PICASSO VÀ TRƯỜNG PHÁI LẬP THỂ

Khi tôi vẽ, tôi luôn luôn thử đưa ra một hình ảnh mà người ta không chờ đợi và phải là một hình ảnh khá nặng nề để không đáng được chấp nhận. Chính điều đó làm tôi thích. Và trong cái nghĩa đó, tôi muốn làm kẻ lật đổ. Nghĩa là tôi đưa ra cho người ta một hình ảnh của thiên nhiên và của chính họ. (1)

Lời tuyên bố trên đây của Picasso khẳng định một cuộc cách mạng về hội họa. Cuộc cách mạng mang tên « Lập thể ». Lật đổ cách thưởng thức hội họa của mọi người, buộc người xem tranh có một cái nhìn khác, bao quát cả những khía cạnh của đồ vật hay nhân vật ngay cả khi những khía cạnh đó không có trước mắt. Chúng ta quen nhìn một bức tranh trên mặt phẳng, thế nhưng Picasso cho chúng ta thấy chẳng hạn một gương mặt nhìn nghiêng nửa mặt, nhưng lại thấy cả con mắt của bên nửa kia, phía đáng lẽ không trông thấy. Cho nên người xem kinh ngạc, sững sờ, khó chấp nhận. Cách mạng chính là ở đó.

Pablo Picasso và Georges Braque được xem như những danh họa đã thành lập trào lưu lập thể là một trào lưu nghệ thuật xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, đã tạo nên một cuộc cách mạng trong các ngành hội họa, điêu khắc, và ảnh hưởng đến kiến trúc, văn chương và âm nhạc.

Nếu chỉ nói riêng về văn chương, thì ảnh hưởng của hội họa lập thể thấy rõ trong tập thơ Alcools của nhà thơ Guillaume Apollinaire, xuất bản năm 1913. Trong tập thơ này, đáng chú ý là sự trà trộn những thời của động từ (thời quá khứ, thời hiện tại…), sự chằng chịt của các hình thái tu từ và không có chấm phết ; tất cả những đặc tính đó nói lên một cảm xúc chóng thay đổi, thể hiện qua nhiều điểm nhìn trong một bài thơ, đến nổi người đọc không còn biết ai nói, nói về gì, và không biết nghĩa của bài thơ. Với những đặc điểm đó, tập thơ Alcools của Apollinaire nhấn mạnh cảm tưởng tự do và sức ép của rượu. Tác giả đã đề tặng Picasso nhiều bài thơ trong tập này.

Pablo Picasso sinh năm 1881 tại Malaga, ở Tây Ban Nha, nhưng phần lớn cuộc đời của ông, ông sống ở Pháp. Thân phụ của Picasso là một giáo sư dạy môn vẽ ở các Trường Mỹ Thuật ở La Corogne và ở Madrid. Do đó Picasso được người cha khuyến khích, nâng đỡ trong việc trau dồi hội họa.

Năm 1900, Picasso dự một cuộc triển lãm ở Barcelone với một loạt chân dung. Bức tranh của Picasso mang tên Les Derniers Moments là một trong những họa phẩm được chọn để đại diện cho Tây Ban Nha dự cuộc Triển Lãm Thế giới ở Paris.

Những họa phẩm lập thể được sáng tạo ở Pháp và trải qua ba thời kỳ : tiền lập thể, lập thể phân tích, thời kỳ chịu ảnh hưởng của danh họa Cézanne (1910-1912), và lập thể tổng hợp (1912).

Làm sao trên một khung vải với hai chiều kích, làm hiện ra tất cả tính phức tạp của những cái khối ? Ngành hội họa đã bước vào thời hiện đại khi những họa phẩm trình bày các đồ vật đã được phân tích, tách rời các yếu tố, rồi tập hợp lại thành một bức tranh, tưởng chừng người nghệ sĩ làm tăng thêm những góc nhìn khác nhau. Và những họa phẩm tạo lại những hình của hình học.

Kể từ năm 1907, Picasso và Georges Braque sáng tạo nhiều theo lối vẽ lập thể, và trào lưu lập thể lên đến tuyệt đỉnh, trong thời kỳ lập thể phân tích (1910- 1912). Trào lưu lập thể bị gián đoạn bởi Đệ Nhất Thế chiến, rồi hoạt động trở lại đến năm 1920.

Theo Gilles Plazy, một trong những cây bút viết tiểu sử của Picasso thì « Trào lưu lập thể, thực ra, Picasso và Braque bất cần. Họ không tìm cách lập một trường phái và họ không liên hệ gì đến những đồ đệ. Họ lo cho họa phẩm của họ, lo cho công việc của họ, mà không tìm cách áp đặt phong cách của mình cho bất cứ ai. » (2)

Riêng sáng tạo nghệ thuật của Picasso, vào lúc đầu, có hai thời kỳ : thời kỳ xanh và thời kỳ hồng.

Thời kỳ xanh (1901-1904) khi Picasso mới ngoài 20 tuổi. Gọi là thời kỳ xanh, vì màu xanh trội nhất trong các bức tranh của Picasso thời đó. Thời kỳ xanh bắt đầu với vụ tự tử của Carlos Casagemas, người bạn thân của Picasso. Những bức tranh được vẽ theo các chủ đề sầu buồn, cái chết, tuổi già và sự nghèo khốn. Picasso vẽ những người ăn xin, những người mù, dưới ảnh hưởng của danh họa Greco.

