CON BÉ ROQUE

 

                                                                                                     Nguyên tác : La petite Roque

                                                                                                     của Guy de Maupassant

                                                                                                     Nxb Robert Laffont, 1988

                                                                                                     Dịch giả : Liễu Trương

 

I

 

Ông lính bộ binh Médéric Rompel, mà dân trong vùng gọi một cách thân mật “Médéric”, từ nhà bưu điện Rouy-le-Tors ra đi vào giờ thường lệ. Sau khi đi qua cái thành phố nhỏ với những bước chân dài của một người lính già, ông cắt ngang những đồng cỏ Villaumes để đến bờ suối Brindille, con suối đưa ông đến làng Carvelin, nơi ông bắt đầu phát thơ.

Ông đi nhanh, dọc theo con suối có nước nổi bọt, chảy lào xào, sùng sục, giữa hai bờ cỏ xanh, dưới vòm cây liễu. Những hòn đá to giữa dòng có một khoanh nước vây quanh, một thứ cà vạt được chấm dứt bằng một cái nơ bọt. Có nơi có những thác nước lắm khi vô hình, tạo nên một tiếng động lớn và êm ả dưới những lá cây, dây leo, như một mái nhà bằng thảo mộc ; xa hơn, hai bờ suối tách rộng ra, làm thành một cái hồ nhỏ, yên tĩnh, với những con cá hồi bơi trong đám rong nhấp nhô dưới đáy nước.

Médéric vẫn đi tới, mà không để ý gì, ông chỉ nghĩ rằng : “Cái thơ đầu tiên là của gia đình Poivron, rồi có một cái thơ cho ông Renardet ; vậy ta phải đi ngang qua cái rừng cây.”

Cái áo bờ lu xanh của ông được siết ở bụng với một cái giây nịt bằng da đen, cái áo đó lướt nhanh, đều đều trên hàng cây liễu xanh ; và cây gậy của ông, bằng thứ cây nhựa ruồi, đi bên cạnh ông, cùng một nhịp với đôi chân ông.

Ông đi qua con suối Brindille, trên một cái cầu làm bằng thân cây nối liền bờ này với bờ kia, chỉ có mỗi một tay vịn làm bằng một sợi giây thừng đóng vào hai cái cọc được chôn ở hai bờ.

Rừng cây thuộc sở hữu của ông Renardet, xã trưởng làng Carvelin và là một địa chủ quan trọng nhất trong vùng. Đó là một thứ rừng có cây cổ thụ to lớn, thẳng như những cái cột ; chiều dài của rừng trải rộng trên nửa dặm, đến tận bờ suối, suối dùng làm ranh giới cho rừng cây. Ven dòng nước, cây cối mọc tốt vì có nắng ấm ; nhưng trong rừng chỉ có rêu, thứ rêu dày lớp, êm và mềm, tỏa ra trong không khí tù hãm một mùi mốc thoang thoảng và mùi cây khô.

Médéric chậm bước, dỡ cái mũ kêpi đen được tô điểm bằng một cái dải đỏ, ông lau trán, vì trời đã nóng trong đồng cỏ, mặc dù chưa đầy tám giờ sáng.

Vừa đội mũ trở lại và vừa tiếp tục bước nhanh, thì ông thấy ở một gốc cây một con dao, thứ dao của trẻ con. Khi ông lượm con dao, ông lại thấy một cái đê dùng để may vá, rồi một ống đựng kim may, cách đó hai bước.

Khi lượm các thứ đó, ông nghĩ : “Ta sẽ đem đưa hết cho ông xã trưởng” ; và ông lại bước đi ; nhưng bây giờ ông bắt đầu chú ý đến xung quanh, ông vẫn chờ lượm được cái gì khác.

Bỗng nhiên ông khựng lại, làm như ông bị chạm vào một cây chắn bằng gỗ ; bởi vì cách mười bước trước mắt ông, xác một đứa trẻ nằm ngửa, trần truồng trên lớp rêu. Đó là một đứa bé gái, chừng mười hai tuổi. Tay chân nó dang ra, một chiếc khăn tay che mặt nó. Một ít máu vấy bẩn hai đùi nó.

Médéric đi nhón gót, tưởng như ông sợ làm ồn, hay sợ một mối nguy nào ; và ông mở to mắt.

Cái gì vậy ? Chắc con bé ngủ ? Rồi ông nghĩ rằng người ta không ngủ trần truồng như thế, vào bảy giờ rưỡi sáng, dưới cây cối lạnh mát. Vậy là con bé đã chết, và ông đang đứng trước một tội ác. Khi nghĩ như thế, ông cảm thấy ớn lạnh sau lưng, mặc dù ông là một người lính già. Và rồi đó là một chuyện quá hiếm trong vùng, một vụ giết người, thêm nữa một vụ giết một đứa trẻ gái mà ông không thể tin được. Nhưng đứa trẻ không có một vết thương nào, chỉ có vết máu đã đặc lại trên chân nó. Vậy thì nó đã bị giết như thế nào ?

Ông dừng lại gần nó và nhìn nó, tay tì vào cây gậy. Hẳn ông phải biết nó, bởi vì ông biết tất cả người dân ở vùng này ; nhưng vì không thấy mặt nó, ông không thể đoán được tên. Ông cúi xuống để kéo cái khăn tay đang che mặt nó ; nhưng rồi ông ngừng lại, bàn tay đang chìa ra phía trước, một ý nghĩ ngăn cản ông.

Ông có quyền xê dịch một cái gì trên xác chết, trước khi đại diện của pháp luật làm biên bản không ? Ông tưởng tượng pháp luật như một thứ tướng lĩnh thấy suốt tất cả ; một hạt nút thất lạc cũng quan trọng như một nhát dao trong bụng. Dưới chiếc khăn tay đó, người ta có thể tìm ra cái bằng chứng chủ yếu ; đó là một tang vật, à mà nó có thể bị mất giá trị nếu có một bàn tay vụng về sờ đến.

Vậy là ông đứng dậy để chạy đến nhà ông xã trưởng ; nhưng một ý nghĩ khác lại cầm chân ông. Nếu bất ngờ đứa bé gái còn sống, ông không thể bỏ rơi nó như thế. Ông quỳ xuống từ từ, cẩn thận, hơi xa nó, và ông đưa tay sờ chân nó. Chân nó buốt lạnh, cái lạnh ghê rợn khiến da thịt người chết đáng sợ, và không cho ta chút nghi ngờ về sự thật của cái chết. Khi chạm vào chân nó, người phát thơ cảm thấy xao động trong lòng, như về sau ông sẽ kể, và miệng ông thì khô lại. Thình lình ông đứng dậy, chạy băng qua rừng, về hướng nhà ông Renardet.

Ông đi nhanh, bước đi đều đặn, cây gậy cặp dưới nách, hai bàn tay nắm lại, đầu cúi về phía trước ; và cái bị da đầy thơ và báo nhịp nhàng đập vào lưng ông.

Nhà ông xã trưởng ở đầu cánh rừng, một góc tường ngâm mình trong hồ nước do con suối Brindille tạo thành nơi đó. Ngôi nhà khá lớn, bằng đá, vuông vức, một ngôi nhà rất cổ, xưa kia đã từng chịu vây hãm nhiều lần, nhà có cái tháp to lớn, cao hai mươi thước, được xây trong nước.

Thuở xưa người ta quan sát khắp vùng từ trên cái tháp đó. Người ta gọi nó là tháp Renard mà không hiểu một cách chính xác vì sao ; và có thể là từ cái tên đó mà nảy ra cái tên Renardet, là tên của những người địa chủ vùng này. Nhà đất là sở hữu của một gia đình duy nhất, từ hơn hai trăm năm nay, thiên hạ nói thế. Gia đình Renardet thuộc giai cấp tư sản, gần với  giai cấp quý tộc mà người ta thường thấy ở tỉnh nhỏ trước Cách Mạng.

Ông phát thơ xông ngay vào bếp, nơi những người đầy tớ đang ăn, và ông la lên : “Ông xã trưởng đã dậy chưa ? Tôi phải thưa chuyện với ông ngay lập tức.” Những người giúp việc biết Médéric vốn là một người có ảnh hưởng và uy tín, và họ hiểu ngay rằng một chuyện trầm trọng đã xảy ra.

Ông Renardet được người nhà báo cho biết, liền ra lệnh đưa người phát thơ vào. Ông lính bộ binh mặt tái, thở hổn hển, tay cầm cái mũ kêpi, thấy ông xã trưởng ngồi trước một cái bàn dài đầy giấy tờ.

Ông Renardet là một người đàn ông to, cao, nặng nề, mặt đỏ, với một sức mạnh phi thường, ông rất được dân khắp vùng cảm mến, mặc dù tính ông quá hung bạo. Ông khoảng bốn mươi tuổi, góa vợ từ sáu tháng nay ; ông sống trên đất ông như một người quý tộc sống nơi thôn dã. Lắm khi khí chất hăng của ông đã gây ra nhiều vụ kiện thưa khó xử mà các ông quan toà của Rouy-le-Tors, với tư cách là những người bạn khoan dung, độ lượng, kín đáo, luôn luôn gỡ khó khăn cho ông. Chẳng phải ông đã xô một người đánh xe ngựa từ trên xe xuống, vì anh ta suýt cán con chó Micmac chuyên tìm thú săn của ông đó sao ? Chẳng phải ông đã đập gãy xương sườn người lính tuần trong khu vực săn bắn, khi anh này lập biên bản, vì ông mang súng vượt qua đất của người láng giềng đó sao ? Chẳng phải ông đã xách cổ áo ông phó thị trưởng khi ông này dừng chân trong làng, trong một công tác hành chánh mà ông Renardet cho là một vòng tranh cử đó sao ? Bởi vì theo truyền thống, gia đình ông thuộc phe đối lập với chính phủ.

Ông xã trưởng hỏi :

– Gì đấy Médéric ?

– Tôi thấy một đứa bé gái chết trong rừng cây của ông.

Ông Renardet thẳng người, mặt đỏ gắt :

– Ông nói… một đứa bé gái ?

– Vâng, thưa ông, một đứa bé gái trần truồng, nằm ngửa, máu me, đã chết, chết thật !

Ông xã trưởng nguyền rủa :

– Mẹ kiếp, chắc là con nhỏ Roque chứ gì ? Người ta vừa mới báo cho tôi rằng nó không về nhà mẹ nó đêm qua. Ông thấy nó ở chỗ nào ?

Người phát thơ tả nơi chốn, cho nhiều chi tiết và đề nghị đưa ông xã trưởng đến đấy.

Nhưng ông Renardet trở nên sỗ sàng :

– Không, tôi không cần ông. Hãy bảo người lính tuần phiên, người thư ký của xã và ông y sĩ đến gặp tôi ngay, và hãy tiếp tục đi phát thơ đi. Nhanh lên, đi đi, và nói với họ đến tìm tôi trong rừng cây.

Ông lính bộ binh, vốn là người tôn trọng quân lệnh, liền vâng lời và quay đi, ông tức giận và tiếc không có mặt lúc người ta lập biên bản.

Đến lượt ông xã trưởng ra khỏi nhà, ông đội nón, thứ nón lớn, mềm, bằng nỉ màu xám, vành rộng, ông ngừng vài giây trước cửa nhà. Trước mặt ông là bãi cỏ lớn có điểm ba chấm đỏ, xanh, trắng, ba cái lẵng hoa đang nở, một cái ngay trước mặt nhà, hai cái kia hai bên nhà. Xa hơn, cây cối của khu rừng chĩa lên trời, bên trái, suối Brindille mở rộng thành hồ, xa hơn nữa, những đồng cỏ dài, cả một vùng xanh tươi, bằng phẳng bị cắt ngang bởi những cái rãnh và những hàng cây liễu, thứ cây này giống những con quái vật béo, lùn, luôn luôn bị tỉa cành, trên mỗi thân cây to, thấp, một chùm nhánh cây nhỏ rung rinh chĩa lên như một cây chổi lông.

Bên phải, sau chuồng ngựa, sau cái lán và dãy nhà thuộc sở hữu ông xã trưởng, là cái làng trù phú, nơi sinh sống của những người nuôi bò.

Ông Renardet chậm rãi bước xuống bậc thềm, và khi rẽ về phía trái, ông đến bên bờ suối, đi theo dòng nước bằng những bước đi chậm, hai tay chắp sau lưng. Ông bước đi, đầu cúi xuống ; đôi khi ông nhìn chung quanh để xem có những người mà ông cho gọi đến không.

Khi ông đến dưới những lùm cây, ông dừng lại, cởi nón và lau trán như Médéric đã làm ; vì cái nắng nung đốt của tháng bảy rơi xuống đất thành lửa. Rồi ông xã trưởng lại tiếp tục đi, dừng lại lần nữa, trở lại phía sau. Bỗng ông cúi xuống, ngâm khăn tay trong con suối đang chảy dưới chân ông, ông trải cái khăn lên đầu, dưới cái nón. Nước nhỏ giọt hai bên thái dương, trên đôi vành tai luôn tím ngắt, trên cái cổ to, khỏe và đỏ, những giọt nước nối đuôi nhau dưới cổ áo sơ mi trắng của ông.

Vì chưa có ai đến, ông giậm chân, rồi gọi : “Ê này ! Ê này !”

Một giọng nói trả lời bên phải : “Ê này ! Ê này !”

Và ông y sĩ hiện ra dưới lùm cây. Ông ta là một người đàn ông thấp, gầy, cựu y sĩ chuyên về phẫu thuật trong quân đội, ông được xem như một y sĩ rất có khả năng trong vùng. Vì bị thương khi tại ngũ, nên ông đi khập khiễng và dùng gậy để đi.

Rồi anh lính tuần phiên và người thư ký của xã xuất hiện, hai người này được báo tin cùng một lúc, đến cùng một lúc. Họ có vẻ hoảng hốt, thở hổn hển, vừa đi vừa chạy lon ton để đến nhanh, họ quơ tay lia lịa, đến nỗi họ có vẻ làm việc với tay nhiều hơn với chân.

Ông Renardet nói với ông y sĩ :

– Ông có biết chuyện như thế nào không ?

– Có, Médéric tìm thấy một đứa trẻ chết trong rừng.

– Tốt. Vậy chúng ta hãy đi.

Họ bắt đầu đi bên cạnh nhau, hai người đàn ông kia theo sau. Bước chân của họ trên rêu không gây nên tiếng động ; mắt họ tìm đằng xa, trước mặt họ.

Bỗng nhiên ông y sĩ Labarbe đưa tay chỉ :

– Nó kia kìa !

Rất xa, dưới lùm cây, họ thấy một cái gì màu trắng. Nếu họ không biết là gì thì khó mà đoán được. Cái đó có vẻ sáng loáng và trắng quá, đến nỗi người ta tưởng là một cái khăn vải rơi xuống đất ; vì một tia nắng xuyên qua các cành cây chiếu một đường xiên trên da thịt trắng của bụng. Khi đến gần, họ từ từ nhận ra cái thi thể, đầu bị che, nghiêng về phía suối, và hai cánh tay dang ra như bị đóng đinh vào cây chữ thập.

– Tôi nóng quá ! ông xã trưởng nói.

Và cúi xuống con suối, ông lại ngâm cái khăn tay mà ông đặt lại trên trán.

Ông y sĩ đi nhanh, rất chú tâm đến sự việc vừa được khám phá. Ngay khi ông đến gần xác chết, ông cúi xuống để xem xét, nhưng không sờ tới. Ông mang đôi kính cặp mũi, như khi người ta nhìn một vật lạ, và ông nhẹ nhàng đi chung quanh. Ông nói :

– Hiếp dâm và giết người, hai điều mà chúng ta sắp ghi nhận chốc nữa đây. Vả lại, đứa bé gái này gần thành đàn bà, hãy nhìn ngực nó.

Đôi vú khá rõ rệt, đã lún xuống ngực vì bị cái chết làm mềm nhũn đi.

Ông y sĩ dỡ nhẹ cái khăn che mặt. Mặt cô bé đen, trông đáng ghê sợ, cái lưỡi lòi ra ngoài, đôi mắt lồi ra. Ông lại nói :

– Tất nhiên, người ta bóp cổ nó sau khi đã thỏa mãn nhục dục.

Ông sờ nắn cái cổ :

– Bị bóp cổ mà không có một dấu vết đặc biệt gì cả, không có dấu móng tay cũng không có dấu tay. Tốt lắm. Quả thật chính là con bé Roque.

Ông nhẹ nhàng để lại cái khăn trên mặt :

– Tôi không cần phải làm gì ; con bé chết ít nhất đã mười hai tiếng đồng hồ. Phải báo cho viện Công tố.

Ông Renardet đang đứng hai tay chắp sau lưng, nhìn sững cái thân hình nhỏ bé nằm sóng sượt trên cỏ. Ông thì thầm :

– Thằng khốn nạn ! Phải tìm cho ra áo quần của nó.

Ông y sĩ sờ bàn tay, cánh tay và chân. Ông nói :

– Chắc là nó vừa mới tắm. Áo quần nó có lẽ ở bên bờ suối.

Ông xã trưởng ra lệnh :

– Mày, Principe (người thư ký của xã), mày đi tìm cho tao ba cái áo quần của nó, dọc theo bờ suối. Mày, Maxime (người lính tuần phiên), mày chạy tới Rouy-le-Tors và rước về cho tao ông dự thẩm và đội hiến binh. Họ phải có mặt ở đây trong một tiếng đồng hồ. Mày nghe chưa ?

Lập tức hai người đàn ông đi thi hành lệnh. Ông Renardet nói với ông y sĩ :

– Thằng vô lại nào mà dám làm một chuyện như thế, trong xứ này ?

Ông y sĩ thì thầm :

– Nào ai biết được ? Ai cũng có thể làm điều đó. Tất cả mọi người nói riêng, và không ai cả nói chung. Điều đó không quan trọng, chắc là một kẻ đi lảng vảng, một người thợ thất nghiệp nào đó. Từ khi chúng ta sống dưới nền Cộng hòa, chỉ gặp toàn những chuyện như thế.

Cả hai đều là những người trung thành với chính thể Bonaparte.

Ông xã trưởng lại nói :

– Phải, chỉ có thể là một kẻ xa lạ, một kẻ qua đường, một tên lang thang không nhà không cửa…

Ông y sĩ có vẻ mỉm cười, nói tiếp :

– Và không vợ. Vì không có ăn, không nhà ở, hắn ta đi kiếm cái thứ còn lại. Người ta không ngờ có biết bao nhiêu người trên trái đất này có thể phạm tội ác vào một lúc nào đó. Ông có biết là con bé đó đã mất tích không ?

Và với cái đầu gậy, ông ta sờ những ngón tay cứng ngắc của cô bé đã chết, ngón này đến ngón kia, ông đè lên trên như người ta nhấn trên phím đàn dương cầm.

– Có. Mẹ nó đến tìm tôi tối hôm qua, vào khoảng chín giờ ; đứa bé không về nhà vào lúc bảy giờ để ăn tối. Chúng tôi đã đi tìm, gọi nó trên khắp các con đường đến nửa đêm ; nhưng không hề nghĩ đến cánh rừng. Vả lại, phải chờ trời sáng cuộc tìm kiếm mới có hiệu quả.

– Ông hút một điếu xì gà nhé ? Ông y sĩ nói.

– Cám ơn, tôi không thấy thèm hút. Trước một cảnh tượng như thế, tôi bị choáng váng.

Cả hai đứng trước cái thi thể mảnh khảnh của một đứa bé gái, trắng hếu, nằm trên lớp rêu sẫm. Một con ruồi to, bụng xanh, đi dạo trên đùi, dừng lại ở những vết máu, lại tiếp tục đi, đi lên mãi, đi khắp cạnh sườn với dáng đi nhanh nhẹn và giật giật của nó, nó trèo lên một cái vú, rồi trở xuống để thăm dò cái vú kia, nó tìm cái gì để uống trên thân thể người chết. Hai người đàn ông nhìn cái chấm đen đang đi lang thang đó.

Ông y sĩ nói :

– Một con ruồi trên làn da đẹp làm sao ! Các bà ở thế kỷ trước có lý khi dán nốt ruồi trên mặt. Tại sao người ta bỏ tục lệ đó ?

Ông xã trưởng có vẻ không nghe ông ta nói, ông trầm ngâm trong suy tưởng.

Nhưng thình lình ông quay lại, vì một tiếng động làm ông ngạc nhiên. Một người đàn bà đội mũ vải, mặc tạp dề xanh, chạy đến dưới lùm cây. Đó là người mẹ, mụ Roque. Khi thấy ông Renardet mụ hét lên :

– Con tui, đứa con tui đâu ?

Mụ quá hoảng hốt nên không nhìn xuống đất. Đột nhiên mụ thấy xác đứa con, mụ đứng sững lại, chắp hai tay đưa lên trời và hét lên một tiếng chát chúa, xé ruột, một tiếng thét của con vật bị thương.

Rồi mụ xông lại phía tử thi, quỳ sụp xuống và dỡ cái khăn che mặt như rứt nó đi. Khi thấy cái mặt khủng khiếp, đen thui và co quắp đó, mụ đứng phắt dậy, rồi sấp mặt xuống đất, mụ la những tiếng la ghê gớm và liên tục trong lớp rêu dày.

Cái thân hình cao và gầy của mụ mà áo quần dán vào đang giật giật, bập bùng. Mắt cá xương xẩu và bắp chân khô đét của mụ, ẩn trong đôi bít tất thô, màu xanh, run lên kinh khủng, và những ngón tay quắm của mụ cào đất như để đào lỗ mà ẩn nấp.

Ông y sĩ bị xúc động thì thầm :

– Tội nghiệp bà già !

Ông Renardet có một tiếng động lạ lùng trong bụng, rồi như một tiếng hắt hơi ồn ào thoát ra từ mũi và miệng ông cùng một lúc ; và khi rút cái khăn tay trong túi ra, ông khóc trong khăn, vừa ho vừa khóc nức nở và vừa hỉ mũi ồn ào. Ông ấp úng :

– Thằng khốn nạn nào đã làm chuyện đó… Tôi… tôi muốn thấy nó lên máy chém…

Nhưng Principe đã trở lại, với hai tay không, vẻ mặt sầu não. Anh ta nói nhỏ :

– Thưa ông xã trưởng, con không tìm thấy gì cả, không có gì ở đâu cả.

Ông xã trưởng hốt hoảng, trả lời giọng đầy nước mắt :

– Mày không tìm ra được cái gì ?

– Áo quần của con bé.

– Vậy thì… vậy thì… tìm nữa đi… và… và… phải tìm cho ra… không thì mày sẽ biết tay tao.

Người đàn ông biết là không thể cưỡng lời ông xã trưởng, bèn đi trở lại, vẻ nản chí, vừa đi vừa sợ sệt liếc mắt nhìn cái thi hài.

Có tiếng người xa xa vang lên dưới lùm cây, một tiếng ì ầm không rõ rệt, tiếng một đám đông đang đến gần ; vì Médéric, khi đi phát thơ, đã loan cái tin từ nhà này sang nhà khác. Dân trong vùng lúc đầu sửng sốt, sau họ tụ họp nhau ngoài đường, họ bàn tán xôn xao, bình luận về biến cố trong một lúc ; và bây giờ họ đến xem.

