SỨ MẠNG CỦA NGƯỜI CẦM BÚT THEO LINH MỤC THANH LÃNG

 

Linh mục Thanh Lãng là một nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã dìu dắt nhiều thế hệ sinh viên. Ông để lại nhiều công trình nghiên cứu, phần đóng góp của ông vào chữ quốc ngữ, văn học Thiên Chúa giáo và văn học sử Việt Nam rất lớn lao.

Năm 1967, nhân mừng sinh nhật năm thứ mười của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, linh mục Thanh Lãng đã phát biểu ý kiến về sứ mạng người cầm bút. Trước khi nghe linh mục nói về đề tài này, thiết tưởng chúng ta cũng cần biết qua Trung Tâm Văn Bút.

Trung Tâm Văn Bút Việt Nam thời đó là một chi nhánh của Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế gọi là PEN Club International do bà Catherine Amy Dawson Scott thành lập năm 1921. Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế là một hiệp hội tập hợp những nhà văn của tất cả các nước, những nhà văn tha thiết với những giá trị hòa bình, bao dung và tự do, thiếu những giá trị đó không thể có sáng tạo được.

PEN là do từ Anh ngữ pen (cây bút) tóm tắt những nghề viết :

P : Poets : những người làm thơ ; Playwrights : những người viết kịch

E : Essayists : những người viết biên khảo ; Editors : những người xuất bản

N : Novelists : những tác giả viết tiểu thuyết ; Non fiction authors : những tác giả viết ngoài hư cấu.

Năm 1957, nhà văn Đỗ Đức Thu sang Đông Kinh (Tokyo) dự hội nghị Văn Bút Quốc Tế lần thứ 29, và đã tích cực vận động cho Việt Nam. Kết quả là Trung Tâm Văn Bút Việt Nam được nhận vào Trung Tâm Văn Bút Quốc Tế.

Ở miền Nam, kể từ những năm 60, Trung Tâm Văn Bút là một cơ quan văn hóa tuy không có tầm cỡ lớn, nhưng đã đạt được nhiều thành tích tốt đẹp. Về nội bộ, các ủy ban chấp hành được bầu theo định kỳ. Năm 1961, chủ tịch của ủy ban chấp hành là nhà văn Nhất Linh. Năm 1967, chủ tịch là nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Ngoài ra, Trung Tâm Văn Bút tổ chức những sinh hoạt văn hóa như ấn hành những tập kỷ yếu, tổ chức những buổi diễn thuyết, hội thảo, trao những giải thưởng văn chương, xuất bản những tuyển tập, v.v…

Để khai mạc cuộc hội thảo đánh dấu mười năm của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, chủ tịch Vũ Hoàng Chương giới thiệu cùng cử tọa văn hữu Thanh Lãng.

Cất lời trước cử tọa, linh mục Thanh Lãng nhắc rằng kỷ niệm mười năm thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam là kỷ niệm sự lựa chọn và chấp nhận một lý tưởng làm văn chương nghệ thuật bởi một số người cầm bút. Lý tưởng đó đã được trình bày trong Hiến Chương của Văn Bút, và có thể được tóm tắt qua bốn điểm sau đây :

1/ Văn chương nghệ thuật không nên có biên giới.

2/ Văn chương nghệ thuật là tài sản chung của nhân loại.

3/ Người làm văn chương nghệ thuật cần hiểu biết sự tương giao nhau như là thành phần của một nhân loại duy nhất và hoà bình.

4/ Người làm văn chương nghệ thuật cần đề cao lý tưởng Tự do và Bao dung.

Sau đó linh mục Thanh Lãng đưa ra vấn đề Sứ Mạng Của Người Cầm Bút và nói rõ rằng đây không phải là một bài diễn thuyết mà là một hội thoại. Tuy thế, sau hơn nửa thế kỷ, điều quan trọng nhất đối với chúng ta, người đọc hôm nay, là  quan niệm của linh mục Thanh Lãng về người cầm bút được trình bày trong bài của linh mục, do đó những trao đổi giữa linh mục và vài người trong cử tọa không cần thiết nêu ra trong bài này.

Linh mục Thanh Lãng nói rõ : ông chỉ đặt vấn đề và đưa ra những thắc mắc để những người cầm bút cùng ý thức, cùng suy nghĩ chung với nhau. Những câu hỏi được đặt ra là :

Nhà văn có một sứ mạng gì không ?

Lịch sử người cầm bút với sứ mạng người cầm bút tương quan phản ứng ra sao ?

Diễn giả định nghĩa : Nói sứ mạng nhà văn, hay nói nhà văn có sứ mạng là nói nhà văn có mang theo một mệnh lệnh nào do ơn trên đâu đó trao cho mình : gọi là « sứ mạng » hay gọi là « mạng lệnh », hay gọi nôm na là điều dạy làm, điều dạy gửi.

Và diễn giả giải thích định nghĩa đó như sau, sứ mạng bao gồm :

– Người ra lệnh, « Người sai gửi »,

– Người mang lệnh, người đi gửi,

– Người nhận lệnh, người tiếp nhận vật gửi,

– Lệnh, tức đồ vật gửi đi.

Nếu đưa định nghĩa này vào lĩnh vực văn học nghệ thuật thì :

– Người ra lệnh hay người sai gửi sứ điệp là hồn thiêng dân tộc, là nhân loại, là trời đất.

– Người mang lệnh, người đi gửi sứ điệp là nhà văn.

– Người nhận lệnh, người nhận sứ điệp là độc giả.

– Sứ điệp là tác phẩm văn học. Gọi tác phẩm là sứ điệp vì viết là nói với độc giả, bộc lộ với độc giả, san sẻ, tỏ bày với độc giả. Vậy viết là ý muốn nói với ai điều gì, một tâm sự gì.

Có khi nhà văn tuyên bố chỉ viết cho mình, nhưng những điều nhà văn muốn nói ra rơi vào chữ viết, mà chữ viết là một phương tiện truyền bá. Cho nên dù muốn dù không, dù ý thức hay vô thức, tác phẩm nào cũng là một sứ điệp. Diễn giả cho biết không có nghệ thuật nào mà không thưa gửi, nghĩa là không phải là một sứ điệp, và không có nhà văn nào mà không phải là sứ giả. Xin tóm tắt sau đây vài ví dụ trong nhiều ví dụ diễn giả đã đưa ra :

Thơ của Nguyễn Trãi là sứ điệp và Nguyễn Trãi là sứ giả ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị của đất nước, cỏ cây. Lục Vân Tiên là sứ điệp của Nho giáo. Các nhà văn cuối thế kỷ 19 là sứ giả của chiến tranh bi thảm, của quật khởi chống Pháp. Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí là sứ điệp của Hòa bình. Tự Lực Văn Đoàn là sứ điệp của chiến tranh, của tiến bộ.

Diễn giả nhận xét người cầm bút hôm nay ở trong hoàn cảnh chiến tranh, với những tệ đoan như tham nhũng, mọi giá trị tôn giáo, văn hóa, xã hội bị đảo lộn và lý do của mọi xung đột giữa cá nhân, đoàn thể, dân tộc, cuộc chém giết nhau vì hệ tư tưởng, lý do của những tai họa đó là lý tưởng Tự do không được tôn trọng.

Bản tính con người là Tự do mà bản chất Tự do là được lựa chọn (…). Người cầm bút hôm nay phải là một sứ giả được sai đi, đi để đến với những người nhận sứ điệp là cá nhân, là đoàn thể, là dân tộc, là nhân loại (…). Không ai được chối bỏ mình là sứ giả vì mình được nhìn như vậy (1).

Vậy vai trò của sứ giả tức nhà văn như thế nào ? Theo diễn giả, sứ giả cần biến cái đẹp, tức văn chương, thành nguồn vui sống cho con người đang đau khổ, tuyệt vọng, biến cái đẹp thành nhịp cầu yêu thương giữa mọi người. Sứ giả cần biến chữ viết tức tác phẩm thành phương tiện chuyên chở lời nhắn với mọi người rằng con Người chỉ là con Người khi có Tự do. Qua sứ điệp, tức tác phẩm, sứ giả cần cổ động, ca tụng quyền lựa chọn tức quyền tự do của mọi người, ca tụng tinh thần bao dung, chấp nhận nhau, khuyến khích tinh thần phân công và hợp tác giữa các giới khác nhau, ủng hộ các tổ chức văn hóa, xã hội, chính trị. Sau cùng, sứ giả cần dấn thân để chống lại mọi lý thuyết, mọi cá nhân, đoàn thể, đảng phái, mọi dân tộc đi ngược lại với lý tưởng Tự do. Và làm thế nào để sứ điệp trở thành một Thiên trường ca ca ngợi Hoà bình.

Trong văn học Pháp, tác phẩm được gọi là message, thông điệp, tác giả là émetteur, người phát (thông điệp), và độc giả là récepteur, người tiếp nhận (thông điệp). Người phát ra thông điệp quan niệm rằng tự họ làm ra thông điệp để truyền đi, để gửi đến người tiếp nhận. Chúng ta thấy ngay sự khác biệt giữa quan niệm của Tây phương và quan niệm của linh mục Thanh Lãng

Linh mục Thanh Lãng đi xa hơn, ông đặt lý tưởng Tự do trên hết, để làm nền tảng cho con người, cho văn chương. Để phụng sự một lý tưởng cao đẹp như thế, trước hết tác phẩm không chỉ là một thông điệp mà là một sứ điệp mang một mệnh lệnh thiêng liêng, và cương vị của nhà văn được nâng cao : nhà văn không chỉ là người phát ra một thông điệp mà là một sứ giả, người vâng mệnh trên là hồn dân tộc đem sứ điệp tự do đến với mọi người. Khi ý thức được cái thiên chức đó, nhà văn không còn tự giam mình trong một thái độ trốn tránh, thụ động nữa, không còn viết những cái tầm thường, nông cạn, không xứng đáng là một sứ điệp thật sự. Linh mục Thanh Lãng đã mở rộng vấn đề sáng tạo văn chương, ông đã thiêng liêng hóa chức năng của nhà văn. Quan niệm của linh mục có khả năng đánh thức giới cầm bút khiến họ suy nghĩ xa hơn về việc dấn thân của một nhà văn trong xã hội, trong đất nước.

(1) Câu Chuyện Văn Chương, Nxb Khai Trí Sài Gòn, 1969, tr. 491-492.

Paris, tháng 12 – 2018

Advertisements

NGUYỄN THỊ THỤY VŨ VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA LỊCH SỬ

 

Vào năm 1942, khi Vũ Ngọc Phan, tác giả bộ sách Nhà văn hiện đại, giới thiệu cuốn truyện Một linh hồn của Thụy An, ông nhận xét văn học đang ở trong tình trạng chờ đợi nữ giới cầm bút để viết tiểu thuyết, vì lúc bấy giờ việc người nữ sáng tác tiểu thuyết là một sự kiện hiếm hoi. Do đó cuốn Một linh hồn của Thụy An phải được xem như một biến cố văn học.

Nếu vào những năm 60-70 nhà phê bình Vũ Ngọc Phan mục kích được hàng loạt tác phẩm của nữ giới xuất hiện ở miền Nam thì sự mong đợi của ông đã được toại nguyện. Nối gót các bậc đàn chị như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, có Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng…, cả một đội ngũ ra tay viết, không mệt mỏi.

Trong khi Nhã Ca, Túy Hồng, quê miền Trung, đem xứ Huế vào tác phẩm của mình thì Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh trưởng ở miền sông nước Cửu Long, vẽ lên trong các truyện của bà cái không gian chằng chịt những sông rạch và con người sống ở đấy.

Năm 1966, Nguyễn Thị Thụy Vũ bước vào làng văn với tập truyện đầu tay Mèo Đêm, mở đầu cho một loạt truyện ra mắt đều đều cho đến năm 1973. Cả thảy mười tác phẩm, ba tập truyện ngắn : Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông và bảy truyện dài : Thú Hoang, Ngọn Pháo Bông, Khung Rêu (Giải thưởng Văn Học Toàn Quốc, 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm và Cho Trận Gió Kinh Thiên (1).

Chủ đề lớn nhất làm nên tính nhất quán của mười tác phẩm là người phụ nữ. Hiếm hoi lắm mới có truyện về đàn ông như hai truyện ngắn : Trôi SôngChiều Mênh Mông (tập truyện Chiều Mênh Mông). Nguyễn Thị Thụy Vũ trước sau cầm bút cũng chỉ để viết về người phụ nữ, nhưng không phải bất cứ người phụ nữ nào mà chủ yếu là những người phụ nữ chào đời và lớn lên ở miền đất Tiền giang, vào lúc xã hội dần dần đi vào thời hiện đại. Để theo dõi thân phận của những người phụ nữ đó qua những thời biến động của đất nước, thiết tưởng cần đọc các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ qua lưới đọc của phê bình xã hội (sociocritique).