Thời kỳ hồng (1904-1906) : Kể từ năm 1906, Picasso sống ở Paris, tại khu nhà của nghệ sĩ Bateau-Lavoir. Bateau-Lavoir tọa lạc trên đồi Montmartre, tại số 13 Quảng trường Emile Goudeau, quận 18 Paris. Kể từ năm 1904, Bateau-Lavoir là nơi chẳng những nhiều nghệ sĩ về hội họa, điêu khắc thuộc tứ xứ đến cư ngụ, hội họp và sáng tạo, mà còn là nơi gặp gỡ, hội họp của các nhà văn, nhà thơ, nhà kịch nghệ và những nguời buôn tranh. Trong thời kỳ hồng này, Picasso dùng những màu hơi đỏ, không còn những chủ đề buồn sầu, chết chóc nữa, mà là những chủ đề vui tươi và trăn trở cho sự hiện hữu trên đời, đây là thời kỳ của tình yêu. Picasso hướng về đề tài sở thú, rạp xiếc, và vẽ những mặt nạ, những vai hề, những người tập luyện thú vật. Người nghệ sĩ quan tâm đến nét vẽ hơn là màu sắc.

Năm 1905 đánh dấu nhiều biến cố. Trước hết Picasso quen biết với nhà thơ Guillaume Apollinaire, giữa hai nhà nghệ sĩ nảy sinh một tình bạn lâu dài. Picasso cũng quen biết với nhà văn, nhà phê bình nghệ thuật André Salmon và danh họa Amedeo Modigliani. Picasso tham gia cuộc triển lãm tại Galerie Serrurier với những bức tranh thời kỳ hồng. Vào mùa xuân năm đó, Picasso vẽ bức tranh Les Saltimbanques (Những người làm trò ảo thuật rong). Mùa hè, nhân một chuyến đi qua Hòa Lan, Picasso vẽ Les Trois Hollandaises. Qua mùa thu, cuộc gặp gỡ Gertrude và Leo Stein là một biến cố về sau có ảnh hưởng đối với hội họa lập thể. Gertrude Stein (1874-1946) là một nhà thơ, nhà văn Mỹ, và là người bênh vực nữ quyền. Bà sống phần lớn cuộc đời bà ở Pháp. Gertrude Stein là người thường gây sôi nổi trong giới văn chương và nghệ thuật hiện đại. Do sách của bà, bà đã góp phần vào việc phổ biến trường phái lập thể và đặc biệt họa phẩm của Picasso, Matisse, Cézanne. Picasso đã vẽ chân dung của Gertrude Stein.

Từ năm 1907 đến năm 1909, Picasso chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phi châu, nhất là nghệ thuật của Congo. Trong bức tranh Les Demoiselles d’Avignon (Các cô gái ở Avignon) hai gương mặt bên phải chịu ảnh hưởng phần nào của những mặt nạ của nghệ thuật này.

Trong thời kỳ 1909-1914, Picasso và Georges Braque thực hiện những bức tranh được gọi là « lập thể ». Đặc tính của những bức tranh này là nghiên cứu về hình học và những hình thức : tất cả những đồ vật bị phân chia và trở thành những hình thức đơn giản của hình học, lắm khi là những hình vuông. Điều này có nghĩa là một đồ vật không được vẽ lên như nó thường được thấy, mà được vẽ với những cái mã đáp ứng với hiện thực của nó đã được biết đến.

Hội họa lập thể cũng là việc vẽ trên khung vải một đồ vật trong hai chiều kích của không gian. Picasso tách rời hình ảnh thành nhiều mặt còn gọi là hình lập phương – tiếng Pháp là « cube », do đó mới gọi nghệ thuật vẽ này là « cubisme » (lập thể) – và phá vỡ những hình thức của hiện thực để tạo nên những gương mặt lạ lùng, chẳng hạn một gương mặt được cho thấy phân nửa và thêm phân nửa của phía bên kia.

Trong vô số họa phẩm của Picasso, phải kể hai họa phẩm nổi tiếng nhất, đó là Les Demoiselles d’Avignon (1907) và Guernica (1937).

Picasso bắt đầu vẽ Les Demoiselles d’Avignon năm 1906 và kết thúc năm 1907. Đây là họa phẩm đã thành lập trường phái lập thể. Cũng cần nhắc trong những năm 1910, Picasso đã vẽ một loạt chân dung – đặc biệt chân dung của nhà văn Daniel-Henry Kahnweiler và chân dung của nhà buôn tranh Ambroise Vollard – dưới ảnh hưởng của những công trình toán học của Henri Poincaré và của Esprit Jouffret, được nhà toán học Maurice Princet giản dị hóa cho Picasso và các nghệ sĩ ở Montmartre. Kể từ đó, vẽ không gian và thời gian là vẽ trên một khung vải một đồ vật trong không gian với hai chiều kích.

Bức tranh thứ hai là Guernica trình bày cảnh tượng bi thảm của Guernica sau trận bỏ bom ngày 26-4-1937, trong thời nội chiến ở Tây Ban Nha. Picasso khiếp đảm vì tội ác nên đã sáng tạo một trong những họa phẩm rất nổi tiếng. Guernica là biểu tượng của sự ghê tởm chiến tranh và sự phẫn nộ của Picasso khi mục kích vô số nạn nhân. Trong hoàn cảnh này, Picasso xin nhập quốc tịch Pháp, nhưng bị từ chối. Từ đó nhà nghệ sĩ không bao giờ còn xin quốc tịch Pháp nữa.