Họ đến từng nhóm, hơi ngập ngừng và lo lắng, vì sợ bị xúc động. Khi đã thấy cái thi hài, họ dừng lại, không dám đi tới nữa và hạ giọng. Rồi họ đánh bạo, bước vài bước nữa, dừng lại, lại tiến tới, và chẳng bao lâu họ làm thành một vòng tròn dày đặt, náo động, chung quanh kẻ chết, bà mẹ, ông y sĩ và ông Renardet, vì những người đến sau chen lấn đột ngột, nên cái vòng tròn càng siết lại. Chẳng bao lâu họ sờ được cái xác chết. Thậm chí có người cúi xuống để sờ nắn. Ông y sĩ xua đuổi họ. Nhưng ông xã trưởng thình lình hết đờ đẫn, trở nên giận dữ, ông chụp cây gậy của ông y sĩ Labarbe, nhào tới đám dân làng thuộc dưới quyền ông, vừa ấp úng :

– Cút đi… cút đi… lũ người thô lỗ… cút đi…

Trong khoảnh khắc, vòng người tò mò vây quanh dang ra, cách xa hai trăm thước.

Mụ Roque nhổm dậy và ngồi xuống, bây giờ mụ che mặt khóc.

Trong đám đông, người ta bàn tán về việc đó ; và những cặp mắt tò mò của bọn con trai lục lọi cái xác trẻ trung đang nằm tênh hênh. Thấy vậy, ông Renardet thình lình cởi áo vét ném lên mình đứa bé gái giờ đây biến hẳn dưới cái áo rộng lớn.

Những người tò mò lại từ từ đến gần, đám đông choán đầy cánh rừng ; tiếng xì xào liên tục vang lên dưới cây cối rậm rạp.

Ông xã trưởng mặc sơ mi, cầm gậy trong một tư thế đánh trận. Ông có vẻ bực tức vì sự tò mò của dân chúng và ông lặp đi lặp lại : “Nếu đứa nào đến gần, tao sẽ đập vỡ đầu nó như người ta đập vỡ đầu một con chó.”

Người nông dân rất sợ ông ; họ đứng xa ra. Ông y sĩ Labarbe đang hút thuốc, ông ngồi bên cạnh mụ Roque và ông nói chuyện với mụ, tìm cách làm mụ khuây khỏa. Mụ liền cất tay khỏi mặt, nói huyên thuyên, giọng sụt sùi, cho vơi bớt nỗi đau đớn. Mụ kể hết cuộc đời mình, nào việc mụ lấy chồng, nào cái chết của chồng, ông chồng hồi đó giữ chuồng bò, bị sừng bò húc chết, nào tuổi thơ của đứa con gái, nào cuộc đời cực khổ của một người đàn bà góa nghèo với đứa con thơ. Mụ chỉ có mỗi một đứa con, con bé Louise ; và người ta đã giết nó, người ta đã giết nó trong cái rừng này. Bỗng nhiên mụ muốn nhìn nó lại, mụ lê mình trên đầu gối, đến bên thi thể đứa con, dỡ một góc áo lên, rồi thả xuống và la hét trở lại. Đám đông im lặng, tò mò nhìn theo những cử chỉ của người mẹ.

Nhưng thình lình có sự đi lại xôn xao, người ta la lên : “Hiến binh đến, hiến binh đến !”

Hai người hiến binh hiện ra đằng xa, họ đi nhanh, đi với ông đại úy và một người đàn ông, dáng người thấp, có hai chòm râu má đỏ hoe, ông ta nhảy tưng tưng như khỉ, trên lưng một con ngựa trắng.

Người lính tuần phiên đã tìm ra đúng ông Putoin, ông dự thẩm, vào lúc ông ta cưỡi ngựa đi dạo như thường ngày, vì ông ta muốn ra cái vẻ người cưỡi ngựa đẹp trai, ông ta làm trò vui cho các kỵ binh.

Ông đặt chân xuống đất với ông đại úy, vừa siết tay ông xã trưởng và ông y sĩ, ông vừa có cái nhìn lục lọi trên cái áo vét được cái tử thi phía dưới làm phồng lên.

Khi ông đã biết rõ mọi việc, ông xua đám đông mà các ông hiến binh đuổi ra khỏi cánh rừng, nhưng chẳng bao lâu đám đông trở lại trong đồng cỏ và làm thành một hàng rào, một hàng rào lớn, bằng những cái đầu lố nhố, dọc theo phía bên kia con suối Brindille.

Đến lượt ông y sĩ giải thích, và ông Renardet ghi bằng bút chì trên cuốn sổ tay. Những điều nhận thấy đã được ghi chép, bình luận, mà không khám phá ra được gì. Principe cũng đã trở về, anh ta không tìm ra được dấu vết áo quần.

Việc áo quần biến mất làm mọi người ngạc nhiên, chỉ có thể giải thích bằng một sự ăn cắp, nhưng vì những áo quần nghèo nàn đó không đáng hai mươi xu, nên chuyện ăn cắp không thể chấp nhận được.

Ông dự thẩm, ông xã trưởng, ông đại úy và ông y sĩ thân hành đi tìm áo quần, từng nhóm hai người, họ tỉ mỉ vạch những cành cây nhỏ nhất dọc con suối.

Ông Renardet nói với ông dự thẩm :

– Làm sao cái thằng khốn nạn đó giấu được hoặc đem đi mấy cái áo quần cũ mèm và để lại cái xác chết giữa thanh thiên bạch nhật như thế ?

Ông dự thẩm, tinh ý và vờ vĩnh, trả lời :

– À ! À ! Một cái mưu chăng ? Một kẻ tàn ác hay một tên vô lại xảo trá đã phạm tội ác này. Dù sao đi nữa chúng ta cũng sẽ tìm ra nó.

Có tiếng xe chạy rầm rầm làm họ quay đầu lại. Đó là ông phó biện lý với ông y sĩ và ông thư ký của tòa án đang đi đến. Họ lại tìm kiếm và chuyện trò sôi nổi.

Thình lình ông Renardet nói :

– Các ngài có biết là tôi mời các ngài ở lại ăn trưa không ?

Mọi người đều mỉm cười nhận lời. Ông dự thẩm nhận thấy ngày hôm đó người ta lo chuyện con bé Roque đã khá nhiều rồi, nên ông quay lại ông xã trưởng và nói :

– Tôi có thể bảo người ta khiêng cái xác đặt ở nhà ông được chứ ? Chắc chắn ông có phòng để giữ cái xác đến chiều nay.

Ông Renardet luống cuống, ấp úng :

– Vâng, không… không… Thật ra tôi không thích cái xác đó vào nhà tôi… tại vì mấy đứa ở của tôi… chúng… chúng đã nói đến chuyện ma trong… trong cái tháp nhà tôi, trong cái tháp Renard… Ông biết không… Nếu làm như thế thì tôi sẽ không giữ được đứa nào… Không… Tôi không muốn có cái xác chết trong nhà tôi.

Ông dự thẩm mỉm cười :

– Thôi… Tôi sẽ bảo họ đưa xác về Rouy ngay, để khám nghiệm.

Và xoay qua ông phó biện lý, ông nói :

– Tôi có thể dùng xe của ông được chứ ?

– Vâng, xin ông cứ tự tiện.

Tất cả mọi người đều trở lại phía xác chết. Bây giờ mụ Roque ngồi bên cạnh con gái, mụ cầm tay nó và nhìn thẳng phía trước với cặp mắt lờ đờ, đần độn.

Hai ông y sĩ tìm cách dẫn mụ đi nơi khác, để mụ đừng thấy người ta đem xác đứa con đi ; nhưng mụ hiểu ngay việc người ta sắp làm, và mụ nhào tới xác chết, ôm lấy nó. Vừa nằm lên trên mụ vừa la :

– Mấy ông không lấy nó được đâu, nó là của tui, của tui bây giờ. Người ta đã giết nó ; tui muốn giữ nó lại, mấy ông sẽ không có nó đâu !

Tất cả những người đàn ông đứng chung quanh mụ Roque đều bối rối, do dự. Ông Renardet quỳ xuống để nói với mụ :

– Mụ Roque, hãy nghe tôi, phải đem xác đi để biết đứa nào đã giết nó ; nếu không thì sẽ không biết được ; phải tìm cho ra thủ phạm để trừng phạt nó. Người ta sẽ trả đứa con cho mụ khi nào tìm ra được tên đó, tôi hứa với mụ.

Lời nói đó làm lay chuyển mụ ta, và lòng căm thù bừng dậy trong cái nhìn hoảng hốt :

– Vậy thì người ta sẽ bắt nó ? mụ hỏi.

– Đúng, tôi hứa với mụ.

Mụ ta đứng dậy, quyết để cho những người đó làm việc ; nhưng vì ông đại úy nói nhỏ : “Lạ thật ! không tìm ra được áo quần của nó”, một ý nghĩ mới mẻ loé lên trong đầu óc người đàn bà quê mùa của mụ và mụ hỏi :

– Áo quần nó đâu ? Những thứ đó là của tui. Phải đưa cho tui. Người ta để áo quần nó đâu ?

Người ta giải thích cho mụ rằng áo quần tìm không ra ; thế rồi mụ khăng khăng đòi một cách tuyệt vọng, vừa khóc vừa rên rỉ :

– Áo quần đó là của tui, tui muốn mấy ông trả lại cho tui, đồ của nó ở đâu ? Trả cho tui.

Người ta càng cố an ủi mụ, mụ càng khóc nức nở, cứ khăng khăng đòi. Mụ không còn đòi xác chết, mà đòi áo quần, áo quần của con mụ, có lẽ vì một sự tham lam vô ý thức của người nghèo xem một đồng tiền bằng một tài sản, hơn là vì tình mẫu tử.

Và khi cái thi hài nhỏ bé đã được lăn trong những tấm chăn lấy ở nhà ông Renardet, mất hút trong xe, mụ Roque đứng dưới lùm cây, có ông Renardet và ông đại úy đỡ hai bên, mụ la :

– Tui không còn gì nữa, không còn gì nữa, không còn gì nữa trên đời này, không còn gì nữa, kể cả cái mũ con con của nó, cái mũ con con của nó ; tui không còn gì hết, không còn gì hết, kể cả cái mũ con con của nó.

Ông cha xứ vừa mới đến ; một vị linh mục rất trẻ mà đã mập béo. Ông nhận cái việc đưa mụ Roque về nhà, và hai người cùng đi về phía làng. Nỗi đau đớn của người mẹ bớt dần với lời nói thiêng liêng của vị giáo sĩ, ông hứa trăm nghìn bù đắp cho sự mất mát đó. Nhưng mụ vẫn lặp đi lặp lại không ngừng : “Ước gì tui được cái mũ con con của nó…”. Mụ cứ khăng khăng bám vào cái ý nghĩ đó giờ đây vượt lên trên tất cả những ý nghĩ khác.

Từ xa ông Renardet la lớn :

– Mời cha ăn trưa với chúng tôi. Trong một tiếng đồng hồ nữa.

Vị linh mục quay đầu lại và trả lời :

– Xin sẵn lòng, thưa ông xã trưởng. Tôi sẽ đến nhà ông vào lúc mười hai giờ trưa.

Tất cả mọi người đi về phía ngôi nhà, xuyên qua những cành cây người ta thấy mặt tiền của ngôi nhà màu xám và cái tháp lớn sừng sững bên bờ suối.

Bữa ăn kéo dài rất lâu, người ta bàn về vụ ám sát. Tất cả đều đồng ý mà cho rằng một tên nào đó đi lảng vảng, đã phạm tội ác, khi hắn tình cờ đi qua nơi đó, trong lúc con bé tắm.

Rồi các ông quan tòa trở về Rouy, họ cho biết sẽ trở lại ngày hôm sau, sớm, ông y sĩ và ông cha xứ trở về nhà họ, trong khi đó ông Renardet, sau khi đi dạo lâu ngoài đồng cỏ, trở lại trong rừng để đi dạo cho đến tối, ông đi những bước chậm rãi, hai tay chắp sau lưng.

Ông đi ngủ rất sớm và sáng hôm sau ông vẫn còn ngủ, khi ông dự thẩm bước vào phòng ông. Ông dự thẩm xoa tay vẻ hài lòng và nói :

– Chà, chà, ông vẫn còn ngủ à ? Này, ông bạn, sáng nay chúng tôi có thêm tin tức đấy !

Ông xã trưởng ngồi dậy trên giường :

– Tin tức gì thế ?

– Ồ ! Một chuyện lạ lùng. Ông còn nhớ rõ hôm qua người mẹ đòi cho được một kỷ niệm của đứa con, nhất là cái mũ nhỏ của nó không ? Vậy thì sáng nay, khi mở cửa, người mẹ thấy nơi ngưỡng cửa đôi guốc của con mình. Điều đó chứng tỏ vụ giết người là do một kẻ ở trong vùng này, một kẻ đã tỏ ra thương hại người mẹ. Thêm nữa ông phát thơ Médéric có trao cho tôi cái đê dùng để may vá, con dao và ống kim may của đứa bé. Vậy thì tên sát nhân trong khi đem áo quần đi giấu, đã đánh rơi những đồ vật đó nằm trong túi. Đối với tôi quan trọng là đôi guốc, cho thấy một văn hóa đạo đức nào đó và một khả năng dễ động lòng của tên sát nhân. Vậy nếu ông muốn, chúng ta sẽ cùng nhau kiểm tra những người dân quan trọng trong làng ông.

Ông xã trưởng đã đứng dậy. Ông bấm chuông để người nhà mang nước nóng lên cho ông cạo râu. Ông nói :

– Tôi sẵn sàng, nhưng mà việc đó sẽ kéo dài khá lâu, và chúng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ.

Ông dự thẩm Putoin ngồi xuống ghế, bỏ hai chân hai bên, như thế, ngay ở trong nhà, ông có thể tiếp tục cái tật đi ngựa của ông.

Bây giờ ông Renardet thoa đầy bọt trắng ở cằm, vừa nhìn vào gương, rồi ông mài con dao cạo trên miếng da và nói tiếp :

– Người dân quan trọng của Carvelin tên là Joseph Renardet, xã trưởng, địa chủ giàu có, người tính cục cằn, hay đánh đập lính tuần và dân đánh xe ngựa…

Ông dự thẩm bật cười :

– Đủ rồi, cho qua người sau…

– Người quan trọng thứ nhì là ông Pelledent, phó xã trưởng, làm nghề nuôi bò, cũng là địa chủ giàu có, một nông dân điêu ngoa, rất xảo trá, quỷ quyệt về mọi vấn đề tiền bạc, nhưng theo ý tôi không thể phạm một tội ác như thế.

Ông Putoin nói :

– Cho qua.

Vậy là vừa cạo râu vừa rửa mặt, ông Renardet tiếp tục kiểm tra về mặt đạo đức tất cả dân làng Carvelin. Sau hai tiếng đồng hồ bàn cãi, mối nghi ngờ của họ hướng về ba tên khả nghi : một người săn bắn trái phép tên Cavalle, một người câu tôm cá tên Paquet và một người giữ chuồng bò tên Clovis.

 

II

 

Sự tìm kiếm kéo dài suốt mùa hè ; người ta không tìm ra tên sát nhân. Những người bị tình nghi và bị bắt đã dễ dàng đưa ra bằng chứng là họ vô tội, và viện Công tố phải bỏ việc truy lùng thủ phạm.

Nhưng vụ giết người đó dường như đã kích động mạnh mẽ người dân khắp vùng. Trong lòng mọi người có một sự lo lắng, một sợ hãi vu vơ, một cảm giác hãi hùng, huyền bí, chẳng những do việc không tìm ra được một dấu vết nào mà còn do cái chuyện lạ lùng là đôi guốc ở trước cửa nhà mụ Roque, ngày hôm sau.

Ý nghĩ rằng chắc chắn tên sát nhân đã dự vào việc lập biên bản, rằng hắn vẫn còn ở trong làng, ý nghĩ đó ám ảnh mọi người và cứ chờn vờn trong vùng như một mối đe dọa không ngừng.

Vả chăng cánh rừng đã trở thành cái nơi làm người ta sợ hãi và tránh đi qua, tưởng chừng nơi đó có ma. Trước kia, dân làng đến đấy đi dạo mỗi chiều chủ nhật. Họ ngồi trên rêu, dưới gốc cây, hay đi ven dòng nước và rình những con cá hồi đang bơi nhanh dưới lớp rong rêu. Bọn con trai có những trò chơi ném hòn, chơi ky, chơi đánh đáo, chơi ném quả bóng ở vài nơi mà chúng tìm ra và sang bằng đất để chơi. Và bọn con gái thì từng hàng bốn, năm đứa, quàng tay nhau đi dạo, hát eo éo những bài tình ca làm người ta ngứa tai và bực mình, vì những nốt nhạc hát sai làm khuấy động không khí yên tĩnh. Bây giờ không còn ai đến dưới vòm cây cao, um tùm nữa, làm như người ta sợ thấy một xác chết nào đang nằm đó.

Mùa thu đến, lá vàng rơi. Ngày đêm lá rơi dọc các thân cây lớn, xoay tròn, nhẹ nhàng ; bầu trời bắt đầu hiện rõ qua các cành cây trụi lá. Đôi khi một làn gió thổi qua trên các ngọn cây, rồi thì cơn mưa đang rơi chậm chạp và liên tục, bỗng nhiên nặng hạt, trở thành cơn mưa rào, xào xạc, mưa trải trên lớp rêu một tấm thảm màu vàng, gây thành tiếng động dưới chân. Và tiếng thì thầm gần như không nghe được, tiếng thì thầm di động không ngừng, êm dịu và buồn bã của lá rơi hình như là một tiếng than, và những chiếc lá rơi liên miên có vẻ như những giọt nước mắt, những giọt nước mắt của cây cối buồn đang khóc ngày đêm về cái chết của năm tháng, của những bình minh ấm áp, những hoàng hôn êm dịu, cái chết của những làn gió nhẹ, ấm, của nắng sáng, và có lẽ cây cối cũng khóc về tội ác mà chúng đã thấy xảy ra dưới bóng mát của chúng, khóc cho đứa trẻ bị hiếp và bị giết dưới chân chúng. Cây cối khóc trong sự im lặng của cánh rừng hoang vắng và trống trải, cánh rừng bị bỏ hoang, khiến dân làng khiếp sợ, nơi đó có lẽ linh hồn của đứa trẻ đã chết đang lảng vảng.

Con suối Brindille được nước mưa giông thổi phồng lên, nước vàng chảy cuồn cuộn giữa hai bờ, giữa hai hàng cây liễu trơ trụi.

Ông Renardet bỗng nhiên trở lại đi dạo trong rừng. Mỗi ngày, khi trời tối, ông ra khỏi nhà, chậm rãi xuống bậc thềm và đi tới lùm cây, vẻ tư lự, hai tay cho vào túi. Ông đi rất lâu trên lớp rêu ướt và mềm, trong khi một đàn quạ từ các vùng lân cận bay đến để ngủ trên ngọn cây, chúng dàn ra trên không trung, như một chiếc khăn tang rất lớn phấp phới trước gió, và kêu những tiếng la ó dữ dội, thê thảm.

Đôi khi chúng đậu lại, khiến những cành cây bị lấm chấm đen chằng chịt trên nền trời đỏ, nền trời đỏ máu của những hoàng hôn mùa thu. Rồi thình lình chúng lại bay đi, vừa kêu những tiếng khủng khiếp vừa giăng ra trên rừng cây một hàng cánh đen lô nhô của chúng.

Cuối cùng, chúng sà xuống những ngọn cây cao nhất, và dần dần ngừng kêu, trong khi màn đêm từ từ buông xuống, khiến lông đen của chúng lẫn lộn với màu đen của không gian.

Ông Renardet còn đi lang thang qua các gốc cây, đi chầm chậm ; rồi khi đêm tối trở nên dày đặc, ông không còn đi được nữa thì ông quay về nhà, để rơi mình trên chiếc ghế bành, trước lò sưởi, hơ đôi giày ướt trước lửa, làm hơi bốc lên rất lâu.

Thế mà một buổi sáng, cái tin lớn ông xã trưởng cho chặt rừng cây được loan đi khắp vùng.

Hai mươi người thợ đốn cây đã bắt tay vào việc. Họ bắt đầu bằng cái góc rừng gần nhà nhất, và họ làm việc nhanh, trước sự hiện diện của ông chủ.

Trước hết, người tỉa cành leo lên thân cây. Anh ta được cột vào cây bằng một vòng giây thừng, anh ta ôm thân cây, rồi đưa cao chân lên để đập mạnh vào cây một mũi sắc nhọn đã được gắn dưới đế giày. Mũi sắt được ghim sâu vào cây, và người tỉa cành đặt chân lên đấy như trên một bậc cầu thang để leo cao hơn và đập mạnh vào cây với mũi sắt gắn ở chân kia, một lần nữa anh ta lại leo lên và cứ thế tiếp tục lên cao.

Mỗi lần lên một bậc, người tỉa cành nâng cao hơn một chút cái vòng giây thừng cột anh ta vào thân cây ; anh ta đeo sau lưng một cái rìu sáng loáng. Anh ta vẫn leo từ từ như một con vật ký sinh tìm cách khắc phục một con vật khổng lồ, anh ta leo nặng nề trên thân cây như một cái cột cao ngất, ôm ghì lấy nó và húc nó bằng những mũi nhọn để lên đến đỉnh mà chặt cái ngọn.

Ngay khi anh ta lên đến những cành cây gần ngọn, anh ta ngừng lại, lấy cái rìu sau lưng và chặt. Anh ta chặt chậm rãi, có phương pháp, khía cành cây, chỗ sát thân cây ; và thình lình cành cây gẫy răng rắc, khuỵu xuống, xiêu, đứt hẳn và ngã xuống ; khi ngã, cành cây chạm nhẹ vào các cây bên cạnh, rồi nằm bẹp trên đất với một tiếng động lớn của cây gẫy, và những nhánh cây bé nhỏ rung rinh rất lâu.

Trên mặt đất rơi nhiều khúc cây mà những người khác, đến lượt họ, chặt ra và cột thành bó, chất thành đống ; trong khi đó những thân cây chưa bị đốn có vẻ như những cột trụ quá lớn, những cây cọc khổng lồ bị lưỡi rìu sắc bén cắt cụt và làm trụi lá.

Khi người tỉa cành đã xong công việc, anh ta để lại trên ngọn cây thẳng đuột và mảnh khảnh cái vòng giây thừng mà anh ta đã mang theo, sau đó, anh ta leo trở xuống bằng cách dùng những mũi sắt nhọn đã ghim trên thân cây. Thế là những người đốn cây bắt đầu chặt mạnh vào gốc cây, làm chấn động cả cánh rừng.

Khi gốc cây đã bị chặt khá sâu, họ kéo cái giây thừng để lại trên ngọn, vừa kéo vừa hô nhịp nhàng, bỗng nhiên cái thân cây to sụ gẫy răng rắc và rơi xuống đất với một tiếng động đục và với sức rung chuyển của một phát đại bác bắn ở xa.

Rồi mỗi ngày cánh rừng thưa dần đi, nó mất cây cối như một đội quân bị mất binh lính.

Ông Renardet không rời khỏi rừng ; ông ở đấy từ sáng đến chiều, hai tay chắp sau lưng, im lìm ngắm cái chết lần mòn của cánh rừng. Khi một thân cây ngã xuống, ông đặt chân lên cây, như trên một xác chết. Rồi ông ngước mắt lên cái cây sắp bị đốn với một vẻ nóng lòng âm thầm và bình tĩnh, làm như ông chờ đợi một cái gì khi việc tàn sát cây cối chấm dứt.

Nhưng rồi thợ đốn cây đã đến gần nơi người ta tìm ra xác con bé Roque. Cuối cùng, một buổi chiều, vào lúc hoàng hôn, họ đã đạt đến chỗ đó.

Vì trời đã tối, bầu trời đầy mây, đám thợ muốn ngừng công việc, để qua ngày hôm sau mới đốn cái cây sồi rừng to tướng, nhưng ông chủ không chịu, ông bắt họ phải tỉa cành và chặt ngay cái cây khổng lồ đó đã che tội ác.

