NĂM NGOÁI TẠI MARIENBAD

 

Thuở học ở Sorbonne tôi thường đi ngang rạp chiếu bóng Le Champo, gần đại học ; rạp này chuyên chiếu những phim xưa và loại phim có nghệ thuật cao gọi là « cinéma d’art et d’essai ». Có lần tôi dừng lại trước tên một cuốn phim : « L’année dernière à Marienbad » (Năm ngoái tại Marienbad), cái tên nghe hay hay và kích thích sự tò mò của người qua đường. Đây là một cuốn phim của nhà đạo diễn nổi tiếng Alain Resnais. Điều đáng chú ý người viết phim bản chính là Alain Robbe–Grillet, một tên tuổi không xa lạ gì nhất là đối với sinh viên văn khoa, A. Robbe-Grillet là thủ lĩnh của nhóm Tiểu Thuyết Mới. Một nhà văn có tầm cỡ như thế mà viết truyện phim hẳn cuốn phim phải độc đáo. Tôi liền để dành thì giờ đi xem phim. Thú thật khi xem xong tôi không hiểu gì cho lắm. Tôi nản chí.

Cuốn phim cho thấy chuyện xảy ra trong một đại khách sạn sang trọng, bối cảnh bên trong khách sạn và ngoài vườn được dàn dựng rất thẩm mỹ. Một người đàn ông ăn mặc lịch sự và một người phụ nữ khá đẹp gặp nhau. Đối với những khán giả nóng lòng muốn biết cốt truyện kết thúc như thế nào thì cuộc đối thoại trong phim kéo dài, có vẻ nhì nhằng, không đi đến đâu. Tôi ra về thắc mắc, cuốn phim phải có một ý nghĩa gì đó mà tôi không nắm bắt được. Đọc báo thấy nói phim « L’année dernière à Marienbad » được giải Sư Tử Vàng ở Đại Hội Điện Ảnh Venise năm 1961. Tôi tự nhủ mình không có kiến thức điện ảnh, không có trình độ để hiểu và thưởng thức cuốn phim.

Rồi thời gian trôi qua. Cho đến một hôm tình cờ nghe trên một đài phát thanh buổi nói chuyện của nhà văn Tây Ban Nha Enrique Vila-Matas. Nhà văn kể năm ông 15 tuổi ông đi xem phim « L’année dernière à Marienbad », ông không hiểu gì, tức mình ông trở lại xem cuốn phim một lần nữa, rồi một lần nữa, rồi một lần nữa, cứ thế ông đã xem nhiều lần mỗi khi tan giờ học. Nhưng ông cũng chẳng hiểu gì thêm. Lớn lên, khi đã trở thành một nhà văn, một hôm Enrique Vila–Matas có dịp gặp Alain Robbe–Grillet, ông nói với A. Robbe-Grillet ông có xem cuốn phim « L’année dernière à Marienbad ». A. Robbe–Grillet bèn hỏi : « Vậy ông có hiểu cuốn phim nói gì không ? » E. Vila–Matas lúng túng, ông ngập ngừng giữa hai tiếng trả lời : « Có »  và « Không ». Cuối cùng ông thú thật : « Tôi không hiểu » và ông ngạc nhiên thấy A. Robbe-Grillet bật cười vui vẻ. Thì ra khi mình không hiểu một tác phẩm nghệ thuật, việc không hiểu sẽ kích thích trí tưởng tượng để phát hiện những điều mới lạ.

Nghĩ đến những thắc mắc của tôi năm xưa, tôi mừng vì được biết mình không phải là người duy nhất không hiểu ý nghĩa của cuốn phim. Giờ đây, sau khi đã xem cuốn phim hai lần và đọc nhiều tài liệu, những thắc mắc của tôi thời còn là sinh viên đã trở nên những kỷ niệm xa vời.