Về sau, Picasso có một hình vẽ nổi tiếng Colombe de la paix (Bồ câu của hòa bình) (1949), hiện được lưu giữ ở viện bảo tàng Musée d’Art Moderne de Paris. Picasso yêu thích chim bồ câu, vì thuở nhỏ thấy người cha thường dùng chim bồ câu làm mẫu để dạy vẽ.

Trong thời kỳ Picasso lui tới với nhóm Siêu thực, lối vẽ của Picasso thay đổi. Năm 1925 đánh dấu sự cắt đứt với những bức tranh có tính hung bạo, với những thân người dị hình, co giật trong những cơn cuồng loạn. Ảnh hưởng của các nhà thơ siêu thực rất rõ ràng, Picasso muốn vẽ cái địa ngục từ bên trong. Trong số những họa phẩm của những năm 1920 phải kể : Femme dans un fauteuil (Người phụ nữ ngồi trong ghế bành), Baigneuse assise (Phụ nữ ngồi tắm), La Danse (Khiêu vũ), Le Baiser (Nụ Hôn), Buste de jeune fille (Tranh nửa người của thiếu nữ), Le peintre et son modèle (Họa sĩ và người mẫu), v.v…

Ngoài những sinh hoạt nghệ thuật, Picasso gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1944. Nhưng ông sẽ không bao giờ là một đảng viên tích cực vì quá tha thiết với sự tự do của mình. Ông còn xung đột với Đảng về bức chân dung của Staline bị chỉ trích là thiếu kính trọng.

Picasso là một tên tuổi lớn của thế kỷ 20, một người quá say mê nghệ thuật, đã từng tuyên bố : Hội họa mạnh hơn tôi, hội họa bắt tôi làm những gì nó muốn (2).

Picasso để lại một di sản đồ sộ gồm gần 50.000 tác phẩm trong đó có 1.885 bức tranh, 1228 tượng điêu khắc, 2.280 hình vẽ trên đồ sứ, 7.089 hình vẽ, 342 bức thảm treo tường, 150 sổ phác họa, v.v…

Picasso mất năm 1973 tại Pháp.

John Golding, nhà sử học uyên bác người Anh, chuyên về lịch sử nghệ thuật thế kỷ 20, đặc biệt về hội họa lập thể, là tác giả cuốn sách được nhiều người biết đến : Cubism, A History and an Analysis, 1907-1914, xuất bản năm 1959. John Golding viết : Hội hoạ lập thể là một ngôn ngữ tạo hình tuyệt đối độc đáo, một cách tiếp cận thế giới hoàn toàn mới mẻ và là một lý thuyết về mỹ học được khái niệm hóa. Người ta hiểu vì sao hội họa lập thể đã in vào nền hội họa hiện đại một hướng đi mới. 

(1) Quand je peins, j’essaie toujours de donner une image à laquelle les gens ne s’attendent pas et qui soit assez écrasante pour être inacceptable. C’est cela qui m’intéresse. Et dans ce sens, je veux être subversif. C’est-à-dire que je donne aux gens une image de la nature et d’eux-mêmes.

Françoise Gilot, Vivre avec Picasso, Nxb Calmann-Lévy, 1991.

(2) Gilles Plazy, Picasso, Nxb Gallimard, 2006.

Advertisement

VĂN HÓA LÀ CÁI CÒN LẠI KHI NGƯỜI TA ĐÃ QUÊN HẾT

 

Hai chữ văn hóa được dùng làm thước đo để thẩm định trình độ, giá trị tri thức của một người, của một dân tộc ; các sử gia, các nhà nhân loại học khi bàn về một dân tộc nào đó thường nói đây là một dân tộc có một nền văn hóa rất xưa, một nền văn hóa lớn lao, v.v…

Vậy văn hóa là gì ? Nói chung và một cách vắn tắt thì văn hóa là :

1/ Toàn thể những kiến thức làm phân biệt con người có văn hóa với con người vô văn hóa ; toàn thể những kiến thức đó là di sản về triết học, nghệ thuật và văn chương.

2/ Trong lĩnh vực dân tộc học, văn hóa là toàn thể những hệ thống có tính tượng trưng có thể được truyền lại trong và bởi một cộng đồng, dù cộng đồng đó thế nào đi nữa, kể cả những xã hội nguyên thủy.

Văn hóa là toàn thể các bộ môn nghệ thuật, văn chương, triết học, sử học, địa lý học, khoa học, v.v… Tóm lại, lĩnh vực của văn hóa là toàn thể những cái có thể được « hiểu biết ». Tuy nhiên, người có văn hóa không cần thiết phải là một nhà bác học hay một người uyên bác. Người có văn hóa khoa học không bắt buộc phải là người làm ra khoa học, nhưng đúng hơn là một người sành sỏi về khoa học : người có văn hóa không ở trong cái thế sáng tạo văn hóa, mà trong cái thế tiếp nhận văn hóa.

Ngoài ra văn hóa không chỉ là vấn đề hiểu biết, văn hóa còn là vấn đề sở thích. Văn hóa là cái làm cho thế giới trở nên thích thú trong tính đa dạng của thế giới, là cái đem lại cho đời sống một ý nghĩa, một bề dày, là cái khiến chúng ta không đơn giản chịu đựng những biến cố xảy đến, nhưng cũng biết định giá chúng, thưởng thức chúng. Trong chiều hướng đó có thể nói đến văn hóa áo quần, văn hóa ẩm thực, khiến chúng ta ăn mặc, ăn uống theo những giá trị nào đó. Trong trường hợp này, văn hóa tạo nên những tương quan trong xã hội.