Khi người tỉa cành đã trụi lá cây sồi rừng, đã xong công việc tắm rửa cho kẻ bị kết án tử hình, và khi cái gốc cây đã bị chặt sâu, năm người đàn ông bắt đầu giật cái giây thừng cột trên ngọn cây.

Cây sồi rừng cưỡng lại, mặc dù bị khía ở phía giữa, cái thân khỏe mạnh của nó vẫn cứng như sắt. Tất cả thợ đốn cây cùng nhau kéo giây thừng bằng cách nằm sát xuống đất, và họ la những tiếng hổn hển, để đánh nhịp sự cố gắng của họ.

Hai người đốn cây đứng sát cái cây khổng lồ, cầm rìu trong tay như hai tên đao phủ sẵn sàng chém thêm, và ông Renardet đứng yên, tay đặt lên vỏ cây, ông chờ cái cây ngã với một xúc động bồn chồn, lo lắng.

Một trong những người đốn cây nói với ông :

– Thưa ông xã trưởng, ông đứng gần quá ; khi cây ngã có thể làm ông bị thương.

Ông không trả lời, cũng không thụt lùi ; ông có vẻ sẵn sàng chụp lấy cây sồi rừng để quật ngã nó như một lực sĩ.

Bỗng nhiên, trong gốc cây, một tiếng xâu xé dường như chạy lên đến ngọn, như một chấn động đau đớn ; và thân cây hơi xiêu, gần ngã, nhưng còn cưỡng lại. Các người thợ hăng hái, căng cánh tay, cố sức hơn. Khi thân cây bị gẫy và ngã xuống, ông Renardet thình lình bước tới một bước, rồi dừng lại, hai vai đưa lên để hứng cái cây chắc chắn sẽ ngã, cái cây nguy hiểm sẽ đè bẹp ông xuống đất.

Nhưng cây sồi rừng hơi bị lệch, chỉ chạm vào lưng ông, làm người ông bị bắn lên cách xa năm thước, mặt úp đất.

Mấy người thợ lao tới để đỡ ông dậy ; ông đã nhổm dậy trên đầu gối, choáng váng, mắt đờ đẫn, tay đặt lên trán, làm như ông vừa ra khỏi một cơn điên.

Khi ông đã đứng vững, đám thợ ngạc nhiên hỏi ông, vì họ không hiểu hành động của ông. Ông ấp úng trả lời rằng có một lúc tâm thần ông bị lung lay, hay đúng hơn, trong một khoảnh khắc, ông đã trở về với tuổi ấu thơ, rằng ông tưởng có đủ thì giờ để lòn qua dưới cây, như tụi trẻ con chạy ngang qua trước đầu xe ngựa đang chạy, rằng ông đã chơi với sự nguy hiểm, rằng từ tám ngày nay ông cảm thấy càng lúc càng thèm chơi như thế, vừa tự hỏi mỗi lần một cái cây gẫy và ngã xuống, có thể nào lòn qua dưới cây mà không bị cây đụng không. Đó là một điều bậy, ông công nhận thế ; nhưng ai cũng có những lúc điên rồ, những cám dỗ ngu ngốc, trẻ con.

Ông giải thích chậm rãi, tìm lời để nói, giọng đục ; rồi ông bỏ đi và nói :

– Hẹn các bạn ngày mai nhé !

Ngay khi bước vào phòng, ông ngồi trước bàn có cây đèn chụp chiếu sáng, và tay ôm lấy mặt, ông bắt đầu khóc.

Ông khóc rất lâu, rồi ông lau nước mắt, ngẩng đầu lên nhìn đồng hồ. Chưa đầy sáu giờ. Ông nghĩ : “Ta còn thì giờ trước bữa ăn”, và ông đi khóa cửa phòng. Ông trở lại, ngồi vào bàn, kéo ngăn bàn giữa, lôi ra một khẩu súng lục và đặt nó trên chồng giấy, dưới ánh sáng. Khẩu súng sáng loáng có những ánh phản chiếu như những ngọn lửa. Ông Renardet nhìn nó vài giây với đôi mắt đờ đẫn của một người say rượu ; rồi ông đứng dậy, đi qua đi lại.

Ông đi từ đầu này đến đầu kia căn phòng, đôi khi dừng lại để rồi lại tiếp tục đi. Bỗng ông mở cửa phòng tắm, nhúng một cái khăn vào bình nước và thấm ướt trán, như ông đã làm cái buổi sáng người ta khám phá ra vụ giết người. Rồi ông lại đi qua đi lại. Mỗi lần ông đi ngang qua cái bàn, khẩu súng sáng loáng như thu hút mắt ông, mời mọc tay ông ; nhưng ông nhìn đồng hồ và nghĩ : “Ta còn thì giờ.”

Đồng hồ điểm sáu giờ rưỡi. Thế là ông lấy khẩu súng, há miệng to, mặt nhăn khủng khiếp, và ấn vào miệng cái nòng súng giống như ông muốn nuốt nó. Ông ở trong cái thế đó vài giây, không cụ cựa, ngón tay đặt trên con cò, rồi thình lình ông rùng mình khiếp sợ, ông khạc cái súng xuống tấm thảm.

Và ông ngồi phịch xuống ghế, khóc nức nở : “Ta không làm được, ta không dám ! Trời ơi ! Trời ơi ! Làm sao để có can đảm mà tự tử đây !”

Có người gõ cửa ; ông đứng dậy hoảng hốt. Một người ở nói :

– Thưa, bữa ăn của ông đã dọn lên.

Ông trả lời :

– Được. Tôi xuống đây.

Thế rồi ông lượm khẩu súng, cất nó vào hộc bàn, rồi nhìn trong tấm gương trên lò sưởi để xem gương mặt có vẻ quá co giật không. Mặt ông đỏ như thường khi, có lẽ đỏ hơn một chút. Ông xuống nhà dưới và ngồi vào bàn ăn.

Ông ăn chậm rãi, như một người muốn kéo dài bữa ăn, không muốn trở lại trạng thái cô đơn. Rồi ông hút nhiều ống điếu trong phòng ăn, trong khi người làm dọn dẹp. Rồi ông trở lên phòng.

Ngay sau khi đã đóng cửa phòng, ông nhìn dưới gầm giường, mở tất cả các tủ, thăm dò mọi góc, lục lọi đồ đạc. Sau đó ông thắp mấy cây nến trên lò sưởi, và đi loanh quanh nhiều lần, mắt đảo khắp phòng với một nỗi lo lắng, khiếp sợ, khiến gương mặt ông co rúm lại, bởi vì ông biết ông sắp gặp nó, như mọi đêm, con bé Roque, đứa bé gái mà ông đã hiếp, đã bóp cổ.

Đêm nào cũng vậy, cái hình ảnh ghê rợn lại hiện ra. Trước tiên, trong lỗ tai ông có tiếng kêu vù vù, như tiếng động của một cái máy dùng để đập, hay tiếng xe lửa đang chạy trên một chiếc cầu ở xa. Thế rồi ông bắt đầu thở hổn hển, nghẹt thở, và ông phải cởi nút cổ áo sơ mi và giây nịt. Ông đi tới đi lui, để bộ máy tuần hoàn hoạt động, ông thử đọc sách, thử hát, vô ích ; dù ông không muốn, trí óc ông vẫn trở lại cái ngày ông giết người, và bắt ông nhớ lại chuyện đó, từ đầu đến cuối, với những chi tiết thầm kín nhất, những xúc động mãnh liệt nhất.

Sáng hôm đó, buổi sáng của cái ngày khủng khiếp, khi thức dậy, ông cảm thấy hơi choáng váng và nhức đầu mà ông cho là vì trời nóng, đến nỗi ông nằm ì trong phòng đến giờ ăn trưa. Sau bữa ăn, ông ngủ trưa ; rồi chiều ông đi ra ngoài để thở làn gió nhẹ, tươi mát, làm dịu tâm thần, dưới lùm cây trong rừng.

Nhưng ngay khi ra khỏi nhà, cái không khí nặng nề và nóng bức ngoài đồng làm ông càng thêm ngộp thở. Mặt trời còn trên cao, đổ tuông xuống mặt đất cháy, khô và thiếu nước, một thứ ánh sáng nóng hừng hực. Không một làn gió làm rung rinh cây lá. Tất cả thú vật, chim chóc, châu chấu đều im tiếng. Ông Renardet đi dưới cây cối, trên lớp rêu còn giữ được chút hơi mát của nước suối Brindille, dưới cái vòm bao la của tàn cây. Nhưng ông cảm thấy khó chịu. Ông có cảm tưởng một bàn tay xa lạ, vô hình siết cổ ông ; và ông gần như không nghĩ đến gì cả, vì thường khi đầu óc ông ít suy nghĩ. Chỉ có một ý nghĩ vu vơ ám ảnh ông từ ba tháng nay, đó là ý nghĩ tục huyền. Ông không chịu được sống một mình, điều đó làm ông khổ về tinh thần lẫn thể xác. Từ mười năm nay ông quen có một người đàn bà bên cạnh ông, quen với sự hiện diện thường xuyên của bà, quen được bà ôm ghì hằng ngày, đó là một nhu cầu khẩn thiết và không rõ rệt, ông cần sự tiếp xúc không ngừng với bà, cần được bà hôn. Từ khi bà Renardet mất, ông luôn luôn khổ mà không hiểu tại sao, ông khổ vì không còn cảm thấy cái áo của bà chạm vào chân ông suốt ngày, và nhất là không còn được mê mẩn trong vòng tay của bà. Ông góa vợ gần sáu tháng nay, và ông đã tìm trong vùng người thiếu nữ nào hoặc người đàn bà góa nào ông có thể cưới được khi mãn tang.

Tâm hồn trong sạch của ông ở trong một thể xác khỏe một cách phi thường, và những hình ảnh xác thịt bắt đầu khuấy động giấc ngủ của ông, cũng như những khi ông thức. Ông xua đuổi chúng, chúng vẫn trở lại, và đôi khi ông thì thầm, tự cười mình : “Ta bị cám dỗ như ông thánh Antoine.”

Vì sáng hôm đó ông đã có nhiều ám ảnh, nên buổi chiều, bỗng nhiên ông muốn đi tắm trong dòng suối Brindille để được mát mẻ và để làm giảm bớt sự thèm muốn.

Ông biết xa hơn có một chỗ rộng và sâu, nơi mà dân trong vùng đôi khi đến tắm vào mùa hè. Ông đến đấy.

Hồ nước trong được hàng liễu dày che khuất, dòng suối chảy vào hồ đọng lại một lúc trước khi chảy trở ra. Khi ông Renardet đến gần, ông tưởng như nghe một tiếng động nhẹ, một tiếng vỗ bập bềnh, nhẹ nhàng, không phải tiếng suối vỗ vào bờ. Ông vạch lá chầm chậm và nhìn. Một đứa bé gái trần truồng, trắng nõn qua làn nước trong, đang đập nước với hai tay, nó vừa múa trong nước vừa xoay tròn với những cử chỉ dễ thương. Nó không còn là một đứa bé, mà cũng chưa hẳn là một người đàn bà ; thân hình nó mập, tròn trịa, có cái vẻ của một đứa bé gái phát triển sớm, lớn nhanh, gần như chín muồi. Ông không cử động, đờ người vì kinh ngạc, vì lo lắng, hơi thở hổn hển vì một xúc động lạ thường, đau buốt. Ông đứng đấy, tim đập mạnh, làm như một trong những giấc mơ dâm dục của ông vừa được hiện ra, làm như một bà tiên tội lỗi cho xuất hiện trước mắt ông đứa con gái quá trẻ đó làm ông bối rối, một nữ thần Vénus bé nhỏ của thôn quê, sinh ra trong con suối, như nữ thần Vénus trong huyền thoại, sinh ra trong sóng biển.

Bỗng đứa bé ra khỏi nước, nó đi về phía ông Renardet, mà không thấy ông, nó tìm áo quần cũ mèm của nó để mặc lại. Nó càng bước tới gần với những bước chân ngắn, ngập ngừng, vì sợ đá sỏi nhọn, ông lại càng cảm thấy bị nó thu hút, mà không cưỡng lại được, một cơn điên cuồng thú vật nung đốt cả thể xác ông, làm tâm thần ông hoảng hốt và khiến ông run từ đầu đến chân.

Đứa bé đứng vài giây sau cây liễu đang che ông. Thế rồi, bị mất hết lý trí, ông vạch cành cây, nhảy xổ vào nó, chụp lấy nó. Nó ngã, vì quá sợ hãi nó không kháng cự được, không kêu cầu cứu được, và ông đã hiếp nó mà không hiểu mình đã làm gì.

Ông tỉnh dậy sau khi phạm tội, như người ta tỉnh dậy sau một cơn ác mộng. Đứa bé bắt đầu khóc.

Ông nói : “Im đi, im đi nào. Tao sẽ cho mày tiền.”

Nhưng nó không nghe, nó khóc nức nở. Ông lại nói : “Im đi nào. Im đi nào. Im đi nào.”

Nó vẫn la hét và quặn mình để chạy thoát.

Ông chợt hiểu ông bị dồn vào đường cùng ; ông chụp cổ nó để bịt miệng nó lại, cho nó đừng có những tiếng la hét xé ruột, khủng khiếp. Vì nó tiếp tục giẫy giụa với cái sức mạnh phẫn nộ của một người muốn thoát chết, nên ông khép hai bàn tay khổng lồ của ông trên cái cổ đầy tiếng la hét, và ông đã bóp cổ nó trong khoảnh khắc, vì ông siết mạnh dữ dội, ông không nghĩ đến việc giết nó, mà chỉ làm cho nó im đi.

Rồi ông đứng dậy, điên loạn vì khiếp sợ. Con bé nằm trước mặt ông, đầy máu me, mặt nó xám đen. Ông sắp chạy trốn, khi cái bản năng huyền bí, mơ hồ điều khiển những kẻ bị lâm nguy xuất hiện trong tâm hồn bị chấn động của ông. Ông suýt ném cái thây trong nước, nhưng một thúc đẩy khác khiến ông để ý đến mớ áo quần của con bé, ông làm thành một gói nhỏ. Và rồi, vì ông có sẵn dây trong túi, ông cột cái gói và giấu nó trong một cái lỗ sâu dưới một thân cây mà gốc nằm trong nước.

Rồi ông đi, bước những bước dài ; ông đi ra đồng cỏ, đi một vòng lớn để những người nông dân ở xa, phía bên kia làng, thấy mặt ông, và ông trở về ăn tối, vào giờ thường lệ, vừa kể cho những người tôi tớ nghe những nơi ông đã đi dạo qua.

Tuy nhiên, đêm hôm đó ông ngủ, ông ngủ mê mệt như đôi khi những người bị kết án tử hình ngủ. Ông chỉ mở mắt lúc rạng đông, và ông chờ đến giờ ra khỏi giường, lòng bị dằn vặt vì lo sợ người ta sẽ phát giác tội ác.

Rồi ông phải dự việc lập biên bản. Ông làm bổn phận như người bị mộng du, trong cái ảo giác làm cho ông thấy người và vật qua một giấc mộng, một cơn say, trong sự nghi ngờ thực hư thường làm rối loạn tâm trí người ta trong những giờ tai biến trầm trọng.

Chỉ có tiếng hét xé ruột của mụ Roque xuyên qua tim ông. Lúc đó ông suýt nhào đến, quỳ trước mặt mụ và kêu lên : “Chính tôi là thủ phạm đấy !” Nhưng ông tự dằn lòng. Tuy nhiên, suốt đêm ông đi vớt đôi guốc của đứa bé đã chết để đem về đặt trước ngưỡng cửa người mẹ.

Hễ cuộc điều tra còn tiếp diễn, hễ ông còn chỉ dẫn và đánh lạc hướng nhà chức trách, thì ông bình tĩnh, tự chủ, xảo trá, tươi cười. Ông bàn cãi đằm thắm với các ông quan tòa về những giả thuyết nảy ra trong đầu họ, đánh tan quan điểm của họ, phá hủy lập luận của họ. Thậm chí ông có cái thú xót xa, đau đớn, là phá rối những cuộc khám xét, làm rối reng những ý kiến của họ, và bào chữa cho những người bị tình nghi.

Nhưng kể từ ngày người ta bỏ những cuộc tìm kiếm, ông trở nên bồn chồn, dễ bị kích động hơn trước, mặc dù ông biết dằn những cơn giận. Những tiếng động làm ông giật thót vì sợ; ông run rẩy bởi những chuyện không đâu, đôi khi ông giật mình vì một con ruồi đậu trên trán. Thế rồi ông cảm thấy cần phải hoạt động, cái nhu cầu khẩn thiết đó buộc ông chạy bộ một cách phi thường, bắt ông phải đứng nhiều đêm trọn để đi lại trong phòng.

Không phải vì ông bị lương tâm cắn rứt. Cái bản chất hung bạo của ông không hợp với một sắc thái tình cảm nào hoặc với một sự lo sợ nào về đạo đức. Là một người có nhiều nghị lực và là người hung bạo, sinh ra để đánh giặc, tàn phá những nơi bị xâm chiếm và sát hại những kẻ bại trận, đầy bản năng man rợ của kẻ đi săn, kẻ thích đánh nhau, mạng sống con người đối với ông không đáng kể. Mặc dù ông tôn trọng Giáo hội Kitô giáo vì lý do chính trị, ông không tin có Thượng đế, cũng không tin ma quỷ, vì thế ông không chờ đợi sự trừng phạt hay sự thưởng công về các hành động của ông, trong một kiếp khác. Đối với mọi tín ngưỡng, ông có một triết lý mơ hồ được tạo nên bởi những khái niệm của các nhà bách khoa của thế kỷ trước (1); và ông xem tôn giáo như một sự thừa nhận về đạo đức của pháp luật, tôn giáo và pháp luật đều được loài người đặt ra để quy định những mối quan hệ xã hội.

Giết một người nào trong một cuộc đấu tay đôi để rửa nhục, hay trong chiến tranh, trong một cuộc cãi lộn, hay vì tai nạn, vì tư thù, thậm chí vì tính khoác lác, ông có vẻ cho những chuyện giết người như thế là vui, là hiên ngang, nó không để lại trong ông những dấu vết gì quan trọng hơn là phát súng bắn một con thỏ. Nhưng ông bị xúc động mãnh liệt về vụ ông giết đứa bé gái đó. Trước hết ông phạm tội ác trong một cơn mê hoặc không cưỡng lại được, trong một thứ bão táp dục tình làm tan biến lý trí. Và ông đã giữ lại trong lòng, trên da thịt ông, trên môi ông, cho đến những ngón tay sát nhân của ông, một thứ tình yêu thú vật, cùng với sự ghê tởm, hãi hùng của đứa bé bị ông chộp được và giết một cách hèn hạ. Bất cứ lúc nào trí óc ông cũng nhớ lại cái cảnh ghê rợn đó ; và mặc dù ông cố xua đuổi, cố gạt nó ra vì khiếp sợ, ông cảm thấy hình ảnh đó vẫn lởn vởn trong trí óc ông, xoay quanh ông, luôn chực để hiện ra lại.

Thế rồi ông sợ ban đêm, sợ bóng tối bao quanh ông. Ông chưa biết tại sao bóng tối có vẻ đáng khiếp sợ như thế; nhưng theo bản năng, ông sợ bóng tối; ông cảm thấy trong đó có nhiều sự hãi hùng. Ban ngày sáng sủa không hợp với những chuyện ghê sợ. Người ta thấy rõ người và vật; bởi thế người ta chỉ gặp những người và vật bình thường, có thể thấy được trong ánh sáng. Nhưng ban đêm, đêm tối dày đặc, dày hơn những bờ tường và trống trải, đêm vô tận, đen như mực và mênh mông đến thế, trong đêm người ta có thể chạm vào những cái đáng ghê sợ, người ta cảm thấy lảng vảng mối kinh hãi huyền bí. Ban đêm đối với ông như giấu kín một mối nguy không ngờ được, một mối nguy gần kề và đe dọa. Mối nguy nào ?

Chẳng bao lâu ông biết được. Một đêm, trời đã khuya, ông đang thức và ngồi trên chiếc ghế bành, ông có cảm tưởng thấy cái màn cửa sổ cụ cựa. Ông chờ, lo lắng, tim đập mạnh; cái màn lúc đầu im lìm, rồi bỗng nhiên nó lung lay trở lại; ít ra ông nghĩ là nó đã lung lay. Ông không dám đứng dậy, không dám thở, mặc dù ông là con người dũng cảm; ông đã từng vật lộn và thích tìm được kẻ trộm trong nhà mình.

Có thật cái màn đó đã lung lay không ? Ông tự hỏi, vì sợ thị giác sai lầm. Vả chăng cái lung lay đó quá ít, một thoáng rung rinh nhẹ nhàng của vải, của những nếp màn, chút lượn sóng như khi có gió. Ông nhìn thẳng, cổ căng ra ; và thình lình ông đứng dậy, xấu hổ vì đã sợ, ông bước đến chụp cái màn với hai tay và kéo nó qua một bên. Trước hết ông không thấy gì ngoài cửa kính đen, đen như mực. Màn đêm bí hiểm trải dài đến chân trời vô hình. Ông đứng trước cái bóng tối bất tận đó ; và ông chợt thấy một ánh sáng lờ mờ, di động, có vẻ ở xa. Thế rồi ông sát mặt vào cửa kính, tưởng có người đang câu tôm trái phép bên dòng suối Brindille, vì lúc đó đã quá nửa đêm, và cái ánh sáng lờ mờ đó bò ven bờ suối, dưới đám cây rừng. Vì chưa thấy rõ, ông lấy tay che hai bên mắt, thình lình cái ánh sáng lờ mờ trở nên sáng chói, và ông thấy con bé Roque trần truồng, máu me trên lớp rêu.

Ông thụt lùi, mặt co rúm lại vì khiếp sợ, ông đụng phải cái ghế và té ngửa. Ông nằm như thế vài phút, tâm hồn cô chiếc tuyệt vọng, rồi ông ngồi dậy, bắt đầu suy nghĩ. Ông vừa có một ảo giác, vậy thôi; một ảo giác do một tên ăn trộm về đêm đi ven dòng nước với cái đèn xách tay của hắn. Vả chăng có gì là đáng ngạc nhiên, vì đôi khi kỷ niệm của tội ác làm xuất hiện trong đầu ông cái hình ảnh của đứa trẻ đã chết.

Khi đứng dậy, ông uống một ly nước, rồi ngồi xuống. Ông nghĩ : “Ta sẽ làm gì đây, nếu cái đó trở lại ?” Và cái đó sẽ trở lại, ông cảm thấy thế, ông chắc chắn thế. Cửa sổ đã mời gọi cái nhìn của ông, nó gọi, nó thu hút ông. Để không thấy cửa sổ nữa, ông quay ghế về hướng khác, lấy một cuốn sách và thử đọc ; nhưng ngay sau đó ông tưởng như nghe có cái gì lung lay sau lưng ông, và thình lình ông quay ghế lại. Tấm màn còn cụ cựa, chắc chắn lần này nó có cụ cựa ; ông không thể nghi ngờ được, ông lao tới, chụp cái màn khá mạnh đến nỗi ông làm nó rơi với cả cái thanh treo màn ; rồi ông háu hức dán mặt vào cửa kính. Ông không thấy gì cả. Bên ngoài tất cả đều tối đen; ông thở, lòng vui mừng như một người vừa được cứu sống.

Vậy ông trở lại, ngồi xuống ghế; nhưng liền sau đó ông lại muốn nhìn ra cửa sổ. Từ khi cái màn bị rơi xuống đất, cửa sổ là một lỗ đen ngòm có sức thu hút, đáng sợ, nó cho thấy một đồng quê tối đen. Để tránh sự cám dỗ nguy hiểm đó, ông thay đồ, tắt đèn, đi nằm và nhắm mắt.