Phim « L’année dernière à Marienbad » là một cuốn phim đen trắng, dài 94 phút, được thực hiện năm 1961. Truyện phim được A. Robbe-Grillet rút từ một cuốn tiểu thuyết kỳ ảo : « L’invention de Morel » (Sự phát minh của Morel »), của nhà văn Argentina Adolfo Bioy Casares. Từ truyện kỳ ảo đó A. Robbe-Grillet tạo nên một giấc mơ. Trong một đại khách sạn, một người đàn ông gặp một phụ nữ và tìm cách làm cho người phụ nữ tin rằng họ đã từng yêu nhau năm ngoái tại Marienbad, một thành phố ở Đức, và người phụ nữ đã hứa sẽ từ bỏ hết để đến sống với ông ta. Người phụ nữ thì tuyệt đối không nhớ đã có một chuyện như thế. Người đàn ông vẫn đeo đuổi và quấy rầy người phụ nữ, khi thì ông ta ngọt ngào, khi thì tỏ vẻ gây lo sợ cho người phụ nữ. Người phụ nữ đâm bối rối, không biết mình có ham muốn ông ta hay ghê tởm ông ta hay sẽ phục tùng ông ta. Trong khi đó nguời phụ nữ bị những hình ảnh của một vụ hiếp dâm ám ảnh.

Cuốn phim tả giấc mơ của một người đàn ông yêu một người phụ nữ quá xa cách, khó vói tới. Người đàn ông đến tìm người phụ nữ. Nhưng giấc mơ hóa là một cơn ác mộng vì người phụ nữ không còn nhớ đến ông ta. Ông ta cố thuyết phục người phụ nữ nhưng khi ông ta tưởng mình thành công thì người phụ nữ lại chuyển qua một kỷ niệm khác, vậy phải thuyết phục người phụ nữ thêm một lần nữa. Rồi những cơn ác mộng khác hiện ra : người đàn ông không chắc đã yêu chính người phụ nữ đó. Ông ta có chắc đã gặp người phụ nữ đó không ? Đúng rồi ! Ông đã yêu người phụ nữ đó. Và ông mang hình ảnh người phụ nữ theo ông. Giấc mơ đến đây chấm dứt.

Cấu trúc truyện phim khó hiểu, đã từng đánh lạc hướng và chia rẻ giới phê bình điện ảnh. Nhà phê bình điện ảnh Michel Mouriet thẳng tay chê bai cuốn phim. Tạp chí L’Express thì cho rằng cuốn phim là « sự thành công của chủ nghĩa thời thượng điển hình của những năm 60 ».

Nhưng phải công nhận cuốn phim đã có những ảnh hưởng đáng kể. Trước hết ảnh hưởng đến những nhà làm điện ảnh nổi tiếng như : Agnès Varda, Marguerite Duras và Jacques Rivette. Mặt khác dư âm cuốn phim vang qua lĩnh vực âm nhạc. Nữ ca sĩ Barbara đặt cho một trong những bài hát của mình cái tựa đề : « Marienbad », nữ ca sĩ Viktor Lazlo khởi đầu một bài hát bằng những lời : « Không phải năm ngoái. Không phải tại Marienbad », và nữ ca sĩ Patricia Lavila hát câu : « Đó là năm ngoái tại Marienbad » trong một bài hát.

Cuốn phim nổi tiếng do chiều kích hoang tưởng của nó và do sự lầm lẫn giữa hiện thực và ảo tưởng.

« L’année dernière à Marienbad » là sự gặp gỡ giữa hai tài năng : nhà văn Alain Robbe-Grillet với nghệ thuật dựng truyện giữa thực và ảo, và nhà đạo diễn Alain Resnais với cái tài khai thác qua ống kính sự lo sợ quên lãng và tính bất động của thời gian.

 

 

 

 

 

Advertisements

NHÀ TÔI BÊN CHIẾC CẦU SOI NƯỚC

 