Nói tóm lại, văn hóa là vấn đề tri thức, vấn đề sở thích và vấn đề xã hội. Vậy theo định nghĩa, văn hóa là một văn hóa mở, một văn hóa lưu hành giữa nhiều lĩnh vực mà không bị đóng kín trong những lĩnh vực đó.

Gilles Deleuze, một trong những nhà triết học lớn ở Pháp, của thế kỷ 20, nói rằng ông không phải là một người có văn hóa : những điều ông học hỏi luôn luôn là những điều ông học để làm một công việc về một đề tài xác định, và lắm khi ông cho rằng ông đã quên điều ông học hỏi. Ông nói thêm : một người có văn hóa là một người biết hết. Người đó chẳng những biết toàn bộ tác phẩm của Dante, nhà thơ, nhà văn Ý, và Victor Hugo, nhà thơ, nhà văn và nhà soạn kịch Pháp, mà còn biết về điện ảnh, nhạc pop, bóng đá, v. v… không có cái gì là xa lạ đối với người đó.

Gilles Deleuze tự định nghĩa mình một cách khiêm tốn : ông tự cho mình là người không có văn hóa, ông quên những gì ông đã học hỏi. Điều này đưa chúng ta trở lại với cái tựa đề của bài này : Văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên hết.

Nguyên văn của câu này là : Văn hóa là cái còn lại trong một con người khi người đó đã quên hết. Người viết ra câu này trở thành một câu để đời là Emile Henriot (1889-1961), một nhà thơ, nhà văn Pháp và cũng là nhà báo, phụ trách mục điểm sách trên nhật báo Le Monde. Henriot là tác giả một tập thơ : Poèmes à Sylvie (1906), một tiểu thuyết : La Rose de Bratislava, và nhiều cuốn sách khác. Nhưng hậu thế chỉ nhớ có mỗi một câu của ông : La culture c’est ce qui demeure dans un homme, lorsqu‘il a tout oublié.

Sở dĩ câu này nổi tiếng là vì nó bao hàm nhiều ý nghĩa trong một số ít chữ. Ý nghĩa sẽ trở nên rõ ràng nếu chúng ta cho học thức uyên bác đối lập với văn hóa. Học thức uyên bác ở đây có thể được hiểu theo một nghĩa thấp kém và chỉ định sự tích lũy kiến thức, một kiến thức không được nghiền ngẫm kỹ và lắm khi bị giới hạn trong một lĩnh vực hẹp hòi.

Còn văn hóa, theo như Henriot nói, là văn hóa chống lại thứ văn hóa giả do học thức uyên bác được hiểu theo nghĩa trên đây biểu hiện. Văn hóa thật sự không bị giới hạn trong một lĩnh vực riêng. Nhất là đặc điểm của văn hóa là những kiến thức được thấu triệt thật sự, và tinh hoa của kiến thức ở lại trong con người, sáp nhập vào cá tính của con người, đến nỗi con người có cảm tưởng quên hết những gì mình đã hấp thụ.

Bạn đã thi tú tài cách đây mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa, bạn quên hết những công thức về toán học, vật lý học, hóa học mà bạn đã học kỹ khi dọn thi, nhưng thật ra những gì bạn đã học giúp bạn có khả năng suy luận. Đầu óc bạn được rèn luyện mà chính bạn bạn cũng không nhận thấy. Bạn không nhớ gì về các tên khoa học của các loài hoa, của thú vật, của những chất hóa học trong các pho sách. Nhưng cái còn lại nơi bạn là một khả năng quan sát, là cả một kiến thức có tính tổng hợp nhưng rất hiện thực. Sự rèn luyện thật sự là khi kiến thức được nghiền ngẫm kỹ và loại bỏ rất nhiều, chỉ giữ lấy phần cốt lõi.

Nhưng lời khẳng định của Henriot nếu hiểu sai sẽ đi đến những điều thái quá, vì để quên hết trước tiên phải học hết. Văn hóa thật sự luôn luôn được đặt trên nền tảng của tri thức, nhưng là một tri thức được sáp nhập, trở thành đồng nhất với người đã đạt được tri thức đó.

 

Paris, tháng 5 – 2019

NĂM NGOÁI TẠI MARIENBAD

 

Thuở học ở Sorbonne tôi thường đi ngang rạp chiếu bóng Le Champo, gần đại học ; rạp này chuyên chiếu những phim xưa và loại phim có nghệ thuật cao gọi là « cinéma d’art et d’essai ». Có lần tôi dừng lại trước tên một cuốn phim : « L’année dernière à Marienbad » (Năm ngoái tại Marienbad), cái tên nghe hay hay và kích thích sự tò mò của người qua đường. Đây là một cuốn phim của nhà đạo diễn nổi tiếng Alain Resnais. Điều đáng chú ý người viết phim bản chính là Alain Robbe–Grillet, một tên tuổi không xa lạ gì nhất là đối với sinh viên văn khoa, A. Robbe-Grillet là thủ lĩnh của nhóm Tiểu Thuyết Mới. Một nhà văn có tầm cỡ như thế mà viết truyện phim hẳn cuốn phim phải độc đáo. Tôi liền để dành thì giờ đi xem phim. Thú thật khi xem xong tôi không hiểu gì cho lắm. Tôi nản chí.