Ông nằm ngửa, không cựa quậy, da thịt nóng và xâm xấp mồ hôi, ông chờ giấc ngủ. Một ánh sáng chói lòa thình lình xuyên qua mí mắt ông. Ông mở mắt, tưởng nhà cháy. Xung quanh đều tối đen, ông tì khuỷu tay trên giường để cố xem cái cửa sổ luôn luôn có sức thu hút ông, không sao cưỡng nổi. Vì mải miết cố nhìn, ông thấy vài ngôi sao, ông đứng dậy và mò mẫm đi trong phòng, tìm được cửa kính với hai tay dang ra phía trước, ông dán trán lên kính. Đằng kia, dưới lùm cây, cái xác con bé chiếu sáng như lân, rọi sáng cái bóng tối chung quanh ông.

Ông hét lên một tiếng và chạy đến giường, ông nằm đấy đến sáng, giấu đầu dưới gối.

Bắt đầu từ đó ông không chịu được cuộc sống của ông. Ban ngày thì ông sợ đêm sắp đến, và ban đêm thì cái hình ảnh hiện trở lại. Vừa mới đóng cửa phòng, ông đã cố chống chọi, nhưng vô ích. Một sức mạnh không thể chống lại nhấc ông lên và đẩy ông đến cửa kính, như để gọi con ma, và tức thì ông thấy con ma. Thoạt tiên con ma nằm nơi có vụ giết người, nó nằm hai tay và hai chân dang ra, như cái xác khi được phát hiện. Rồi đứa bé đã chết đứng dậy và đi đến, đi từng bước ngắn như con bé đã đi khi nó ra khỏi suối. Nó đến chầm chậm, đi thẳng trên bãi cỏ và trên các lẵng hoa giờ đây đã khô héo; rồi nó bay bổng lên không trung, đến cái cửa sổ của ông Renardet. Nó đến phía ông, như nó đã đến với kẻ sát nhân, cái ngày xảy ra vụ giết người. Và ông lùi lại trước sự hiện hình đó, ông lùi đến cái giường và quỵ xuống đấy, biết rõ rằng con bé đã vào phòng ông, bây giờ nó đứng sau tấm màn và chốc nữa đây màn sẽ lung lay. Ông nhìn chăm chú cái màn cho đến sáng, luôn luôn trông chờ để thấy nạn nhân của ông đi ra khỏi đấy. Nhưng nó không ra, nó cứ ở sau tấm vải đôi khi bị rung rinh. Ông Renardet siết chặt mấy tấm khăn trải giường với những ngón tay co quắp của ông, như ông đã siết cái cổ của con bé Roque. Ông lắng nghe đồng hồ đổ; trong im lặng, ông nghe con lắc đồng hồ đập nhịp nhàng và những tiếng đập mạnh của tim ông. Người đàn ông khốn đốn đó đau khổ hơn bất cứ người nào đã từng đau khổ.

Rồi ngay khi một vệt trắng hiện ra trên trần nhà, báo hiệu một ngày mới, ông tự cảm thấy được giải thoát; thế là ông được ở một mình, một mình trong phòng ông. Và ông nằm trở lại, ngủ được vài tiếng đồng hồ, một giấc ngủ đầy lo lắng, bồn chồn, nhiều khi ông lại thấy trong chiêm bao cái hình ảnh ghê sợ mà ông thấy lúc ông còn thức.

Khi ông xuống ăn trưa, ông cảm thấy đau khắp mình mẩy, như sau những cơn mệt ghê gớm; ông ăn ít, luôn luôn bị mối lo sợ ám ảnh, ông sợ con bé mà ông sẽ thấy lại đêm tới.

Tuy nhiên ông biết rõ rằng đó không phải là một sự hiện ra, rằng những người chết không bao giờ trở lại, chính tâm hồn bệnh hoạn của ông, bị ám ảnh bởi một ý nghĩ duy nhất, một kỷ niệm khó quên, là nguyên do của khổ hình ông đang chịu. Chỉ có tâm hồn của ông đã gợi lên, đã làm sống lại đứa bé đã chết, tâm hồn gọi đứa bé, dựng nó lên trước mắt ông và in trong mắt ông cái hình ảnh không xóa được. Nhưng ông cũng biết là ông sẽ không lành được cái tâm bệnh đó, ông sẽ không bao giờ thoát khỏi sự truy hại tàn nhẫn của ký ức ; và ông quyết định thà chết còn hơn là phải chịu đựng lâu dài những dằn vặt đó.

Thế là ông tìm cách tự tử. Ông muốn chọn một cái chết đơn giản và tự nhiên, không để thiên hạ tưởng là một vụ tự tử. Bởi vì ông tha thiết với thanh danh của ông, với cái tên tổ tiên ông để lại ; và nếu có sự nghi ngờ về cái chết của ông, chắc chắn người ta sẽ nghĩ đến vụ giết người không được giải thích, nghĩ đến kẻ sát nhân không tìm ra, và không bao lâu người ta sẽ buộc tội ông.

Một ý nghĩ lạ lùng đến với ông : ông đã giết con bé Roque dưới một gốc cây, ông muốn để cái cây đó đè nát ông. Vậy ông quyết định cho chặt cả rừng cây và giả vờ bị tai nạn. Nhưng cây sồi rừng đã từ chối giết ông.

Khi trở về nhà, ông tuyệt vọng, ông lấy khẩu súng, nhưng không dám tự bắn.

Đến bữa ăn tối, ông ăn, rồi lên phòng và ông không biết phải làm gì. Ông tự cảm thấy hèn nhát vì đã thoát chết. Ban nãy ông sẵn sàng chết, ông có ý chí mạnh mẽ, đầy quả quyết, ông làm chủ lòng can đảm và sự quyết định của mình ; bây giờ ông yếu đuối và sợ chết, cũng như ông sợ con bé đã chết.

Ông tự nhủ : “Ta không còn dám nữa, ta không còn dám nữa”, và ông khiếp sợ nhìn khi thì khẩu súng trên bàn, khi thì tấm màn che cửa sổ. Ông cũng có cảm tưởng rằng ngay sau khi ông chết có cái gì khủng khiếp sẽ xảy ra ! Cái gì ? Sự gặp gỡ của ông với nó chăng ? Nó rình ông, chờ ông, gọi ông ; và chính để bắt ông, trả thù ông và buộc ông phải chết mà nó hiện ra mỗi đêm.

Ông khóc như một đứa trẻ, vừa lặp đi lặp lại : “Ta không dám nữa.” Rồi ông quỳ sụp xuống ấp úng : “Lạy Chúa, lạy Chúa”, tuy ông không tin có Chúa. Và quả thật ông không dám nhìn cái cửa sổ nữa, ông biết con bé ẩn náu ở đó, ông cũng không dám nhìn cái bàn, nơi có khẩu súng sáng loáng.

Khi đứng dậy, ông nói to : “Cái đó không thể kéo dài được nữa, phải chấm dứt ngay.” Tiếng nói của ông trong căn phòng im lặng làm ông rùng mình, lo sợ ; nhưng vì ông không quyết định được gì, vì ông biết ngón tay ông sẽ từ chối bấm cò, ông lên giường trùm chăn và suy nghĩ.

Ông phải tìm ra cái gì buộc ông phải chết, đặt bày một cái mưu tự chống lại mình, một cái mưu khiến ông không chút do dự, không chậm trễ, không luyến tiếc. Ông thèm địa vị những người bị kết án tử hình mà người ta dẫn lên máy chém, giữa những hàng lính. Ôi ! Ước gì ông có thể yêu cầu một người nào đó bắn ông ; ước gì, khi thú thật tâm trạng mình, thú thật tội ác mình với một người bạn đáng tin cậy, biết giữ kín những điều đó, ông có thể được người bạn ban cho cái chết. Nhưng nhờ ai cái việc ghê gớm đó ? Nhờ ai ? Ông tìm trong số những người ông quen. Ông y sĩ ư ? Không. Ông này về sau chắc sẽ kể lại chuyện đó. Và bỗng nhiên một ý nghĩ lạ lùng thoáng qua trong đầu ông. Ông sẽ viết thơ cho ông dự thẩm mà ông quen thân, để tự tố cáo mình. Ông sẽ nói hết trong thơ đó, nào là vụ giết người, nào là những dằn vặt mà ông đã chịu đựng, nào là sự quyết định tự tử, nào là những do dự và phương tiện dùng để được thêm can đảm. Nhân danh tình bạn lâu năm của họ, ông sẽ năn nỉ ông dự thẩm phá hủy bức thơ ngay sau khi ông ấy biết hung thủ đã tự trừng phạt. Ông Renardet có thể tin cậy ông quan tòa đó, ông biết ông ấy là một người kín đáo, đứng đắn, không biết nói ngay cả một lời bông lơn. Đó là một trong những người có một lương tâm không gì lay chuyển được, lương tâm họ chỉ được lý trí họ điều khiển mà thôi.

Vừa mới nảy ra cái ý đó thì lòng ông tràn đầy một niềm vui lạ lùng. Bây giờ ông yên lòng. Ông sẽ chậm rãi viết bức thơ, rồi khi trời sáng, ông sẽ đặt nó trong cái thùng thơ đóng vào bức tường của trại ông, rồi ông sẽ leo lên cái tháp để xem ông phát thơ đến, và khi người đàn ông mặc cái áo bờ lu xanh trở ra, ông Renardet sẽ nhảy xuống, đập đầu vào những tảng đá của nền nhà. Trước đó ông sẽ cẩn thận để cho bọn thợ đốn rừng thấy ông. Vậy ông có thể leo lên cái bậc có cái cột để treo cờ ngày lễ. Ông sẽ đập gẫy cái cột và nhào xuống với nó. Người ta sẽ cho đó là một tai nạn, không thể nghi ngờ được. Và ông sẽ chết liền vì cái sức nặng của ông và vì chiều cao của cái tháp.

Ông liền ra khỏi giường, đến bàn và bắt đầu viết ; ông không quên gì cả, không quên một chi tiết nào của vụ giết người, của cuộc sống đầy lo sợ của ông, của những dằn vặt đã chịu đựng, và ông chấm dứt bức thơ bằng cách báo tin rằng ông tự lên án mình, và sẽ xử tử kẻ phạm tội ác, ông cũng yêu cầu bạn ông, người bạn cố tri, chăm lo, trông chừng để đừng bao giờ người ta buộc tội ông, mỗi khi nhắc đến chuyện cũ.

Khi viết xong bức thơ, ông thấy trời đã sáng. Ông cho thơ vào phong bì, dán lại, biên địa chỉ, rồi ông đi xuống nhà với những bước đi thanh thản, ông chạy đến cái thùng thơ trắng đóng vào tường, ở góc trại, và khi ông đã vứt vào bên trong cái thơ, nó làm tay ông khó chịu, ông trở về nhanh, khóa cửa lại và leo lên tháp để chờ ông lính bộ binh đi qua, ông ta sẽ đem đi bản án tử hình của ông.

Bây giờ ông tự cảm thấy bình tĩnh, được giải thoát !

Một cơn gió khô, lạnh buốt thổi qua mặt ông. Miệng mở to, ông hít mạnh nó, uống lấy cái mơn trớn lạnh lẽo của nó. Bầu trời đỏ rực, cái đỏ của mùa đông, và cả đồng bằng phủ đầy sương giá trắng xóa, chiếu óng ánh dưới những tia nắng đầu tiên, tưởng chừng những mảnh chai vụn được rắc đều trên đồng bằng. Ông Renardet, đầu trần, đứng nhìn cả vùng bao la, bên trái những đồng cỏ, bên phải ngôi làng với những ống khói đã bắt đầu lên khói để chuẩn bị bữa ăn sáng.

Dưới chân ông, con suối Brindille chảy trong đá, nơi mà chốc nữa đây ông sẽ chết bẹp. Ông cảm thấy hồi sinh, đầy nhựa sống, trong cảnh bình minh lạnh lẽo và huy hoàng đó. Ông ngập trong ánh sáng, ánh sáng len lỏi vào hồn ông như một niềm hy vọng. Bao kỷ niệm dồn dập hiện đến, kỷ niệm những buổi sớm mai như thế này, khi ông đi nhanh trên lớp đất cứng gây thành tiếng động dưới chân, những cuộc đi săn hứng thú bên bờ ao có những con vịt rừng đang ngủ. Những cái ngon mà ông thích, những cái ngon của cuộc đời ùa tới trong kỷ niệm, kích thích ông và cho ông những thèm muốn mới mẻ, làm tỉnh dậy những ham muốn của cái thể xác thích hoạt động và sung sức của ông.

Vậy mà ông sắp chết ? Tại sao ? Ông sắp tự tử một cách đột ngột, chỉ vì ông sợ một cái bóng ư ? Ông giàu có và còn trẻ mà ! Thật là điên rồ ! Ông chỉ cần một cuộc giải trí, đi vắng, đi du lịch để quên ! Đêm qua, ông không thấy đứa bé, bởi vì đầu óc ông lo âu, bận nghĩ đến chuyện khác. Có lẽ ông sẽ còn thấy nó nữa ? Và nếu nó còn ám ảnh ông trong cái nhà này, hẳn nó sẽ không theo đuổi ông nơi khác ! Trái đất rộng mênh mông, và tương lai thì dài ! Tại sao phải chết ?

Ông đưa mắt nhìn lơ đãng cái đồng cỏ, và ông thấy một chấm xanh trên con đường mòn dọc theo dòng suối Brindille. Đó là Médéric, ông ta đem thơ của thành phố đến và đem thơ của làng đi.

Ông Renardet giật mình, ông cảm thấy đau nhói, ông lao xuống cái cầu thang xoay ốc để lấy lại cái thơ, để đòi ông phát thơ trả lại cái thơ. Nếu người ta thấy ông thì có hề gì ; ông chạy trên cỏ còn đọng lại nước đông thành đá của đêm qua ; và ông đến trước thùng thơ, ở góc trại, cùng một lúc với người lính bộ binh.

Ông này đã mở cánh cửa bằng gỗ của thùng thơ, ông lấy giấy tờ mà dân làng đã bỏ vào đấy.

Ông Renardet nói :

– Chào Médéric.

– Chào ông xã trưởng .

– Này Médéric, tôi có bỏ trong thùng thơ một cái thơ mà bây giờ tôi cần. Tôi đến nhờ ông trả lại cho tôi.

– Vâng, thưa ông xã trưởng, tôi sẽ trả lại ông cái thơ.

Người phát thơ ngước mắt. Ông kinh ngạc trước gương mặt của ông Renardet ; đôi má ông xã trưởng tím ngắt, đôi mắt thâm quầng như bị lún vào đầu, cái nhìn bối rối, tóc tai bù xù, bộ râu rối bời, cà vạt sổng sểnh. Rõ là ông ta không có ngủ đêm qua.

Người phát thơ hỏi :

– Có phải ông bị bệnh không, thưa ông xã trưởng ?

Ông Renardet bỗng hiểu thái độ của mình chắc có vẻ lạ lùng, ông mất bình tĩnh, ấp úng :

– Không đâu… không đâu… Chỉ vì tôi nhảy ra khỏi giường để chạy đến xin ông cái thơ… Tôi đang ngủ… Ông hiểu chứ ?…

Một sự nghi ngờ vu vơ thoáng qua trong trí người lính già. Ông hỏi :

– Thơ gì ?

– Cái thơ mà ông sắp trả lại tôi.

Bây giờ Médéric trở nên do dự, ông nhận thấy thái độ ông xã trưởng không tự nhiên. Có lẽ có một bí mật gì trong cái thơ đó, một bí mật chính trị chăng ? Ông biết ông Renardet không thuộc đảng cộng hòa, và ông biết tất cả những mánh khóe, những xảo trá mà người ta dùng trong những cuộc bầu cử. Ông hỏi :

– Cái thơ đó gởi cho ai ?

– Cho ông Putoin, ông dự thẩm ấy mà ! Ông Putoin là bạn tôi đấy !

Người lính bộ binh lục trong xấp giấy tờ và tìm ra cái thơ mà ông Renardet đòi. Thế rồi ông bắt đầu nhìn cái thơ, trở nó qua lại trong tay, rất bối rối vì sợ phạm một lỗi nặng hoặc làm cho ông xã trưởng trở thành kẻ thù của mình.

Thấy ông ta ngập ngừng, ông Renardet phác một cử chỉ để chụp cái thơ và giật nó. Cử chỉ đột ngột đó cho Médéric thấy là có một điều gì bí ẩn, quan trọng, khiến ông phải làm nhiệm vụ của mình bằng bất cứ giá nào.

Ông ném cái thơ vào trong cái bị da, vừa đóng lại vừa trả lời :

– Không, tôi không thể trả lại được, thưa ông xã trưởng. Vì cái thơ được gởi cho tòa án, tôi không thể trả lại được.

Một mối lo sợ kinh khủng làm quặn lòng ông Renardet, ông ấp úng :

– Ông biết rõ tôi mà ! Ông có thể nhận ra ngay cả nét chữ của tôi kia mà ! Tôi đã nói với ông rằng tôi cần cái thơ đó.

– Không. Không được.

Ông Renardet vốn tính hung bạo, nổi giận :

– Mẹ kiếp, coi chừng đấy ! Ông biết là tôi không đùa đâu, và tôi có thể làm cho ông mất chỗ làm đó ông già, và chẳng lâu đâu. Và rồi nói cho cùng, tôi là xã trưởng làng này, và bây giờ tôi ra lệnh cho ông phải trả lại tôi cái thơ.

Người lính bộ binh trả lời một cách cương quyết :

– Không, không thể được, thưa ông xã trưởng !

Thế rồi ông Renardet mất trí, chụp hai tay ông phát thơ để giật cái bị da ; nhưng Médéric hất ông ra, lùi lại và đưa cao cây gậy nhựa ruồi to tướng của ông. Ông bình tĩnh nói :

– Ồ, xin đừng đụng đến tôi, thưa ông xã trưởng, nếu không tôi sẽ nện cho một trận. Hãy coi chừng. Tôi, tôi làm bổn phận của tôi !

Cảm thấy mình bị dồn vào đường cùng, ông Renardet đột nhiên trở nên khiêm nhường, hiền lành, khẩn nài như đứa trẻ đang khóc.

– Nào, nào, trả lại tôi thơ đó đi ông bạn, tôi sẽ thưởng ông, cho ông tiền, hãy nghe đây, hãy nghe đây, tôi sẽ cho ông một trăm quan, ông nghe không ? Một trăm quan.

Người phát thơ bỏ đi. Ông Renardet đi theo ông ta, thở hổn hển, miệng ấp úng :

– Médéric, Médéric, hãy nghe tôi, tôi sẽ cho ông một nghìn quan, ông nghe không ? Một nghìn quan.

Người phát thơ vẫn tiếp tục đi, không trả lời. Ông Renardet lại nói :

– Tôi sẽ làm cho ông giàu có… ông nghe không ? Tôi sẽ cho ông những gì ông muốn… Năm chục nghìn quan… Năm chục nghìn quan cho cái thơ đó… Có hề gì đến ông ?… Ông không muốn à ?… Vậy thì, một trăm nghìn… này… một trăm nghìn… ông hiểu không ?… Một trăm nghìn…một trăm nghìn.

Người phát thơ quay lại, nét mặt rắn rỏi, đôi mắt nghiêm khắc :

– Vừa thôi nhé, nếu không tôi sẽ lặp lại với tòa án tất cả những gì ông vừa mới nói.

Ông Renardet khựng lại. Thế là hết. Không còn hy vọng gì nữa. Ông quay trở lui và chạy về nhà, chạy nhanh như một con thú bị đuổi.

Thế rồi đến lượt Médéric dừng lại, và kinh ngạc nhìn cuộc chạy trốn đó. Ông ta thấy ông xã trưởng vào nhà, và ông ta chờ như có cái gì lạ lùng chắc chắn sẽ xảy ra.

Quả thật, chẳng bao lâu, dáng người cao lớn của ông Renardet hiện ra trên đỉnh tháp Renard. Ông chạy quanh trên mái bằng như một người điên ; rồi ông chụp cái cột cờ, lay nó một cách dữ dội mà không tài nào bẻ gẫy nó được, rồi thình lình như một người bơi lội lộn nhào xuống nước, ông lao mình trong khoảng không, hai tay dang ra phía trước.

Médéric chạy tới để cứu. Khi băng qua cánh rừng, ông thấy đám thợ đốn cây đi làm. Ông gọi họ và la lên là có tai nạn ; và họ tìm thấy dưới chân tháp một cái xác đầy máu me, đầu đập trên một tảng đá. Óc và máu lẫn lộn thành một dòng màu hồng trong nước suối Brindille chảy quanh tảng đá đó.

 

______________

(1) Bộ Bách khoa tự điển, ở thế kỷ 18, do Diderot chủ trương, có mục đích trình bày những tiến bộ của khoa học và tư tưởng trong mọi lĩnh vực. Ngoài Diderot, các tác giả chính là Voltaire, Montesquieu, Rousseau, Jaucourt.

(Chú thích của dịch giả)

 

 

 

 

Advertisements

TƯỢNG NỮ THẦN VÉNUS CỦA THỊ XàILLE

Tôi đi xuống cái sườn cuối cùng của ngọn núi Canigou, và mặc dù mặt trời đã lặn, tôi thấy rõ trên đồng bằng những ngôi nhà của thị xã Ille, nơi mà tôi đang đi đến.

« Anh có biết, tôi nói với người đàn ông sinh trưởng vùng Catalogne làm hướng dẫn viên cho tôi từ hôm qua, anh có biết chắc chắn ông de Peyrehorade ở đâu không ?

Anh ta kêu lên :

– Tôi mà không biết nữa thì thôi, tôi biết rõ nhà ông ấy như nhà tôi mà ; và nếu không tối trời như thế này, tôi sẽ chỉ ngôi nhà đó cho ông. Đó là ngôi nhà đẹp nhất ở Ille. Ông de Peyrehorade, ông ấy có tiền, vâng, và ông hỏi vợ cho con trai ông còn giàu hơn ông.

– Sắp có đám cưới à ? tôi hỏi.

– Vâng, sắp có đám cưới ! Chắc là người ta đã đặt thuê những chiếc đàn vĩ cầm cho hôn lễ rồi đấy. Tối nay, hay có lẽ ngày mai, ngày mốt, biết đâu ! Lễ cưới sẽ cử hành ở Puygarrig, bởi vì cậu con trai ông sẽ lấy cô de Puygarrig. Lễ cưới sẽ tốt đẹp, vâng đúng thế ! »

Tôi được bạn tôi, ông de P., giới thiệu với ông de Peyrehorade. Bạn tôi nói ông ấy là một nhà khảo cổ, học thức cao và một mực chiều lòng kẻ khác. Ông ấy sẽ vui thích đưa tôi đi xem những tàn tích cách mười dặm quanh vùng.

Thế nhưng tôi trông cậy ông ấy đưa tôi đi viếng vùng lân cận của thị xã Ille, nơi mà tôi biết có nhiều công trình nghệ thuật của thời cổ đại và thời trung đại. Cái đám cưới mà lần đầu tiên người ta báo cho tôi biết làm đảo lộn những dự định của tôi.

Tôi sẽ là kẻ phá đám, tôi tự nhủ thế. Nhưng người ta đang chờ tôi, vì ông de P. có báo trước tôi sẽ đến nên bắt buộc tôi phải trình diện.

« Thưa ông, chúng ta hãy đánh cuộc với nhau, người hướng dẫn nói với tôi khi chúng tôi đã xuống đến đồng bằng, chúng ta hãy đánh cuộc một điếu xì gà rằng tôi đoán đúng ông sẽ làm gì ở nhà ông de Peyrehorade ?