          Những đổi thay trong xã hội do những biến cố lịch sử gây nên thường phản ánh ít nhiều trong một trường học, nhất là trong một lớp học như lớp học của tôi, đi từ tuổi nhỏ đến hết bậc trung học. Tôi có dịp nhận xét về những đổi thay trong các lớp tôi đã từng đi qua. Năm tôi học 8ème, tức lớp nhì tiểu học, ở trường Couvent des Oiseaux, Đà lạt, lúc đó cuối thời Pháp thuộc, người Pháp chưa rời hẳn Việt Nam, trong lớp tôi chỉ có 4 học sinh Việt Nam, còn lại là học sinh Pháp, những học sinh này vẫn còn đầu óc thực dân, coi rẻ người Việt Nam. Hai, ba năm sau học sinh Pháp lần lượt biến mất, để chỗ cho một loạt học sinh từ Huế lên Đà lạt học ; không hiểu sao lúc đó học sinh các trường Đồng Khánh và Jeanne d’Arc ở Huế ồ ạt lên Đà lạt. Các bậc phụ huynh sợ con cái đi chiến khu chăng ? Hay có sự lựa chọn cho con em nền văn hóa giáo dục Pháp của ngôi trường nổi tiếng này ? Những tiếng nói qua lại ngoài giờ học nghe rất lạ tai : « Mi để cuốn sách ở mô ? », « Cái chi mà lạ rứa ? », « Tao nhớ mạ tao chi lạ ! »… Rồi khi tôi lên lớp seconde, tức lớp 10 ngày nay, một lần nữa bộ mặt của lớp học lại thay đổi : các bạn học mới của tôi phần nhiều là người Bắc di cư vào Nam, họ vẫn còn xót xa nghĩ đến quê hương vừa rời bỏ.

Trong số các bạn mới có một người không phải là di cư, một người có vẻ như biệt lập, đó là một cô gái lai xinh đẹp, tên Kim Thư. Tôi biết lờ mờ rằng gia đình Kim Thư ở Nhatrang, Thư vào Sài Gòn học một hai năm gì đó, rồi lên Đà lạt. Đôi mắt màu nâu của Thư luôn luôn đượm một vẻ buồn khiến tôi cảm thấy mến bạn, tuy nhiên chúng tôi không có cơ hội thân nhau, vì Thư ở nội trú còn tôi ngoại trú. Tuy thế chúng tôi cũng có chung với nhau nhiều kỷ niệm, như những lần đi pique–nique xa với cả lớp hay đi công tác xã hội. Nhưng kỷ niệm đẹp nhất mà tôi nhớ mãi là giọng hát của Thư. Ở trường, ngoài những giờ học có những giờ gọi là « étude », học sinh được tự do học ôn bài vở ngoài đồi, vì ngôi trường tọa lạc trên một ngọn đồi. Có lần tôi ngồi dưới gốc một cây thông, đang ôn bài vật lý để ngày hôm sau thi, bỗng một giọng hát vang lên :

                   Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước

                   Em đến tôi một lần

                   Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân.

Tiếng hát trong trẻo, cao vút. Tôi ngạc nhiên vội xếp sách, nín thở để lắng nghe.

                   Từng đôi chim trong nắng riu rít ca u ù u ú

                   Hồn mùa ngây ngất trầm vương

                   Dìu nhau bên góc suối nơi ven rừng

                   Còn thấy chim ghen lời âu yếm

                   Đến đây mây núi còn chập chùng

                  Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng

                  Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xuân.

 

                   Sương mênh mông che lấp kín non xanh

                   Ôi cánh buồm nâu còn in trên sóng xuân

                   Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca

                   Cánh nhạn vào mây thiết tha

                  Lưu luyến tình vừa qua.  (1)

                 

Tôi lần mò đến gần lùm cây nơi có tiếng hát. Thì ra Thư đang ngồi hát một mình !

– Trời ! Bạn hát hay quá ! Thế mà lâu nay giấu tài nhé !

Thư mỉm cười, trong ráng chiều trông Thư còn đẹp hơn thường ngày. Từ đấy giọng hát của Thư vẫn đeo đưổi tôi.

         Chúng tôi học chung với nhau đến tú tài. Sau đó còn gặp nhau, nhưng không lâu, ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Rồi Thư đi Pháp trước tôi. Từ đó chúng tôi bặt tin nhau.