Claude Duchet định nghĩa phê bình của xã hội học là cách phê bình nhằm chính văn bản như cái nơi mà tính xã hội nào đó được diễn ra.

Phê bình xã hội đọc trong văn bản những khía cạnh, những hiện tượng có tính lịch sử, xã hội, hệ tư tưởng và văn hóa, phản ánh của hiện thực : văn bản không thể có được nếu không có hiện thực. Và cách đọc của phê bình xã hội không cứ phải dựa vào những lý thuyết như của Karl Max, Georg Lukács, Lucien Goldmann, vì các lý thuyết đó trở nên xưa, không thích hợp với một hiện thực phong phú, phức tạp của ngày nay. Mọi cách đọc văn bản ngày nay là phát minh và tìm tòi, nó góp phần vào việc phong phú hóa, vào sự tiến bộ của tâm thức về xã hội và lịch sử.

Vậy chúng ta thử đi vào thế giới truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ theo cách đọc của phê bình xã hội.

I  Một thời suy tàn

Dù muốn dù không, nhà văn bao giờ cũng đưa ít nhiều trải nghiệm của mình vào tác phẩm. Vĩnh Long là nơi Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh ra và lớn lên. Trước mắt tác giả : cảnh sông nước, tuổi mới lớn, thời học sinh, nếp sống ở tỉnh lẻ, các bậc cha mẹ với những phong tục, tập quán lỗi thời, sự chờ đợi tương lai… tất cả được lồng vào một xã hội xưa cũ, tàn dư của thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Một xã hội được cấu trúc bởi hai giai cấp giàu, nghèo, và sự phân chia giai cấp rất rõ rệt.

Ở giai cấp người giàu, chủ nhà là bậc phú hộ có uy quyền, được trọng vọng, nể nang. Họ gìn giữ thanh danh và cái bề ngoài. Trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya, ông Đốc phủ sứ nói với con trai và con dâu : Gia đình mình là một thế gia vọng tộc, nhứt nhứt mọi thứ đều phải vượt những thứ thiên hạ thường tình. (tr. 104) Còn bà Phủ trong truyện Khung Rêu, khi cảnh nhà sa sút, thường nói với chồng : Phải gói ghém sự xuống dốc. Giàu thì thiên hạ ganh tị, còn nghèo thì bị họ khinh khi. Thà bị ganh tị hơn. (tr.120)

Ruộng lúa là cái gạch nối giữa hai giai cấp. Người giàu khai thác sức lao động của người nghèo để có lúa mà bán. Hàng năm tá điền đi ghe chở lúa đến nhà chủ điền và tỏ vẻ khúm núm. Họ đem theo bộ quần áo tốt nhất để mặc khi đong lúa với chủ điền. Thức ăn đi đường của họ là « một hũ mắm đồng, vài con khô sặc, một chai nước mắm », nếu khát thì đã có nước sông.

Phần chủ điền, hàng năm cũng đi ghe quan sát ruộng lúa của mình và thu lúa. Nhưng đến thời tinh thần tranh đấu của nhân dân bừng dậy, giới tá điền bắt đầu phẫn nộ trước sự bất công. Trong truyện Khung Rêu, ông Phủ đi ghe thăm ruộng đất, ông có nghe đâu đó ở vùng Cà Mau, Rạch Giá, dân tá điền chống lại chủ điền, nhưng ở vùng ông tá điền vẫn còn khúm núm chào ông lớn, vẫn còn run sợ khi thấy bóng chủ điền, nên ông yên tâm ; thêm nữa Pháp đã trở lại trong vùng. Ngờ đâu tá điền thuê đất của ông nay đã thay đổi thái độ. Đặc biệt một người tá điền tên Đực đã bị ông Phủ phá hoại cuộc đời con gái của người yêu, anh ta càng tỏ ra xấc xược, hung dữ, khiến ông Phủ vội trở về. Chẳng những ông không còn hy vọng thu được lúa mà còn bị tá điền đoạt ruộng đất. Trong truyện Thú Hoang, ông nội của Liễu xưa kia có ruộng cò bay thẳng cánh, ông thường đi ghe từ Vĩnh Long về miệt Hóc Hỏa để thu lúa. Rồi thời thế không yên, ruộng ông bị tịch thu. Lần cuối cùng ông đi thu lúa, hai tháng sau ghe của ông trở về mà không có ông, ông bị tá điền đâm trọng thương, rồi chết.

Bức tường ngăn chia giàu nghèo có khi gây nên cảnh éo le về tình cảm. Nhân vật cô Ba Ngoạn trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya bị người cha gọi về Cần Thơ để gã chồng, nhưng cô đã yêu con trai của một người tá điền. Cô dư biết cha cô sẽ không bao giờ chấp nhận làm thông gia với một tá điền. Cô tâm sự với những chị em trong nhà : … tôi đã lỡ yêu một người đàn ông không cùng một giai cấp với tụi mình. Ảnh là con người tá điền của má tôi. (tr. 98) Cô Ba Ngoạn tự tử hụt khi hay tin người yêu đi lấy vợ vì vâng lời cha mẹ và hay tin cha của cô đã đuổi gia đình người tá điền ra khỏi ruộng đất của ông.

Giai cấp giàu khinh rẻ giai cấp nghèo ; người nghèo thì thủ phận, họ bị dồn vào cái thế của người nô lệ phải phục tùng giới phú hộ có quyền thế. Có những trường hợp người nghèo lại sung sướng, hãnh diện được công khai gần gũi với người giàu, như trong truyện ngắn Trôi Sông (tập truyện Chiều Mênh Mông), lão Tự là một phu lục lộ, lão sung sướng, hãnh diện vì một quan tri phủ về hưu lấy con gái độc nhất của lão làm vợ thứ tám. Mỗi lần quan tri phủ cho gọi lão đến thì lão lật đật giở cái tráp bằng cây thông lôi bộ đồ bà ba vải xe lửa trắng đổi màu ngà còn ngát mùi lông não (…). Chùi vội đôi guốc cây (…). Lão soi mặt vào miếng kiếng bể (…). Lão sửa lại chiếc khăn vải Tây đỏ chít trên đầu. Nỗi vui mừng lẫn lo lắng cồn cào tâm hồn lão (…). Đi đến đâu lão không quên khoe lão là cha vợ quan tri phủ. (tr. 14)

Quan niệm giai cấp đã ăn sâu vào tư tưởng của lớp người có uy thế. Trong Nhang tàn thắp khuya, Thục Nghi về làm dâu một nhà quyền quý đông con gái : Thục Nghi bắt đầu cảm thấy bọn con gái thuộc nơi quyền quý thật khó mà gột rửa thành kiến nặng nề về giai cấp. (tr. 188)

Trong các truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ, ngôi nhà tổ phụ, ngôi nhà hương hỏa thường xuất hiện như nhắc nhở một thời đã qua. Ngôi nhà thường được xây cất bên bờ sông, có nhà thủy tạ để chủ nhà ra hóng mát và để đoàn ghe của tá điền cập bến nộp lúa, trong nhà lại có lẫm lúa, dấu hiệu giàu có của chủ nhà, một khu vườn rộng với cây cối rậm rạp bao quanh nhà. Ngôi nhà hương hỏa là một biểu tượng của dòng dõi người phú hộ. Trung đường trải dài ba gian, là cái nơi có những bàn thờ, lư hương, bình hoa mà đến ngày giỗ được con cháu và tôi tớ trong nhà lau chùi bóng loáng, hoa quả được long trọng chưng lên. Mặc dù ngôi nhà đã đến thời mục nát, nhưng nó vẫn là cái nơi tụ họp của gia đình họ hàng, cái nơi mà gia đình có thể che đậy sự suy sụp của mình bằng cách dọn những mâm cỗ linh đình vào những ngày cúng ông bà tổ tiên, ngày giỗ những người quá cố hoặc vào dịp Tết, cúng đưa ông Táo về Trời, cúng giao thừa ; gia đình lo việc thờ phụng, cúng bái một cách long trọng.

2/ Người phụ nữ trong một xã hội bảo thủ

Cuối thời phong kiến, tinh thần trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại trong xã hội. Sự bất bình đẳng lại càng mạnh hơn nếu người đàn ông có tiền của và quyền thế. Người phú hộ có quyền có năm thê bảy thiếp, ông Đốc Phủ sứ trong Nhang tàn thắp khuya có ba người vợ, trong Thú Hoang, ông nội của Liễu có sáu người vợ và trong truyện Trôi Sông ông quan tri phủ có tám người vợ. Chỉ có người phụ nữ phải chịu thiệt thòi.

Trong truyện Khung Rêu, tuy ông Phủ không có nhiều vợ, nhưng ông cũng đã dùng uy quyền để làm cho một cô gái nhà nghèo mang thai, Ngà, tên cô gái, đến ở thuê trong nhà để trả nợ cho cha là một tá điền.

Về phần bà Phủ, vì tinh thần trọng nam, bà ao ước cho ông Phủ một đứa con trai, mặc dù ông đã có ba người con trai với người vợ trước đã khuất bóng. Nhưng định mệnh đã mỉa mai cho bà Phủ một đứa con nửa trai nửa gái, điều làm bà rất đau khổ.

Nhân vật cụ bà trong truyện Chiều xuống êm đềm thì có mặc cảm tội lỗi đối với chồng vì bà chỉ sinh được hai người con gái.

Tuy con gái không được quý bằng con trai, nhưng cũng phải được dạy dỗ để có nết na và giỏi giang việc nhà. Bà Phủ nuôi hai đứa cháu gái trong nhà, bà đem những thành ngữ chữ Hán, pho kinh Phật ra răn dạy, bà nghiêm khắc theo dõi hai cô cháu và không muốn họ gần con trai : Nam nữ thọ thọ bất thân. Con gái như rơm khô dễ bắt lửa. Con trai là thứ lửa nguy hiểm. Lửa để gần rơm nếu không cháy cũng tròn trèm. (tr. 35) Bà xem việc nuôi con gái như một nỗi lo âu, một việc quá vất vả mà bà phải gánh lấy : Nuôi con gái khác nào đem giặc về nhà. Bà Phủ là người dựa vào đạo đức thời xưa để cản trở tình yêu của các cô gái.

Trong một xã hội bảo thủ, người ta khó chấp nhận cái mới. Nhất là khi cái mới được phụ nữ yêu chuộng. Vào thời Pháp đô hộ, người tỉnh lẻ không quen thấy những cái mới lạ, trong truyện Chiều Xuống Êm Đềm, cụ bà tuy hãnh diện có con gái lấy chồng dân Tây, nhưng cụ phật ý : Tao coi bộ con Thông nó làm nhiều chuyện không được… thuận nhãn cho lắm. Ai đời nó bận áo tân thời, tô son trét phấn như đào hát bội, lại còn liều mạng lái xe nữa… Rủi có bề gì thì sao đây ? (…) Ai đời, cái chuyện học tiếng Tây mà cũng đem ra khoe. (tr. 47, 49)

Người phú hộ khi tiếp xúc với người Pháp, thì bị lóa mắt bởi cái uy quyền của nước bảo hộ, bị óc nô lệ ru ngủ ; họ xem sự hiện diện của người Pháp như một bảo đảm cho đời sống của họ, họ không cần hiểu biết sâu xa về tình trạng của đất nước và thiếu tinh thần yêu nước. Trong Khung Rêu, ông Phủ nói : Tôi thích Tây cai trị, Tây mà đi rồi, mình chết đói cả đám (…). Tôi nói thiệt đa, nếu con cháu tôi chộn rộn bắt chước tụi học sinh bỏ học, bỏ nhà đi theo bọn phản loạn đó, lập tức tôi đi báo cho Tây nó biết liền và nếu cần tôi đem đóng trăn tụi nó, rồi đem nộp gấp. (tr. 315)

Trong khi ông Phủ hăm dọa con cháu, thì có một phong trào lên đường tranh đấu. Hoàng, một thanh niên ở trọ nhà ông Phủ đã bí mật biến mất. Rồi hai người con của ông Phủ, Thụ và Chiêu, cũng lên đường.

3/ Nỗi niềm của người phụ nữ trong một bối cảnh lịch sử sôi động

Giữa lúc thanh niên, học sinh nghe theo tiếng gọi của cuộc đấu tranh thì đời sống của người phụ nữ ở tỉnh lẻ ra sao ?

Hậu quả đầu tiên là tình yêu của đôi lứa tan vỡ. Trong truyện Thú Hoang, một nhóm bạn gái cùng lớn lên trong niềm vô tư, vui sướng dưới mái học đường : Đức, Liễu, Oanh, Kim, Sáo. Mỗi người có một đời sống tình cảm riêng.