– Nhưng mà, tôi trả lời bằng cách chìa cho anh ta một điếu xì gà, đâu có gì khó để mà đoán. Giờ này, sau khi đã đi sáu dặm trong núi Canigou thì cái việc trọng đại là ăn tối.

– Vâng, nhưng mà ngày mai ?… Đây này, tôi đoán chắc rằng ông đến Ille là để xem cái tượng thần phải không ? Tôi đoán như thế vì thấy ông vẽ chân dung các thánh ở nhà thờ tu viện Serrabona.

– Tượng thần ! Tượng thần nào ? Hai từ đó kích thích tính tò mò của tôi.

– Sao ! Ở Perpignan người ta không kể cho ông nghe rằng ông de Peyrehorade đã đào ra một cái tượng thần như thế nào à ?

– Anh muốn nói một pho tượng bằng đất nung, bằng đất sét phải không ?

– Không phải đâu, thưa ông. Bằng đồng thật, và có đủ chán để hái ra tiền. Nó nặng bằng một cái chuông nhà thờ. Chúng tôi đã đào nó ra từ trong đất sâu, dưới gốc cây ô liu.

– Vậy anh có mặt khi người ta phát hiện nó ?

– Thưa ông vâng. Trước đó mười lăm ngày, ông de Peyrehorade bảo anh Jean Coll và tôi bứng một cây ô liu già đã chết vì cái rét năm ngoái, năm ngoái là cái năm tai hại, như ông biết. Vậy trong lúc làm việc, Jean Coll hăng hái mạnh tay, anh phát một nhát cuốc, và tôi nghe một tiếng « beng »… tưởng như anh ấy đập vào một cái chuông. Cái gì thế ? tôi nói. Chúng tôi vẫn cuốc, vẫn cuốc, và kìa một bàn tay đen thui hiện ra, có vẻ là bàn tay của một người chết ra khỏi đất. Tôi, thì tôi khiếp sợ. Tôi đi thưa với ông chủ và tôi nói với ông : « Thưa ông chủ, có người chết, ở dưới gốc cây ô liu ! Phải đi mời cha xứ ! – Người chết nào ? » Ông hỏi tôi. Ông đến nơi, và vừa mới trông thấy bàn tay, ông đã kêu lên :

« Một đồ cổ ! Một đồ cổ ! » Tưởng như ông ấy tìm ra một kho tàng. Và rồi, với cái cuốc và hai bàn tay ông xông xáo, ông làm việc gần như bằng hai chúng tôi.

– Và cuối cùng đã tìm ra được gì ?

– Một người đàn bà cao lớn, đen, nói vô phép chứ hơn phân nửa trần truồng, thưa ông, hoàn toàn bằng đồng, và ông de Peyrehorade nói với chúng tôi rằng đó là một ngẫu tượng thời người ta theo đa thần… thời hoàng đế Charlemagne ấy mà !

– Tôi hiểu… một pho tượng đẹp nào của Thánh Nữ Đồng Trinh bằng đồng thanh trong một tu viện bị tàn phá chứ gì !

– Một pho tượng đẹp của Thánh Nữ Đồng Trinh ! Ối chà !… Nếu là một pho tượng đẹp của Thánh Nữ Đồng Trinh thì tôi đã nhận ra rồi. Một tượng thần, xin thưa với ông : thấy rõ ở cái vẻ của nó. Nó nhìn người ta chăm chăm với đôi mắt to, trắng dã của nó… Tưởng chừng nó nhìn chòng chọc vào mặt mình. Khi nhìn nó, người ta phải nhìn xuống.

– Đôi mắt trắng à ? Chắc chắn đôi mắt đã được khảm vào đồng thanh. Có lẽ là một pho tượng La Mã nào đấy.

– La Mã ! Đúng thế. Ông de Peyrehorade nói là một tượng La Mã. À, tôi thấy rõ ông là một nhà thông thái như ông ấy.

– Pho tượng có được nguyên vẹn, có được bảo tồn không ?

– Ồ, thưa ông, nó chẳng thiếu cái gì. Nó còn đẹp hơn, hoàn tất hơn cái tượng vua Louis-Philippe bằng thạch cao, sơn màu, ở tòa thị chính nữa đấy. Nhưng dù với tất cả những cái đó, tôi vẫn không thích gương mặt của pho tượng. Nó có vẻ độc ác… và nó cũng độc ác đấy.

– Độc ác ! Nó đã làm điều gì độc ác ?

– Không phải độc ác với riêng tôi, nhưng mà rồi đây ông sẽ thấy. Lúc đó chúng tôi bốn người chung sức kéo nó đứng thẳng, và ông de Peyrehorade cũng kéo giây thừng, mặc dù sức ông không hơn sức một con gà, cái ông đáng kính đó! Chúng tôi rất vất vả để dựng đứng nó. Khi tôi nhặt một mảnh ngói để kê nó, thì đùng một cái, nó ngã xuống, bật ngửa cả khối nặng. Tôi nói : « Coi chừng ở phía dưới ! » Tuy nhiên tôi nói không được nhanh, và Jean Coll không kịp kéo cái chân của anh ra…

– Và anh ấy bị thương phải không ?

– Cái chân tội nghiệp của anh bị gẫy hẳn như một cây cọc leo. Tội anh ta quá ! Thấy thế, tôi nổi giận. Tôi muốn đập cái tượng thần với cái cuốc, nhưng ông de Peyrehorade đã giữ tôi lại. Ông cho Jean Coll tiền, dù sao đi nữa anh ấy cũng nằm đã mười lăm ngày từ khi tai nạn xảy ra, và bác sĩ nói rằng cái chân đó của anh sẽ không bao giờ đi đứng như cái chân kia. Đáng tiếc, anh ấy là người chạy nhanh nhất và, sau ông con trai của ông chủ, anh ấy là người chơi bóng quần lanh nhất. Ông Alphonse de Peyrehorade buồn phiền về chuyện này, bởi vì chính Coll thường chơi với ông. Thật là đẹp mắt khi họ đánh những quả bóng qua về. Băng ! băng ! Những quả bóng không bao giờ chạm đất. »

Cứ mãi nói chuyện như thế, chúng tôi đã đi vào Ille, và chẳng bao lâu tôi được đối diện với ông de Peyrehorade. Ông là một cụ già nhỏ thó còn mạnh khỏe và nhanh nhẹn, mặt ông thoa phấn, mủi đỏ, ông có vẻ vui tính và giễu cợt. Trước khi mở cái thư của ông de P., ông mời tôi ngồi vào một cái bàn đầy thức ăn, ông giới thiệu tôi với vợ ông và con trai ông, như tôi là một nhà khảo cổ tiếng tăm sẽ đưa cái vùng Roussillon này ra khỏi sự quên lãng mà nó bị chìm vào vì sự dửng dưng của các nhà bác học.

Vừa ăn ngon miệng, bởi vì không có gì làm mình ăn ngon miệng hơn là cái không khí trong lành của miền núi, tôi vừa quan sát những người chủ nhà. Tôi đã tả ông de Peyrehorade, tôi phải nói thêm rằng ông là hiện thân của sự linh hoạt. Ông nói chuyện, ông ăn, ông đứng dậy, ông chạy đến tủ sách, đem sách lại cho tôi, chỉ cho tôi xem những tranh in tay, rót rượu cho tôi uống ; ông không bao giờ ngồi yên hai phút. Bà vợ ông hơi quá đẫy đà như phần đông những người phụ nữ xứ Catalogne, khi họ đã quá bốn mươi tuổi, bà có vẻ một người phụ nữ hoàn toàn sống ở tỉnh nhỏ, chỉ lo công việc nội trợ. Mặc dù bữa ăn đủ cho ít nhất sáu người, bà chạy vào bếp, bảo người nhà giết chim bồ câu, ráng bánh bột bắp, bà mở không biết bao nhiêu hũ mứt. Trong khoảnh khắc, cái bàn chất đầy những thức ăn và chai rượu, chắc chắn tôi sẽ chết vì chứng khó tiêu nếu tôi thưởng thức tất cả những gì người ta mời tôi. Tuy nhiên, cứ mỗi món ăn mà tôi từ chối, thì họ lại phải nói thêm những lời xin lỗi. Người ta sợ tôi thiếu ăn ở Ille. Trong vùng này quá ít thực phẩm, mà dân Paris thì lại khó tính quá !

Giữa lúc cha me lăng xăng đi qua đi lại thì cậu con trai, Alphonse de Peyrehorade, ngồi bất động như cái cột mốc. Anh ta là một thanh niên cao lớn, hai mươi sáu tuổi, nét mặt đẹp và đều đặn, nhưng thiếu tế nhị. Anh ta có một khổ người và hình dáng của một lực sĩ, điều này chứng minh sự nổi tiếng của anh ta trong vùng, anh ta nổi tiếng là một người chơi bóng quần không bao giờ mệt. Tối hôm đó anh ta ăn mặc lịch sự, giống hệt tấm hình trong tạp chí « Journal des modes » (Báo thời trang), số cuối cùng. Nhưng anh ta có vẻ không thoải mái trong bộ đồ thời trang ; anh ta cứng ngắc như cái cọc trong cái cổ áo bằng nhung, và chỉ quay người với nguyên cái thân xác cứng đơ. Bàn tay anh ta to kệch và sạm nắng, móng tay ngắn, trái ngược một cách kỳ lạ với bộ đồ. Đó là bàn tay người đi cày ló ra khỏi tay áo người phong nhã. Thêm nữa, mặc dù anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân một cách lạ lùng, vì cái tư cách người dân Paris của tôi, anh ta chỉ nói chuyện với tôi có một lần, đó là để hỏi tôi mua cái giây chuyền đồng hồ ở đâu.

« À, thưa ông khách của tôi, ông de Peyrehorade nói khi bữa ăn tối sắp kết thúc, ông thuộc về tôi, ông ở nhà tôi. Tôi không thả ông ra đâu, tôi chỉ thả ông ra khi nào ông đã thấy hết tất cả những gì lạ lùng mà chúng tôi có trong miền núi này. Ông phải tập hiểu biết vùng Roussillon của chúng tôi, và công nhận giá trị của nó. Ông không ngờ được những gì chúng tôi sẽ cho ông xem đâu. Những công trình nghệ thuật của Phénicie, Celtique, La Mã, Ả rập, Byzance, ông sẽ thấy tất cả, từ cây thông bá hương đến cây bài hương. Tôi sẽ đưa ông đi khắp nơi và không tha cho ông một viên gạch nào. »

Một cơn ho buộc ông phải ngừng. Thừa dịp tôi nói với ông rằng tôi khổ tâm đã quấy rầy ông trong những ngày vui thú như thế này của gia đình ông. Nếu ông vui lòng cho tôi những lời khuyên quý báu về các cuộc đi chơi, thì tôi có thể đi một mình, ông không phải nhọc công đưa tôi đi…

« À ! Ông muốn nói đến hôn lễ của thằng con trai này hả ? ông kêu lên, cắt ngang câu nói của tôi. Chuyện thường thôi, hôn lễ sẽ cử hành ngày kia. Ông dự tiệc cưới với chúng tôi nhé ! Trong gia đình mà ! Vì con dâu tương lai của tôi để tang một bà dì mà cô ta là thừa kế. Vậy không có lễ lớn, không có khiêu vũ. Uổng thật ! Nếu không ông sẽ thấy các cô gái vùng Catalogne khiêu vũ… Các cô xinh đẹp, và có lẽ ông sẽ nảy cái ý muốn bắt chước thằng Alphonse của tôi. Người ta nói một hôn nhân làm nảy sinh những hôn nhân khác… Thứ bảy này, khi hai trẻ thành hôn xong, tôi sẽ rảnh rang, và chúng ta sẽ thi thố tài năng với nhau. Xin ông tha lỗi cho tôi đã đem lại cho ông sự nhàm chán của một lễ cưới ở tỉnh nhỏ. Đối với một nguời dân Paris đã chán ngấy các lễ hội… và lại là một lễ cưới không có khiêu vũ nữa chứ ! Tuy nhiên ông sẽ thấy một cô dâu… một cô dâu… ông sẽ phải khen tôi… Nhưng ông là một người đàn ông nghiêm trang và ông không còn nhìn phụ nữ nữa. Tôi có cái hay hơn để cho ông xem. Tôi sẽ cho ông xem cái này… Tôi dành cho ông một bất ngờ tuyệt diệu vào ngày mai.

– Trời ! tôi nói, khó có một kho tàng trong nhà mà công chúng không biết đến. Tôi nghĩ là tôi đã đoán được cái bất ngờ mà ông dành cho tôi. Nhưng nếu đúng là pho tượng của ông thì sự miêu tả của người hướng dẫn tôi chỉ để kích thích tính tò mò của tôi và khiến tôi sẵn sàng chiêm ngưỡng.

– À ra thế ! Anh ta đã nói với ông về cái tượng thần, bởi vì họ gọi nữ thần Vénus Tur… tuyệt đẹp của tôi như thế, nhưng tôi không muốn nói gì thêm với ông. Ngày mai, giữa thanh thiên bạch nhật, ông sẽ thấy và ông hãy nói cho tôi biết là tôi có lý hay không khi tôi nghĩ nó là một tuyệt tác. Đương nhiên, ông đến đây quá đúng lúc ! Có những câu khắc trên tượng mà tôi, kẻ ngu muội đáng thương, tôi giải thích theo cách của tôi… nhưng một nhà bác học ở Paris !… Có lẽ ông sẽ chế nhạo cách giải thích của tôi… bởi vì tôi có viết một tiểu luận… tôi, kẻ đang nói chuyện với ông… một nhà khảo cổ già ở tỉnh nhỏ, tôi liều viết… Tôi muốn làm cho báo chí rên xiết… Nếu ông vui lòng đọc và sửa cho tôi, tôi có thể hy vọng… Chẳng hạn, tôi tò mò muốn biết ông dịch thế nào cái chữ khắc trên bệ tượng : CAVE… Nhưng tôi chưa muốn yêu cầu ông điều gì ! Xin hẹn ông ngày mai, ngày mai ! Hôm nay xin đừng nói gì về nữ thần Vénus.

– Peyrehorade ơi, bà vợ nói, mình bỏ qua cái chuyện tượng thần của mình là đúng. Mình phải thấy là mình không để cho ông đây ăn. Thôi, ông đã thấy ở Paris những pho tượng còn đẹp hơn pho tượng của mình nhiều. Ở điện Tuileries có hằng tá tượng và cũng bằng đồng.

Ông de Peyrehorade cắt ngang lời bà :

– Đấy chính là sự ngu muội, sự ngu muội thần thánh của tỉnh nhỏ ! So sánh một vật cổ tuyệt đẹp với những cái tượng tầm thường của Coustou (1) !

Bà nội trợ của tôi thiếu tôn kính làm sao

Khi nói đến các vị thần ! (2)

Ông có biết là vợ tôi muốn tôi cho nung chảy cái pho tượng của tôi để đúc một cái chuông cho nhà thờ chúng tôi không ? Bởi vì bà ấy bảo trợ nhà thờ. Một tuyệt tác của Myron, thưa ông !

– Tuyệt tác ! Tuyệt tác ! Đúng là nó làm ra một tuyệt tác ! Nó làm cho một người phải gẫy chân !

– Này mình, ông de Peyrehorade vừa nói với một giọng quả quyết vừa đưa về phía bà cái chân mặt của ông trong một chiếc tất bằng lụa dệt nhiều màu, mình thấy không, nếu nữ thần Vénus của tôi làm gẫy cái chân này, tôi sẽ không tiếc.

– Trời đất ! Peyrehorade, làm sao mình có thể nói như thế được ! May mà tình trạng người đó đã khá… Hơn nữa tôi không chịu lãnh trách nhiệm nhìn cái pho tượng đã gây tai họa như vừa rồi. Tội cho Jean Coll !

– Bị nữ thần Vénus gây thương tổn, thưa ông, ông de Peyrehorade nói và phá lên cười, bị nữ thần Vénus gây thương tổn, thằng vô lại than phiền :

Veneris nec praemia nóris. (3)

Ai mà chẳng bị Vénus gây thương tổn ? »

Cậu con trai, Alphonse, hiểu tiếng Pháp khá hơn tiếng La tinh, liền nháy mắt với cái vẻ hiểu biết, và nhìn tôi như muốn hỏi : « Và ông, người Paris, ông có hiểu không ? »

Bữa ăn tối chấm dứt. Đã một tiếng đồng hồ rồi tôi không còn ăn nữa. Tôi thấm mệt và tôi không thể giấu được những cái ngáp liên hồi. Bà de Peyrehorade là người đầu tiên thấy tôi ngáp, và bà nói đã đến lúc tôi phải đi ngủ. Thế rồi lại bắt đầu có những lời xin lỗi về chỗ ở tồi tàn mà tôi sắp sử dụng. Tôi sẽ không được như ở Paris. Ở tỉnh nhỏ người ta không thoải mái ! Tôi cần phải khoan dung đối với người dân vùng Roussillon. Dù cho tôi có phản đối mà nói rằng sau một cuộc hành trình trong núi, một bó rơm đã là cái giường êm ả cho tôi rồi, họ vẫn xin tôi tha lỗi cho những người dân quê tội nghiệp, nếu họ không đối xử với tôi được như họ mong muốn. Cuối cùng tôi lên căn phòng mà người ta dành cho tôi, có ông de Peyrehorade đưa tôi lên. Cầu thang, với những nấc trên cao làm bằng gỗ, dẫn đến giữa một hành lang, có nhiều phòng mở ra phía hành lang.

« Bên phải, ông chủ nhà nói với tôi, là căn hộ mà tôi dành cho bà Alphonse tương lai. Phòng của ông ở đầu mút đối diện của hành lang. Ông thấy rõ, ông ta nói tiếp với cái vẻ muốn tỏ ra mình là người tinh tế, ông thấy rõ rằng phải biệt lập đôi tân hôn. Ông ở đầu này của ngôi nhà, chúng nó ở đầu kia. »

Chúng tôi bước vào một căn phòng đầy đủ bàn ghế, cái đồ vật đầu tiên mà tôi nhìn thấy là một cái giường bề dài bảy bộ (4), bề ngang sáu bộ, và nó cao quá đến nỗi phải có một cái thang nhỏ để leo lên. Chủ nhà chỉ cho tôi cái chuông, và sau khi ông đã đích thân xem xét cái bình đường có đựng đầy đường không, những chai nước hoa có đặt đúng ở chỗ rửa mặt không, sau khi đã hỏi tôi nhiều lần tôi có thiếu gì không, ông chủ nhà chúc tôi ngon giấc và để tôi lại một mình.

Các cửa sổ đều đóng kín. Trước khi thay đồ, tôi mở một cửa sổ để thở không khí mát về đêm, dễ chịu sau một bữa ăn tối kéo dài. Trước mặt tôi là núi Canigou, dáng dấp nó lúc nào cũng đẹp, nhưng đêm hôm đó tưởng như nó là quả núi đẹp nhất trên thế giới, một ánh sáng rạng rỡ làm nó sáng lên. Tôi đứng đấy vài phút để ngắm cái dáng tuyệt vời của nó, và tôi sắp đóng cửa sổ lại, khi đưa mắt nhìn xuống, tôi thấy pho tượng trên cái bệ, cách nhà khoảng hai mươi toa (5). Pho tượng được đặt ở góc một hàng rào cây xanh ngăn một khu vườn nhỏ với một mảnh đất vuông, rộng, hoàn toàn đều đặn, về sau tôi được biết mảnh đất đó là sân chơi bóng quần của thành phố. Mảnh đất là sở hữu của ông de Peyrehorade, ông đã nhượng cho thị xã theo lời yêu cầu cấp thiết của con trai ông.

Từ chỗ tôi đứng, khó cho tôi thấy rõ tư thế của pho tượng, tôi chỉ có thể xét về bề cao của nó, nó có vẻ cao khoảng sáu bộ. Vừa lúc này có hai đứa ranh mãnh trong thị xã đang đi qua sân chơi bóng quần, chúng đi khá gần hàng rào, vừa huýt sáo cái bài hát hay của xứ Roussillon, bài « Montagnes régalades ». Chúng dừng lại để nhìn pho tượng ; một trong hai đứa gọi pho tượng cộc lốc, bất nhã, nó lại la to tiếng nữa. Nó nói tiếng Catalogne, nhưng vì tôi đã từng ở xứ Roussillon khá lâu nên có thể hiểu sơ sơ điều nó nói :

« Mày đó hả, con đểu giả ! (tiếng đó trong ngôn ngữ Catalogne còn mãnh liệt hơn). Mày đó hả, nó nói. Vậy là chính mày đã bẻ gẫy chân của ông Jean Coll ! Mày mà thuộc về tao, thì tao sẽ bẻ cổ mày đấy.

– Ối ! Bẻ cổ nó với cái gì ? đứa kia nói. Nó bằng đồng và cứng đến nỗi ông Etienne làm gẫy cái dũa trên mình nó, khi ông thử dũa nó. Loại đồng của thời những người theo đa thần, nó cứng hơn là gì.

– Nếu tao có cái kéo cắt của tao (hình như nó là một đứa tập sự nghề thợ khóa), thì tao sẽ bứng cặp mắt trắng dã của nó, giống như tao bóc hột hạnh nhân ra khỏi vỏ. Nó dám trị giá trên một trăm xu lắm đấy. »

Chúng bước đi xa.

« Tao phải chúc tượng thần một đêm tốt đẹp cái đã », đứa tập sự cao nhất nói, nó thình lình dừng lại.

Nó cúi xuống, và chắc là nó nhặt một hòn đá. Tôi thấy nó giăng tay, ném một cái gì, và tức thì có một tiếng vang trên mặt đồng thanh. Cùng lúc đó đứa tập sự lấy tay ôm đầu vừa la lên một tiếng đau đớn. Nó kêu lên :

« Nó ném trở lại tao hòn đá đây này! »

Và hai đứa ranh mãnh cắm đầu chạy trốn. Tất nhiên là hòn đá dội trên kim loại, và đã trừng phạt tên vô lại kia vì nó đã xúc phạm đến nữ thần.

Tôi đóng cửa lại và cười khoái chí.

« Thêm một kẻ phá hoại văn vật bị nữ thần Vénus trừng phạt. Ước gì tất cả những kẻ phá hoại các công trình xưa cổ bị bể đầu như thế ! »

Thốt xong lời chúc nhân từ đó, tôi ngủ thiếp đi.

Trời sáng hẳn khi tôi thức dậy. Cạnh giường tôi, một bên có ông de Peyrehorade đang mặc áo ngủ ; bên kia có người giúp việc, tay bưng một tách sô cô la do vợ ông sai bưng lên.

« Nào, hãy đứng lên, hởi người dân Paris ! Những người lười biếng của thủ đô là thế đấy ! ông chủ nhà nói trong khi tôi vội vàng thay quần áo. Đã tám giờ rồi mà còn nằm trong giường ! Tôi, tôi dậy từ sáu giờ sáng. Tôi đã lên đây ba lần rồi đấy, tôi nhón gót đến gần cửa phòng ông : chẳng có ai cả, không một dấu hiệu của sự sống. Ở tuổi ông, ngủ nhiều quá không tốt cho ông đâu. Và còn nàng Vénus của tôi mà ông chưa thấy. Nào, ông hãy uống nhanh cho tôi cái tách sô cô la của Barcelone này đi… hàng lậu chính cống. Thứ sô cô la mà người ta không có ở Paris. Ông hãy lấy lại sức đi, bởi vì một khi ông đứng trước nàng Vénus của tôi, thì khó mà lôi ông ra khỏi đó được. »

Trong vòng năm phút tôi đã sẵn sàng, nghĩa là cạo râu mới phân nửa, áo quần gài khuy không kỹ, và lưỡi bị bỏng vì sô cô la nóng hổi mà tôi đã nuốt vội. Tôi đi xuống vườn và đứng trước cái pho tượng tuyệt diệu.