         Năm 1989, một buổi tối ở Paris, tôi đang nghe nhạc, thình lình điện thoại reo. Có tiếng một người bạn thúc tôi : « Hãy mau mau xem « Apostrophes » trên kênh truyền hình Antenne 2, có Kim Thư … » Tôi vội bật máy. « Apostrophes » là buổi truyền hình văn hóa hằng tuần, Bernard Pivot mời nhiều vị khách, thường là những nhà văn nổi tiếng như Marguerite Duras, Soljenitsyne, v.v… để phỏng vấn và tranh luận, ông cũng mời những người trẻ vừa có tác phẩm xuất bản và được chú ý. « Apostrophes » đạt nhiều kết quả tốt đẹp bất ngờ : mỗi tuần có được hai triệu người xem, sự kiện này ảnh hưởng đến số lượng sách bán trên thị trường. Thế là tôi được thấy Kim Thư trên màn ảnh nhỏ sau bao năm vắng tin. Thư đã nghiễm nhiên trở nên một nhà văn ở cái thủ đô ánh sáng này, với bút danh Kim Lefèvre, tôi đoán Thư đã lập gia đình với một người Pháp. Sở dĩ Thư đưọc Bernard Pivot mời là vì Thư có cuốn tự truyện : « Métisse blanche » vừa ra mắt độc giả Pháp. Hôm đó người xem truyền hình phát hiện một phụ nữ duyên dáng có hai dòng máu Pháp-Việt đang kể lại cuộc hành trình của đời mình. Chúng tôi, lũ bạn của Thư, mới vỡ lẽ là mình không biết gì nhiều về người bạn lai cùng học chung với mình năm xưa ; chúng tôi vội đi mua cuốn « Métisse blanche ».

         Đọc Thư, tôi mới hiểu phần nào nỗi u buồn trong đôi mắt bạn khi còn ngồi dưới mái trường xưa. Thì ra Thư chào đời mà không biết cha của mình là ai. Thư sống với mẹ và mang tên họ của người bố dượng, họ Lâm : Lâm Kim Thư. Thuở lớn lên, Thư sống với mặc cảm của người con lai. Xã hội Việt Nam thời đó có tinh thần chống thực dân Pháp, nên khắc nghiệt với những đứa con lai, dấu tích của thực dân để lại. Người con lai cảm thấy bị gạt bên lề, thậm chí bị ruồng bỏ, khinh khi. Trong « Métisse blanche », Thư kể lại cuộc đời của mình ở Việt Nam, tuổi thơ và tuổi lớn lên ở Nhatrang ; rồi vì một mối tình ngang trái, Thư phải bỏ Nhatrang vào Sài Gòn tìm quên lãng. Một người đàn bà giàu có nhận làm mẹ đỡ đầu cho Thư và gửi Thư lên Đà Lạt học. Nhưng bà mẹ đỡ đầu này luôn luôn vắng bóng, vô cảm, mà Thư thì khao khát được thương yêu. Nhatrang, Sài Gòn, Đà lạt, nơi nào Thư cũng cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Thư có cảm tưởng như bị đời hất hủi và xem việc rời khỏi Việt Nam như một vĩnh biệt, vĩnh biệt cái xứ mà Thư tự hỏi có phải là quê hương của mình không.

         Thư nổi tiếng ngay với cuốn « Métisse blanche », rồi những tác phẩm khác lần lượt xuất hiện : « Retour à la saison des pluies », « Moi, Marina la Malinche », « Les Eaux mortes du Mékong ». « Métisse blanche » được dịch ra Việt ngữ dưới tựa đề : « Cô gái lai trắng », và sắp được dịch ra Anh ngữ. Ngoài ra, các nhà làm sách giáo khoa Pháp xin phép tác giả được in vài trích đoạn của cuốn sách cho học sinh đọc.

 Nhà văn Kim Lefèvre còn là dịch giả của Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp và Phan Thị Vàng Anh.

         Quả đất này xem ra nhỏ bé thật ; rồi mọi người không sớm thì muộn cũng gặp lại nhau. Tôi gặp lại Kim Thư, và tình bạn chúng tôi trở nên thân thiết hơn xưa. Những đau khổ, nổi loạn, uất ức trong lòng Thư khi xưa nay đã lắng xuống. Thư nhìn về quá khứ với một tâm hồn thanh thản, vẫn thương yêu, ôm ấp hình ảnh người mẹ Việt Nam của mình.

(1)Bản nhạc « Đàn chim Việt » của Văn Cao, Phạm Duy đổi lời và đổi tên thành « Bến Xuân ».

