cần tôi đem đóng trăn tụi nó, rồi đem nộp gấp. (tr. 315)

Trong khi ông Phủ hăm dọa con cháu, thì có một phong trào lên đường tranh đấu. Hoàng, một thanh niên ở trọ nhà ông Phủ đã bí mật biến mất. Rồi hai người con của ông Phủ, Thụ và Chiêu, cũng lên đường.

3/ Nỗi niềm của người phụ nữ trong một bối cảnh lịch sử sôi động

Giữa lúc thanh niên, học sinh nghe theo tiếng gọi của cuộc đấu tranh thì đời sống của người phụ nữ ở tỉnh lẻ ra sao ?

Hậu quả đầu tiên là tình yêu của đôi lứa tan vỡ. Trong truyện Thú Hoang, một nhóm bạn gái cùng lớn lên trong niềm vô tư, vui sướng dưới mái học đường : Đức, Liễu, Oanh, Kim, Sáo. Mỗi người có một đời sống tình cảm riêng.

Liễu thầm yêu Nam, người trưởng lớp đệ tứ thời còn học sinh. Nam dáng người cao, đạo mạo, có tài ngâm thơ, điều khiển hùng hồn bản nhạc quốc thiều vào những buổi chào cờ, tình yêu của Liễu vừa chớm nở thì Nam đi tập kết.

Đức có tài viết bích báo với cái tên Hiệp Đức, là một cô gái trâng tráo, sẵn sàng chọc tức, gây chuyện với mọi người. Đức yêu Lập, mang thai, uống thuốc phá thai trong khi Lập bỏ lên Sài Gòn hoạt động trong giới cải lương.

Oanh là người bạn tốt, vui vẻ với mọi người. Oanh có một cuộc đời phẳng lặng : Oanh lấy chồng và sống trọn đời ở tỉnh lẻ. Sáo cũng lấy chồng ở tỉnh lẻ.

Bên cạnh những người bạn đó, Kim có một đời sống tình cảm bi thảm. Kim tính trầm lặng, lãng mạn, thích màu tím, yêu văn thơ. Kim ở trọ để đi học, bị hai người con trai chủ nhà hiếp. Kim buồn khổ, nhưng Kim và Huấn yêu nhau, Huấn thông cảm nỗi bất hạnh của người yêu và tìm cách nâng đỡ tinh thần người yêu. Chính Huấn cũng đã có một thời thơ ấu bất hạnh, cha Huấn bị Tây chém, hai người anh đi bộ đội chống Pháp, tử trận năm 1946. Huấn có tài ăn nói, dễ chinh phục bạn bè. Huấn hoạt động chống Pháp trong phạm vi học đường, bằng cách phổ biến truyền đơn, báo chí, cờ xí, biểu ngữ. Rồi Huấn bị tình nghi, lo trốn tránh lưới công an, cuối cùng phải trốn thoát. Trước khi xa nhau, Huấn và Kim đã sống qua những giây phút ái ân say đắm mà kết quả là Kim mang thai. Kim cảm thấy sung sướng được mang cái mầm sống của người yêu và hết sức nâng niu cái thai. Nhưng rủi ro Kim bị tình nghi, bị bắt và bị tra tấn đến trụy thai. Từ đó con người của Kim đã đổi khác. Kim trở về sống với gia đình, làm thư ký hành chánh và bày ra chới búp bê, nâng niu con búp bê như đứa con thật của mình và âu yếm nhắc đến « Ba Huấn ». Kim và Đức ở trong hai hoàn cảnh khác nhau. Kim trở về quê sống cuộc đời của một người phụ nữ độc thân, chỉ yêu có một lần trong đời. Kim đau đớn vì mất đứa con với người yêu. Còn Đức thì muốn mau mau tống khứ cái bào thai của kẻ bạc tình để làm lại một cuộc đời mới.