Đúng là một nữ thần Vénus đẹp tuyệt vời. Phần trên thân thể để trần, như người xưa thường miêu tả các vị thần ; bàn tay mặt đưa lên ngang với đôi vú, gan bàn tay quay vào trong, ngón cái và hai ngón đầu thẳng ra, hai ngón kia hơi uốn cong. Bàn tay kia, gần hông, nâng tấm khăn che đậy phần dưới của thân thể. Tư thế của pho tượng nhắc nhở tư thế của người chơi trò đố ngón tay mà tôi không hiểu tại sao lại được gọi là « Germanicus ». Có lẽ người ta muốn miêu tả vị nữ thần đang chơi trò đố ngón tay chăng.

Dù sao đi nữa, không thể thấy cái gì tuyệt vời hơn cái thân hình của nữ thần Vénus này, không gì êm dịu hơn, gây khoái lạc hơn những đường cong của pho tượng ; không gì lịch sự hơn, đài các hơn tấm khăn che lên người. Tôi tưởng sẽ thấy một công trình nào của thời Hậu Đế quốc La Mã ; nhưng tôi đã thấy một tuyệt tác của cái thời thịnh nhất của nghệ thuật đúc tượng. Điều đặc biệt gây ấn tượng cho tôi là  những đường cong giống như thật một cách tuyệt diệu, đến mức người ta có thể tưởng chúng được đúc khuôn theo một người mẫu có thật, nếu thiên nhiên sản xuất được những mẫu người cũng hoàn hảo như thế.

Mái tóc vén lên ở trán, có vẻ như xưa kia là màu vàng. Cái đầu, nhỏ như hầu hết các pho tượng Hy lạp, hơi nghiêng về phía trước. Về phần gương mặt, tôi không bao giờ miêu tả được cái vẻ kỳ lạ của nó, nét mặt này không giống nét mặt của một pho tượng cổ nào mà tôi còn nhớ. Không phải là vẻ đẹp bình thản và nghiêm khắc của những nhà điêu khắc Hy lạp, vì do phương thức tạo hình, họ làm cho tất cả những nét trên mặt có cái vẻ bất động uy nghiêm. Trái lại ở đây, tôi ngạc nhiên nhận thấy chủ tâm rõ ràng của người nghệ sĩ là làm cho sự tinh ranh đi đến cái độ độc ác. Tất cả các nét hơi co lại : đôi mắt hơi nghiêng, hai khóe miệng vểnh lên, lỗ mũi hơi phồng ra. Sự coi thường, tính mỉa mai, tàn ác hiện trên gương mặt đó, tuy nhiên nó có một vẻ đẹp không tưởng tượng được. Sự thật, càng nhìn pho tượng tuyệt đẹp này người ta càng cảm thấy một cách khó chịu rằng trong một vẻ đẹp tuyệt vời như thế lại có thể thiếu vắng mọi cảm tính.

« Nếu người mẫu của tượng này đã từng có, tôi nói với ông de Peyrehorade, và tôi ngờ ông Trời đã từng tạo nên một người phụ nữ như thế, thì tôi ái ngại cho những người tình của cô ta ! Chắc cô ta đã vui thích làm cho họ chết vì tuyệt vọng. Trong vẻ mặt của cô ta có cái gì tàn bạo, và tuy nhiên tôi chưa bao giờ thấy một vẻ đẹp như thế.

– Cả thân hình Vénus bám vào con mồi của mình ! ông de Peyrehorade kêu lên, hài lòng về sự nhiệt tình của tôi.

Cái vẻ mỉa mai quỷ quái có lẽ được tăng thêm bởi sự tương phản giữa đôi mắt khảm bạc và rất lóng lánh với cái lớp dỉ đồng màu xanh lục hơi đen mà thời gian đã biến cả pho tượng. Đôi mắt lóng lánh gây một ảo tưởng nào đó nhắc nhở hiện thực, cuộc sống. Tôi nhớ lại lời người hướng dẫn, anh ta nói pho tượng làm những kẻ nhìn nó phải nhìn xuống. Điều này gần như đúng, và tôi không thể đừng tức giận với chính mình khi tôi cảm thấy hơi khó chịu trước cái gương mặt bằng đồng thanh.

« Ông bạn đồng nghiệp về môn khảo cổ lỗ sĩ của tôi ơi, chủ nhà của tôi nói, bây giờ thì ông đã ngắm tất cả trong chi tiết rồi, nếu ông vui lòng, chúng ta hãy bắt đầu một cuộc đàm đạo khoa học đi. Ông nói sao về cái câu khắc này mà ông chưa để ý đến ? »

Ông chỉ cho tôi cái bệ của pho tượng, và tôi đọc các chữ này :

CAVE AMANTEM

« Quid dicis, doctissime ? ông vừa hỏi tôi vừa xoa hai bàn tay vào nhau. Hãy xem chúng ta có đồng ý về cái nghĩa của câu : « cave amantem » này không.

– Nhưng mà, tôi trả lời, có tới hai nghĩa. Có thể dịch là : « Coi chừng người yêu cô, hãy ngờ vực những người tình. » Nhưng, trong cái nghĩa đó, tôi không biết cái câu « cave amantem » có đúng tiếng La tinh không. Khi thấy bộ mặt quỷ quái của bà này, tôi nghĩ đúng hơn là nhà nghệ sĩ muốn cảnh giác đề phòng người xem đối với cái sắc đẹp ghê sợ kia. Vậy tôi sẽ dịch là : « Bạn hãy coi chừng nếu nàng yêu bạn. »

– À hà ! ông de Peyrehorade nói, vâng, đó là một cái nghĩa có thể được chấp nhận ; nhưng ông muốn nghĩ thế nào thì nghĩ, tôi thích lối dịch đầu mà tôi sẽ bàn rộng ra. Ông đã biết người tình của Vénus rồi chứ ?

– Vénus có nhiều người tình.

– Vâng, nhưng người đầu tiên là Vulcain. Người ta có muốn nói chăng : « Mặc dù với tất cả sắc đẹp của cô, với cái vẻ khinh thường của cô, cô sẽ có một người tình làm thợ rèn, một người què xấu xí » ? Một bài học thấm thía, thưa ông, cho những người phụ nữ làm dáng ! »

Tôi không khỏi mỉm cười, vì lối giải thích có vẻ gượng gạo đó.

« Ghê gớm thay tiếng La tinh với tính súc tích của nó », tôi nói để tránh nói ngược lại với nhà khảo cổ của tôi, và tôi lùi vài bước để ngắm pho tượng kỹ hơn.

« Khoan, ông bạn đồng nghiệp ! ông de Peyrehorade nói bằng cách chặn cánh tay tôi, ông chưa thấy hết. Còn một câu khắc nữa. Ông hãy leo lên cái bệ và nhìn ở cánh tay mặt. » Vừa nói ông vừa giúp tôi trèo lên.

Tôi bám vào cổ của nàng Vénus, không kiểu cách, tôi đã bắt đầu quen thuộc với nàng. Tôi nhìn nàng một lúc ngay dưới mắt nàng, và khi nhìn gần, nàng ta còn có vẻ độc ác hơn và đẹp hơn. Rồi tôi nhận ra vài nét chữ cổ viết tay, khắc nơi cánh tay, hình như thế. Nhờ đeo kính vào nhiều lần, tôi đánh vần ra những chữ sau đây, trong khi đó ông de Peyrehorade lặp lại mỗi chữ tôi vừa đọc ra, ông tán thành bằng cử chỉ và giọng nói. Vậy tôi đọc ra như sau :

VENERI TVRBVL

EVTYCHES MYRO

IMPERIO FECIT

Sau từ TVRBVL của hàng đầu, hình như có vài chữ bị xóa ; nhưng TVRBVL thì rất rõ ràng.

« Có nghĩa là gì ? ông chủ nhà hỏi, vẻ mặt hớn hở, tươi cười một cách ranh mãnh, vì ông nghĩ rằng tôi sẽ vất vả với cái từ TVRBVL.

– Có một từ mà tôi chưa hiểu, tôi nói ; phần còn lại dễ thôi. EUTYCHES ra lệnh dâng cái này cho nữ thần Vénus.

– Tuyệt hay. Nhưng TVRBVL, ông hiểu nó ra sao ? TVRBVL là gì ?

– TVRBVL làm tôi lúng túng nhiều. Tôi tìm một cách vô hiệu một tính ngữ nào thuộc Vénus có thể giúp tôi. Nào, ông nói sao về từ TVRBVLENTA ? Nàng Vénus làm bối rối, khuấy động… Ông nhận thấy rằng tôi vẫn lo nghĩ về cái vẻ độc ác của Vénus. TVRBVLENTA không phải là một tính ngữ quá sai cho Vénus, tôi nói thêm với một giọng khiêm tốn, bởi vì chính tôi tôi cũng không thỏa mãn về cách giải thích của tôi.

– Nàng Vénus gây xáo động ! Nàng Vénus nhộn nhạo ? Chà ! Vậy ông tưởng nàng Vénus của tôi là một thứ Vénus tửu quán chăng ? Không phải thế đâu, thưa ông : đó là một nàng Vénus lịch sự. Nhưng mà đây tôi xin giải thích cho ông từ TVRBVL… Ít ra xin ông hứa với tôi là sẽ không phổ biến sự phát hiện của tôi trước khi tiểu luận của tôi được in ra. Bởi vì, thưa ông, tôi lấy làm vinh dự về sự phát hiện đó… Các ông phải để cho chúng tôi gặt hái vài bông hoa chứ, chúng tôi, những kẻ khốn cùng ở tỉnh nhỏ. Các ông, những nhà bác học ở Paris, các ông giàu đến thế ! »

Tôi vẫn đứng trên bệ cao, từ trên đó tôi long trọng hứa sẽ không bao giờ thiếu phẩm cách để ăn cắp điều ông đã phát hiện.

« TVRBVL …, thưa ông, ông ta nói bằng cách sát lại gần tôi và nói nhỏ, vì sợ một người nào khác nghe được, ông hãy đọc : TVRBVLNER AE E.

– Tôi chẳng hiểu gì hơn.

– Xin ông nghe đây. Cách đây một dặm, ở chân núi có một cái làng tên là Boulternère. Tên đó là một biến đổi của từ La tinh TVRBVLNERA. Không có gì thông thường hơn những sự đảo lộn đó. Boulternère, thưa ông, đã từng là một thành phố La Mã. Tôi luôn luôn nghi ngờ điều đó, nhưng không bao giờ tôi có được cái bằng chứng. Và đây là cái bằng chứng. Nữ thần Vénus này là vị thần địa phương của thành phố Boulternère, và từ Boulternère, mà tôi vừa mới chứng minh cái nguồn gốc xưa cổ, chứng tỏ một điều còn lạ thường hơn, đó là Boulternère, trước khi là một thành phố La Mã, đã là một thành phố của dân tộc Phénicie ! »

Ông ngừng nói một lúc để thở và để tận hưởng sự ngạc nhiên của tôi. Tôi dằn được một trận cười sắp bật ra.

« Quả vậy, ông nói tiếp, TVRBVLNERA là hoàn toàn tiếng Phénicie, TVR hãy đọc là TOUR… TOUR và SOUR cùng một chữ phải không ? SOUR là cái tên của Tyr trong tiếng Phénicie ; tôi không cần phải nhắc cái nghĩa cho ông. BVL là Baal, Bâl, Bel, Bul, phát âm hơi khác nhau. Về phần NERA, nó làm tôi hơi vất vả. Vì không tìm được một chữ trong tiếng Phénicie, tôi toan nghĩ rằng chữ đó do chữ Hy lạp vnpoç có nghĩa ẩm ướt, sình lầy mà ra. Vậy có lẽ là một từ lai. Để chứng minh rằng chữ Hy lạp vnpoç là đúng, tôi sẽ chỉ cho ông ở Boulternère các con suối chảy từ trên núi đã tạo nên những cái ao thối tha như thế nào. Mặt khác, cái vĩ tố NERA có thể được thêm vào, rất lâu về sau, để chào mừng Nera Pivesuvia, vợ của Tétricus, bà này có lẽ đã ban ân huệ gì đó cho thành Turbul. Nhưng vì những cái ao, tôi thích từ nguyên của chữ vnpoç hơn. »

Ông ta lấy ra một nhúm thuốc lá, vẻ thỏa mãn.

« Nhưng thôi chúng ta hãy để qua một bên dân tộc Phénicie, và trở lại cái câu khắc. Vậy tôi xin dịch : « Myron ra lệnh cung hiến cho nữ thần Vénus ở Boultanère pho tượng này, tác phẩm của ông. »

Tôi hết sức tránh chỉ trích cái từ nguyên của ông, nhưng đến lượt tôi, tôi muốn tỏ ra mình hiểu biết, và tôi nói :

« Khoan, xin ông hãy ngừng lại. Myron có dâng hiến một cái gì, nhưng tôi hoàn toàn không thấy là cái pho tượng này.

– Thế nào được ! ông ta la lên, Myron chẳng phải là một nhà điêu khắc Hy lạp nổi tiếng sao ? Tài năng của ông được truyền lại trong gia đình : một người trong hậu duệ của ông đã làm pho tượng này. Không gì chắc chắn hơn.

– Nhưng mà, tôi trả lời, tôi thấy trên cánh tay một cái lỗ nhỏ. Tôi nghĩ rằng cái lỗ dùng để gắn một cái gì, một chiếc vòng chẳng hạn, mà cái ông Myron đó tặng nữ thần Vénus, làm vật cúng để đền tội. Myron là một người tình đau khổ. Vénus bực tức ông, ông làm cho Vénus nguôi giận bằng cách tặng một chiếc vòng vàng. Ông hãy để ý rằng « fecit » thường được hiểu là « consecravit ». Đó là những từ đồng nghĩa. Nếu tôi có trong tay những cuốn sách sử của Gruter hay Orelli, tôi sẽ cho ông xem nhiều ví dụ. Một người si tình nằm chiêm bao thấy Vénus, người đó tưởng tượng nàng ra lệnh tặng cho pho tượng của nàng một chiếc vòng vàng, điều này tự nhiên thôi. Myron tặng cho pho tượng một chiếc vòng… Rồi thì bọn ngoại xâm hay một tên ăn trộm phạm thánh nào…

– Chà ! Thấy rõ là ông đã viết tiểu thuyết ! ông chủ nhà vừa kêu lên vừa đưa tay đỡ tôi tuột xuống. Không, thưa ông, đây là một tác phẩm thuộc trường phái Myron. Chỉ nhìn lối điêu khắc là ông sẽ đồng ý. »

Vì tôi tự cho mình một nguyên tắc là không bao giờ nói ngược đến cùng những ông khảo cổ bướng bỉnh, cho nên tôi vừa cúi đầu với cái vẻ bị thuyết phục vừa nói :

« Một tác phẩm tuyệt diệu.

– Trời ơi ! ông de Peyrehorade kêu lên, lại thêm một chuyện phá hoại văn vật nữa đây ! Người ta đã ném một hòn đá vào pho tượng của tôi ! »

Ông vừa nhận thấy một cái vết trắng ở phía trên đôi vú của Vénus. Tôi thì tôi thấy một cái vết tương tự trên các ngón tay của bàn tay mặt, tôi đoán là những ngón tay bị hòn đá chạm phải trong đường bay của nó, hoặc là một mảnh đá bể trong khi va chạm trên pho tượng đã nẩy qua bàn tay. Tôi kể cho ông chủ nhà nghe sự xúc phạm mà tôi đã chứng kiến và sự trừng phạt nhanh chóng sau đó. Ông cười nhiều lắm, và khi so sánh cái anh chàng tập sự với Diomède (6), ông chúc cho người tập sự này sẽ thấy, như nhân vật Hy lạp, tất cả những người bạn mình bị hóa thành chim trắng.

Tiếng chuông báo hiệu bữa ăn trưa làm gián đoạn cuộc đàm đạo về thời cổ, và cũng như tối hôm qua, tôi bị ép phải ăn quá nhiều. Rồi những người làm việc trong trang trại của ông de Peyrehorade đến, và trong khi ông nghe họ tường trình công việc thì cậu con trai ông đưa tôi đi xem chiếc xe ngựa có mui xếp mà anh ta đã mua ở Toulouse cho vị hôn thê, đương nhiên là tôi trầm trồ ngắm nghía. Sau đó tôi vào chuồng ngựa với anh ta, trong suốt nửa tiếng đồng hồ anh ta khoe ngựa của mình, nào là thuộc giống tốt, nào là những giải chúng đoạt được trong các cuộc đua của tỉnh. Cuối cùng anh ta đi đến việc đề cập đến người vợ tương lai, khi nói đến con ngựa cái màu xám mà anh ta tặng cô ấy.

« Chúng ta sẽ thấy cô ấy hôm nay, anh ta nói. Tôi không biết ông có cho cô ấy xinh đẹp không. Ở Paris, các ông khó tính ; nhưng ở đây và ở Perpignan, tất cả mọi người đều nhận thấy cô ấy duyên dáng. Điều hay là cô ấy rất giàu. Bà dì của cô ở Prades để lại của cải cho cô. Ồ ! Tôi sẽ rất hạnh phúc ! »

Tôi lấy làm khó chịu vô cùng khi thấy một người thanh niên tỏ vẻ xúc động về của hồi môn hơn là về đôi mắt đẹp của người vợ tương lai.

« Ông là người sành sỏi về nữ trang, Alphonse nói tiếp, ông nghĩ thế nào về cái này ? Đây là chiếc nhẫn mà tôi sẽ tặng cô ấy ngày mai. »

Khi nói như thế anh ta rút từ ngón tay út ra một chiếc nhẫn to có khảm hột xoàn và có hình hai bàn tay đan vào nhau ; một ám chỉ có vẻ vô cùng thi vị. Lối chạm trổ đã xưa, nhưng tôi nghĩ rằng người ta đã sửa lại để gắn thêm hột xoàn vào. Bên trong chiếc nhẫn có khắc những chữ sau đây theo kiểu gô tích : « Sempr’ab ti », có nghĩa là mãi mãi với em.

« Một chiếc nhẫn đẹp, tôi nói ; tuy nhiên những cái hột xoàn thêm vào làm nó hơi mất cái đặc tính của nó.

– Ơ, như thế nó còn đẹp hơn, anh ta mỉm cười trả lời. Có tới một nghìn hai trăm quan tiền hột xoàn. Mẹ tôi cho tôi đấy. Một chiếc nhẫn của gia đình, rất xưa… từ thời hiệp sĩ Trung cổ. Bà ngoại tôi đã đeo nó, bà nhận được từ bà ngoại của bà. Ai mà biết được người ta chế tạo nó ra lúc nào.

– Theo tục lệ ở Paris, tôi nói với anh ta, người ta trao tặng một chiếc nhẫn đơn sơ, thường khi chiếc nhẫn được làm bằng hai kim loại khác nhau, như vàng và bạch kim. À, chiếc nhẫn kia anh đang đeo ở tay, nó sẽ thích hợp hơn. Chiếc nhẫn này với hột xoàn và hai bàn tay chạm nổi, nó to quá đến mức không thể mang găng tay được.

– Ối ! Bà Alphonse sẽ làm theo ý bà muốn. Tôi nghĩ là bà ấy vẫn hài lòng có được chiếc nhẫn. Một nghìn hai trăm quan ở ngón tay là điều thích thú. Chiếc nhẫn nhỏ kia, anh ta nói thêm khi nhìn chiếc nhẫn trơn tru ở bàn tay với vẻ hài lòng, chiếc nhẫn đó là do một người phụ nữ ở Paris tặng tôi vào một ngày lễ Thứ ba ăn uống no nê trước Mùa Chay. Chà ! Tôi chơi hết chỗ nói hồi tôi ở Paris, cách đây hai năm ! Chính ở đấy mới chơi bời được !… » Và anh ta thở dài lấy làm tiếc.

Ngày hôm đó, chúng tôi phải ăn tối ở Puygarrig, tại nhà cha mẹ của cô vợ tương lai của Alphonse ; chúng tôi leo lên chiếc xe ngựa có mui xếp, và chúng tôi đi đến lâu đài, xa thị xã Ille khoảng một dặm rưỡi. Tôi được giới thiệu và đón tiếp như một người bạn của gia đình. Tôi không nói đến bữa ăn tối và cuộc nói chuyện sau đó mà tôi ít tham dự. Alphonse ngồi bên cạnh người vợ chưa cưới, cứ mười lăm phút thì anh ta thỏ thẻ với cô ấy một lần. Về phần cô thì cô chẳng nhìn lên, và mỗi lần vị hôn phu của cô nói chuyện, cô đỏ mặt với vẻ khiêm tốn, nhưng cô trả lời không chút lúng túng.

Cô de Puygarrig mười tám tuổi, dáng người uyển chuyển và mảnh mai, ngược lại với hình dáng xương xương, vạm vỡ của người hôn phu. Chẳng những cô đẹp mà còn hấp dẫn nữa. Tôi khâm phục cách trả lời rất tự nhiên của cô, và khâm phục cái vẻ đầy lòng tốt tuy nhiên có một chút ranh ma, điều này, dù tôi không muốn, nhắc cho tôi cái pho tượng Vénus của chủ nhà. Trong việc âm thầm so sánh, tôi tự hỏi cái vẻ đẹp xuất sắc của pho tượng mà mình phải nhìn nhận là đúng, phải chăng phần lớn là do cái sắc mặt hổ cái của nó, bởi vì mãnh lực ngay cả trong những nhiệt tình xấu xa, luôn luôn gợi cho ta một sự ngạc nhiên và một thứ khâm phục không chủ tâm.

« Tiếc thay cho một con người dễ thương đến thế, lại giàu có, tôi tự nhủ khi rời khỏi Puygarrig, và tiếc thay của hồi môn của cô làm háo hức một người đàn ông không xứng đáng với cô ! »

Khi trở lại Ille, tôi không biết nói gì với bà de Peyrehorade, tôi nghĩ rằng đôi khi tôi nên nói với bà vài lời cho có vẻ lịch sự. Tôi kêu lên :

« Quý vị là những người gan dạ thật ở vùng Roussillon ! Thưa bà, làm sao ông bà lại cho cử hành hôn lễ vào một ngày thứ sáu ! Ở Paris, chúng tôi dị đoan hơn ; không ai dám cưới vợ một ngày như thế.

– Trời ơi ! Thôi ông đừng nói nữa, bà trả lời, nếu chuyện đó chỉ tùy thuộc tôi, hẳn tôi sẽ chọn một ngày khác. Nhưng ông Peyrehorade đã muốn như thế, phải làm theo ý ông thôi. Tuy nhiên việc đó làm tôi buồn. Nếu có tai họa gì xảy ra thì sao ? Phải có một lý do chứ, bởi vì tại sao thiên hạ đều sợ ngày thứ sáu ?

– Ngày thứ sáu ! ông chồng bà la lên, là ngày của nữ thần Vénus ! Ngày tốt cho một hôn lễ ! Thưa ông bạn đồng nghiệp của tôi. Ông thấy không, tôi chỉ nghĩ đến nàng Vénus của tôi mà thôi ! Xin thề danh dự ! Vì nàng mà tôi đã chọn ngày thứ sáu. Ngày mai, nếu ông muốn, trước hôn lễ, chúng ta sẽ làm một chút lễ hiến sinh. Chúng ta sẽ dâng hiến nàng hai con chim bồ câu, và nếu tôi biết tìm đâu ra nhựa hương…

– Ối Trời ! Cái ông Peyrehorade này ! bà vợ cắt lời ông, bà công phẫn tột độ. Xông hương cho một tượng thần ! Một điều ghê gớm ! Thiên hạ trong vùng này sẽ nói sao về chúng ta ?