Cuốn phim cho thấy chuyện xảy ra trong một đại khách sạn sang trọng, bối cảnh bên trong khách sạn và ngoài vườn được dàn dựng rất thẩm mỹ. Một người đàn ông ăn mặc lịch sự và một người phụ nữ khá đẹp gặp nhau. Đối với những khán giả nóng lòng muốn biết cốt truyện kết thúc như thế nào thì cuộc đối thoại trong phim kéo dài, có vẻ nhì nhằng, không đi đến đâu. Tôi ra về thắc mắc, cuốn phim phải có một ý nghĩa gì đó mà tôi không nắm bắt được. Đọc báo thấy nói phim « L’année dernière à Marienbad » được giải Sư Tử Vàng ở Đại Hội Điện Ảnh Venise năm 1961. Tôi tự nhủ mình không có kiến thức điện ảnh, không có trình độ để hiểu và thưởng thức cuốn phim.

Rồi thời gian trôi qua. Cho đến một hôm tình cờ nghe trên một đài phát thanh buổi nói chuyện của nhà văn Tây Ban Nha Enrique Vila-Matas. Nhà văn kể năm ông 15 tuổi ông đi xem phim « L’année dernière à Marienbad », ông không hiểu gì, tức mình ông trở lại xem cuốn phim một lần nữa, rồi một lần nữa, rồi một lần nữa, cứ thế ông đã xem nhiều lần mỗi khi tan giờ học. Nhưng ông cũng chẳng hiểu gì thêm. Lớn lên, khi đã trở thành một nhà văn, một hôm Enrique Vila–Matas có dịp gặp Alain Robbe–Grillet, ông nói với A. Robbe-Grillet ông có xem cuốn phim « L’année dernière à Marienbad ». A. Robbe–Grillet bèn hỏi : « Vậy ông có hiểu cuốn phim nói gì không ? » E. Vila–Matas lúng túng, ông ngập ngừng giữa hai tiếng trả lời : « Có »  và « Không ». Cuối cùng ông thú thật : « Tôi không hiểu » và ông ngạc nhiên thấy A. Robbe-Grillet bật cười vui vẻ. Thì ra khi mình không hiểu một tác phẩm nghệ thuật, việc không hiểu sẽ kích thích trí tưởng tượng để phát hiện những điều mới lạ.

Nghĩ đến những thắc mắc của tôi năm xưa, tôi mừng vì được biết mình không phải là người duy nhất không hiểu ý nghĩa của cuốn phim. Giờ đây, sau khi đã xem cuốn phim hai lần và đọc nhiều tài liệu, những thắc mắc của tôi thời còn là sinh viên đã trở nên những kỷ niệm xa vời.

Phim « L’année dernière à Marienbad » là một cuốn phim đen trắng, dài 94 phút, được thực hiện năm 1961. Truyện phim được A. Robbe-Grillet rút từ một cuốn tiểu thuyết kỳ ảo : « L’invention de Morel » (Sự phát minh của Morel »), của nhà văn Argentina Adolfo Bioy Casares. Từ truyện kỳ ảo đó A. Robbe-Grillet tạo nên một giấc mơ. Trong một đại khách sạn, một người đàn ông gặp một phụ nữ và tìm cách làm cho người phụ nữ tin rằng họ đã từng yêu nhau năm ngoái tại Marienbad, một thành phố ở Đức, và người phụ nữ đã hứa sẽ từ bỏ hết để đến sống với ông ta. Người phụ nữ thì tuyệt đối không nhớ đã có một chuyện như thế. Người đàn ông vẫn đeo đuổi và quấy rầy người phụ nữ, khi thì ông ta ngọt ngào, khi thì tỏ vẻ gây lo sợ cho người phụ nữ. Người phụ nữ đâm bối rối, không biết mình có ham muốn ông ta hay ghê tởm ông ta hay sẽ phục tùng ông ta. Trong khi đó nguời phụ nữ bị những hình ảnh của một vụ hiếp dâm ám ảnh.

Cuốn phim tả giấc mơ của một người đàn ông yêu một người phụ nữ quá xa cách, khó vói tới. Người đàn ông đến tìm người phụ nữ. Nhưng giấc mơ hóa là một cơn ác mộng vì người phụ nữ không còn nhớ đến ông ta. Ông ta cố thuyết phục người phụ nữ nhưng khi ông ta tưởng mình thành công thì người phụ nữ lại chuyển qua một kỷ niệm khác, vậy phải thuyết phục người phụ nữ thêm một lần nữa. Rồi những cơn ác mộng khác hiện ra : người đàn ông không chắc đã yêu chính người phụ nữ đó. Ông ta có chắc đã gặp người phụ nữ đó không ? Đúng rồi ! Ông đã yêu người phụ nữ đó. Và ông mang hình ảnh người phụ nữ theo ông. Giấc mơ đến đây chấm dứt.

Cấu trúc truyện phim khó hiểu, đã từng đánh lạc hướng và chia rẻ giới phê bình điện ảnh. Nhà phê bình điện ảnh Michel Mouriet thẳng tay chê bai cuốn phim. Tạp chí L’Express thì cho rằng cuốn phim là « sự thành công của chủ nghĩa thời thượng điển hình của những năm 60 ».

Nhưng phải công nhận cuốn phim đã có những ảnh hưởng đáng kể. Trước hết ảnh hưởng đến những nhà làm điện ảnh nổi tiếng như : Agnès Varda, Marguerite Duras và Jacques Rivette. Mặt khác dư âm cuốn phim vang qua lĩnh vực âm nhạc. Nữ ca sĩ Barbara đặt cho một trong những bài hát của mình cái tựa đề : « Marienbad », nữ ca sĩ Viktor Lazlo khởi đầu một bài hát bằng những lời : « Không phải năm ngoái. Không phải tại Marienbad », và nữ ca sĩ Patricia Lavila hát câu : « Đó là năm ngoái tại Marienbad » trong một bài hát.