SÁNG THỨ BẢY NHÂM NHI TÁCH CÀ PHÊ

 

Ở Paris, thông thường sáng thứ bảy tôi vừa nhâm nhi tách cà phê vừa háo hức chờ đợi buổi phát thanh Répliques của nhà triết học Alain Finkielkraut, trên Đài France Culture. Từ năm 1985 đến nay – năm 2016 – cứ mỗi sáng thứ bảy A. Finkielkraut mời hai nhà chuyên môn về một vấn đề để thảo luận. Những vấn đề được bàn đến thuộc nhiều lĩnh vực : chính trị, thời sự, lịch sử, khoa học, triết học, văn học, v.v… Hai nhân vật được mời có quan điểm khác nhau hoặc hoàn toàn chống đối nhau, có khi họ lại có những quan điểm bổ sung cho nhau. Nhưng dù sao đi nữa cuộc thảo luận luôn luôn diễn ra trong một bầu không khí lịch sự, trong tinh thần tôn trọng nhau. A. Finkielkraut là tiếng nói thứ ba trong cuộc thảo luận, ông có lối phát biểu mạch lạc, rõ ràng, ông thường chọn những đề tài lý thú và đặt những câu hỏi thích đáng, khiến cuộc thảo luận thêm hào hứng. Thính giả có cảm tưởng được học hỏi thêm và phát hiện nhiều khía cạnh mới lạ của đề tài cuộc thảo luận.

Alain Finkielkraut sinh năm 1949. Sau biến cố tháng năm sáu mươi tám đánh dấu cuộc cách mạng văn hóa của giới trẻ ở Pháp, A. Finkielkraut, cũng như phần đông những thanh niên thời đó, có khuynh hướng thiên tả, thậm chí có một thời ông theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Rồi với thời gian người thanh niên bồng bột khuynh tả đã trở nên một nhà triết học khuynh hữu, chịu ảnh hưởng sâu đậm của hai nhà triết học nổi tiếng : Hannah Arendt và Emmanuel Lévinas.

Ngoài việc khởi xướng và chủ trì buổi phát thanh Répliques (Đối đáp), A. Finkielkraut còn là giáo sư triết học ở Trường Bách Khoa và là thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp. Ông cũng là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng, như cuốn La Défaite de la Pensée (Thất bại của Tư duy) đánh dấu sự khởi đầu của việc chỉ trích thế giới hiện đại, và cuốn Le Nouveau Désordre amoureux ( Hỗn loạn mới của yêu đương), trong cuốn sách này, tác giả công kích cái gọi là Huyền thoại của Cách mạng dục tình phát xuất từ biến cố tháng năm sáu mươi tám, và từ những lý luận của các nhà triết học Gilles Deleuze và Félix Guattari.

Những người trí thức khuynh tả, dù có chống đối A. Finkielkraut thế nào đi nữa, cũng vẫn chăm chú theo dõi ông trên những làn sóng phát thanh, những kênh truyền hình và đọc sách của ông, vì ông là người có can đảm đi ngược dòng để khẳng định những giá trị truyền thống, ông không nhân nhượng trước những tư tưởng dễ dãi, thời thượng và có tính mị dân. A. Finkielkraut là một tên tuổi nổi bật của giới trí thức Pháp.

Một sáng thứ bảy, A. Finkielkraut báo với thính giả đề tài cuộc thảo luận hôm đó là Boris Pasternak và tác phẩm Bác sĩ Jivago. Tôi giật mình, nhớ lại một kỷ niệm khi còn ở quê nhà. Vào thời đó, chúng tôi thuộc lớp trẻ một mặt trân trọng kho tàng văn hóa nước nhà, mặt khác rất cởi mở với văn hóa Tây phương. Trong khi sách và tài liệu bằng ngoại ngữ có phần khan hiếm và đắt tiền, chúng tôi khao khát được biết những hiện tượng văn hóa ở nước ngoài, đặc biệt thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và Tiểu Thuyết Mới của Alain Robbe-Grillet ở Pháp. Một hôm có người bạn khoe vừa mới nhận được cuốn Le docteur Jivago từ Pháp gửi về. Bỗng nhiên tôi cảm thấy rất thèm đọc cuốn sách đó. Thêm nữa, được biết Boris Pasternak, tác giả cuốn sách, được giải Nobel nhưng không đi lãnh được, tính tò mò của tôi càng bị kích thích. Tôi bèn năn nỉ người bạn cho tôi mượn cuốn sách. Bạn tôi đang thích thú có được một cuốn sách quý, nghe tôi hỏi mượn thì có vẻ không vui, nhưng có lẽ vì thấy tôi van nài dữ quá và hứa chỉ giữ cuốn sách trong hai ngày, bạn tôi đành cho mượn. Phần tôi rất áy náy, vì trong vòng hai ngày làm sao đọc hết một cuốn sách dày như thế. Dù sao tôi vẫn thấy mình may mắn, nên vội đem cuốn sách về nhà, dẹp hết mọi việc để mải miết đọc cho kịp trả lại bạn. Vì thiếu thời gian để đọc kỹ và vì tuổi trẻ thiếu chín chắn trong sự tiếp nhận một tác phẩm, nên tôi không nhớ gì nhiều, chỉ nhớ mối tình đầy bất trắc của Jivago và Lara, nhớ có đông đảo nhân vật trong truyện – tiểu thuyết Nga bao giờ cũng có rất nhiều nhân vật – và nhớ nhất là… tuyết. Tôi đọc Bác sĩ Jivago trong một thành phố Sài gòn vô cùng nóng bức, mà sao tôi có cảm tưởng như tuyết rơi quanh mình nhiều quá !