Trong truyện Khung Rêu cũng có một mối tình tan vỡ vì thời cuộc, mối tình đi đến một kết thúc thê thảm. Tịnh, cháu gái của ông Phủ đã đỗ bằng thành chung và làm nghề dạy học. Tịnh yêu Hoàng, người con trai ở trọ trong nhà, tiếng vĩ cầm của Hoàng đưa Tịnh vào những mộng mơ lãng mạn, Tịnh lén bà Phủ đi chơi với Hoàng. Cô có nghề nghiệp, một ít ruộng đất và tư trang, cô quan niệm hạnh phúc rất đơn giản và thổ lộ với người yêu : Em chỉ thấy tình yêu trong khung cảnh một tỉnh lẻ mới đằm thắm nhiệm mầu. Ở đây gần thiên nhiên, có sông sau nhà, có vườn cây tràn ngập bóng mát. (tr. 290) Tình yêu đang ở giai đoạn say đắm thì Hoàng bỗng bí mật đi chiến khu. Tịnh nhớ nhung chờ đợi, rồi tuyệt vọng và dần dần chìm vào cơn điên. Bà Phủ đưa Tịnh lên Sài Gòn chửa trị, sau đó Tịnh vào dưỡng trí viện Biên Hòa và năm năm sau Tịnh chết.

4/ Người phụ nữ ở tỉnh lẻ trước sự lựa chọn : thoát ly hay chịu đựng

Trong cảnh suy tàn của giai cấp phú hộ, bà Phủ trong truyện Khung Rêu tiêu biểu cho người phụ nữ gương mẫu của thời xưa, một người phụ nữ chính chuyên, lo việc tề gia nội trợ, một mình chống đỡ cảnh nhà sa sút. Khi bà hay tin ông Phủ có quan hệ chùng lén với một người tớ gái khiến người này mang thai, bà nghiêm khắc trừng trị ông Phủ bằng cách bỏ bê việc nhà, dọn ra nhà sàn để ở riêng, bà cạo đầu và suốt ngày tụng kinh, niệm Phật ; đối với ông Phủ bà giữ thái độ im lặng, lạnh lùng. Bà có ý định tự tử khi nghĩ đến sự phụ bạc của chồng và nghĩ đến Chiêu, đứa con tật nguyền của bà, nhưng bà lại thôi vì nghĩ đứa con sẽ cần bà. Khi Tịnh, cháu của ông Phủ, bị mất trí, chính bà đã thân hành đưa Tịnh đi chửa bệnh. Và khi ông Phủ mất, bà đã bán tư trang để lo việc an táng ông Phủ một cách long trọng. Bà cao thượng tha thứ cho chồng : Bà nhìn xác chồng (…), bà nói như rên rỉ : « Mình sướng hơn tôi nhiều. Mình bỏ đi đúng lúc lắm. Nếu sống khôn thác thiên, mình hãy giúp tôi theo mình với (…). Tôi hứa kể từ đây tôi sẽ không còn hờn giận mình nữa. (tr. 347)

Đòi hỏi lớp người phụ nữ trẻ tuổi thời đó, có ít nhiều học vấn, phải noi gương bà Phủ là một điều không thể có được. Bánh xe lịch sử không bao giờ quay lùi.  Đời sống ở tỉnh lẻ vẫn còn tinh thần thủ cựu, hẹp hòi, dư luận thường phê phán khắc khe những người phụ nữ đã lầm lỡ, cảnh sống trở nên nặng nề, nhàm chán. Trong bối cảnh đó, người phụ nữ ý thức mình đứng trước một sự lựa chọn : hoặc chấp nhận một cuộc sống quá ràng buộc của truyền thống, tập tục, hoặc ra đi để xây dựng một cuộc đời tự do, tốt đẹp hơn.