Liễu thầm yêu Nam, người trưởng lớp đệ tứ thời còn học sinh. Nam dáng người cao, đạo mạo, có tài ngâm thơ, điều khiển hùng hồn bản nhạc quốc thiều vào những buổi chào cờ, tình yêu của Liễu vừa chớm nở thì Nam đi tập kết.

Đức có tài viết bích báo với cái tên Hiệp Đức, là một cô gái trâng tráo, sẵn sàng chọc tức, gây chuyện với mọi người. Đức yêu Lập, mang thai, uống thuốc phá thai trong khi Lập bỏ lên Sài Gòn hoạt động trong giới cải lương.

Oanh là người bạn tốt, vui vẻ với mọi người. Oanh có một cuộc đời phẳng lặng : Oanh lấy chồng và sống trọn đời ở tỉnh lẻ. Sáo cũng lấy chồng ở tỉnh lẻ.

Bên cạnh những người bạn đó, Kim có một đời sống tình cảm bi thảm. Kim tính trầm lặng, lãng mạn, thích màu tím, yêu văn thơ. Kim ở trọ để đi học, bị hai người con trai chủ nhà hiếp. Kim buồn khổ, nhưng Kim và Huấn yêu nhau, Huấn thông cảm nỗi bất hạnh của người yêu và tìm cách nâng đỡ tinh thần người yêu. Chính Huấn cũng đã có một thời thơ ấu bất hạnh, cha Huấn bị Tây chém, hai người anh đi bộ đội chống Pháp, tử trận năm 1946. Huấn có tài ăn nói, dễ chinh phục bạn bè. Huấn hoạt động chống Pháp trong phạm vi học đường, bằng cách phổ biến truyền đơn, báo chí, cờ xí, biểu ngữ. Rồi Huấn bị tình nghi, lo trốn tránh lưới công an, cuối cùng phải trốn thoát. Trước khi xa nhau, Huấn và Kim đã sống qua những giây phút ái ân say đắm mà kết quả là Kim mang thai. Kim cảm thấy sung sướng được mang cái mầm sống của người yêu và hết sức nâng niu cái thai. Nhưng rủi ro Kim bị tình nghi, bị bắt và bị tra tấn đến trụy thai. Từ đó con người của Kim đã đổi khác. Kim trở về sống với gia đình, làm thư ký hành chánh và bày ra chới búp bê, nâng niu con búp bê như đứa con thật của mình và âu yếm nhắc đến « Ba Huấn ». Kim và Đức ở trong hai hoàn cảnh khác nhau. Kim trở về quê sống cuộc đời của một người phụ nữ độc thân, chỉ yêu có một lần trong đời. Kim đau đớn vì mất đứa con với người yêu. Còn Đức thì muốn mau mau tống khứ cái bào thai của kẻ bạc tình để làm lại một cuộc đời mới.

Trong truyện Khung Rêu cũng có một mối tình tan vỡ vì thời cuộc, mối tình đi đến một kết thúc thê thảm. Tịnh, cháu gái của ông Phủ đã đỗ bằng thành chung và làm nghề dạy học. Tịnh yêu Hoàng, người con trai ở trọ trong nhà, tiếng vĩ cầm của Hoàng đưa Tịnh vào những mộng mơ lãng mạn, Tịnh lén bà Phủ đi chơi với Hoàng. Cô có nghề nghiệp, một ít ruộng đất và tư trang, cô quan niệm hạnh phúc rất đơn giản và thổ lộ với người yêu : Em chỉ thấy tình yêu trong khung cảnh một tỉnh lẻ mới đằm thắm nhiệm mầu. Ở đây gần thiên nhiên, có sông sau nhà, có vườn cây tràn ngập bóng mát. (tr. 290) Tình yêu đang ở giai đoạn say đắm thì Hoàng bỗng bí mật đi chiến khu. Tịnh nhớ nhung chờ đợi, rồi tuyệt vọng và dần dần chìm vào cơn điên. Bà Phủ đưa Tịnh lên Sài Gòn chửa trị, sau đó Tịnh vào dưỡng trí viện Biên Hòa và năm năm sau Tịnh chết.

4/ Người phụ nữ ở tỉnh lẻ trước sự lựa chọn : thoát ly hay chịu đựng

Trong cảnh suy tàn của giai cấp phú hộ, bà Phủ trong truyện Khung Rêu tiêu biểu cho người phụ nữ gương mẫu của thời xưa, một người phụ nữ chính chuyên, lo việc tề gia nội trợ, một mình chống đỡ cảnh nhà sa sút. Khi bà hay tin ông Phủ có quan hệ chùng lén với một người tớ gái khiến người này mang thai, bà nghiêm khắc trừng trị ông Phủ bằng cách bỏ bê việc nhà, dọn ra nhà sàn để ở riêng, bà cạo đầu và suốt ngày tụng kinh, niệm Phật ; đối với ông Phủ bà giữ thái độ im lặng, lạnh lùng. Bà có ý định tự tử khi nghĩ đến sự phụ bạc của chồng và nghĩ đến Chiêu, đứa con tật nguyền của bà, nhưng bà lại thôi vì nghĩ đứa con sẽ cần bà. Khi Tịnh, cháu của ông Phủ, bị mất trí, chính bà đã thân hành đưa Tịnh đi chửa bệnh. Và khi ông Phủ mất, bà đã bán tư trang để lo việc an táng ông Phủ một cách long trọng. Bà cao thượng tha thứ cho chồng : Bà nhìn xác chồng (…), bà nói như rên rỉ : « Mình sướng hơn tôi nhiều. Mình bỏ đi đúng lúc lắm. Nếu sống khôn thác thiên, mình hãy giúp tôi theo mình với (…). Tôi hứa kể từ đây tôi sẽ không còn hờn giận mình nữa. (tr. 347)

Đòi hỏi lớp người phụ nữ trẻ tuổi thời đó, có ít nhiều học vấn, phải noi gương bà Phủ là một điều không thể có được. Bánh xe lịch sử không bao giờ quay lùi.  Đời sống ở tỉnh lẻ vẫn còn tinh thần thủ cựu, hẹp hòi, dư luận thường phê phán khắc khe những người phụ nữ đã lầm lỡ, cảnh sống trở nên nặng nề, nhàm chán. Trong bối cảnh đó, người phụ nữ ý thức mình đứng trước một sự lựa chọn : hoặc chấp nhận một cuộc sống quá ràng buộc của truyền thống, tập tục, hoặc ra đi để xây dựng một cuộc đời tự do, tốt đẹp hơn.

Có những người phụ nữ chấp nhận ở lại. Truyện Nhang Tàn Thắp Khuya cho thấy một loạt chân dung phụ nữ trong một gia đình quyền quý : bà Đốc Phủ sứ, bà Chợ Lớn, bà Út, là ba bà vợ của ông Đốc Phủ sứ, và các phụ nữ khác : Thục Nghi, Tư Kiên, Sáu Niệm, hai chị em Hai Diệm và Ba Ngoạn, Quế Hương. Trong số các cô gái trẻ có những cô có trình độ học vấn : cô Sáu Niệm học trường Tây, cô Hai Diệm và cô Ba Ngoạn đều có bằng thành chung, họ yêu thích văn thơ. Trong khi cô Ba Ngoạn sẽ chọn một con đường táo bạo để tự giải phóng mình thì cô Quế Hương và Thục Nghi an phận với nếp sống cổ truyền. Cô Quế Hương là chủ một tiệm may, cô làm ăn phát đạt. Một ông Hội đồng Quản hạt góa vợ, hai con, hơn cô 13 tuổi, có ý định hỏi cô làm vợ. Khi hay tin, trong nhà đều kinh ngạc, nhưng cô Quế Hương tuyên bố thẳng thừng : Đối với tôi, luôn luôn chỉ cần môn đăng hộ đối. Ông ta há không phải là người có danh giá, có ăn học hay sao ? (tr. 201) Vậy là cô Quế Hương chấp nhận một cuộc hôn nhân theo lý trí. Thục Nghi là người giàu tình cảm, không hết kinh ngạc trước một người con gái như cô Quế Hương xem nặng lý trí đến mức hy sinh đời sống tình cảm. Phần Thục Nghi, cô mới 20 tuổi, sắp làm mẹ. Thục Nghi là một cô dâu được bên nhà chồng quý trọng : cô vừa đảm đang việc nhà vừa khôn khéo đối xử với mọi người. Đức, chồng của cô, yêu thương cô với một tình yêu trang nghiêm, chừng mực, Đức có xu hướng trọng nghĩa trước tình. Mà Thục Nghi thì trẻ trung, lãng mạn, khao khát một tình yêu say đắm, cho nên cô cảm thấy yếu đuối trước mối tình tha thiết của một người con trai tên Duy đồng trang lứa với cô. Cuối cùng Thục Nghi lòng buồn xao xuyến chấp nhận cuộc đời do định mệnh an bài. Thục Nghi nhìn bức tường bằng bê tông có gắn phía trên những miểng chai, bức tường biểu tượng cho sự ngăn cản, đóng kín cuộc đời của Thục Nghi từ đây. Và thành phố Vĩnh Long hiện lên qua cái nhìn buồn bã của Thục Nghi : Thành phố già nua, trầm lặng với sông rạch vây quanh, in dấu tháng ngày trống rỗng trôi qua. Buổi trưa, nắng trải lên trên các con đường tráng nhựa, cái hè phố, các dãy tiệm. Nơi đây sẽ giam hãm nàng suốt đời trong nỗi buồn duyên tủi phận, bên cạnh người chồng sớm cằn cỗi trong tâm hồn. (tr. 246)

Trong khi Thục Nghi ngoan ngoãn cúi đầu trước một xã hội bảo thủ, thì những người con gái khác nuôi mộng thoát ly. Trong một cuộc sống vẫn giữ lề thói xưa, cảm giác chung của những người con gái ở tỉnh lẻ là cái không khí ngột ngạt, khó thở, thiếu một chân trời mới lạ. Ý muốn thoát ly ám ảnh họ. Trong truyện ngắn Một Buổi Chiều (tập truyện Mèo Đêm), người con gái tên Linh sống một mình ở Long Xuyên, trong một ngôi nhà cổ, thổ lộ : Đêm nào tôi cũng nghe tiếng sông róc rách sau nhà, tiếng tàu xà lan chạy xình xịch. Đêm nào tôi cũng chìm trong những tiếng động đó. Tôi phải ra đi. Ra khỏi cái nhà này, cuộc đời tôi sẽ thay đổi (…). Cuộc đời ở đây đè nặng làm tôi nghẹt thở. (tr. 17-18)

Liễu, cô gái kể truyện trong Thú Hoang, làm nghề giảng tập viên, cũng cùng một tâm trạng, cô nói : Tôi đã từng nuôi dưỡng ý tưởng thoát ly khỏi tỉnh này, để tìm một không khí mới. Tôi sẽ rời bỏ ngôi nhà cổ âm thầm với tiếng cắc kè trên đầu kèo, như lời nguyền rủa tương lai từng đêm, với đàn chuột lắt chí chóe dưới đáy tủ nghe nhức nhối, rờn rợn trong tâm não và tôi sẽ đi trốn mùi ngan ngát của hoa hoàng lan, lẫn hoa dạ lý thơm suốt đêm làm tôi muốn chết ngộp. Tôi ngại nghe tiếng chim heo hét lên buốt óc vào lúc tảng sáng và tiếng xà lan xình xịch bên kia sông. Tôi muốn chạy trốn bối cảnh nhàm chán đó cùng những âm thanh rã rời buồn nản như cuộc sống tôi hiện tại. (tr. 23-24)

Đức, bạn của Liễu, càng quyết liệt hơn trong ý muốn rời bỏ cuộc sống ở tỉnh lẻ. Đức đã từng lầm lỡ và ý thức về những lời phê bình nghiêm khắc của người dân Vĩnh Long. Đức xem Sài Gòn như một vùng đất mênh mông hay một con sông lớn, nơi có thể bôi xóa tông tích và quá khứ của mình để xây dựng lại cuộc đời. Đức thúc giục Liễu lên Sài Gòn học Anh văn, đi làm cho Mỹ. Cô viết trong thơ cho bạn : Hãy làm thứ chim bói cá, gặp mồi là chớp liền. Sài Gòn là một con sông rộng có nhiều mồi… (tr. 22)

Nhân vật Nguyệt trong truyện Cho Trận Gió Kinh Thiên cũng có những mơ ước như thế. Nguyệt quê ở Vĩnh Long, cô là con của một người trọc phú nhiều vợ, nhiều con, ông từ bỏ mẹ của Nguyệt trước khi cô sinh ra. Nguyệt lên Sài Gòn, mang mặc cảm về tông tích của mình, cô quyết sẽ có một cuộc đời khác.