Hôm nay được nghe bàn đến cuốn sách mà năm xưa tôi đã đọc vội vã. Khi nghe hai học giả chuyên về văn học Nga phát biểu về Boris Pasternak và tác phẩm của ông, tôi lóa mắt. Sau buổi phát thanh Répliques, tôi nhất định phải đọc lại một tác phẩm lớn đã từ lâu bị chôn vùi trong ký ức mình. Thế là tôi đến khu La Tinh tìm cuốn sách. Bà chủ hiệu sách kêu lên : Quái ! Hôm nay có cái gì mà nhiều người đến mua cuốn sách này thế ? À, thế thì tôi không phải là kẻ duy nhất, trong số các thính giả của Répliques, đã bị cuộc thảo luận lôi cuốn.

 Alain Finkielkraut đã vô tình đưa tôi trở về với Bác sĩ Jivago. Lần này tôi không phải đọc sách hấp tấp để kịp trả cho bạn. Tôi có thừa thì giờ để nhẩn nha đi vào thế giới mênh mông và bi đát của Jivago, để thưởng thức cái đẹp qua sự sáng tạo của một nhà thơ viết văn xuôi, vì Boris Pasternak trước tiên là một nhà thơ. Tác phẩm Bác sĩ Jivago kết thúc bằng những bài thơ, như để nhắc rằng cái đẹp thấp thoáng trong truyện bắt nguồn từ thơ.

BÁC NHẤT LINH

Dạo ấy tôi vừa thi đỗ Brevet ở Đà lạt, gia đình cho về Sài gòn chơi. Nhưng vừa về đến nơi, tôi lâm bệnh, phải vào bệnh viện Saint Paul. Tôi đâm buồn chán. Về Sài gòn là để dạo phố, đđi xem những phim mới đã được báo chí khen, đi xem Đại Nhạc Hội có Ban Hợp ca Thăng Long, có cô ca sĩ Thúy Nga thướt tha trong chiếc áo dài, tóc xõa sau lưng, ôm chiếc đàn xếp vừa đàn vừa hát, chứ đâu phải giam mình trong một bệnh viện, suốt ngày chỉ thấy bà xơ và bác sĩ ra vào.

Một buổi trưa, tôi đang đếm số ngày còn lại ở trong bệnh viện để mong mau mau ra khỏi nơi này, thì thình lình có một cô gái phòng bên cạnh sang làm quen. Ồ ! Thế thì tốt quá ! Thời gian trong bệnh viện sẽ bớt trống trải, bớt dài lê thê đối với tôi. Cô ấy tự giới thiệu :

– Tên mình là Kim Thoa, mình vào đây cũng khá lâu rồi. Số mình không may, hay đau ốm, mắt lại kém nên chuyện học hành phải bỏ dở.

Thế là chúng tôi trò chuyện huyên thuyên. Thoa hỏi tôi ở đâu và xin địa chỉ. Thoa kể trong gia đình có mấy người anh, chỉ có Thoa là con gái nên được bố cưng. Thoa lại kể có một người anh có chứng động kinh. Có lần anh đang ngồi viết ở cửa sổ thì bất ngờ anh nổi cơn động kinh, té nhào xuống đất, bình mực hắt vào mặt, mặt anh đen sì, người anh co quắp, trông ghê quá ! Tôi tưng tượng gương mặt người con trai bỗng nhiên hóa đen như người Phi châu và cũng cảm thấy rợn người.