Có những người phụ nữ chấp nhận ở lại. Truyện Nhang Tàn Thắp Khuya cho thấy một loạt chân dung phụ nữ trong một gia đình quyền quý : bà Đốc Phủ sứ, bà Chợ Lớn, bà Út, là ba bà vợ của ông Đốc Phủ sứ, và các phụ nữ khác : Thục Nghi, Tư Kiên, Sáu Niệm, hai chị em Hai Diệm và Ba Ngoạn, Quế Hương. Trong số các cô gái trẻ có những cô có trình độ học vấn : cô Sáu Niệm học trường Tây, cô Hai Diệm và cô Ba Ngoạn đều có bằng thành chung, họ yêu thích văn thơ. Trong khi cô Ba Ngoạn sẽ chọn một con đường táo bạo để tự giải phóng mình thì cô Quế Hương và Thục Nghi an phận với nếp sống cổ truyền. Cô Quế Hương là chủ một tiệm may, cô làm ăn phát đạt. Một ông Hội đồng Quản hạt góa vợ, hai con, hơn cô 13 tuổi, có ý định hỏi cô làm vợ. Khi hay tin, trong nhà đều kinh ngạc, nhưng cô Quế Hương tuyên bố thẳng thừng : Đối với tôi, luôn luôn chỉ cần môn đăng hộ đối. Ông ta há không phải là người có danh giá, có ăn học hay sao ? (tr. 201) Vậy là cô Quế Hương chấp nhận một cuộc hôn nhân theo lý trí. Thục Nghi là người giàu tình cảm, không hết kinh ngạc trước một người con gái như cô Quế Hương xem nặng lý trí đến mức hy sinh đời sống tình cảm. Phần Thục Nghi, cô mới 20 tuổi, sắp làm mẹ. Thục Nghi là một cô dâu được bên nhà chồng quý trọng : cô vừa đảm đang việc nhà vừa khôn khéo đối xử với mọi người. Đức, chồng của cô, yêu thương cô với một tình yêu trang nghiêm, chừng mực, Đức có xu hướng trọng nghĩa trước tình. Mà Thục Nghi thì trẻ trung, lãng mạn, khao khát một tình yêu say đắm, cho nên cô cảm thấy yếu đuối trước mối tình tha thiết của một người con trai tên Duy đồng trang lứa với cô. Cuối cùng Thục Nghi lòng buồn xao xuyến chấp nhận cuộc đời do định mệnh an bài. Thục Nghi nhìn bức tường bằng bê tông có gắn phía trên những miểng chai, bức tường biểu tượng cho sự ngăn cản, đóng kín cuộc đời của Thục Nghi từ đây. Và thành phố Vĩnh Long hiện lên qua cái nhìn buồn bã của Thục Nghi : Thành phố già nua, trầm lặng với sông rạch vây quanh, in dấu tháng ngày trống rỗng trôi qua. Buổi trưa, nắng trải lên trên các con đường tráng nhựa, cái hè phố, các dãy tiệm. Nơi đây sẽ giam hãm nàng suốt đời trong nỗi buồn duyên tủi phận, bên cạnh người chồng sớm cằn cỗi trong tâm hồn. (tr. 246)

Trong khi Thục Nghi ngoan ngoãn cúi đầu trước một xã hội bảo thủ, thì những người con gái khác nuôi mộng thoát ly. Trong một cuộc sống vẫn giữ lề thói xưa, cảm giác chung của những người con gái ở tỉnh lẻ là cái không khí ngột ngạt, khó thở, thiếu một chân trời mới lạ. Ý muốn thoát ly ám ảnh họ. Trong truyện ngắn Một Buổi Chiều (tập truyện Mèo Đêm), người con gái tên Linh sống một mình ở Long Xuyên, trong một ngôi nhà cổ, thổ lộ : Đêm nào tôi cũng nghe tiếng sông róc rách sau nhà, tiếng tàu xà lan chạy xình xịch. Đêm nào tôi cũng chìm trong những tiếng động đó. Tôi phải ra đi. Ra khỏi cái nhà này, cuộc đời tôi sẽ thay đổi (…). Cuộc đời ở đây đè nặng làm tôi nghẹt thở. (tr. 17-18)

Liễu, cô gái kể truyện trong Thú Hoang, làm nghề giảng tập viên, cũng cùng một tâm trạng, cô nói : Tôi đã từng nuôi dưỡng ý tưởng thoát ly khỏi tỉnh này, để tìm một không khí mới. Tôi sẽ rời bỏ ngôi nhà cổ âm thầm với tiếng cắc kè trên đầu kèo, như lời nguyền rủa tương lai từng đêm, với đàn chuột lắt chí chóe dưới đáy tủ nghe nhức nhối, rờn rợn trong tâm não và tôi sẽ đi trốn mùi ngan ngát của hoa hoàng lan, lẫn hoa dạ lý thơm suốt đêm làm tôi muốn chết ngộp. Tôi ngại nghe tiếng chim heo hét lên buốt óc vào lúc tảng sáng và tiếng xà lan xình xịch bên kia sông. Tôi muốn chạy trốn bối cảnh nhàm chán đó cùng những âm thanh rã rời buồn nản như cuộc sống tôi hiện tại. (tr. 23-24)