5/ Sài Gòn : một chân trời mới hay một thế giới ảo ?

Sài Gòn hoa lệ đã trở nên một huyền thoại đối với các cô gái tỉnh lẻ. Tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ không cho người đọc biết tiếp chuyện của Đức và Liễu ra sao trong cái dòng sông mênh mông có nhiều mồi. Chỉ thấy trong tuyện Một buổi chiều có cô Linh đã từng là một giảng tập viên ở Long Xuyên, trong Nắng chiều vàng có một cô giáo đến dạy học cho một cô điếm tên Mi-sen, và trong truyện dài Ngọn Pháo Bông, một cô giáo tên Lan dạy Anh văn cho các cô gái điếm. Các cô giáo trên đây có thể làm liên tưởng đến nhân vật Liễu vốn là một giảng tập viên ở quê nhà, và nếu nhìn xa hơn, người đọc sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của tác giả… Dù sao trong số các phụ nữ ở tỉnh lẻ lên Sài Gòn, đã có hai nhân vật được miêu tả rõ ràng, đó là cô Ba Ngoạn trong Nhang Tàn Thắp Khuya và Nguyệt trong Cho Trận Gió Kinh Thiên, còn lại là nhóm phụ nữ hoặc từ thôn quê bị lường gạt để lên Sài Gòn làm nghề buôn hương bán phấn hoặc những thiếu nữ vì hoàn cảnh gia đình mà bị sa vào cạm bẫy.

Cô Ba Ngoạn, như chúng ta đã thấy, sau mối tình tan vỡ vì vấn đề giai cấp, cô có những dự định to lớn. Cô là người thông minh có học, có óc tự lập và có bản lĩnh. Cô muốn thoát ly và cô sáng suốt nhận định : Tại sao một người con gái muốn sống tự lập, muốn thoát ly khỏi cái không khí nặng nề và cái lề thói cổ hủ của gia đình, thì thiên hạ trút lên đầu bao nhiêu là tội lỗi ? Nên hư gì thì cũng do mình… Cô nói với người anh của cô : Anh quên một điều là gia đình ta là gia đình có giáo dục, lại dòng dõi trâm anh thế phiệt nữa. Em không dại gì làm cho gia phong mình bại hoại đâu. (tr. 220) Cô làm thơ, viết văn, đăng trên các báo ở Sài Gòn và cô thật sự vào nghề. Cô nói : Thế nào tôi cũng phải đi. Văn đàn rất cần nữ giới đóng góp. (tr. 211) Các bậc cha mẹ : bà Hội đồng Hạc, mẹ của cô Quế Hương, ông Đốc Phủ sứ, ông Năm, cha của cô Ba Ngoạn, đều phản đối. Ông Năm lúc đầu đăng bài trên báo tìm con, rồi đăng bài từ con. Ở Sài Gòn cô Ba Ngoạn giao thiệp rộng, cô mở phòng tiếp khách để bàn luận về văn thơ gọi là salon littéraire, cô uốn tóc, học nhảy đầm, lái xe hơi, chơi quần vợt. Cuối cùng cô lấy một người Pháp, chủ nhiệm một tờ báo Pháp ngữ. Tóm lại, nơi cô Ba Ngoạn có một hiện tượng hoá thân mà gia đình ở quê nhà khó lòng theo kịp.

Nhân vật thứ hai là Nguyệt, cũng ở Vĩnh Long lên Sài Gòn. Nguyệt là một người con gái sống theo lý trí, có óc tính toán. Nguyệt thuê nhà trong một khu lao động để sống với người tình là Đồng. Một dịp để tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ đưa người đọc vào cái thế giới ồn ào, náo nhiệt của lớp phụ nữ bình dân, mà những đặc điểm là : ngồi lê đôi mách, cãi lộn và chửi bới. Những môn giải trí mà họ yêu thích là đánh bài và xem tuồng cải lương. Ngày giỗ của Đức Cửu Thiên Huyền Nữ là một biến cố trong xóm, mọi người háo hức ra vào sân miễu, nơi tiếng trống vang lên trong khói hương, đèn đuốc. Nguyệt mới dọn đến đã sớm biết chuyện của mỗi người trong xóm. Nguyệt có cảm tưởng ở đây bày ra một sân khấu chật hẹp mà mọi người trong xóm lần lượt diễn tuồng bừa bãi trước mắt nàng. (tr. 52) Từ xa đến, cô khám phá đời sống, cách ăn ở của lớp người bình dân nơi đây. Nhất là ngôn ngữ của đàn bà, một thứ ngôn ngữ thô tục, hung tợn. Đối với họ, chửi là tỏ ra có uy quyền. Họ chửi có vần có điệu, từ vựng phong phú, đem phơi bày những phần kín của thân thể, những bài tiết của thân thể. Nổi bật nhất là nhân vật bà Tư : Khuôn mặt bà nhiều thịt hum húp như bị chứng phù thủng không thể làm giảm ánh mắt sắc sảo và cặp mày xếch ngược, đầy uy quyền. Năm Út, bà Xành, bà Bảy Sánh chửi dồi dào, dai dẳng, nhưng vẫn thua bà Tư : Bà sáng tác câu chửi, bà lựa chữ thật mau lẹ, thật thú vị, thật thấm vào cơn đau xót người nghe. (tr.277) Nguyệt nhận thấy đàn bà trong xóm can thiệp vào đời sống của nhau quá nhiều, nhưng có cái hay là họ tương trợ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Vào thời đó, chiến cuộc xảy ra trên đất nước, làm xuất hiện trong xã hội miền Nam một hạng người xa lạ, nhiều tiền : người Mỹ. Riêng đối với người trong xóm, sự kiện này làm thay đổi những toan tính của họ về đời sống vật chất. Những người phụ nữ bình dân, thất học, không cần biết vì sao có người Mỹ đến đây, chỉ cần biết họ nhiều tiền và đó là một nguồn lợi đáng kể. Bà Tư Búp thường chửi bới, rẻ rúng chồng và đi làm điếm cho Mỹ, bà ta ăn mặc đẹp đẽ, đeo vàng. Còn bà Ngộ và bà Ba Xành khi xưa đi làm bếp cho Tây và còn mần việc khác nữa, nay bà Ngộ muốn giới thiệu cho bà Ba Xành một người Mỹ để nấu ăn. Bà Ngộ còn muốn cho bà bạn của mình mượn cuốn sách để học tiếng Mỹ. Hồi mới đi làm cho Mẽo, cũng nhờ nó mà tôi nói một vài tiếng Mẽo. Khổ cho bà Ba Xành là bà mù chữ. Nhưng lời đề nghị của bà Ngộ cũng đủ làm cho bà Ba Xành sung sướng khi bà nghĩ bà sẽ có tiền sửa sang nhà cửa, trong nhà bà sẽ có đủ tiện nghi : quạt máy, tủ lạnh, ti vi, bếp ga, bàn phấn, giường nệm mousse…

Nguyệt cũng đi làm cho Mỹ, nhưng ở mức độ cao hơn : cô làm thư ký cho một sở Mỹ. Nguyệt bị Hưng, người tình thứ nhất phụ bạc, vả chăng cô cho đó là một mối tình quá tinh khiết, cô muốn tình yêu phải đi kèm với những rạo rực của thể xác. Đối với Đồng, một thanh niên đẹp trai nhưng bị chột mắt, thì cô không có tình yêu, chỉ lạm dụng tình yêu và lòng tốt của Đồng, cô quan niệm Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài, mặc dù Nguyệt chỉ muốn Đồng là người tình, không là chồng. Nguyệt luôn luôn tính toán, vụ lợi. Trước kia, tuy bị người cha trọc phú bỏ rơi, nhưng Nguyệt vẫn mơ được hưởng gia tài, nên cô theo đạo Thiên Chúa, đi nhà thờ. Vì cha của cô tuy nhiều vợ nhưng vẫn theo tôn giáo này. Khi thấy việc đi nhà thờ không làm lung lay người cha, cô không giữ đạo nữa. Với đàn ông cô còn tính toán xa hơn : sau Hưng và Đồng, cô nhắm người Mỹ. Cô muốn lăn vào một cuộc phiêu lưu với nhiều người đàn ông. Trong thời gian sống với Đồng, Nguyệt đi chơi với mấy người Mỹ trong sở. Bob Granger, viên trưởng phòng, đưa cô đi ăn ở nhà hàng, cầu hôn với cô và hứa sẽ đưa cô về sống ở Philadelphia, nhưng Nguyệt không mấy ham thích đời sống ở Mỹ vì khác văn hóa, cô chỉ nuôi mộng giàu sang, trở về quê nhà làm lóa mắt mọi người. Thế là Nguyệt bỏ Đồng, rời xa xóm lao động. Cô trở thành chiêu đãi viên hàng không, buôn lậu và trở nên giàu có.

Ở Sài Gòn, Ba Ngoạn và Nguyệt là hai mẫu người phụ nữ leo thang trong xã hội, người hoan hỉ chọn lựa con đường văn hóa, kẻ tìm hạnh phúc trong thế giới tiền bạc. Đối với họ, Sài Gòn là một chân trời mới. Nhưng đối với giới phụ nữ sống về đêm thì Sài Gòn là một thế giới ảo khiến họ trượt chân rơi xuống vực thẳm của sa đọa. Tập truyện ngắn Lao Vào Lửa và truyện dài Ngọn Pháo Bông là những truyện về chủ đề gái điếm. Có những cô gái vì hoàn cảnh gia đình sa sút, vì rủi ro nên sa vào con đường phải bán thân như cô Tú, trong truyện ngắn Lao Vào Lửa ; cô là con một ông phu xích lô bị bại liệt, không còn khả năng nuôi một bầy con tám đứa, cô Tú đành trở thành cô Tina rước khách ở bar Honeymoon.

Truyện Ngọn Pháo Bông kể cuộc đời của một cô gái điếm tên Thắm. Từ một cô gái quê mùa thất học, bị hiếp năm 18 tuổi, Thắm bị một người đàn bà dụ dỗ đưa lên Sài Gòn và lần lần trở thành một cô điếm hạng sang, có nhiều khách Mỹ, được đàn em kính nể. Vào tuổi 40, Thắm bâng khuâng nghĩ vể cuộc đời sa đọa của mình, ao ước bỏ nghề và tạo một gia đình bình thường, đôi khi Thắm nhớ về quê nhà có cảnh ruộng đồng. Ngọn Pháo Bông có dáng dấp một tiểu thuyết trinh thám. Vào truyện có cảnh Thắm bị giết ngay trong phòng của cô, và Cường, người đàn ông sống nhờ vào cô, đã biến mất, tiền bạc và tư trang của cô không còn nữa.

Đối với hạng phụ nữ bị bắt buộc hay tự do chọn lựa lối sống phóng đãng sa đọa, vào một lúc nào đó họ phải đối đầu với một vấn đề hệ trọng : vấn đề làm mẹ.  Trong truyện ngắn Gái Độc Không Trái (tập truyện Chiều Mênh Mông), người kể truyện là một cô gái điếm gần 40 tuổi, cô này đã phá thai nhiều lần, lần này cô lại mang thai, người bạn tên Thành giới thiệu với cô một y tá có tiếng phá thai không làm đau đớn. Cô ta nghĩ : …tôi đâu phải là hạng đàn bà nặng tình mẫu tử (…). Thế giới của tôi là quán rượu chìm lờ mờ trong cảnh đèn đỏ, trong khói thuốc như sa mù buổi sáng. Cuộc đời của tôi thu gọn trên chiếc giường… Cũng có lúc cô ta nghĩ đến cuộc đời làm mẹ, nghĩ đến tình mẫu tử, nhưng rồi cô ta bị cuộc sống quen thuộc cuốn đi.