– Ít ra, ông de Peyrehorade nói, bà cũng cho phép tôi đặt trên đầu của pho tượng một vòng hoa hồng và hoa huệ chứ :

Manibus date lilia plenis. Dâng hoa huệ đầy tay (7).

Ông thấy chưa, thưa ông, hiến chương là một danh từ vô ích. Chúng ta không có tự do tín ngưỡng ! »

Những sắp xếp cho ngày hôm sau được quy định như thế này. Đúng mười giờ sáng, tất cả mọi người phải sẵn sàng và ăn mặc chỉnh tề. Sau khi đã uống sô cô la, mọi người đi xe ngựa đến Puygarrig. Lễ cưới dân sự sẽ cử hành ở nhà hành chính của làng, và lễ hôn phối sẽ cử hành ở nhà nguyện của lâu đài. Sau đó là bữa ăn trưa. Sau bữa ăn trưa, ai nấy đều tiêu khiển theo ý mình cho đến bảy giờ. Bảy giờ thì trở về Ille, tại nhà ông de Peyrehorade, nơi đây gia đình đôi bên cùng nhau ăn tối. Phần chương trình còn lại sẽ diễn ra một cách tự nhiên. Vì không thể khiêu vũ, người ta muốn ăn uống tối đa.

Từ tám giờ sáng, tôi đã ngồi trước tượng Vénus, tay cầm cây bút chì, tôi vẽ đi vẽ lại cái đầu của pho tượng, lần này là lần thứ hai mươi, mà không làm sao nắm được cái vẻ mặt. Ông de Peyrehorade đi lui đi tới xung quanh tôi, ông khuyên tôi thế này thế nọ, ông lặp lại cho tôi những từ nguyên của tiếng Phénicie ; rồi ông đặt hoa hồng của xứ Bengale trên bệ tượng, và với một giọng vừa bi vừa hài, ông đọc lên trước pho tượng những lời chúc cho đôi tân hôn sắp sống dưới mái nhà ông. Vào khoảng chín giờ, ông trở vào nhà để thay áo quần. Cùng lúc đó Alphonse xuất hiện, thân hình bó chặt trong một bộ đồ mới, tay mang găng trắng, giày đánh bóng, nút áo chạm giũa, một cánh hoa hồng cài ở lỗ khuy áo.

« Ông sẽ vẽ chân dung của vợ tôi chứ ? anh ta vừa nói vừa cúi xuống trên hình vẽ của tôi. Vợ tôi cũng đẹp đấy. »

Vào lúc này, trên sân chơi bóng quần, bắt đầu một trận đấu và lôi cuốn lập tức sự chú ý của Alphonse. Tôi thì mệt mỏi và tuyệt vọng không vẽ được cái gương mặt quỷ quái đó, tôi sắp bỏ hình vẽ để xem người ta chơi. Trong số những người tham dự trò chơi, có vài người Tây Ban Nha dắt la, họ đến từ hôm qua. Họ thuộc những miền Aragon, Navarre, hầu hết chơi rất khéo. Cho nên những người chơi thuộc thị xã Ille, mặc dù được cổ võ bởi sự hiện diện và lời khuyên của Alphonse, họ đã nhanh chóng bị những quán quân mới đến đánh bại. Khán giả bản xứ rụng rời. Alphonse nhìn đồng hồ. Chỉ mới chín giờ rưỡi. Mẹ anh chưa chải tóc. Anh không do dự nữa : anh cởi áo, yêu cầu người ta đưa cho anh một cái áo để chơi, và anh thách thức những người Tây Ban Nha. Tôi nhìn anh, mỉm cười, tôi hơi ngạc nhiên.

« Phải bảo vệ danh dự của xứ sở chứ », anh nói.

Thế là tôi nhận thấy anh đẹp thật. Anh đầy nhiệt huyết. Bộ áo quần của anh, lúc nãy làm anh quá ý tứ, cẩn thận, giờ đây chẳng còn là gì nữa. Mấy phút trước đây, anh không dám quay đầu vì sợ làm cái cà vạt không ngay. Bây giờ anh không còn nghĩ đến mái tóc quăn của anh, cũng không nghĩ đến những đường xếp được ủi thẳng ở ngực áo. Còn vị hôn thê của anh ư ?… Ôi ! Nếu cần thiết, anh dám cho dời ngày cưới lắm đấy, tôi nghĩ thế. Tôi thấy anh mang vội một đôi giày xăn đan, anh xắn tay áo lên, và với cái vẻ tự tin, anh ra đứng đầu cái phe bị thua, giống như César ngày xưa tập hợp quân lính ở Dyrrachium. Tôi nhảy qua hàng rào, và đứng ở một chỗ thuận lợi, dưới bóng một cây sếu, làm thế nào để thấy cả hai phe.

Ngược lại với sự chờ đợi của mọi người, Alphonse đánh hụt quả bóng đầu tiên ; thật ra quả bóng bay đến sát mặt đất, nó được một người gốc Aragon ném với một sức mạnh bất ngờ, người này có vẻ là người cầm đầu phe Tây Ban Nha. Ông ta khoảng bốn mươi tuổi, người khô đét và nóng nảy, cao sáu bộ, và nước da xanh xanh của ông ta có cái màu sậm gần như màu đồng thanh của tượng Vénus.

Alphonse nổi giận, ném cái vợt xuống đất.

« Chính cái chiếc nhẫn tai hại này, anh la lên, nó siết ngón tay tôi và làm tôi hụt quả bóng mà tôi có thể chộp dễ dàng ! »

Một cách khó khăn, anh cởi chiếc nhẫn có hột xoàn : tôi tiến lại để đỡ lấy, nhưng anh ra dấu cho tôi, anh chạy đến tượng Vénus, tròng chiếc nhẫn vào ngón tay đeo nhẫn của tượng, và anh trở lại cầm đầu phe Ille.

Mặt anh nhợt nhạt nhưng anh bình tỉnh, quả quyết. Kể từ đó, anh không phạm một lỗi nào, và những người Tây Ban Nha hoàn toàn bị đánh bại. Sự hào hứng của khán giả là một quan cảnh đẹp : có những người hò hét vui mừng và tung mũ lên trời ; những người khác siết tay Alphonse, gọi anh là niềm vinh dự của xứ sở. Nếu anh đẩy lui một cuộc xâm lăng, tôi ngờ rằng anh sẽ không nhận được những lời khen nhiệt liệt hơn, thành thực hơn. Nỗi buồn của kẻ thất bại làm cho cuộc chiến thắng càng thêm rạng rỡ.

« Chúng ta sẽ có những trận đấu khác, ông bạn dũng cảm của tôi ơi, Alphonse nói với một người gốc Aragon bằng một giọng trịch thượng ; nhưng tôi sẽ chấp các anh đấy. »

Tôi muốn Alphonse khiêm tốn hơn, và tôi gần như buồn phiền vì sự nhục nhã của đối thủ của anh.

Người khổng lồ Tây Ban Nha cảm thấy thấm thía sự lăng nhục đó. Tôi thấy anh ta xanh mặt dưới làn da sạm nắng. Anh ta vừa nhìn cái vợt với vẻ ủ ê vừa nghiến răng ; rồi bằng một giọng đục anh ta nói nhỏ : « Me lo pagaràs » (Rồi mày sẽ biết tay tao)

Tiếng nói của ông de Peyrehorade phá rối cuộc chiến thắng của con trai ông : ông chủ nhà rất ngạc nhiên không thấy con mình điều khiển việc chuẩn bị chiếc xe ngựa có mui xếp mới tinh, ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy cậu con đẫm mồ hôi, tay cầm cái vợt. Alphonse chạy về nhà, rửa mặt rửa tay, mặc lại bộ đồ mới và mang vào đôi giày đánh bóng. Năm phút sau chúng tôi đi nước kiệu trên con đường dẫn đến Puygarrig. Tất cả những người chơi bóng quần trong thị xã và một số đông khán giả đi theo chúng tôi với những tiếng reo hò. Những con ngựa khỏe kéo chúng tôi phải khó khăn mới vượt được những người vùng Catalogne gan dạ này.

Chúng tôi đang ở tại Puygarrig, và đoàn xe sắp sửa đi đến nhà hành chính, khi Alphonse vỗ trán, nói nhỏ với tôi :

« Bậy quá ! Tôi để quên chiếc nhẫn ! Nó mắc vào ngón tay của Vénus, khốn đốn thật ! Ít ra xin ông đừng nói với mẹ tôi nhé ! Có lẽ bà sẽ không nhận thấy gì.

– Anh có thể bảo ai về lấy chiếc nhẫn, tôi nói.

– Chà ! Người ở của tôi nó ở lại Ille, còn những đứa này tôi không tin cậy đâu. Một nghìn hai trăm quan hột xoàn ! Có thể cám dỗ nhiều người. Vả chăng, những người ở đây họ sẽ nghĩ gì về cái tính đãng trí của tôi ? Họ sẽ nhạo cười tôi dữ lắm ! Họ sẽ gọi tôi là người chồng của pho tượng… Miễn là người ta đừng ăn cắp chiếc nhẫn của tôi ! May thay cái tượng thần làm tụi ranh mãnh sợ. Chúng không dám đến gần đâu. Thôi ! Không sao ; tôi có một chiếc nhẫn khác. »

Hai nghi lễ dân sự và tôn giáo được diễn ra với vẻ long trọng thích đáng, và cô de Puygarrig nhận chiếc nhẫn của một cô ả bán mũ phụ nữ ở Paris, mà không ngờ rằng hôn phu của cô đã hy sinh để tặng cô một bằng chứng ái tình được dành cho anh ta. Rồi mọi người ngồi vào bàn tiệc, người ta ăn uống, cả hát hò nữa, tất cả kéo dài rất lâu. Tôi khổ cho cô dâu về những chuyện vui thô lỗ xung quanh cô : tuy nhiên cô giữ một thái độ vượt khỏi hy vọng của tôi, và vẻ lúng túng của cô không do tính vụng về hay kiểu cách.

Có lẽ tính can đảm nảy sinh trong những trường hợp khó khăn.

Nhờ Trời bữa ăn chấm dứt, lúc đó là bốn giờ chiều, đàn ông đi dạo trong khu rừng tuyệt đẹp, hay nhìn những phụ nữ nông thôn ở Puygarrig múa trên sân cỏ của lâu đài, họ mặc áo quần đẹp dành cho những ngày lễ. Chúng tôi đã trải qua vài giờ như thế. Trong khi các bà vồn vã vây quanh cô dâu, cô cho họ ngắm cái giỏ hoa. Rồi cô đi thay áo, và tôi để ý cô đội lên mái tóc đẹp của cô một cái nón vải và bên trên một cái nón có cài lông chim, bởi vì người phụ nữ không có gì vội vàng hơn là đội những đồ trang sức mà tục lệ không cho phép khi họ còn là thiếu nữ.

Gần tám giờ tối thì mọi người sẵn sàng trở về Ille. Nhưng trước hết xảy ra một cảnh thống thiết. Bà dì của cô de Puygarrig, thay thế mẹ cô, bà là một người đàn bà già nua và rất sùng đạo, bà không đi theo chúng tôi được. Trước lúc khởi hành, bà giảng cho cô cháu một bài đạo đức cảm động về nhiệm vụ người vợ, kết quả bài giảng của bà là bao nhiêu nước mắt tuôn rơi, và những cái hôn hít bất tận. Ông de Peyrehorade so sánh sự xa nhau này với sự bắt cóc các phụ nữ của dân Sabin ngày xưa bởi đàn ông La Mã để đem về làm vợ. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi cũng lên đường được, dọc đường mỗi người cố gắng làm cho cô dâu quên nỗi buồn, và làm cô cười, nhưng vô ích.

Ở Ille, bữa ăn tối đang chờ chúng tôi, và bữa ăn bực bội làm sao ! Nếu khi sáng những chuyện vui thô lỗ khiến tôi khó chịu, thì giờ đây tôi còn khó chịu hơn vì những cách nói lập lờ và những câu bông đùa mà đề tài đặc biệt là cô dâu chú rể. Trước khi ngồi vào bàn tiệc, chú rể vắng mặt một lúc, mặt mày anh tái nhợt và lạnh lùng. Mỗi lúc anh mỗi uống thứ rượu cũ sản xuất ở Collioure, mạnh gần bằng rượu trắng. Tôi ngồi bên cạnh anh, và tôi nghĩ cần phải cảnh cáo :

« Hãy coi chừng ! Người ta nói rằng rượu… »

Không biết tôi đã nói điều gì ngu ngốc để tỏ ra đồng tình với đám thực khách. Anh đẩy đầu gối tôi và nói rất nhỏ :

« Khi nào người ta đứng dậy rời bàn ăn… ông cho tôi nói với ông đôi lời. »

Giọng nói trịnh trọng của anh làm tôi ngạc nhiên. Tôi nhìn anh kỹ hơn, và tôi nhận thấy nét mặt của anh thay đổi một cách kỳ lạ.

« Anh có cảm thấy khó chịu trong người không ? tôi hỏi.

– Không. »

Và anh uống rượu trở lại.

Trong khi đó, giữa những tiếng reo hò và tiếng vỗ tay, một đứa bé mười một tuổi, chui xuống gầm bàn, nó đưa cho mọi người thấy sợi giây băng trắng và hồng nó vừa tháo khỏi mắc cá của cô dâu. Người ta gọi cái đó là giây nịt tất. Tức thì giây nịt tất được cắt thành miếng nhỏ để phát cho các thanh niên, để họ gắn vào lỗ khuy áo, theo một tục lệ xưa còn tồn tại trong vài gia đình theo chế độ phụ quyền. Một dịp để cô dâu đỏ mặt… Nhưng sự bối rối của cô lên đến cực điểm, khi ông de Peyrehorade đòi mọi người im lặng, để ngâm cho cô vài câu thơ ứng khẩu của xứ Catalogne, ông nói thế. Và đây là nghĩa của các câu thơ, nếu tôi hiểu rõ :

« Cái gì thế hởi các bạn ? Rượu tôi uống vào nó có làm cho tôi thấy gấp đôi không ? Ở đây có hai nàng Vénus… »

Thình lình chú rể quay đầu đi, vẻ hốt hoảng, làm mọi người cười.

« Vâng, ông de Peyrehorade nói tiếp, có hai nàng Vénus dưới mái nhà tôi. Một nàng tôi tìm được trong lòng đất như một cây nấm củ ; nàng kia từ trời xuống, vừa mới chia cho chúng ta giây nịt của nàng. »

Ông muốn nói giây nịt tất của nàng.

« Con trai tôi ơi, con hãy chọn giữa nàng Vénus La Mã và nàng Vénus xứ Catalogne người mà con thích. Cái thằng vô lại nó chọn nàng Catalogne, và cái phần của nó là tốt nhất. Nàng La Mã đen, nàng Catalogne trắng. Nàng La Mã lạnh lùng, nàng Catalogne làm cháy rực những gì đến gần nàng. »

Câu cuối cùng gây tiếng hoan hô rầm trời, những tràng pháo tay quá rầm rộ và những tiếng cười quá rền vang, đến nỗi tôi tưởng cái trần nhà sắp sập trên đầu. Xung quanh bàn chỉ có ba gương mặt nghiêm trang, gương mặt của đôi tân hôn và gương mặt của tôi. Tôi rất nhức đầu, và rồi không hiểu tại sao, một đám cưới bao giờ cũng làm tôi buồn. Vả lại, cái đám cưới này làm tôi hơi chán ghét.

Những đoạn thơ cuối do ông xã phó ngâm, và chúng được ngâm nhanh, tôi phải công nhận thế ; mọi người bước qua phòng khách để tiễn cô dâu, cô sắp sửa được đưa lên phòng, vì đã gần nửa đêm.

Alphonse kéo tôi vào góc một cửa sổ, anh vừa nói với tôi vừa nhìn nơi khác :

« Ông sẽ chế nhạo tôi… Nhưng không biết tôi bị gì… tôi bị mê hoặc rồi ! Ma hãy bắt tôi đi ! »

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là anh ta tưởng mình bị một tai họa nào đe dọa, kiểu những tai họa mà Montaigne và bà de Sévigné nói đến :

« Tất cả vương quốc của tình ái là đầy chuyện bi thảm, v.v… »

Tôi tưởng những loại tai họa đó chỉ xảy đến cho những kẻ trí thức, tôi tự nhủ thầm thế.

« Anh uống nhiều rượu Collioure quá, anh Alphonse, tôi nói. Tôi đã báo trước cho anh rồi mà.

– Vâng, có lẽ. Nhưng cái này nó còn ghê gớm hơn nữa. »

Anh ta có giọng nói ngắt quãng. Tôi tưởng anh ta hoàn toàn say rượu.

« Ông biết chiếc nhẫn của tôi chứ ? anh nói tiếp sau một hồi im lặng.

– Sao ? Người ta ăn cắp nó à ?

– Không.

– Vậy thì anh vẫn có nó ?

– Không… tôi… tôi không thể lấy nó ra khỏi ngón tay của cái con quỷ Vénus đó.

– Ờ ! Tại anh không kéo mạnh nó ra !

– Có chứ… Nhưng con Vénus… nó siết chặt ngón tay. »

Anh nhìn tôi chăm chăm, vẻ mặt nhớn nhác, anh vịn vào then móc cửa để đừng ngã.

« Chuyện hoang đường ! tôi nói. Anh đã đẩy quá sâu chiếc nhẫn. Ngày mai anh sẽ gỡ nó được với cái kìm. Nhưng coi chừng đừng làm hỏng pho tượng.

– Không, tôi đã nói với ông. Ngón tay của con Vénus nó thụt vào, nó cong lại ; nó siết bàn tay, ông hiểu tôi chứ ?… Nó là vợ tôi, có vẻ như thế, bởi vì tôi đã cho nó chiếc nhẫn… Nó không muốn trả lại tôi. »

Bỗng tôi thấy lạnh người, và trong giây lát tôi bị nổi da gà. Rồi, một tiếng thở dài lớn của anh ta thổi vào mặt tôi một hơi rượu, và mọi xúc động đều biến mất.

Cái thằng khốn kiếp, tôi nghĩ, nó say nhừ rồi.

« Thưa ông, ông là nhà khảo cổ, chú rể nói thêm bằng một giọng thảm thương, ông biết các pho tượng đó… có lẽ có một động lực nào, một ma thuật nào mà tôi không rõ… Ông đến xem được không ?

– Rất sẵn lòng, tôi nói. Anh hãy đi với tôi.

– Không, tôi thích ông đi một mình.

Tôi ra khỏi phòng khách.

Thời tiết đã thay đổi trong khi thiên hạ ăn uống, và bây giờ trời bắt đầu mưa xối xả. Tôi sắp đi mượn một cây dù, khi một ý nghĩ ngăn tôi lại. Tôi tự nhủ : « Tôi sẽ là một người rất ngu đần nếu tôi đi kiểm tra những gì một người say rượu nói ! Thêm nữa, có lẽ anh ta muốn đùa ác với tôi để những người dân lương thiện tỉnh nhỏ cười chơi ; và cái điều ít ra có thể xảy đến cho tôi là tôi sẽ bị ướt như chuột lột và bị một cơn cảm nặng… »

Từ ngưỡng cửa tôi liếc nhìn cái pho tượng đầm đìa nước mưa, và tôi lên phòng, tôi không vào phòng khách. Tôi đi nằm, nhưng khó ngủ. Tất cả những cảnh xảy ra trong ngày trở lại trong đầu tôi. Tôi nghĩ đến người thiếu nữ đẹp đến thế và trong trắng đến thế mà bị rơi vào tay một tên nghiện rượu tàn nhẫn. Tôi tự nhủ, một cuộc hôn nhân có sắp đặt, nó bỉ ổi làm sao ! Một ông xã trưởng đeo vào một cái băng chéo ba màu, một ông cha xứ đeo cái băng chéo để cử hành lễ, thế là đứa con gái chính trực nhất trên thế gian này bị nạp cho con quái vật Minautore ! Hai kẻ không yêu nhau có thể nói gì được với nhau trong những giây phút như thế, những giây phút mà một cặp tình nhân có thể trả giá bằng cả đời họ ? Một người phụ nữ có bao giờ yêu được một người đàn ông mà đã một lần cô chứng kiến sự thô lỗ ? Những cảm tưởng đầu tiên không thể bôi xóa được và, tôi chắc chắn điều đó, cái gã Alphonse này rất đáng bị căm ghét…

Trong khi tôi độc thoại, một độc thoại mà tôi rút ngắn rất nhiều, tôi nghe những tiếng chân qua lại rầm rầm trong nhà, những cánh cửa được mở ra, đóng vào, những chiếc xe khởi hành ; rồi hình như tôi nghe trong cầu thang những bước chân nhẹ nhàng của những người phụ nữ đi về phía đầu mút hành lang đối diện với phòng tôi. Hẳn là đoàn người đưa cô dâu đến giường. Sau đó họ đi trở xuống cầu thang. Cánh cửa phòng bà de Peyrehorade đóng lại. Cái cô gái tội nghiệp đó, tôi nhủ thầm, chắc phải luống cuống và khó chịu biết chừng nào. Tôi trăn trở trong giường, bực bội. Một thanh niên đóng vai trò ngu ngốc trong ngôi nhà vừa có một hôn lễ.

Trong nhà đã im lặng từ một lúc, khi có tiếng chân nặng nề đi lên cầu thang. Những bậc bằng gỗ kêu răn rắc rất mạnh.

« Cái thứ người thô lỗ ! tôi kêu lên. Tôi đoán chắc là gã ta sẽ ngã trong cầu thang cho mà xem. »

Tất cả đều trở lại yên tĩnh. Tôi vớ lấy một cuốn sách để thay đổi trong đầu óc. Đây là một bản thống kê của tỉnh, được tăng thêm với cái tiểu luận của ông de Peyrehorade về những công trình lịch sử của các đạo sĩ thời nền văn minh Celte, những công trình này ở quận Prades. Đọc đến trang thứ ba thì tôi thiu thiu ngủ.

Tôi ngủ không được ngon giấc và thức dậy nhiều lần. Lúc đó có thể là năm giờ sáng, khi gà gáy, tôi thức tỉnh đã hơn hai mươi phút. Mặt trời sắp mọc. Lúc bấy giờ tôi nghe rõ ràng cũng những tiếng chân nặng nề đó, cũng tiếng răn rắc trên cầu thang mà tôi đã nghe trước khi ngủ. Điều này có vẻ kỳ lạ. Vừa ngáp tôi vừa cố đoán tại sao Alphonse dậy sớm đến thế. Tôi không tưởng tượng được điều gì có thể là thực. Tôi sắp sửa khép mắt lại khi tôi chú ý một lần nữa đến những tiếng giậm chân lạ lùng và rồi chẳng bao lâu pha lẫn với tiếng chuông leng keng và tiếng cửa mở rầm rầm, rồi tôi nghe những tiếng la khó phân biệt.

« Chắc là anh chàng nghiện rượu đã đốt nhà đâu đây ! » tôi thầm nghĩ và nhảy ra khỏi giường.