Ngày hôm sau Thoa trở sang phòng tôi.

– Này, ấy có đọc sách của Nhất Linh không ?

Nhất Linh ? Trời ! Cái tên làm tôi rung động. Ngày ngày cắp sách đến trường Couvent des Oiseaux, lo học bài về Racine, Corneille, nhưng trong cặp lúc nào tôi cũng có một cuốn tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn và những bài thơ tôi nắn nót chép tay, thuộc lòng.

Em cứ hẹn nhưng em đng đến nhé !

Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân,

Nhìn trên tay thuốc lá cháy lui dần…

Tôi nói khẽ : Gớm, làm sao nhớ thế ?

Hồ Dzếnh đồng hành với tôi như thế đó, trên con đường từ nhà đến ngọn đồi Oiseaux, khiến con đường bớt dài, bớt nhọc mệt. Và buổi tối, sau khi làm bài xong, tôi thức khuya đđọc truyện của Khái Hưng, Nhất Linh. Lại thêm có ai đến nhà chơi, bỏ quên mấy cuốn truyện : « Bên đường Thiên lôi » của Thế Lữ, « Quê mẹ » của Thanh Tịnh và « Tóc chị Hoài » của Nguyễn Tuân, thế là tôi vồ ngay đđọc. Ôi ! Những truyện có sức lôi cuốn tâm hồn một đứa con gái mới lớn !

Bằng một cách nào đó, tôi đã bạc đãi văn hóa Pháp mà nhà trường muốn truyền cho tôi, để chung tình với văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên vì sợ bị điểm xấu trong học bạ, tôi cũng cố gắng học phép tam nhất trong các kịch bản Le Cid, Andromaque, v.v…, hoc tiểu sử của Molière, học « Cây sậy biết tư duy » của Pascal…

– Sao ? Đã đọc sách của Nhất Linh chưa ?

Câu hỏi của Thoa làm tôi giật mình, trở về hiện tại.

– Còn phải hỏi ! Sách của Khái Hưng và Nhất Linh là những cuốn sách gối đầu của mình đấy !

– Nhất Linh là bố của mình. Thoa nói tỉnh bơ.

Còn tôi thì như trên trời rớt xuống. Thoa, một cô gái bình thường, không có dấu hiệu gì gọi là « con nhà », thế mà Thoa lại là con của một ông… « khổng lồ ». Trong trí óc ngây thơ, non nớt của tôi, những nhà văn có tài tạo nên những thế giới quyến rũ, mê hồn như thế phải là những ông khổng lồ, một thứ thưng đế xa xôi, không bao giờ mình vói tới. Thế mà con của một ông khổng lồ đang ngồi trước mặt tôi ! Tôi nhìn Thoa với đôi mắt mở to, kinh ngạc. Nhưng Thoa dường như không để ý, hỏi tôi :

– Bạn đc được những sách gì của bố mình ?

– Thì « Nắng thu », « Đôi bạn », « Đoạn tuyệt »… tình yêu của Dũng và Loan làm mình xúc động.

– Bố mình mà biết được thì ông vui lắm đấy !

Rồi tôi xuất viện. Tình bạn của chúng tôi mới chớm nở, chưa đủ thời gian để bén rể. Chúng tôi vui vẻ chia tay.

Tôi trở về đời sống nữ sinh ở Đà lạt, vẫn cặm cụi làm những bài luận Pháp văn, cố viết sao cho hay, cho đúng mẹo luật đ được điểm tốt, và vẫn tìm thêm thơ, truyện Việt Nam đđọc.

Một buổi sáng tôi đang ở trong vườn, định hái hoa đđem vào nhà chưng – ở Đà lạt khỏi cần ra chợ mua hoa, nhà nào cũng có hoa nở đy vườn – thình lình tôi thấy Thoa xuất hiện bên cạnh một người đàn ông lớn tuổi mặc một bộ đồ complet màu mỡ gà. Thoa tươiời nói :

– Bố mình đây !

Tôi khựng lại vài giây trước ông khổng lồ. Rồi tôi lí nhí :

– Kính chào bác !

Tôi mời hai bố con vào phòng khách. Ông khổng lồ hóa ra là một người đàn ông có vóc dáng thấp, gương mặt hiền lành, giọng nói điềm đạm. Bác Nhất Linh đưa mắt nhìn xung quanh và nói :

– Bố mẹ cháu có cái biệt thự đẹp quá ! Bác thì ở trong một nông trại hơi xa, bác trồng nhiều loại hoa lan lắm !