Người gái điếm ý thức thân phận thấp hèn của mình trong xã hội : Đi đâu ai mà chẳng biết danh tụi tui là me Tây me Mỹ. Người ta lúc nào cũng kêu mình là « con đĩ » chớ có ai tôn làm « bà đĩ » bao giờ đâu… (Nắng chiều vàng, tr. 70, Mèo Đêm)

Qua những cuộc biến thiên của đất nước, từ thời Pháp đô hộ đến thời kháng chiến, thời đất nước phân chia đưa đến cuộc chiến tranh Nam Bắc, xã hội miền Nam đã biến đổi nhiều, và thân phận người phụ nữ cũng nổi trôi theo những biến đổi đó. Sống trong một xã hội bảo thủ với những kỷ cương xưa cũ, người phụ nữ có ý muốn thoát ly để tự giải phóng mình. Mặt khác, một hiện tượng xã hội đã xảy ra trong thời chiến : sự hiện diện của người Mỹ làm nảy sinh lòng tham lam tiền bạc nơi một số người phụ nữ khiến họ mất phẩm giá, mất đạo đức. Đây là mặt trái của xã hội miền Nam. Khi phơi bày mặt trái này, tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ có quá bi quan chăng ? Dù sao xã hội miền Nam cũng có một bộ mặt tích cực với những người phụ nữ đã có những bước tiến khá dài trên con đường văn hóa để tự giải phóng mình và để tiến dần đến vấn đề nữ quyền. Nhưng nếu cho rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ miêu tả mặt trái của xã hội thời đó thì hoàn toàn không đúng. Đọc tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng ta sẽ thấy cái nhìn của bà bao quát cả nữ giới, đặc biệt nữ giới ở tỉnh lẻ đồng bằng sông Cửu Long. Với trải nghiệm của bản thân, tác giả thấu rõ đời sống tâm lý phong phú, đa dạng của người phụ nữ. Bà miêu tả sự khắc khoải, những ray rứt âm thầm của tâm hồn người nữ, những vùng vẫy, chờ đợi, khát khao, mong ước, và khi gặp nỗi thống khổ thì chỉ biết chịu đựng cho đến lúc tâm thần suy sụp, có khi lại mạnh dạn ra đi.

Điều đáng chú ý là Nguyễn Thị Thụy Vũ tự tạo cho mình một nghệ thuật miêu tả hướng về thị giác ; truyện của bà mang nhiều màu sắc, màu sắc áo quần người phụ nữ, màu sắc của đồ vật trong không gian, của thảo mộc trong thiên nhiên, đôi khi quá nhiều màu sắc làm choáng ngợp ; sau thị giác là khứu giác, đặc biệt trong  Khung Rêu : mùi bồ kết, mùi hoa nguyệt quế và mùi dạ lý, mùi hoa bưởi lẫn hoa cau, mùi trái cây chín, v.v…. Mùi thơm của các loài hoa trong vườn, đôi lúc quá ngào ngạt, quá dai dẳng khiến người con gái muốn rời bỏ nơi chốn để đi xa, có lúc mùi thơm lại làm người con gái càng thêm lưu luyến với cái nơi sống của mình. Tác giả cũng thường nhân cách hóa thiên nhiên : Mặt trời đang dãy chết bên kia sông… Sự vắng ngắt của buổi chiều ôm chầm lấy tôi và dìm tôi như muốn ngộp thở…

Với một nghệ thuật miêu tả rất riêng biệt như thế và với một ngôn ngữ rặt miền Nam, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã vẽ lên một bức tranh của nữ giới theo sự thăng trầm của đất nước và trong một xã hội có lắm đổi thay.

 

(1) Tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đều được Hội Nhà Văn tái bản năm 2017.

 

Paris, tháng 11 – 2018

 

 

 

 

THUYẾT CẤU TRÚC Ở TÂY PHƯƠNG

 

Sau Đệ nhị Thế chiến, Jean-Paul Sartre với thuyết hiện sinh là ngôi sao sáng trên nền trời văn hóa Pháp. Rồi đến những năm 1950-1960 ngôi sao Sartre bắt đầu lu mờ, nhường chỗ cho một thuyết mới : thuyết cấu trúc. Tiếng tăm lừng lẫy của thuyết cấu trúc là một hiện tượng hy hữu trong lịch sử đời sống trí thức ở Pháp. Hiện tượng này đã lôi cuốn phần lớn giới trí thức vì hai lý do chính. Trước tiên thuyết cấu trúc được xem như một phương pháp chặt chẽ có thể giúp một số công trình nghiên cứu đang tiến triển trở thành một khoa học. Sau nữa và nhất là thuyết cấu trúc thể hiện cho một thời đặc biệt của lịch sử tư tưởng con người, có thể gọi là thời đại của tâm thức phê bình. Hai lý do đó giải thích vì sao phần đông các nhà nghiên cứu nhận ra công việc của mình trong một chương trình chung gọi là thuyết cấu trúc.

Do đó thuyết cấu trúc là cái tên chung để chỉ định một tập hợp rộng rãi những tác phẩm thuộc nhiều phạm vi chuyên biệt đã đánh dấu nền văn hóa Pháp trong những năm 1950-1960. Đó là những tác phẩm của nhà nhân loại học Claude Lévi-Strauss, nhà phê bình văn học Roland Barthes, nhà phân tâm học Jacques Lacan, và những nhà triết học như Louis Althusser, Michel Foucault, v.v… Phải nhìn nhận rằng một số các nhà lý thuyết trên đây đã ngập ngừng khi để cho người ta xếp họ dưới danh hiệu của thuyết cấu trúc.

Dù cho những ranh giới của thuyết đó không rõ ràng, thực chất của nó mập mờ, tuy nhiên vẫn có cái gì đã từng được gọi là thuyết cấu trúc, nó đã chi phối đời sống trí thức ở Pháp, sau khi sức quyến rũ của thuyết hiện sinh đã tan biến ; có thể định nghĩa thuyết cấu trúc ít ra một cách phỏng chừng.

Vậy chúng ta hãy xem thuyết cấu trúc như một sự đổi mới tri thức một cách ly kỳ và dứt khoát, kể từ những năm 1950. Sự đổi mới đó diễn ra trong các ngành khoa học nhân văn và triết học, nhờ một cái mẩu mượn từ những khoa học về ngôn ngữ.

François Wahl, tác giả cuốn Qu‘est-ce que le structuralisme ? (Thuyết cấu trúc là gì ?) đưa ra định nghĩa như sau : Chúng ta sẽ nói – và đó là cách duy nhất để đừng rơi vào sự lẫn lộn – rằng dưới cái danh từ thuyết cấu trúc được tập hợp những khoa học về ký hiệu, về những hệ thống ký hiệu (1).

Những ngành học chịu ảnh hưởng của thuyết cấu trúc dựa vào cái giả thuyết cho rằng những sự kiện của con người có thể được quy về những cấu trúc đã có ngấm ngầm, khiến cho những sự kiện đó có tính đều đặn. Danh từ « cấu trúc » được hiểu như một tổng hợp các nét biệt lập tạo nên một hệ thống mạch lạc.

I Lý thuyết của nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Saussure

Thuyết cấu trúc phát sinh từ nhiều trào lưu – chủ nghĩa hình thức Nga, Hội Ngôn Ngữ Học ở Prague, nhân loại học và ngôn ngữ cấu trúc học – tất cả những trào lưu đó bắt nguồn ít nhiều từ giáo trình về ngôn ngữ học khái quát : Cours de Linguisique générale, mà nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Saussure đã giảng dạy ở Geneva giữa năm 1906 và năm 1911.

Saussure không bao giờ dùng từ « cấu trúc » mà người ta viện dẫn khi nói đến công trình nghiên cứu của ông. Khái niệm cốt lõi đối với ông là « hệ thống » : Ngôn ngữ là một hệ thống, nó chỉ nhìn nhận thứ tự riêng của nó (2). Về sau danh từ « thuyết cấu trúc » xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của Hội Ngôn Ngữ Học ở Prague, như một tổng hợp các phương pháp phát sinh từ cái quan niệm cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống đã được Saussure giải thích : Chính phải đi từ toàn bộ được liên kết với nhau để có được, do việc phân tích, những yếu tố gồm có trong toàn bộ (3).

Ngôn ngữ học của Saussure gồm một lý thuyết về ký hiệu, lý thuyết này có một quan niệm độc đáo về ngôn ngữ : ngôn ngữ được xem như một hệ thống. Ký hiệu nối liền hai yếu tố, hai yếu tố đó liên kết với nhau như hai mặt của một đồng tiền, để nói theo hình ảnh mà chính Saussure đã đưa ra : một hình ảnh thuộc thính giác gọi là năng biểu (signifiant), một khái niệm gọi là sở biểu (signifié).

Saussure trình bày ký hiệu ngôn ngữ như một ký hiệu có tính độc đoán, nghĩa là không có liên hệ cần thiết giữa năng biểu (hình ảnh thuộc thính giác) và sở biểu (cái nghĩa). Thế nhưng, nếu năng biểu được chỉ định thì sở biểu không chỉ định một vật thể của thế giới : sở biểu đưa vào những khả năng có tính tiềm tàng của nghĩa và lời dẫn. Quả vậy, tất cả đều đi từ tuyến tính của năng biểu, năng biểu nối kết với cấu trúc của ngôn ngữ con người : chúng ta chỉ phát ra một âm mỗi lần, và cái « dây chuyền nói » được tạo nên bởi cái chuỗi của những tiếng vang khác nhau đó. Theo tiêu chuẩn của sự dị hóa, hai âm vị khác nhau cho phép phân biệt hai từ khác nhau. Đối với Saussure, âm vị là yếu tố nhỏ nhất của dây chuyền nói. Mặt khác, nhà nghiên cứu phối hợp tính lịch đại với tính đồng đại của ngôn ngữ, điều này có nghĩa là thay vì chỉ xét ngôn ngữ trong sự tiến hóa của nó, kể từ nay môn ngôn ngữ học có thể xét mỗi tình trạng của ngôn ngữ được xem như tự chủ đối với tình trạng có trước. Saussure phân biệt ngôn ngữ và lời nói. Ông đưa ra giả thuyết cho rằng một ngôn ngữ là một hệ thống có tính đồng đại, trong đó « tất cả gắn liền với nhau » ; lời nói thì thuộc về cá nhân, khi cá nhân dùng khả năng nói thành lời. Bởi vì cái mã của ngôn ngữ nội hiện cho nên sự lựa chọn có tính vô thức. Đối với Saussure, ngôn ngữ thuộc về một nhóm trong xã hội, lời nói là cách dùng của một cá nhân về cái mã ngôn ngữ của nhóm.

II Thuyết cấu trúc trong các ngành khoa học nhân văn

 Chính từ sự xuất hiện của cái lý thuyết về ngôn ngữ đó trong lĩnh vực các khoa học nhân văn mà thuyết cấu trúc ra đời. Hai tên tuổi chính đã xây dựng thuyết cầu trúc là nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson và nhà nhân loại học và dân tộc học Claude Lévi-Strauss. Trong thời Đệ nhị Thế chiến, tại New York, Lévi- Strauss là đồng nghiệp của Jakobson ; ông nghiên cứu ngôn ngữ cấu trúc học và ứng dụng những nguyên lý của môn này vào ngành chuyên môn của ông. Trong việc nghiên cứu quan hệ huyết tộc, Lévi-Strauss rất quan tâm đến ký hiệu và những thể đôi, trong việc sáng lập lý thuyết của Saussure như : năng biểu / sở biểu, ngôn ngữ / lời nói, ngữ đoạn / hệ biến hóa, đồng đại / lịch đại và khái niệm về hệ thống. Đối với Lévi-Strauss, những từ ngữ về quan hệ huyết tộc là những yếu tố có ý nghĩa, những từ ngữ đó chỉ đạt được ý nghĩa với điều kiện phải sáp nhập vào những hệ thống. Nhưng thật ra theo ông, không phải chính những từ ngữ trong một quan hệ mới có ý nghĩa, mà chính cái quan hệ, tức cái cấu trúc. Trong cuốn Les structures élémentaires de la parenté (Những cấu trúc sơ đẳng của huyết tộc), Lévi-Strauss đưa ra những quy tắc của hôn nhân rất phức tạp của các dân tộc nguyên thủy, bằng cách dùng cái mẫu của ngôn ngữ học. Ông cho rằng có một sự hợp lý (logique) cho toàn thể – hệ thống của huyết tộc – mà những hôn nhân thật sự và những quan hệ gia đình có thể quan sát được là một giải thích của hệ thống hữu hình. Giữa hệ thống đó và hiện thực mà hệ thống sản sinh, những quan hệ cùng một loại với những quan hệ mà Saussure phát hiện giữa ngôn ngữ, tức hệ thống của toàn thể, và lời nói, tức diễn ngôn, là thứ có thể phát sinh từ hệ thống đó. Trong cuốn Anthropologie structurale (Nhân loại cấu trúc học), Lévi-Strauss nói rõ : hệ thống họ hàng thân thuộc là một ngôn ngữ.

Với Lévi-Strauss cây cầu đầu tiên được thiết lập giữa ngôn ngữ học và các ngành khoa học nhân văn. Điều chắc chắn là trong chừng mực mà một hiện thực xã hội có thể được hiểu như một hình thức đặc biệt của ngôn ngữ, thì cái mẫu của ngôn ngữ học với những phương pháp và thuật ngữ của nó xứng đáng được ứng dụng vào hiện thực xã hội đó.