Đức, bạn của Liễu, càng quyết liệt hơn trong ý muốn rời bỏ cuộc sống ở tỉnh lẻ. Đức đã từng lầm lỡ và ý thức về những lời phê bình nghiêm khắc của người dân Vĩnh Long. Đức xem Sài Gòn như một vùng đất mênh mông hay một con sông lớn, nơi có thể bôi xóa tông tích và quá khứ của mình để xây dựng lại cuộc đời. Đức thúc giục Liễu lên Sài Gòn học Anh văn, đi làm cho Mỹ. Cô viết trong thơ cho bạn : Hãy làm thứ chim bói cá, gặp mồi là chớp liền. Sài Gòn là một con sông rộng có nhiều mồi… (tr. 22)

Nhân vật Nguyệt trong truyện Cho Trận Gió Kinh Thiên cũng có những mơ ước như thế. Nguyệt quê ở Vĩnh Long, cô là con của một người trọc phú nhiều vợ, nhiều con, ông từ bỏ mẹ của Nguyệt trước khi cô sinh ra. Nguyệt lên Sài Gòn, mang mặc cảm về tông tích của mình, cô quyết sẽ có một cuộc đời khác.

5/ Sài Gòn : một chân trời mới hay một thế giới ảo ?

Sài Gòn hoa lệ đã trở nên một huyền thoại đối với các cô gái tỉnh lẻ. Tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ không cho người đọc biết tiếp chuyện của Đức và Liễu ra sao trong cái dòng sông mênh mông có nhiều mồi. Chỉ thấy trong tuyện Một buổi chiều có cô Linh đã từng là một giảng tập viên ở Long Xuyên, trong Nắng chiều vàng có một cô giáo đến dạy học cho một cô điếm tên Mi-sen, và trong truyện dài Ngọn Pháo Bông, một cô giáo tên Lan dạy Anh văn cho các cô gái điếm. Các cô giáo trên đây có thể làm liên tưởng đến nhân vật Liễu vốn là một giảng tập viên ở quê nhà, và nếu nhìn xa hơn, người đọc sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của tác giả… Dù sao trong số các phụ nữ ở tỉnh lẻ lên Sài Gòn, đã có hai nhân vật được miêu tả rõ ràng, đó là cô Ba Ngoạn trong Nhang Tàn Thắp Khuya và Nguyệt trong Cho Trận Gió Kinh Thiên, còn lại là nhóm phụ nữ hoặc từ thôn quê bị lường gạt để lên Sài Gòn làm nghề buôn hương bán phấn hoặc những thiếu nữ vì hoàn cảnh gia đình mà bị sa vào cạm bẫy.

Cô Ba Ngoạn, như chúng ta đã thấy, sau mối tình tan vỡ vì vấn đề giai cấp, cô có những dự định to lớn. Cô là người thông minh có học, có óc tự lập và có bản lĩnh. Cô muốn thoát ly và cô sáng suốt nhận định : Tại sao một người con gái muốn sống tự lập, muốn thoát ly khỏi cái không khí nặng nề và cái lề thói cổ hủ của gia đình, thì thiên hạ trút lên đầu bao nhiêu là tội lỗi ? Nên hư gì thì cũng do mình… Cô nói với người anh của cô : Anh quên một điều là gia đình ta là gia đình có giáo dục, lại dòng dõi trâm anh thế phiệt nữa. Em không dại gì làm cho gia phong mình bại hoại đâu. (tr. 220) Cô làm thơ, viết văn, đăng trên các báo ở Sài Gòn và cô thật sự vào nghề. Cô nói : Thế nào tôi cũng phải đi. Văn đàn rất cần nữ giới đóng góp. (tr. 211) Các bậc cha mẹ : bà Hội đồng Hạc, mẹ của cô Quế Hương, ông Đốc Phủ sứ, ông Năm, cha của cô Ba Ngoạn, đều phản đối. Ông Năm lúc đầu đăng bài trên báo tìm con, rồi đăng bài từ con. Ở Sài Gòn cô Ba Ngoạn giao thiệp rộng, cô mở phòng tiếp khách để bàn luận về văn thơ gọi là salon littéraire, cô uốn tóc, học nhảy đầm, lái xe hơi, chơi quần vợt. Cuối cùng cô lấy một người Pháp, chủ nhiệm một tờ báo Pháp ngữ. Tóm lại, nơi cô Ba Ngoạn có một hiện tượng hoá thân mà gia đình ở quê nhà khó lòng theo kịp.