Cuốn phim nổi tiếng do chiều kích hoang tưởng của nó và do sự lầm lẫn giữa hiện thực và ảo tưởng.

« L’année dernière à Marienbad » là sự gặp gỡ giữa hai tài năng : nhà văn Alain Robbe-Grillet với nghệ thuật dựng truyện giữa thực và ảo, và nhà đạo diễn Alain Resnais với cái tài khai thác qua ống kính sự lo sợ quên lãng và tính bất động của thời gian.

 

 

 

 

 

NHÀ TÔI BÊN CHIẾC CẦU SOI NƯỚC

 

          Những đổi thay trong xã hội do những biến cố lịch sử gây nên thường phản ánh ít nhiều trong một trường học, nhất là trong một lớp học như lớp học của tôi, đi từ tuổi nhỏ đến hết bậc trung học. Tôi có dịp nhận xét về những đổi thay trong các lớp tôi đã từng đi qua. Năm tôi học 8ème, tức lớp nhì tiểu học, ở trường Couvent des Oiseaux, Đà lạt, lúc đó cuối thời Pháp thuộc, người Pháp chưa rời hẳn Việt Nam, trong lớp tôi chỉ có 4 học sinh Việt Nam, còn lại là học sinh Pháp, những học sinh này vẫn còn đầu óc thực dân, coi rẻ người Việt Nam. Hai, ba năm sau học sinh Pháp lần lượt biến mất, để chỗ cho một loạt học sinh từ Huế lên Đà lạt học ; không hiểu sao lúc đó học sinh các trường Đồng Khánh và Jeanne d’Arc ở Huế ồ ạt lên Đà lạt. Các bậc phụ huynh sợ con cái đi chiến khu chăng ? Hay có sự lựa chọn cho con em nền văn hóa giáo dục Pháp của ngôi trường nổi tiếng này ? Những tiếng nói qua lại ngoài giờ học nghe rất lạ tai : « Mi để cuốn sách ở mô ? », « Cái chi mà lạ rứa ? », « Tao nhớ mạ tao chi lạ ! »… Rồi khi tôi lên lớp seconde, tức lớp 10 ngày nay, một lần nữa bộ mặt của lớp học lại thay đổi : các bạn học mới của tôi phần nhiều là người Bắc di cư vào Nam, họ vẫn còn xót xa nghĩ đến quê hương vừa rời bỏ.

Trong số các bạn mới có một người không phải là di cư, một người có vẻ như biệt lập, đó là một cô gái lai xinh đẹp, tên Kim Thư. Tôi biết lờ mờ rằng gia đình Kim Thư ở Nhatrang, Thư vào Sài Gòn học một hai năm gì đó, rồi lên Đà lạt. Đôi mắt màu nâu của Thư luôn luôn đượm một vẻ buồn khiến tôi cảm thấy mến bạn, tuy nhiên chúng tôi không có cơ hội thân nhau, vì Thư ở nội trú còn tôi ngoại trú. Tuy thế chúng tôi cũng có chung với nhau nhiều kỷ niệm, như những lần đi pique–nique xa với cả lớp hay đi công tác xã hội. Nhưng kỷ niệm đẹp nhất mà tôi nhớ mãi là giọng hát của Thư. Ở trường, ngoài những giờ học có những giờ gọi là « étude », học sinh được tự do học ôn bài vở ngoài đồi, vì ngôi trường tọa lạc trên một ngọn đồi. Có lần tôi ngồi dưới gốc một cây thông, đang ôn bài vật lý để ngày hôm sau thi, bỗng một giọng hát vang lên :

                   Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước

                   Em đến tôi một lần

                   Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân.

Tiếng hát trong trẻo, cao vút. Tôi ngạc nhiên vội xếp sách, nín thở để lắng nghe.

                   Từng đôi chim trong nắng riu rít ca u ù u ú

                   Hồn mùa ngây ngất trầm vương

                   Dìu nhau bên góc suối nơi ven rừng

                   Còn thấy chim ghen lời âu yếm

                   Đến đây mây núi còn chập chùng

                  Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng

                  Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xuân.

 

                   Sương mênh mông che lấp kín non xanh

                   Ôi cánh buồm nâu còn in trên sóng xuân

                   Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca

                   Cánh nhạn vào mây thiết tha

                  Lưu luyến tình vừa qua.  (1)

                 

Tôi lần mò đến gần lùm cây nơi có tiếng hát. Thì ra Thư đang ngồi hát một mình !

– Trời ! Bạn hát hay quá ! Thế mà lâu nay giấu tài nhé !

Thư mỉm cười, trong ráng chiều trông Thư còn đẹp hơn thường ngày. Từ đấy giọng hát của Thư vẫn đeo đưổi tôi.

         Chúng tôi học chung với nhau đến tú tài. Sau đó còn gặp nhau, nhưng không lâu, ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Rồi Thư đi Pháp trước tôi. Từ đó chúng tôi bặt tin nhau.