Lévi-Strauss đã mở đường cho những ngành học khác. Nhà phân tâm học Jacques Lacan đã nhanh chóng đưa thuyết cấu trúc vào phân tâm học với lời khẳng định nổi tiếng : L’inconscient est structuré comme le langage (Vô thức được cấu trúc như một ngôn ngữ). Đối với công trình nghiên cứu của Freud, lời khẳng định này chẳng những không có gì trái ngược mà nó còn mở đường cho nhiều phát hiện đầy hứa hẹn. Tác phẩm của Lacan gây ngạc nhiên và làm mê hoặc, Lacan cho chúng ta hiểu rằng toàn thể ngôn ngữ tạo nên chúng ta : chúng ta tưởng chúng ta nói, nhưng thật ra chính chúng ta bị nói, bởi vì trong chúng ta, và do triệu chứng, việc nói nhịu hay giấc mơ nói lên không ngừng cái ngôn ngữ của vô thức. Lacan tuyên bố : Ngôn ngữ là điều kiện của vô thức (…). Vô thức là sự liên can hợp lý của ngôn ngữ : quả thật không thể nào có vô thức mà không có ngôn ngữ.

Do đó phân tâm học của Lacan có thể được gọi là phân tâm học theo thuyết cấu trúc. Khi khẳng định vị trí ưu đẳng của ngôn ngữ trên chủ thể, phân tâm học của Lacan tìm cách phân tích tính hợp lý của ngôn ngữ đó được dùng làm đối tượng.

Sau phân tâm học, ngành triết học cũng mang dấu ấn của thuyết cấu trúc. Nếu chỉ dẫn trường hợp của Michel Foucault như một ví dụ duy nhất thì sự suy nghĩ của nhà triết học này song song phần nào với suy nghĩ của Lacan. Vấn đề là phải phát hiện sau những diễn ngôn của một thời đại cái quy tắc của tri thức. Đó là đề tài của cuốn Les Mots et les Choses (Từ ngữ và sự việc). Foucault không tin vào tính liên tục của lịch sử và những hệ thống lớn của lịch sử. Trong cuốn Les Mots et les Choses, ông giải thích mỗi thời kỳ được xác định bởi hình dáng những phạm trù của tri thức, những phạm trù này cấu trúc nền văn hóa : loài người tùy thuộc những cấu trúc của tri thức. Con người toàn năng (l’homme universel) là một phát minh hiện đại ; chính cái nhìn của lịch sử về thế giới Tây phương đã áp đặt chủ nghĩa nhân văn và Thời Khai sáng. Điều này tiết lộ rằng tri thức không thể có trung tính (neutre) : tri thức lệ thuộc những sức mạnh của thời đại của nó. Con người là một xây dựng tri thức và, khi trực diện với mọi diễn ngôn, nên làm một thứ « khảo cổ học của tri thức ».

Không thể đặt tư tưởng của Foucault trong thuyết cấu trúc, và phải công nhận rằng không có tác phẩm nào của Foucault trong đó tác giả dùng những dụng cụ của ngôn ngữ học, và không có lúc nào ông nói đến từ « cấu trúc ». Tuy nhiên người ta thấy rõ tại sao cái tên của Foucault luôn luôn đứng bên cạnh tên của các nhà theo thuyết cấu trúc. Đối với Foucault cũng như đối với các học giả này, vấn đề là phải giải thích sự đa dạng của những diễn ngôn bằng cách phát hiện một cái nền hay cái mẫu mà dưới những cái bề ngoài đa dạng, cái nền hay cái mẫu là của chung của các ngành.

Về vấn đề này, thuyết cấu trúc được xem như một diễn ngôn về ký hiệu : nó là sự cố gắng của thời đại chúng ta để cập nhật tính đều đặn của một thứ tự, cập nhật cái lõi của một ngôn ngữ ở phía sau sự đa dạng của những diễn ngôn qua lại.

III Thuyết cấu trúc trong lĩnh vực văn học

Thuyết cấu trúc cũng dần dần lan đến lĩnh vực văn học. Văn chương trước tiên là nghệ thuật của ngôn ngữ, mặt khác thuyết cấu trúc là một phương pháp của ngôn ngữ học, cho nên sự gặp gỡ của đôi bên phải ở trên nền tảng chất liệu của ngôn ngữ học : âm thanh, hình thức, từ và câu, tất cả tạo thành đối tượng chung cho nhà ngôn ngữ học và nhà ngữ văn học. Và chủ nghĩa hình thức Nga được xem như một trong những cái khuôn của ngôn ngữ cấu trúc học. Thật ra, khởi đầu là sự gặp gỡ giữa những nhà phê bình và những nhà ngôn ngữ học trên bình diện của ngôn ngữ thơ.

Người ta dần dần chú tâm đến sự khác biệt giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ thường của đời sống hằng ngày. Nhà văn cũng dùng ngôn ngữ của đời thường, nhưng không dùng nó cùng một cách và trong cùng một chủ tâm : chất liệu ngôn ngữ như nhau, nhưng chức năng thì khác. Phương pháp của thuyết cấu trúc được tạo nên vào lúc người ta tìm lại được cái thông điệp trong cái mã, thông điệp được nêu lên nhờ việc phân tích những cấu trúc nội tại chứ không phải do những định kiến của các hệ tư tưởng bên ngoài áp đặt. Sự tồn tại của ký hiệu được đặt trên sự liên kết giữa hình thức và nghĩa. Roman Jakobson, trong một bài nghiên cứu về câu thơ Tiệp Khắc, năm 1923, đã phát hiện mối tương quan giữa giá trị ngữ điệu của một ngữ âm và giá trị ý nghĩa của nó. Việc đi từ cái thực thể âm vang thuần khiết mà các nhà hình thức Nga rất gắn bó, đến việc tổ chức cái thực thể đó thành hệ thống có ý nghĩa không chỉ quan trọng đối với việc nghiên cứu về vận luật mà còn là một đóng góp của thuyết cấu trúc vào toàn thể những nghiên cứu về văn học : thi pháp học, tu từ học, sáng tác. Phân tích của thuyết cấu trúc đưa ra sự liên kết giữa một hệ thống hình thức và một hệ thống về nghĩa.

Ở đây cần nhấn mạnh ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga. Tác phẩm của Roman Jakobson : Essais de lingustique générale (Tiểu luận về ngôn ngữ học khái quát) (1963), cho độc giả biết đến công trình nghiên cứu của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga, họ ứng dụng vào văn học những phương pháp phân tích cấu trúc mượn từ ngôn ngữ học. Saussure phân tích ngôn ngữ như một hệ thống ký hiệu mà mỗi ký hiệu được định nghĩa trong sự đối lập với những ký hiệu khác. Jakobson dùng lại phương pháp của Saussure và phân biệt hai cách thức cơ bản xếp đặt cách dùng từ ngữ : chọn lọc và phối hợp. Hai cách thức này tạo thành trục hệ biến hóa và trục ngữ đoạn. Theo cái mẫu đó, và chống lại những cách tiếp cận văn học có tính sử học, mỹ học, môn ngôn ngữ cấu trúc học nghiên cứu tác phẩm như một cấu trúc ngôn ngữ tương đối tự chủ trong đó những yếu tố khác nhau đều có nghĩa. Cách phân tích hình thức của văn bản có một đối tượng là văn chương tính, nghĩa là điều làm cho một tác phẩm nào đó thành một tác phẩm văn chương. Jakobson phác họa một cái nhìn chung về những quan hệ giữa thi pháp học và ngôn ngữ học.

Về phía nhà hình thức chủ nghĩa Nga Vladimir Propp, ông cũng có một đóng góp quan trọng. Trong cuốn Hình thái truyện hoang đường (Morphologie du conte), ra năm 1928, Propp đã đưa ra một trong những nền tảng của tự sự học đương đại, bằng cách phân tích những cấu trúc tự sự rút ra từ 50 truyện hoang đường của Nga. Khuôn khổ bài này không cho phép đi sâu vào chi tiết. Vậy chỉ xin trình bày tóm tắc như sau. Truyện Những con ngỗng-thiên nga, chẳng hạn, là một truyện ngắn chỉ gồm một phân khúc duy nhất. Tác giả chia ra thành nhiều phân khúc ngắn. Rồi ông đưa ra những yếu tố làm nên cấu trúc truyện như : chức năng của các nhân vật, hình thức vào truyện của các nhân vật, những yếu tố liên kết, đối thoại và những lý do của cốt truyện, những yếu tố phụ. Propp giải thích truyện bằng cách trích ra những yếu tố mà ông tìm kiếm và đặt ra trước. Vấn đề quan trọng nhất là việc phân mảnh truyện thành một loạt hành động. Propp giải thích phương pháp đó bằng cách dựa vào phương pháp khoa học nói chung. Và ông đi đến một công thức để biểu tượng hóa cấu trúc truyện hoang đường bằng một « ngôn ngữ giả tạo ». Phương pháp phân tích của Propp nổi tiếng một thời, nhưng vào những năm 1970 đã gây nhiều tranh cãi ở Pháp. Trong cách phân tích của Propp, truyện hoang đường là một đối tượng khoa học đi từ những đối tượng văn hóa, nhưng Propp đã loại bỏ hai yếu tố cơ bản, đó là người kể truyện và người nghe truyện.

Truyện hoang đường từ thời xưa là một hình thức văn chương truyền khẩu, khó tách rời khỏi bối cảnh văn hóa. Nghiên cứu truyện mà không kể đến khía cạnh quan trọng đó thì dễ sai lầm. Nghĩa ngữ của truyện nối liền với bối cảnh sản sinh ra truyện và với sự tiếp nhận truyện. Cho nên tiếp cận truyện hoang đường theo Propp bị giới hạn.

Ở Pháp, Algirdas-Julien Greimas, Tzvetan Todorov, Roland Barthes, Gérard Genette, Claude Brémond và Jean Cohen là những người đầu tiên theo thuyết cấu trúc, mỗi người có lý do riêng và theo những hướng đi riêng. Mặc dù những hướng đi của họ khác nhau, nhưng họ trung thành với những nguyên lý của Saussure : tất cả đều cố rời xa lời nói văn chương (tức tác phẩm) để đi đến việc miêu tả ngôn ngữ (tức cái mã) làm nền cho lời nói văn chương. Họ mong ước thiết lập một ký hiệu học về nghĩa mở rộng, vì biết rằng chức năng của thi pháp trong cái nghĩa của Jakobson là nhấn mạnh về khía cạnh đó. Cho nên các nhà cấu trúc học Pháp chú tâm đến năng biểu và sở biểu.

Vào những năm 1960, trong khi thuyết cấu trúc lên đến cao điểm, thì những công trình nghiên cứu hướng về việc phân tích cấu trúc truyện kể và nghiên cứu ngôn ngữ thơ. Các nhà cấu trúc học Pháp cũng muốn đi đến một lý thuyết giải thích sự đa dạng của truyện kể. Do đó việc ứng dụng những dụng cụ của phương pháp của ngôn ngữ học vào những truyện kể trong văn học trở nên chính đáng. Trong trường hợp của văn học cũng như trong trường hợp của dân tộc học, phương pháp tiến hành như nhau. Truyện kể cũng như hệ thống quan hệ huyết tộc trở thành ngôn ngữ đối với người phân tích nó.

Khi Roman Jakobson đặt câu hỏi : cái gì biến một thông điệp thành một tác phẩm nghệ thuật ? Câu hỏi của ông đã khai trương môn Phê bình Mới. Câu hỏi gắn liền với ngôn ngữ học bằng cách vạch ranh giới cho cái chức năng của thi pháp. Jakobson phân biệt bốn chức năng của mọi thông điệp :

– chức năng thuộc hệ quy chiếu hướng về bối cảnh,

– chức năng thi pháp đưa ra cái khía cạnh có thể nắm bắt được của những ký hiệu, do đó chức năng thi pháp nhấn mạnh về sự phân đôi căn bản giữa ký hiệu và đồ vật,

– chức năng liên hệ, tức liên hệ với người nhận thông điệp,

– chức năng siêu ngôn ngữ học (métalinguistique) cho phép hiểu cái mã.

Phê bình theo thuyết cấu trúc chú trọng về chức năng siêu ngôn ngữ học, phê bình này ưu đãi cái mã hơn cái thông điệp. Điều này khiến Roland Barthes viết trong cuốn Essais Critiques :

(…) văn chương chỉ là một ngôn ngữ, nghĩa là một hệ thống ký hiệu : thực chất của nó không ở trong thông điệp của nó mà ở trong cái hệ thống đó. Và do đó, nhà phê bình không phải tái tạo cái thông điệp của tác phẩm, mà chỉ tái tạo cái hệ thống của nó, cũng như nhà ngôn ngữ học không phải đoán ra cái nghĩa của một câu, mà chỉ thiết lập cái cấu trúc hình thức cho phép cái nghĩa được truyền lại (tr. 257).