Nhân vật thứ hai là Nguyệt, cũng ở Vĩnh Long lên Sài Gòn. Nguyệt là một người con gái sống theo lý trí, có óc tính toán. Nguyệt thuê nhà trong một khu lao động để sống với người tình là Đồng. Một dịp để tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ đưa người đọc vào cái thế giới ồn ào, náo nhiệt của lớp phụ nữ bình dân, mà những đặc điểm là : ngồi lê đôi mách, cãi lộn và chửi bới. Những môn giải trí mà họ yêu thích là đánh bài và xem tuồng cải lương. Ngày giỗ của Đức Cửu Thiên Huyền Nữ là một biến cố trong xóm, mọi người háo hức ra vào sân miễu, nơi tiếng trống vang lên trong khói hương, đèn đuốc. Nguyệt mới dọn đến đã sớm biết chuyện của mỗi người trong xóm. Nguyệt có cảm tưởng ở đây bày ra một sân khấu chật hẹp mà mọi người trong xóm lần lượt diễn tuồng bừa bãi trước mắt nàng. (tr. 52) Từ xa đến, cô khám phá đời sống, cách ăn ở của lớp người bình dân nơi đây. Nhất là ngôn ngữ của đàn bà, một thứ ngôn ngữ thô tục, hung tợn. Đối với họ, chửi là tỏ ra có uy quyền. Họ chửi có vần có điệu, từ vựng phong phú, đem phơi bày những phần kín của thân thể, những bài tiết của thân thể. Nổi bật nhất là nhân vật bà Tư : Khuôn mặt bà nhiều thịt hum húp như bị chứng phù thủng không thể làm giảm ánh mắt sắc sảo và cặp mày xếch ngược, đầy uy quyền. Năm Út, bà Xành, bà Bảy Sánh chửi dồi dào, dai dẳng, nhưng vẫn thua bà Tư : Bà sáng tác câu chửi, bà lựa chữ thật mau lẹ, thật thú vị, thật thấm vào cơn đau xót người nghe. (tr.277) Nguyệt nhận thấy đàn bà trong xóm can thiệp vào đời sống của nhau quá nhiều, nhưng có cái hay là họ tương trợ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Vào thời đó, chiến cuộc xảy ra trên đất nước, làm xuất hiện trong xã hội miền Nam một hạng người xa lạ, nhiều tiền : người Mỹ. Riêng đối với người trong xóm, sự kiện này làm thay đổi những toan tính của họ về đời sống vật chất. Những người phụ nữ bình dân, thất học, không cần biết vì sao có người Mỹ đến đây, chỉ cần biết họ nhiều tiền và đó là một nguồn lợi đáng kể. Bà Tư Búp thường chửi bới, rẻ rúng chồng và đi làm điếm cho Mỹ, bà ta ăn mặc đẹp đẽ, đeo vàng. Còn bà Ngộ và bà Ba Xành khi xưa đi làm bếp cho Tây và còn mần việc khác nữa, nay bà Ngộ muốn giới thiệu cho bà Ba Xành một người Mỹ để nấu ăn. Bà Ngộ còn muốn cho bà bạn của mình mượn cuốn sách để học tiếng Mỹ. Hồi mới đi làm cho Mẽo, cũng nhờ nó mà tôi nói một vài tiếng Mẽo. Khổ cho bà Ba Xành là bà mù chữ. Nhưng lời đề nghị của bà Ngộ cũng đủ làm cho bà Ba Xành sung sướng khi bà nghĩ bà sẽ có tiền sửa sang nhà cửa, trong nhà bà sẽ có đủ tiện nghi : quạt máy, tủ lạnh, ti vi, bếp ga, bàn phấn, giường nệm mousse…