         Năm 1989, một buổi tối ở Paris, tôi đang nghe nhạc, thình lình điện thoại reo. Có tiếng một người bạn thúc tôi : « Hãy mau mau xem « Apostrophes » trên kênh truyền hình Antenne 2, có Kim Thư … » Tôi vội bật máy. « Apostrophes » là buổi truyền hình văn hóa hằng tuần, Bernard Pivot mời nhiều vị khách, thường là những nhà văn nổi tiếng như Marguerite Duras, Soljenitsyne, v.v… để phỏng vấn và tranh luận, ông cũng mời những người trẻ vừa có tác phẩm xuất bản và được chú ý. « Apostrophes » đạt nhiều kết quả tốt đẹp bất ngờ : mỗi tuần có được hai triệu người xem, sự kiện này ảnh hưởng đến số lượng sách bán trên thị trường. Thế là tôi được thấy Kim Thư trên màn ảnh nhỏ sau bao năm vắng tin. Thư đã nghiễm nhiên trở nên một nhà văn ở cái thủ đô ánh sáng này, với bút danh Kim Lefèvre, tôi đoán Thư đã lập gia đình với một người Pháp. Sở dĩ Thư đưọc Bernard Pivot mời là vì Thư có cuốn tự truyện : « Métisse blanche » vừa ra mắt độc giả Pháp. Hôm đó người xem truyền hình phát hiện một phụ nữ duyên dáng có hai dòng máu Pháp-Việt đang kể lại cuộc hành trình của đời mình. Chúng tôi, lũ bạn của Thư, mới vỡ lẽ là mình không biết gì nhiều về người bạn lai cùng học chung với mình năm xưa ; chúng tôi vội đi mua cuốn « Métisse blanche ».

         Đọc Thư, tôi mới hiểu phần nào nỗi u buồn trong đôi mắt bạn khi còn ngồi dưới mái trường xưa. Thì ra Thư chào đời mà không biết cha của mình là ai. Thư sống với mẹ và mang tên họ của người bố dượng, họ Lâm : Lâm Kim Thư. Thuở lớn lên, Thư sống với mặc cảm của người con lai. Xã hội Việt Nam thời đó có tinh thần chống thực dân Pháp, nên khắc nghiệt với những đứa con lai, dấu tích của thực dân để lại. Người con lai cảm thấy bị gạt bên lề, thậm chí bị ruồng bỏ, khinh khi. Trong « Métisse blanche », Thư kể lại cuộc đời của mình ở Việt Nam, tuổi thơ và tuổi lớn lên ở Nhatrang ; rồi vì một mối tình ngang trái, Thư phải bỏ Nhatrang vào Sài Gòn tìm quên lãng. Một người đàn bà giàu có nhận làm mẹ đỡ đầu cho Thư và gửi Thư lên Đà Lạt học. Nhưng bà mẹ đỡ đầu này luôn luôn vắng bóng, vô cảm, mà Thư thì khao khát được thương yêu. Nhatrang, Sài Gòn, Đà lạt, nơi nào Thư cũng cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Thư có cảm tưởng như bị đời hất hủi và xem việc rời khỏi Việt Nam như một vĩnh biệt, vĩnh biệt cái xứ mà Thư tự hỏi có phải là quê hương của mình không.

         Thư nổi tiếng ngay với cuốn « Métisse blanche », rồi những tác phẩm khác lần lượt xuất hiện : « Retour à la saison des pluies », « Moi, Marina la Malinche », « Les Eaux mortes du Mékong ». « Métisse blanche » được dịch ra Việt ngữ dưới tựa đề : « Cô gái lai trắng », và sắp được dịch ra Anh ngữ. Ngoài ra, các nhà làm sách giáo khoa Pháp xin phép tác giả được in vài trích đoạn của cuốn sách cho học sinh đọc.

 Nhà văn Kim Lefèvre còn là dịch giả của Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp và Phan Thị Vàng Anh.

         Quả đất này xem ra nhỏ bé thật ; rồi mọi người không sớm thì muộn cũng gặp lại nhau. Tôi gặp lại Kim Thư, và tình bạn chúng tôi trở nên thân thiết hơn xưa. Những đau khổ, nổi loạn, uất ức trong lòng Thư khi xưa nay đã lắng xuống. Thư nhìn về quá khứ với một tâm hồn thanh thản, vẫn thương yêu, ôm ấp hình ảnh người mẹ Việt Nam của mình.

(1)Bản nhạc « Đàn chim Việt » của Văn Cao, Phạm Duy đổi lời và đổi tên thành « Bến Xuân ».

SÁNG THỨ BẢY NHÂM NHI TÁCH CÀ PHÊ

 

Ở Paris, thông thường sáng thứ bảy tôi vừa nhâm nhi tách cà phê vừa háo hức chờ đợi buổi phát thanh Répliques của nhà triết học Alain Finkielkraut, trên Đài France Culture. Từ năm 1985 đến nay – năm 2016 – cứ mỗi sáng thứ bảy A. Finkielkraut mời hai nhà chuyên môn về một vấn đề để thảo luận. Những vấn đề được bàn đến thuộc nhiều lĩnh vực : chính trị, thời sự, lịch sử, khoa học, triết học, văn học, v.v… Hai nhân vật được mời có quan điểm khác nhau hoặc hoàn toàn chống đối nhau, có khi họ lại có những quan điểm bổ sung cho nhau. Nhưng dù sao đi nữa cuộc thảo luận luôn luôn diễn ra trong một bầu không khí lịch sự, trong tinh thần tôn trọng nhau. A. Finkielkraut là tiếng nói thứ ba trong cuộc thảo luận, ông có lối phát biểu mạch lạc, rõ ràng, ông thường chọn những đề tài lý thú và đặt những câu hỏi thích đáng, khiến cuộc thảo luận thêm hào hứng. Thính giả có cảm tưởng được học hỏi thêm và phát hiện nhiều khía cạnh mới lạ của đề tài cuộc thảo luận.