Nếu văn chương là một ngôn ngữ theo đó một nhà văn nói với chúng ta về thế giới, thì phê bình là « diễn ngôn về một diễn ngôn », là một « siêu ngôn ngữ » (métalangage) với hai hậu quả quan trọng mà Barthes nhận xét :

1/ Hoạt động phê bình phải kể đến hai loại quan hệ : quan hệ giữa ngôn ngữ phê bình và ngôn ngữ của tác giả được quan sát, và quan hệ giữa ngôn ngữ đối tượng của phê bình và thế giới. Chính sự « cọ xát » của hai ngôn ngữ đó làm nên định nghĩa của phê bình.

2/ Nếu phê bình chỉ là một siêu ngôn ngữ, điều này có nghĩa là công việc của nó hoàn toàn không phải là phát hiện những « sự thật », mà chỉ là phát hiện những « cái được chấp nhận ». Một ngôn ngữ, tự nó, không thật cũng không giả, nó được chấp nhận hay không chấp nhận : chấp nhận tức là tạo nên một hệ thống ký hiệu mạch lạc.

        

Rồi đến lúc thuyết cấu trúc suy dần. Riêng trong lĩnh vực văn học, thuyết cấu trúc vẫn còn tồn tại trong việc giảng dạy văn học cho các thế hệ đến sau.

 

  • « Nous dirons – et c’est la seule façon de ne pas tomber dans la confusion – que sous le nom de structuralisme se regroupent les sciences du signe, des systèmes de signes. »
  • « La langue est un système qui ne connaît que son ordre propre. »
  • « C’est du tout solidaire qu’il faut partir pour obtenir, par analyse, les éléments qu’il renferme. »

 

Tài liệu tham khảo :

François Wahl, Qu’est-ce que le structuralisme ? Le Seuil, 1973.

Pierre Brunel, La critique littéraire, PUF, Que sais-je ? 2001.

Roland Barthes, Essais Critiques, Le Seuil, 1964.

 

 

 

 

 

 

TẠI SAO VIẾT ?

Khi thưởng thức một tác phẩm văn chương, người đọc có thể thắc mắc tự hỏi tại sao tác giả đã bỏ công sức để viết, để cho ra đời tác phẩm đó. Câu hỏi này đã được nhiều nhà văn Tây phương trả lời. Lại có những nhà văn đi xa hơn câu hỏi Tại sao viết ? để đưa ra một định nghĩa của viết. Những lời đáp sau đây có thể làm sáng tỏ phần nào vấn đề viết, và cho thấy những uẩn khúc của sự sáng tạo (1).

André Gide, nhà văn có nhiều tác phẩm đã đi vào sử văn học Pháp như : La Porte étroite (Khung cửa hẹp) La Symphonie Pastorale (Khúc giao hưởng đồng quê), tự truyện Si le grain ne meurt (Nếu hạt giống không chết), v.v… André Gide đã viết : Những lý do thúc đẩy tôi viết thì nhiều, và những lý do quan trọng nhất hình như là những lý do bí ẩn nhất. Nhất là cái lý do này : làm cho cái gì đó tránh khỏi cái chết.

Michel Butor, nhà văn thuộc nhóm Tiểu Thuyết Mới, năm 2013 được Giải Thưởng Lớn Văn Học của Viện Hàn Lâm Pháp cho toàn thể tác phẩm của ông. Michel Butor khẳng định : Tôi không viết tiểu thuyết để bán, nhưng để có sự nhất quán trong đời tôi ; viết đối với tôi là một cột sống. (Michel Butor, Répertoire)

Alain Robbe-Grillet, cùng với Nathalie Sarraute, được xem là người đứng đầu nhóm Tiểu Thuyết Mới. Trong cuốn Pour un nouveau roman (Biện hộ cho một tiểu thuyết mới), ông đã tỏ ra như một nhà lý luận của tiểu thuyết mới. Alain Robbe-Grillet giải thích : Và khi người ta hỏi nhà văn tại sao ông đã viết cuốn sách của ông, ông ta chỉ có mỗi một câu trả lời : Tôi viết để thử biết tại sao tôi muốn viết cuốn sách đó. Lời đáp có vẻ hóm hỉnh, nhưng sự thật đó là định nghĩa của một dự án cơ bản về sáng tạo văn chương. Sáng tạo là mãi mãi tìm kiếm.

George Orwell là tác giả của tác phẩm nổi tiếng 1984. Theo nhà phê bình Simon Leys trong cuốn biên khảo Le Studio de l’inutilité, thì việc sáng tác cuốn 1984 đối với George Orwell là một sự chiến đấu đến kiệt sức, bởi vì tác giả cố gắng biến cái nhìn có tính chính trị thành một tác phẩm nghệ thuật. Trong tiểu luận Tại sao tôi viết, George Orwell tuyên bố : Tôi không thể cần cù viết một cuốn sách, cũng không thể viết một bài dài cho một tạp chí, nếu đồng thời công việc đó không phải là một thử nghiệm thẩm mỹ. Viết tiểu thuyết đối với ông là một đam mê lớn nhưng là một đam mê đáng ghét, vì Viết một tiểu thuyết là (đi vào) một cơn hấp hối.

Jean-Paul Sartre vừa là nhà triết học vừa là nhà văn. Trong lĩnh vực triết học, Sartre không phải là ông tổ của thuyết hiện sinh. Nhà triết học Emmanuel Mounier nói đến Cây thuyết hiện sinh (L’arbre existentialiste), nếu tạm không nói đến gốc cây, thân cây mà chỉ nói đến nhánh, thì cái cây hiện sinh có nhiều nhánh, có nhánh hiện sinh Kitô giáo với Emmanuel Mounier, Gabriel Marcel, có nhánh hiện sinh vô thần với Heidegger và Sartre. Sartre đã làm cho thuyết hiện sinh vô thần khởi sắc với các cuốn L’Être et le Néant (Bản thể và hư vô) (1943), L’existentialisme est un humanisme (Thuyết hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản) (1946), thuyết đó nổi tiếng một thời, và sau Đệ nhị thế chiến đã lôi cuốn giới trẻ lui tới những hầm rượu khu Saint-Germain-des-Prés ở Paris.

Là một nhà văn nổi tiếng, Sartre là tác giả của những cuốn tiểu thuyết : La Nausée (Buồn nôn), Les chemins de la liberté (Những con đường của tự do), của tập truyện ngắn Le Mur (Bức tường), của cuốn tự truyện Les Mots (Chữ nghĩa), của bộ biên khảo văn học Situations. Ông cũng là tác giả của nhiều kịch bản. Với tự truyện Les Mots (1964), Sartre đã đạt đến cao điểm trong văn nghiệp của mình. Năm 1964, Sartre được Giải Nobel Văn chương, nhưng ông từ chối lãnh giải thưởng. Suốt đời ông tham gia nhiều cuộc tranh đấu và có khi ủng hộ phái cực tả. Ông quan niệm văn chương bao giờ cũng là văn chương dấn thân. Sartre mất năm 1980, có 50.000 người tiễn đưa ông đến nghĩa trang Montparnasse.

Trong cuốn tiểu luận Qu’est-ce que la littérature ? (Văn chương là gì ?) ra năm 1948, Sartre bàn về nhiều vấn đề văn chương trong đó có hai vấn đề : Tại sao viết ? và Viết là gì ? Sau đây là những trích đoạn ngắn và thiết yếu :

Một trong những lý do chính của sự sáng tạo nghệ thuật chắc chắn là cái nhu cầu của chúng ta muốn được cảm thấy mình là cần thiết cho thế giới. Cái khía cạnh này của đồng ruộng hay của biển cả, cái vẻ mặt kia mà tôi đã khám phá, nếu tôi định hình chúng trên một khung vải, trong một văn bản (…) thì tôi ý thức rằng tôi đã tạo nên chúng, nghĩa là tôi tự cảm thấy mình cần thiết cho sự sáng tạo của mình (tr. 46).

(…) Bởi vì sự sáng tạo chỉ có thể được hoàn thành trong việc đọc, bởi vì người nghệ sĩ phải phó thác cho một người khác việc lo làm tròn điều mình đã khởi xướng, bởi vì chỉ xuyên qua tâm thức người đọc người nghệ sĩ mới có thể tự hiểu mình như một người chủ yếu đối với tác phẩm của mình, cho nên mọi tác phẩm văn chương đều là một lời kêu gọi. Viết là kêu gọi người đọc để người đọc đưa vào sự tồn tại khách quan điều tiết lộ mà tôi đã thực hiện bằng ngôn ngữ (…). Thế cho nên nhà văn phó thác vào sự tự do của người đọc, để tự do này hợp tác với việc tạo nên cuốn sách của mình (tr. 53).

(…) Vậy viết là tiết lộ thế giới đồng thời đưa thế giới đó đến với tính rộng lượng của người đọc như một công việc phải làm. (Viết) Là trông nhờ vào tâm thức của người khác để mình được nhìn nhận là chủ yếu đối với tính tổng thể của con người (…) (tr. 67). Sartre đã sớm ý thức vai trò của người đọc trong việc xây dựng tác phẩm.

Sau cùng Roland Barthes, một học giả nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực : triết học, phê bình văn học – ông là người khởi xướng môn phê bình mới – ký hiệu học. Cùng với Gérard Genette và Tzvetan Todorov, Roland Barthes đã đưa thuyết cấu trúc vào văn học, ứng dụng thuyết cấu trúc vào thi pháp và phương pháp phân tích văn bản. Thay vì trả lời câu hỏi : Tại sao viết ? Roland Barthes trả lời câu hỏi : Viết là gì ? Trong bài tựa cuốn Sur Racine, một biên khảo về tác phẩm của Racine, ra năm 1963, Roland Barthes tuyên bố : Viết là làm rung chuyển cái nghĩa của thế giới, là đặt vào thế giới một câu hỏi gián tiếp mà nhà văn, cuối cùng do một sự lơ lửng, tránh trả lời. Chính mỗi người trong chúng ta đem lại lời đáp bằng cách đưa vào đấy lịch sử của mình, ngôn ngữ và sự tự do của mình ; nhưng vì lịch sử, ngôn ngữ và tự do thay đổi bất tận, cho nên lời đáp của thế giới với nhà văn là bất tận : người ta không bao giờ ngừng đáp lại những điều đã được viết ra ngoài mọi lời đáp : những nghĩa được khẳng định, rồi cạnh tranh nhau, rồi bị thay thế, đều qua đi, câu hỏi vẫn còn lại.

Chúng ta vừa đi một vòng để lắng nghe những lời đáp của các nhà văn. Những lời đáp rất đa dạng, có khi là một khẳng định chủ quan với những cố gắng tìm tòi về nghệ thuật viết, có khi tầm nhìn mở rộng để đến với người đọc, vì chỉ có người đọc mới làm cho sáng tạo của nhà văn trở nên sống động, phong phú, thêm nhiều màu sắc bất ngờ đối với nhà văn, người đọc là yếu tố cần thiết cho việc sáng tạo.

 

(1) Những trích đoạn do Liễu Trương dịch.

SÁNG TẠO CỦA THẢO TRƯỜNG

 

Văn học miền Nam tuy có một tuổi thọ rất ngắn, nhưng chỉ trong vòng hai mươi năm, biết bao tác phẩm đã nở rộ trong một bầu không khí tự do, ngoài sự thống trị của mọi hệ tư tưởng, ngoài mọi áp bức chính trị. Tác phẩm của Thảo Trường đã thành hình trong bối cảnh đó, và đã góp phần xây dựng nền văn học miền Nam mà Thảo Trường là một trong những nhà văn trụ cột.

Năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết, một thanh niên 18 tuổi tên Trần Duy Hinh, về sau trở thành nhà văn lấy bút hiệu Thảo Trường, đã rời bỏ quê hương miền Bắc, đành giã từ người mẹ thân yêu để theo làn sóng di cư vào Nam. Đối với người thanh niên này, một cuộc phiêu lưu bắt đầu từ đây, phiêu lưu qua những biến cố lịch sử, qua khói lửa chiến tranh, qua ngục tù cộng sản, để cuối đời trôi giạt đến một cái xứ xa lạ, và từ biệt cõi đời ở đấy. Nhưng cuộc phiêu lưu đã đem lại cho nền văn học Việt Nam những tác phẩm để đời.

Cũng như Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường cầm bút rất sớm, đồng thời ông cũng làm bổn phận của một người trai thời loạn. Ông nhập ngủ và dấn thân cho chính nghĩa Quốc gia. Ở Thảo Trường, chữ nghĩa đồng hành mật thiết với trải nghiệm và suy tư. Chữ nghĩa được cân nhắc, nâng niu, quý trọng để nói dùm tác giả bao ưu tư, bao sầu muộn trước sự đảo điên của thế cuộc.