Nguyệt cũng đi làm cho Mỹ, nhưng ở mức độ cao hơn : cô làm thư ký cho một sở Mỹ. Nguyệt bị Hưng, người tình thứ nhất phụ bạc, vả chăng cô cho đó là một mối tình quá tinh khiết, cô muốn tình yêu phải đi kèm với những rạo rực của thể xác. Đối với Đồng, một thanh niên đẹp trai nhưng bị chột mắt, thì cô không có tình yêu, chỉ lạm dụng tình yêu và lòng tốt của Đồng, cô quan niệm Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài, mặc dù Nguyệt chỉ muốn Đồng là người tình, không là chồng. Nguyệt luôn luôn tính toán, vụ lợi. Trước kia, tuy bị người cha trọc phú bỏ rơi, nhưng Nguyệt vẫn mơ được hưởng gia tài, nên cô theo đạo Thiên Chúa, đi nhà thờ. Vì cha của cô tuy nhiều vợ nhưng vẫn theo tôn giáo này. Khi thấy việc đi nhà thờ không làm lung lay người cha, cô không giữ đạo nữa. Với đàn ông cô còn tính toán xa hơn : sau Hưng và Đồng, cô nhắm người Mỹ. Cô muốn lăn vào một cuộc phiêu lưu với nhiều người đàn ông. Trong thời gian sống với Đồng, Nguyệt đi chơi với mấy người Mỹ trong sở. Bob Granger, viên trưởng phòng, đưa cô đi ăn ở nhà hàng, cầu hôn với cô và hứa sẽ đưa cô về sống ở Philadelphia, nhưng Nguyệt không mấy ham thích đời sống ở Mỹ vì khác văn hóa, cô chỉ nuôi mộng giàu sang, trở về quê nhà làm lóa mắt mọi người. Thế là Nguyệt bỏ Đồng, rời xa xóm lao động. Cô trở thành chiêu đãi viên hàng không, buôn lậu và trở nên giàu có.

Ở Sài Gòn, Ba Ngoạn và Nguyệt là hai mẫu người phụ nữ leo thang trong xã hội, người hoan hỉ chọn lựa con đường văn hóa, kẻ tìm hạnh phúc trong thế giới tiền bạc. Đối với họ, Sài Gòn là một chân trời mới. Nhưng đối với giới phụ nữ sống về đêm thì Sài Gòn là một thế giới ảo khiến họ trượt chân rơi xuống vực thẳm của sa đọa. Tập truyện ngắn Lao Vào Lửa và truyện dài Ngọn Pháo Bông là những truyện về chủ đề gái điếm. Có những cô gái vì hoàn cảnh gia đình sa sút, vì rủi ro nên sa vào con đường phải bán thân như cô Tú, trong truyện ngắn Lao Vào Lửa ; cô là con một ông phu xích lô bị bại liệt, không còn khả năng nuôi một bầy con tám đứa, cô Tú đành trở thành cô Tina rước khách ở bar Honeymoon.

Truyện Ngọn Pháo Bông kể cuộc đời của một cô gái điếm tên Thắm. Từ một cô gái quê mùa thất học, bị hiếp năm 18 tuổi, Thắm bị một người đàn bà dụ dỗ đưa lên Sài Gòn và lần lần trở thành một cô điếm hạng sang, có nhiều khách Mỹ, được đàn em kính nể. Vào tuổi 40, Thắm bâng khuâng nghĩ vể cuộc đời sa đọa của mình, ao ước bỏ nghề và tạo một gia đình bình thường, đôi khi Thắm nhớ về quê nhà có cảnh ruộng đồng. Ngọn Pháo Bông có dáng dấp một tiểu thuyết trinh thám. Vào truyện có cảnh Thắm bị giết ngay trong phòng của cô, và Cường, người đàn ông sống nhờ vào cô, đã biến mất, tiền bạc và tư trang của cô không còn nữa.

Đối với hạng phụ nữ bị bắt buộc hay tự do chọn lựa lối sống phóng đãng sa đọa, vào một lúc nào đó họ phải đối đầu với một vấn đề hệ trọng : vấn đề làm mẹ.  Trong truyện ngắn Gái Độc Không Trái (tập truyện Chiều Mênh Mông), người kể truyện là một cô gái điếm gần 40 tuổi, cô này đã phá thai nhiều lần, lần này cô lại mang thai, người bạn tên Thành giới thiệu với cô một y tá có tiếng phá thai không làm đau đớn. Cô ta nghĩ : …tôi đâu phải là hạng đàn bà nặng tình mẫu tử (…). Thế giới của tôi là quán rượu chìm lờ mờ trong cảnh đèn đỏ, trong khói thuốc như sa mù buổi sáng. Cuộc đời của tôi thu gọn trên chiếc giường… Cũng có lúc cô ta nghĩ đến cuộc đời làm mẹ, nghĩ đến tình mẫu tử, nhưng rồi cô ta bị cuộc sống quen thuộc cuốn đi.