Alain Finkielkraut sinh năm 1949. Sau biến cố tháng năm sáu mươi tám đánh dấu cuộc cách mạng văn hóa của giới trẻ ở Pháp, A. Finkielkraut, cũng như phần đông những thanh niên thời đó, có khuynh hướng thiên tả, thậm chí có một thời ông theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Rồi với thời gian người thanh niên bồng bột khuynh tả đã trở nên một nhà triết học khuynh hữu, chịu ảnh hưởng sâu đậm của hai nhà triết học nổi tiếng : Hannah Arendt và Emmanuel Lévinas.

Ngoài việc khởi xướng và chủ trì buổi phát thanh Répliques (Đối đáp), A. Finkielkraut còn là giáo sư triết học ở Trường Bách Khoa và là thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp. Ông cũng là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng, như cuốn La Défaite de la Pensée (Thất bại của Tư duy) đánh dấu sự khởi đầu của việc chỉ trích thế giới hiện đại, và cuốn Le Nouveau Désordre amoureux ( Hỗn loạn mới của yêu đương), trong cuốn sách này, tác giả công kích cái gọi là Huyền thoại của Cách mạng dục tình phát xuất từ biến cố tháng năm sáu mươi tám, và từ những lý luận của các nhà triết học Gilles Deleuze và Félix Guattari.

Những người trí thức khuynh tả, dù có chống đối A. Finkielkraut thế nào đi nữa, cũng vẫn chăm chú theo dõi ông trên những làn sóng phát thanh, những kênh truyền hình và đọc sách của ông, vì ông là người có can đảm đi ngược dòng để khẳng định những giá trị truyền thống, ông không nhân nhượng trước những tư tưởng dễ dãi, thời thượng và có tính mị dân. A. Finkielkraut là một tên tuổi nổi bật của giới trí thức Pháp.

Một sáng thứ bảy, A. Finkielkraut báo với thính giả đề tài cuộc thảo luận hôm đó là Boris Pasternak và tác phẩm Bác sĩ Jivago. Tôi giật mình, nhớ lại một kỷ niệm khi còn ở quê nhà. Vào thời đó, chúng tôi thuộc lớp trẻ một mặt trân trọng kho tàng văn hóa nước nhà, mặt khác rất cởi mở với văn hóa Tây phương. Trong khi sách và tài liệu bằng ngoại ngữ có phần khan hiếm và đắt tiền, chúng tôi khao khát được biết những hiện tượng văn hóa ở nước ngoài, đặc biệt thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và Tiểu Thuyết Mới của Alain Robbe-Grillet ở Pháp. Một hôm có người bạn khoe vừa mới nhận được cuốn Le docteur Jivago từ Pháp gửi về. Bỗng nhiên tôi cảm thấy rất thèm đọc cuốn sách đó. Thêm nữa, được biết Boris Pasternak, tác giả cuốn sách, được giải Nobel nhưng không đi lãnh được, tính tò mò của tôi càng bị kích thích. Tôi bèn năn nỉ người bạn cho tôi mượn cuốn sách. Bạn tôi đang thích thú có được một cuốn sách quý, nghe tôi hỏi mượn thì có vẻ không vui, nhưng có lẽ vì thấy tôi van nài dữ quá và hứa chỉ giữ cuốn sách trong hai ngày, bạn tôi đành cho mượn. Phần tôi rất áy náy, vì trong vòng hai ngày làm sao đọc hết một cuốn sách dày như thế. Dù sao tôi vẫn thấy mình may mắn, nên vội đem cuốn sách về nhà, dẹp hết mọi việc để mải miết đọc cho kịp trả lại bạn. Vì thiếu thời gian để đọc kỹ và vì tuổi trẻ thiếu chín chắn trong sự tiếp nhận một tác phẩm, nên tôi không nhớ gì nhiều, chỉ nhớ mối tình đầy bất trắc của Jivago và Lara, nhớ có đông đảo nhân vật trong truyện – tiểu thuyết Nga bao giờ cũng có rất nhiều nhân vật – và nhớ nhất là… tuyết. Tôi đọc Bác sĩ Jivago trong một thành phố Sài gòn vô cùng nóng bức, mà sao tôi có cảm tưởng như tuyết rơi quanh mình nhiều quá !

Hôm nay được nghe bàn đến cuốn sách mà năm xưa tôi đã đọc vội vã. Khi nghe hai học giả chuyên về văn học Nga phát biểu về Boris Pasternak và tác phẩm của ông, tôi lóa mắt. Sau buổi phát thanh Répliques, tôi nhất định phải đọc lại một tác phẩm lớn đã từ lâu bị chôn vùi trong ký ức mình. Thế là tôi đến khu La Tinh tìm cuốn sách. Bà chủ hiệu sách kêu lên : Quái ! Hôm nay có cái gì mà nhiều người đến mua cuốn sách này thế ? À, thế thì tôi không phải là kẻ duy nhất, trong số các thính giả của Répliques, đã bị cuộc thảo luận lôi cuốn.

 Alain Finkielkraut đã vô tình đưa tôi trở về với Bác sĩ Jivago. Lần này tôi không phải đọc sách hấp tấp để kịp trả cho bạn. Tôi có thừa thì giờ để nhẩn nha đi vào thế giới mênh mông và bi đát của Jivago, để thưởng thức cái đẹp qua sự sáng tạo của một nhà thơ viết văn xuôi, vì Boris Pasternak trước tiên là một nhà thơ. Tác phẩm Bác sĩ Jivago kết thúc bằng những bài thơ, như để nhắc rằng cái đẹp thấp thoáng trong truyện bắt nguồn từ thơ.