Tôi mặc áo quần nhanh chóng và ra ngoài hành lang. Từ cái mút đầu kia có những tiếng kêu la, than khóc và một tiếng la đau xé trội hẳn trên những tiếng khác : « Con trai tôi ơi ! Con trai tôi ơi ! » Đương nhiên là một tai họa đã xảy ra cho Alphonse. Tôi chạy lại phòng đôi tân hôn : nó đông nghẹt người. Cái quang cảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là người thanh niên mặc quần áo phân nửa, nằm ngang trên giường, thành giường bị gẫy. Anh ta nhợt nhạt, bất động. Mẹ anh khóc và kêu la bên cạnh anh. Ông de Peyrehorade hối hả, ông xoa nước hoa Eau de Cologne  hai bên thái dương cho con, người ta thoa muối amoni dưới mũi. Khổ thay, con trai ông chết đã từ lâu. Trên chiếc đi văng, ở cuối phòng, cô dâu cả người bị co giật một cách khủng khiếp. Cô thốt lên những tiếng kêu không thành tiếng, và hai người gái giúp việc to khoẻ phải vất vả lắm mới giữ cô lại được.

« Trời ơi ! tôi la lên, cái gì đã xảy ra thế ? »

Tôi đến gần giường và đỡ lên cái thân thể của người thanh niên xấu số ; người anh đã cứng đơ và lạnh ngắt. Răng anh nghiến lại và mặt anh đen sì biểu hiện những kinh hoàng ghê gớm. Thấy rõ là cái chết của anh dữ dội và cơn hấp hối khủng khiếp. Tuy nhiên không một vết máu nào trên áo quần. Tôi vén áo sơ mi anh và thấy trên ngực một cái dấu trắng nhợt kéo dài trên xương sườn và trên lưng. Tưởng chừng anh bị siết chặt trong một cái vòng sắt. Chân tôi đạp trên một cái gì cứng trên tấm thảm ; tôi cúi xuống và thấy chiếc nhẫn hột xoàn.

Tôi kéo ông de Peyrehorade và vợ ông vào phòng của họ ; rồi tôi cho người đưa cô dâu vào.

« Ông bà còn một đứa con gái, tôi nói, ông bà phải săn sóc cô. » Thế rồi tôi để họ ở đấy.

Không nghi ngờ gì nữa, Alphonse là nạn nhân một cuộc ám sát mà những kẻ gây ra đã tìm cách lẻn vào phòng cô dâu ban đêm. Tuy nhiên tôi rất lúng túng với những vết bầm ở ngực và hình tròn của chúng, bởi vì một cây gậy hay một thanh sắt không thể làm ra những vết bầm như thế. Bỗng nhiên tôi nhớ có nghe nói rằng ở Valences có bọn giết thuê dùng những cái túi dài bằng da đựng đầy cát mịn để đánh chết những người mà người ta thuê chúng giết. Tức thì tôi nhớ đến người dắt la gốc Aragon, thuộc Tây Ban Nha, và lời đe dọa của anh ta ; tuy nhiên, tôi khó tưởng tượng anh ta trả thù một cách ghê gớm đến thế vì một câu bông đùa.

Tôi đi quanh trong nhà, tìm khắp nơi những dấu vết bẻ khóa mà không tìm thấy gì. Tôi đi xuống vườn để xem bọn sát nhân có lẻn vào phía này không ; nhưng tôi không tìm ra một dấu hiệu nào chắc chắn. Vả lại trận mưa đêm hôm trước đã làm ướt sũng mặt đất đến mức không còn vết ấn rõ rệt. Tuy thế, tôi nhận thấy có vài bước chân in sâu vào đất ; những bước chân đi theo hai hướng ngược nhau, nhưng cùng trên một đường thẳng, đi từ góc hàng rào giáp với sân bóng quần đến cửa nhà. Có thể là bước chân của Alphonse khi anh đi lấy chiếc nhẫn ở ngón tay của pho tượng. Mặt khác, nơi đó hàng rào thưa hơn nơi khác, có lẽ bọn sát nhân đã bước qua hàng rào ngay chỗ đó. Khi đi qua đi lại trước pho tượng, tôi dừng chân một lúc để nhìn nó. Lần này, tôi xin thú thật, tôi không thể nhìn vẻ mặt độc ác, mỉa mai của nó mà không hãi hùng ; và trong đầu tôi đầy những cảnh khủng khiếp mà tôi vừa chứng kiến, tôi tưởng chừng đang thấy một hung thần vỗ tay hoan hô cái tai họa đổ xuống nhà này.

Tôi trở về phòng và ở đấy đến trưa. Rồi tôi ra khỏi phòng và hỏi thăm về hai vị chủ nhà. Họ trở nên bình tâm hơn một chút. Cô de Puygarrig, tôi phải nói bà góa phụ của Alphonse, đã tỉnh lại. Bà đã trả lời ngay cả với ông biện lý của vua ở Perpignan, lúc bấy giờ ông biện lý đang đi kinh lý ở thị xã Ille, và ông quan tòa này đã nhận lời khai nhân chứng của bà. Ông yêu cầu tôi nộp lời khai của tôi. Tôi nói với ông những điều tôi biết, và tôi không giấu ông những nghi ngờ của tôi đối với người dắt la ở Aragon. Ông biện lý ra lệnh bắt người đó ngay lập tức.

« Thưa, ông có biết được điều gì do bà Alphonse khai không ? tôi hỏi ông biện lý của vua khi tôi đã viết xong và ký tên tờ khai nhân chứng của tôi.

– Người phụ nữ khốn khổ đó đã hóa điên, ông nói với nụ cười buồn. Điên ! Hoàn toàn điên. Và đây là lời bà ấy kể :

Bà ấy đã nằm xuống được vài phút, bà nói, các bức màn được kéo xuống, khi cánh cửa phòng bật mở, có người vào. Thế rồi bà Alphonse đang nằm trong khe giường, mặt quay vào tường. Bà không cử động vì bà đinh ninh rằng đó là chồng bà. Một lúc sau cái giường kêu răn rắc làm như nó chịu một sức nặng to lớn. Bà ấy khiếp đảm, nhưng không dám quay đầu lại. Năm phút, có lẽ mười phút… đã qua đi như thế, bà ấy không ý thức được thời gian. Rồi bà có một cử động vô ý, hay là cái người nằm trong giường đã cử động, và bà cảm thấy có cái gì lạnh như nước đá chạm vào bà, đó là lời bà nói. Bà chui vào khe giường, tay chân run rẩy. Ít lâu sau, cánh cửa bật mở lần thứ hai, có người đi vào và nói : « Chào cô vợ bé nhỏ của anh. » Chẳng bao lâu các bức màn được kéo lên. Bà nghe một tiếng kêu bị ngạt thở. Người nằm trong giường, bên cạnh bà, ngồi dậy và có vẻ đưa hai cánh tay về phía trước. Lúc bấy giờ bà quay đầu lại… và bà nói bà thấy chồng bà quỳ gối cạnh giường, cái đầu ngang với chiếc gối, giữa hai cánh tay của một thứ người khổng lồ màu lục nhạt đang mãnh liệt ghì chồng bà. Bà nói, và bà lặp đi lặp lại hai mươi lần, tội nghiệp bà !… bà nói rằng bà nhận ra… ông đoán là gì không ? Cái tượng Vénus bằng đồng thanh, pho tượng của ông de Peyrehorade ấy mà… Từ ngày pho tượng ở trong vùng này, ai nấy đều mơ đến nó. Nhưng tôi tiếp tục câu chuyện của người phụ nữ khốn khổ hóa điên đây. Trước quang cảnh đó bà ngất xỉu, và hẳn là bà đã mất trí từ một lúc rồi. Bà không thể nói trong bao lâu bà ở trong tình trạng ngất xỉu như thế. Khi tỉnh lại, bà lại thấy con ma, hay pho tượng, như bà vẫn nói, nó bất động, hai chân và phần dưới của thân thể ở trên giường, nửa thân trên và hai cánh tay dang ra phía trước, và chồng bà ở giữa hai cánh tay của nó, không cử động. Có con gà gáy. Lúc bấy giờ pho tượng ra khỏi giường, để xác chết nhào xuống và đi ra. Bà Alphonse giật chuông lia lịa, và chuyện còn lại thì ông đã biết. »

Người ta đưa vào người Tây Ban Nha thuộc vùng Aragon, anh ta bình thản và tự bào chữa mình một cách rất bình tĩnh và nhanh trí. Vả chăng, anh ta không chối đã thốt ra lời mà tôi nghe được, nhưng anh ta giải thích bằng cách cho rằng anh ta không muốn nói gì khác hơn là ngày hôm sau, khi anh ta đã nghỉ khoẻ, anh ta sẽ thắng lại người đã thắng anh ta. Tôi nhớ anh ta còn thêm :

« Một người xứ Aragon, khi họ bị lăng nhục, họ không chờ ngày hôm sau để trả thù. Nếu tôi tưởng rằng ông Alphonse muốn nhục mạ tôi, tôi đã đâm vào bụng ông ấy ngay lập tức với con dao của tôi rồi. »

Người ta so sánh giày của anh ta với những dấu chân trong vườn ; giày của anh ta lớn hơn nhiều.

Cuối cùng người chủ quán trọ, nơi người đàn ông đó ở, quả quyết rằng suốt đêm anh ta xoa bóp một con la bị bệnh và chữa thuốc cho nó.

Vả lại, người xứ Aragon đó là một người đàn ông có tiếng tốt, được nhiều người trong vùng biết, anh ta đến đây mỗi năm để buôn bán. Vậy họ thả anh ta ra với những lời xin lỗi.

Tôi quên lời khai của một người tôi tớ, người này là người cuối cùng đã thấy Alphonse khi còn sống. Đó là vào lúc anh đi lên phòng của vợ và gọi người đầy tớ hỏi với vẻ lo lắng rằng anh ta có biết tôi ở đâu không. Người đầy tớ trả lời rằng anh ta chẳng thấy tôi đâu cả. Thế rồi Alphonse thở dài mà không nói gì trong hơn một phút, rồi anh nói : « Thôi, ma quỷ cũng đưa ông ấy đi mất đất rồi ! ». Tôi hỏi người đầy tớ Alphonse có đeo chiếc nhẫn hột xoàn khi nói chuyện với anh ta không. Anh ta do dự không trả lời, cuối cùng anh ta nói anh ta không nghĩ là có, vả chăng anh ta không hề chú ý điều đó. Anh ta nói thêm :

« Nếu ông có đeo chiếc nhẫn ở tay, thì chắc là tôi đã để ý, bởi vì tôi tưởng ông đã tặng bà Alphonse chiếc nhẫn rồi. »

Khi tôi chất vấn người đàn ông đó, tôi cảm thấy chút sợ hãi dị đoan mà lời khai của bà Alphonse đã truyền khắp trong nhà. Ông biện lý của vua nhìn tôi mỉm cười, và tôi tránh không vặn hỏi nữa.

Vài giờ sau lễ an táng Alphonse, tôi chuẩn bị rời thị xã Ille. Xe của ông de Peyrehorade sẽ đưa tôi đến Perpignan. Mặc dù tình trạng suy yếu của ông, ông già tội nghiệp cũng muốn tiễn đưa tôi đến cái cửa vườn. Chúng tôi im lặng đi qua vườn, ông hơi lê đôi chân và vịn vào cánh tay tôi. Khi chúng tôi từ giã nhau, tôi liếc nhìn lần cuối cùng cái tượng Vénus. Mặc dù ông chủ nhà không sợ hãi và căm ghét cái pho tượng như nó đã làm cho một phần trong gia đình ông sợ hãi căm ghét, tôi tiên đoán rằng ông sẽ có ý muốn tống đi một đồ vật không ngừng nhắc cho ông một tai họa ghê gớm. Chủ ý của tôi là cổ võ ông để cái pho tượng trong một viện bảo tàng. Tôi ngập ngừng để vào đề, khi ông de Peyrehorade quay đầu như cái máy về phía tôi đang nhìn chăm chăm. Ông thấy pho tượng, tức thì ông òa khóc. Tôi hôn ông và tôi leo lên xe mà không dám nói với ông một lời nào.

Từ lúc tôi ra đi, tôi không biết thêm điều gì có thể làm sáng tỏ cái thảm họa huyền bí đó.

Ông de Peyrehorade lìa đời sau con trai ông vài tháng. Theo di chúc của ông, ông để lại cho tôi những bản thảo của ông mà có lẽ một ngày kia tôi sẽ cho xuất bản. Tôi không tìm thấy bài tiểu luận liên quan đến mấy câu khắc trên pho tượng Vénus.

Tái bút. Ông bạn de P. của tôi vừa viết thơ cho tôi từ Perpignan cho hay pho tượng không còn nữa. Sau khi chồng bà chết, việc làm đầu tiên của bà de Peyrehorade là cho nung chảy cái tượng và đúc nó thành cái chuông, và dưới hình thức mới, pho tượng có ích cho nhà thờ. Nhưng ông de P. nói thêm, hình như một số phận xui xẻo đã đeo đuổi những ai sở hữu cái đồng thanh đó. Từ khi người ta đánh cái chuông ở Ille, nho trong vùng bị hư hại hai lần vì giá lạnh.

                                                                                        Prosper Mérimée (1803-1870)

                                                                                     Nguyên tác La Vénus d’Ille (1837),

                                                         Trích từ tập truyện Colomba et dix autres nouvelles, Gallimard, 1964.

Chú thích :

  • Coustou là tên của ba nhà điêu khắc thế kỷ 17-18 : Nicolas Coustou, tác giả tượng Đức Mẹ thương xót ở nhà thờ Notre Dame de Paris. Người em là Guillaume Coustou, tác giả pho tượng Ngựa Marly ở viện bào tàng Louvre, và một tượng đúc Ngựa Marly ở ngay quảng trường Concorde Paris. Con của Guillaume Coustou là Guillaume II Coustou, tác giả cái lăng Dauphin ở thành phố Sens.
  • Trích từ kịch bản Amphitrion của Molière.
  • « Ngươi sẽ không biết những món quà của Vénus », trích từ sử thi Énéide của Virgile.
  • Bộ (pied) : đơn vị đo lường. Một bộ là khoảng hơn 30 phân.
  • Toa (toise) : đơn vị đo chiều dài bằng khoảng 6 bộ, tức gần 2 thước
  • Theo truyền thuyết, Vénus trả thù Diomède bằng cách hóa thân những người bạn của Diomède thành chim trắng.
  • Trích sử thi Énéide của Virgile.

CÁI BÓNG TRÊN MÁ

Từ trên chiếc tàu đưa anh về Island, Niels Jacobsen đưa mắt tìm trong đám cha mẹ, bà con và bạn bè tụ họp trên bến tàu, hình dáng Maria Bormann, hôn thê của anh, một cách vô hiệu. Thế nhưng anh trở về là chỉ vì cô ấy. Anh đã bỏ ngang cuộc du lịch ở Âu châu bởi vì cách đây sáu tháng bỗng nhiên Maria ngưng viết thư cho anh, sau khi đã cho anh quen nhận được mỗi tuần một bức thư âu yếm nhất, viết với một tấm lòng tha thiết nhất. Gia đình anh tránh đáp những câu hỏi tuyệt vọng của anh, anh chỉ biết cô còn sống, vì anh không thấy tên cô trên danh sách những người đã qua đời đăng trên tờ báo của Reykjavik. Anh có nghĩ đến việc không cập bến nước này, nơi mà có lẽ anh sẽ gặp cô đang quàng tay một người đàn ông khác. Nhưng vì những tiếng chuông thánh thót vang lên từ những gác chuông bằng gỗ, vì những mỏm đá bên bờ biển tròn lại dưới một ánh sáng êm dịu, vì những tiếng chó sủa quen thuộc, với lại Niels không có can đảm trốn cái quê hương tội nghiệp kia đã được trang hoàng như ngày lễ để tiếp đón anh.

Cha mẹ anh vừa hôn anh vừa khóc, nhưng khi anh thử tìm hiểu trong đôi mắt của hai đấng sinh thành, ngày hôm đó và những ngày sau, anh cảm thấy họ quyết tâm giữ bí mật. Vì kính trọng họ, và cũng vì kiêu hãnh về một nỗi tuyệt vọng mà anh khó giữ kỹ, anh không tìm hiểu điều đó với kẻ khác nữa. Trọn năm trôi qua một cách đau đớn.

Nhưng những tuyệt vọng do tình yêu gây nên chắc chắn đưa chúng ta trở về lại với tình yêu. Niels không còn đủ sức cưỡng lại một mối tình. Gerta Bruble, cô em họ của anh, đến nghỉ hè ở Reykjavik ; nụ cười, cử chỉ nghiêm trang, giọng nói ân cần và mệt mỏi của cô làm anh nhớ tiếng cười và lòng nhiệt thành của Maria, như một tiếng vọng kín đáo và đầy thương yêu. Vì Gerta trở nên quá thân thiết nên anh không chịu rời cô ta, và người ta làm hôn lễ cho đôi lứa vào mùa xuân.

Axel, một bác sĩ trẻ tuổi, người Thụy điển, mà Niels đã quen biết ở đại học Copenhague, đến viếng Island nhân dịp đám cưới của anh. Niels làm hướng dẫn viên cho Axel, và lần đầu tiên anh mạo hiểm đi xa thành phố Reykjavik, khi thì hướng về phía bắc, đến tận trung tâm của hòn đảo, đến những cái hồ đóng băng mà mây che khuất, khi thì đến vùng chài lưới, đến những vách đá ngoài bờ biển, ở phía đông, nơi có những bệnh viện kiểu mẫu mà Axel nhất thiết muốn thăm viếng. Họ nói chuyện lâu với những bệnh nhân đang phục hồi sức khỏe, giọng nói Thụy điển của người bác sĩ trẻ làm cho những người này vui lên.

Một buổi chiều khi sự yên tĩnh lạnh lẽo, sáng chói và dày đặc như tuyết, bao phủ nền trời, biển cả và các bãi chăn thì Axel và vợ chồng Niels đi ngang qua một trung tâm trị bệnh phong. Người giám đốc mới, ông Nansen, đã từng là học trò của thân phụ Axel, và họ ghé vào để chào ông. Trong khi Gerta giúp bà Nansen đun nước pha trà thì ông bác sĩ già đưa khách đi ngang qua những căn phòng rộng rãi có những khung cửa lớn hướng ra bầu trời và biển cả vô tận. Trong các hành lang màu xanh, trên đá lát tráng men, trong các nếp màn cửa, đâu đâu cũng tràn đầy ánh sáng và sự thanh thản, đến nỗi Niels và Axel quên khuấy đi sự khủng khiếp của căn bệnh tàn nhẫn đã đày các nạn nhân vào ở nơi này. Trong hành lang thứ nhất, vài đứa trẻ, mặt mày còn nguyên vẹn, tay mang găng, chân quấn trong những đôi dép to tướng, đang chơi một cách thầm lặng và ngây ngô, chúng hướng về khách lạ những cặp mắt đầy ngờ vực, làm như chúng sợ sức khỏe của họ. Rồi đến lượt căn phòng của đàn ông, gương mặt của những người này bị bệnh phong ăn mòn một cách khiếp đảm, chỉ có một người ngồi trong góc có gương mặt bị băng bó và đeo kính đen. Đó là người con trai khi xưa nổi tiếng đẹp trai và giờ đây không chấp nhận tình trạng mắc bệnh phong của mình. Ngày nọ, không biết làm sao mà anh ta kiếm ra được một cái gương và cho tất cả các bạn mượn vì muốn trả thù.

Phòng của phụ nữ ở cuối hành lang, xung quanh có những ngôi vườn. Khi nghe cánh cửa bật mở, cả năm người phụ nữ thình lình đứng dậy, họ sắp hàng, quay lưng với những người lạ mặt, họ nhìn ra biển. Khách càng đi qua gần họ, họ càng xoay người bằng một cử động do bản năng thúc đẩy, để người ta không nhìn thấy được ngay cả phía nghiêng của mặt họ. Bỗng nhiên Niels ngừng lại. Hình như trong người đàn bà phía tay phải anh nhận ra được Maria, hôn thê đầu tiên của anh. Vì quá ghê sợ, anh chạy theo mấy ông bạn ; nhưng khi ra đến cửa, anh không chịu đựng được một sự ngờ vực còn ghê gớm hơn sự thật, nó sẽ ám ảnh đời anh. Anh đứng lại, nhìn chăm chăm những người phụ nữ đang đứng im lìm, cái đầu bị thương của họ gục xuống ngực và bị ánh nắng biến thành những cái bóng đen chạy dài đến chân anh.

Đúng là tóc màu hạt dẻ của Maria, mái tóc quá dày đã làm gẫy tất cả các chiếc lược. Đúng là cái gáy của cô luôn luôn khỏe, căn ra, hơi cúi xuống trước sức nặng của đau khổ. Đúng là đôi vai của cô mập tròn khiến cô đưa cánh tay lên một cách khó khăn để hái trái xơ ri ; đúng là cái thân thể đó mềm mại gập lại trên đầu gối và trên hông mà khi xưa anh thích bắt gặp khi anh nhón gót đến gần và đặt tay lên mắt cô. Và kẻ phụ bạc chính là anh.

Người con gái mà anh nghi ngờ nay đã từ biệt mọi hạnh phúc, mọi hy vọng. Bị chôn vùi mãi mãi, có lẽ cô chạm phải mỗi ý tưởng, mỗi đồ vật như một người chết trỗi dậy dưới ngôi mộ tối tăm nhất.

– Maria ơi ! Maria ơi ! Niels hét lên.

Tất cả các người phụ nữ đều giật mình. Tiếng dội nào đó nghe xé ruột của một thế giới mà họ khó quên được mặc dù đã bao năm im lặng ?

– Maria ơi ! Niels lặp lại. Hôn thê của anh ơi !

Lần này, không một người phụ nữ nào cử động. Có lẽ, có lẽ không phải là cô ấy. Vả lại tại sao đóng kịch một cách đau đớn như thế ? Tại sao anh lại đến với những người phụ nữ không còn sống nữa, và tại sao anh la lên một cái tên có thể là tên của một người trong số họ, cái tên gợi lên những mùa hoa quả và hương thơm, gợi lên những ngày lễ và ánh nắng gắt mà khi xưa họ tránh để da mặt khỏi bị vết tàn nhang ? Khi thốt ra cái tên đó với giọng nồng nhiệt của anh, Niels cũng có tội như người đã mở ra phía biển cái lồng ở trong có những con chim mù. Tính tò mò điên rồ nào đã thúc đẩy anh, và nếu những người phụ nữ kia quay lại anh với gương mặt bị tàn phá của họ, làm sao anh có thể xin lỗi vì anh chỉ biết có sức khỏe và đã phô trương cái sức khỏe đó trước mặt họ, như để trả thù, như người đàn ông kia đã đưa ra cái gương ?

Nhưng cánh cửa bật mở. Axel lo lắng tìm bạn.

– Niels, anh ta gọi, nhanh lên. Vợ anh đang chờ đấy !

Thế rồi cái dáng người giống Maria ngồi sụp xuống. Cô che lấy mặt với hai tay, gương mặt mà ánh nắng không còn đủ để làm cái bóng che khuất. Một tiếng thổn thức giật giật và lặng lẽ lay lắt người cô, lan qua các bạn cô đang đứng, tay cầm cái suốt hình thoi quấn chỉ bây giờ trở nên vô ích, như những Nữ Thần Định Mệnh khi cái chết đi qua.

Niels đâm ra ngây dại, để người bạn dẫn ra xe. Anh nắm cương ngựa và cho xe chạy dọc theo núi đá, trên con đường nhô cao trên vực thẳm, mà không để ngựa trượt chân. Nhưng khi về đến nhà Niels đau nặng. Anh nằm liệt giường trong sáu tháng trời, lẵng lặng, đôi mắt sợ hãi chăm chăm nhìn Gerta, trong đôi mắt mà nỗi đau đớn làm cho ngày càng mở to, bóng tối lớn dần như một cơn bệnh tàn nhẫn.

Và anh từ giã cõi đời vào mùa thu.

Jean Giraudoux

Nguyên tác : « L’ombre sur les joues »

Trích từ tập truyện « Les contes d’un matin »,

                                      Nxb. Gallimard, 1952.