Người gái điếm ý thức thân phận thấp hèn của mình trong xã hội : Đi đâu ai mà chẳng biết danh tụi tui là me Tây me Mỹ. Người ta lúc nào cũng kêu mình là « con đĩ » chớ có ai tôn làm « bà đĩ » bao giờ đâu… (Nắng chiều vàng, tr. 70, Mèo Đêm)

Qua những cuộc biến thiên của đất nước, từ thời Pháp đô hộ đến thời kháng chiến, thời đất nước phân chia đưa đến cuộc chiến tranh Nam Bắc, xã hội miền Nam đã biến đổi nhiều, và thân phận người phụ nữ cũng nổi trôi theo những biến đổi đó. Sống trong một xã hội bảo thủ với những kỷ cương xưa cũ, người phụ nữ có ý muốn thoát ly để tự giải phóng mình. Mặt khác, một hiện tượng xã hội đã xảy ra trong thời chiến : sự hiện diện của người Mỹ làm nảy sinh lòng tham lam tiền bạc nơi một số người phụ nữ khiến họ mất phẩm giá, mất đạo đức. Đây là mặt trái của xã hội miền Nam. Khi phơi bày mặt trái này, tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ có quá bi quan chăng ? Dù sao xã hội miền Nam cũng có một bộ mặt tích cực với những người phụ nữ đã có những bước tiến khá dài trên con đường văn hóa để tự giải phóng mình và để tiến dần đến vấn đề nữ quyền. Nhưng nếu cho rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ miêu tả mặt trái của xã hội thời đó thì hoàn toàn không đúng. Đọc tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng ta sẽ thấy cái nhìn của bà bao quát cả nữ giới, đặc biệt nữ giới ở tỉnh lẻ đồng bằng sông Cửu Long. Với trải nghiệm của bản thân, tác giả thấu rõ đời sống tâm lý phong phú, đa dạng của người phụ nữ. Bà miêu tả sự khắc khoải, những ray rứt âm thầm của tâm hồn người nữ, những vùng vẫy, chờ đợi, khát khao, mong ước, và khi gặp nỗi thống khổ thì chỉ biết chịu đựng cho đến lúc tâm thần suy sụp, có khi lại mạnh dạn ra đi.

Điều đáng chú ý là Nguyễn Thị Thụy Vũ tự tạo cho mình một nghệ thuật miêu tả hướng về thị giác ; truyện của bà mang nhiều màu sắc, màu sắc áo quần người phụ nữ, màu sắc của đồ vật trong không gian, của thảo mộc trong thiên nhiên, đôi khi quá nhiều màu sắc làm choáng ngợp ; sau thị giác là khứu giác, đặc biệt trong  Khung Rêu : mùi bồ kết, mùi hoa nguyệt quế và mùi dạ lý, mùi hoa bưởi lẫn hoa cau, mùi trái cây chín, v.v…. Mùi thơm của các loài hoa trong vườn, đôi lúc quá ngào ngạt, quá dai dẳng khiến người con gái muốn rời bỏ nơi chốn để đi xa, có lúc mùi thơm lại làm người con gái càng thêm lưu luyến với cái nơi sống của mình. Tác giả cũng thường nhân cách hóa thiên nhiên : Mặt trời đang dãy chết bên kia sông… Sự vắng ngắt của buổi chiều ôm chầm lấy tôi và dìm tôi như muốn ngộp thở…

Với một nghệ thuật miêu tả rất riêng biệt như thế và với một ngôn ngữ rặt miền Nam, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã vẽ lên một bức tranh của nữ giới theo sự thăng trầm của đất nước và trong một xã hội có lắm đổi thay.

 

(1) Tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đều được Hội Nhà Văn tái bản năm 2017.

 

Paris, tháng 11 – 2018