Tôi đâm ra nhút nhát, líu lưỡi, tôi cúi đầu dạ dạ, vâng vâng. Có lẽ bác thấy trong đôi mắt tôi sự khâm phục biến thành lúng túng, bác mỉm cười đợng và nói :

– Cháu cố học giỏi nhé ! Và hãy tiếp tục đọc sách cho nhiều.

« Tiếp tục », tôi đưa mắt nhìn Thoa đang cười hãnh diện về bố mình, có lẽ cô ta đã mách với bố rằng người bạn quen ở Saint Paul là một cô gái say mê sách của bố.

Khi bác Nhất Linh đứng dậy ra về, tôi chấp tay cám ơn bác đã đến thăm tôi. Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng tôi gặp nhà văn Nhất Linh. Tôi tiếc giá lúc đó tôi có được tính dạn dĩ, chín chắn thì biết đâu bác Nhất Linh sẽ nói sơ qua với tôi vài điều về văn chương, về những tác phẩm của bác, theo trình độ hiểu biết của tôi, như một người thầy giảng cho học trò.

CÂU THƠ VƯỢT THỜI GIAN

Có những câu thơ đi vào ngôn ngữ của người đời và được tồn tại lâu dài  đến nỗi người ta không còn nhớ tên tác giả. Nhưng tác giả của câu thơ Pháp :

Partir, c’est mourir un peu.

(Ra đi là chết trong lòng một ít)

có một số phận may mắn hơn. Chính nhờ một giai thoại mà tên của tác giả không rơi vào quên lãng. Tác giả là Edmond Haraucourt (1857-1941). Partir, c’est mourir un peu là câu thơ mở đầu cho bài Rondel de l’adieu (Bài thơ giã từ) của ông. Bài thơ này nổi tiếng và được phổ nhạc vào đầu thế kỷ 20.

Người ta kể rằng thời đó Haraucourt là một công chức. Một hôm ông bộ trưởng cho gọi ông đến để báo ông biết ông bộ trưởng muốn ông nghỉ hưu. Ông bộ trưởng tỏ vẻ thông cảm :

– Ông à, tôi cũng biết lắm chứ. Ra đi là chết trong lòng một ít.

Haraucourt ngạc nhiên hỏi :

– Thưa ông bộ trưởng, ông có biết tác giả của câu thơ ông vừa mới đọc là ai không ?

Ông bộ trưởng lúng túng nói liều :

– Ờ thì của Musset hay Lamartine gì đó mà !

Haraucourt nổi giận :

– Không, câu thơ đó là của tôi. Vậy là ông đòi lại công việc của tôi, ông đoạt thơ tôi và có lẽ ông cũng muốn lấy luôn ví tiền của tôi chăng ?

Người ta đồn rằng sau đó ông bộ trưởng làm ngơ về cái tuổi hưu trí của  Haraucourt.

Edmond Haraucourt, nói chung, là một nhà thơ không mấy nổi tiếng ; thế mà chỉ một câu thơ duy nhất của ông, một cách bí ẩn, đã đi vào ký ức của người đời. Trong khi đó có những nhà văn nổi tiếng, được giải thưởng này, giải thưởng nọ, được ca tụng khắp nơi ; nhưng vài mươi năm sau không còn ai biết đến. Như vậy có nên ham thích địa vị của Edmond Haraucourt không ?

Thêm nữa, câu thơ của Haraucourt đã gây nên một hiện tượng liên văn bản nho nhỏ trong thi ca Việt Nam. Hẳn những người yêu thơ còn nhớ câu thơ của Xuân Diệu : Yêu, là chết trong lòng một ít, trong bài thơ Yêu. Xuân Diệu theo sát Haraucourt bằng cách ngắt câu thơ sau chữ yêu, cũng như Haraucourt đã ngắt câu thơ sau chữ partir. Thế nhưng dấu phẩy của Haraucourt được đặt đúng chỗ, đúng theo ngữ pháp của Pháp, còn dấu phẩy của Xuân Diệu không cần thiết, nó dư thừa, không đúng về cú pháp, vì động từ phải đi liền với chủ từ.