Thử Lửa là tập truyện ngắn đầu tay của Thảo Trường, xuất bản năm 1962. Trong một cuộc phỏng vấn do Đặng Phú Phong thực hiện    trên diễn đàn Saigon Times, tháng 8 năm 2008, Thảo Trường cho biết những truyện ngắn trong Thử Lửa đều được viết từ 1956 (năm ông 20 tuổi) đến 1960, và đều đăng trên tạp chí Sáng Tạo. Thử Lửa mở đầu cho một loạt tác phẩm, những tập truyện ngắn như : Chạy trốn (1964), Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp (1966), Chung cuộc (1968) ; về tiểu thuyết thì có : Vuốt mắt (1969), Bên trong (1969), Th. Trâm (1969), Ngọn đèn (1970), Cánh đồng đã mất (1971), Bên đường rầy xe lửa (1971), Người khách lạ trên quê hương (1972), Lá xanh (1972), Cát (1974), và trường thiên tiểu thuyết Bà Phi đăng feulleton trên báo trước 1975, dài mấy nghìn trang. Ngoài ra, Thảo Trường có một tập tùy bút : Hà Nội, nơi giam giữ cuối cùng (1973).

Sau một thời gian dài gác bút vì ở tù cộng sản trong 17 năm, tác giả cầm bút trở lại ở hải ngoại, và cho ra các tác phẩm như những tập truyện ngắn : Tiếng thì thầm trong bụi tre gai (1995),  Tầm xa cũ bắn hiệu quả (1999), Miểng (2006), và ba tiểu thuyết : Đá mục (1998), Mây trôi (2002) và Thềm đá xanh rêu (2007). Chưa kể nhiều tiểu thuyết khác mà Thảo Trường dự định cho xuất bản, nhưng rủi ro ông lìa đời trước khi các dự định được thực hiện.

Ngần ấy tác phẩm chứng tỏ sức viết của Thảo Trường rất dồi dào, kiên trì. Có thể nói, sáng tạo của Thảo Trường trải qua ba thời kỳ mà tôi gọi : thời của dòng sông, thời khói lửa và thời xa xứ.

Thời của dòng sông

Trong những năm đầu sống ở miền Nam, Thảo Trường là một thanh niên mới lớn, vừa nhập vào cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam, nên có những trăn trở, ray rứt rất sớm. Trong các truyện đầu, Thảo Trường thường nhắc đến tuổi thơ, nói đến tình yêu đôi lứa với những bâng khuâng, những ảo tưởng của tuổi trẻ, rồi đến vấn đề chết, một vấn đề lớn lao của con người. Và từ ý nghĩ tự do lựa chọn một cái chết, tác giả hướng về con sông Bến Hải tượng trưng cho sự chia đôi đất nước. Ý muốn dấn thân bắt đầu từ đây chăng ?

Chủ đề chết hiển hiện trong tập Thử Lửa. Có một truyện mang tựa đề Xác chết. Trong truyện Cái hố, người con trai thắc mắc về sự chết chóc, nó muốn biết cái mùi khét khi da thịt bị đốt cháy. Còn truyện Trần gian kể một vụ tự tử hụt,  nhân vật muốn tự tử vì chưa tìm thấy chân lý ở đời. Trong truyện Làm quen có hai loại chết : cái chết do mình muốn và cái chết do kẻ khác gây ra. Một người con gái trước ngày cưới bỗng nhiên tự tử, cô ta có cái ý nghĩ điên rồ là chết để người yêu, một họa sĩ, vẽ mình sau khi mình chết và vẽ … tình yêu. Còn cái chết kia là cái chết của hai người do một tai nạn giao thông gây ra. Trong những suy nghĩ về cái chết trong truyện này thấp thoáng màu sắc của thuyết hiện sinh. Trong cuốn L’existentialisme est un humanisme (Thuyết hiện sinh là một chủ nghĩa nhân văn), tác giả Jean Paul Sartre viết : … không có thuyết quyết định, con người tự do, con người là sự tự do (…) con người bị đày phải tự do. Bị đày, bởi vì con người không tự tạo ra mình, và mặt khác con người lại tự do, bởi vì một khi bị vứt ra trên đời, con người chịu trách nhiệm về tất cả những điều mình làm.

Nhân vật của Thảo Trường thì nghĩ : Mình đã không có thẩm quyền gì về sự sinh ra của mình, thì ít nhất để đền bù lại mình cũng phải có ý kiến, thái độ về cái chết của mình chứ. Phải làm thế nào trên đời này không còn những bất trắc. Cái chết là việc quan trọng nhất trong đời sống. Vậy thì sự chấm dứt của mỗi cá nhân phải do chính cá nhân ấy định đoạt. Như thế để chứng tỏ kể từ khi ra đời mình cũng đã biết được mình, mình hoàn toàn tự do. Cái chết của tôi, tôi đã định đoạt trước, vì vậy tôi nhập ngũ. (tr. 84)

Cái chết được nhân vật chọn lựa không phải là đơn giản tự sát, một hình thức tiêu cực ; nhân vật chọn cho cái chết của mình một ý nghĩa cao đẹp, đó là dấn thân cho đất nước bằng cách nhập ngũ. Dấn thân cho đất nước vào một giai đoạn rối  bời, khiến con người ngẩn ngơ. Đối với nhân vật trong truyện, nhập ngũ là để đối phó với một đe dọa lớn : sự chia đôi đất nước mà con sông hiền hòa kia bị bắt buộc đóng cái vai trò biểu tượng. Trong thời kỳ sáng tạo đầu đời này, Thảo Trường đã bị con sông ám ảnh và linh cảm một tương lai không mấy sáng sủa. Cho nên tôi gọi thời gian này là thời của dòng sông.

Trong truyện Làm quen, khi người kể truyện đứng gác trên lô cốt, nhìn về dòng sông thì có những trăn trở về sự phân chia địa lý, nhưng tin tưởng không có chia cách trong lòng người :

Ý nghĩ đầu tiên của tôi về con sông này : nó chỉ là biên giới của đất đai, nó không là biên giới của tư tưởng. Người bên kia hay bên này không qua lại nhau, nhưng những tư tưởng phát sinh từ tâm hồn người bên này hay bên kia thì cũng nẩy nở sang bên kia hay bên này (…) Quốc lộ vẫn bò dài nam bắc, chiếc cầu qua sông rất vững chắc, nước chảy hiền từ. Tôi cố gắng phân biệt ra biên giới nhưng không được, vẫn chỉ là làng mạc, đồng ruộng và đường đi, muôn đời muôn thuở vẫn là hình ảnh quê hương tôi. Dù đã bị giới hạn cái quyền tự do tung tăng chạy nhảy trên đất nước, để phải dừng chân ở ngọn đồi này, tôi cũng vẫn tự bảo mình rằng bên kia là của mình, phải là của mình. Mười ba triệu người đằng sau tôi chắc cũng tin như vậy ? Tôi đứng gác ở tiền tuyến cho nửa dân tộc yêu nhau và tin tưởng con sông trước mặt tôi sẽ không là biên giới. (tr. 89-90)

Nhân vật trong truyện từ chối sự phân chia lãnh thổ một cách vô lý, để vẫn tha thiết yêu thương cái không gian bên này và bên kia gọi là quê hương, vẫn nhận thức không gian đó là sở hữu thiêng liêng của mình.

Đặc biệt truyện Mầu và sắc nói lên nỗi trăn trở, buồn phiền về sự ngăn chia và niềm tin vào tình yêu thương của con người. Truyện Mầu và sắc là nỗi niềm của một nhà giáo đã từng sống gần con sông chia đôi đất nước, và sắp rời xa nơi này. Nhân vật bâng khuâng : Cũng chỉ là một dòng sông, cũng chỉ là một chiếc cầu (…) Tôi chưa giám dùng chữ biên giới, có lẽ vì trong tôi nó còn tiềm ẩn một niềm tin. (tr 15) Có những cái không thể chia cắt được : … không khí tôi thở có thể là từ bên này hay bên kia bởi làn gió hiu hiu từ cửa biển thổi vào. (tr. 15)

Trong suy nghĩ của một nhà giáo có nhiệm vụ gieo trong tâm hồn của trẻ thơ tình yêu thương mọi người, có sự cần thiết bỏ đi những chướng ngại gây chia rẽ : những cuộc biểu tình, những biểu ngữ, khẩu hiệu, những bản đồ tham mưu, những chiến lược. Phải phá tan sự dửng dưng của hai người cán bộ đứng gác ở hai đầu cầu, hai người không bao giờ cười với nhau. Nhưng phải công nhận khó mà hàn gắn sự chia cắt : Nhưng thực ra vấn đề không ở con sông, không ở chiếc cầu, không ở cột cờ. Nó ở trong lòng con người hai miền, nó ở trong lòng chúng ta. (tr. 23) Cũng như trong truyện Làm quen, ở đây nhân vật cũng tra vấn sự vô lý của một phân chia đất đai, một chia cách lòng người.

Phải nói dòng sông là một đề tài gây trăn trở, bứt rứt, một ám ảnh của Thảo Trường. Nhưng đã đến lúc không còn bâng khuâng về vai trò vô lý của con sông nữa. Bánh xe lịch sử vẫn quay, và bộ mặt hung thần của chiến tranh đã hiện đến cận kề.

Thời khói lửa

Khi chiến tranh lan tràn khắp nơi, Thảo Trường bước qua một giai đoạn mới : ông dấn thân hết mình, ông đi tác chiến dọc ngang trên khắp lãnh thổ miền Nam. Và khi cầm bút, ông không còn loay hoay với những khắc khoải về sự phân chia đất nước, sự chia cắt tình người, giờ đây ông thao thức, ông bị dằn vặt bởi thân phận con người trong chiến tranh. Có hai truyện ngắn có thể tượng trưng cho thời kỳ sáng tạo này. Một truyện rất nổi tiếng : Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp, ra năm 1964, và một truyện ít được người đọc biết đến, đăng trên tạp chí Đất Nước, số 6, tháng 9 và 10 năm 1968, truyện : Trong hầm trú ẩn. Trong hai truyện này, tác giả miêu tả hoàn cảnh sống của hai nạn nhân chiến tranh. Thảo Trường có lối viết rất sâu sắc, người đọc khó quên những nhân vật của ông.

Truyện Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp là truyện một người phụ nữ quê mùa, nạn nhân của thời cuộc, bị ép giữa hai chủ nghĩa cộng sản và Quốc gia. Vào truyện, tác giả khéo léo dàn cảnh thiên nhiên : một con kinh dài với những con lạch chảy từ một cánh đồng bao la tràn vào. Đường đi nhỏ hẹp có những chiếc cầu khỉ. Cây cối hai bên bờ quá um tùm đến nỗi ánh sáng mặt trời khó len lõi vào đến mặt nước, nhà cửa lưa thưa đây đó. Chị Tư lớn lên và sống trong cái không gian của nước và thảo mộc này. Chị không hề biết đến cái thế giới lớn lao bên ngoài. Chị lập gia đình với anh Tư, vợ chồng chỉ sống với nhau sáu tháng, sau đó anh Tư đi tập kết biền biệt. Nơi chị Tư sống ngày càng không yên. Có những người lạ mặt, bạn anh Tư, lúc đầu thấp thoáng trong khu xóm, dần dà ra mặt hẳn hòi. Có tiếng súng nổ, đồn dân vệ bị đốt cháy. Chị Tư phải học tập chính trị, chị sành sõi với những danh từ « tự do », « dân chủ », « căm thù », v.v… Nhưng quân đội Quốc gia trở lại, đồn dân vệ được xây cất lại. Lần này chị Tư học tập với phía Quốc gia, chị biết rành rọt Ấp chiến lược là gì. Sự hiểu biết của chị giàu thêm, chị biết tới hai chủ nghĩa : cộng sản và nhân vị. Nhân vị là một triết thuyết được chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm đề cao. Nhưng, một lần nữa, những xây dựng của phía Quốc gia bị tàn phá, « Ấp chiến lược » trở thành « Ấp chiến đấu » của các anh cán bộ. Một hôm chị Tư được giao phó một trọng trách. Cần nhớ trong suốt thời gian chị tiếp xúc với các anh cán bộ, thỉnh thoảng chị nhận được thư anh Tư do các anh này chuyển lại. Anh Tư không nói gì đến tình vợ chồng, trong khi chị Tư cảm thấy cô đơn, anh chỉ khuyến khích chị chuyên tâm tranh đấu. Chị được đề cử đi binh vận, chị phải lên chợ quận mở một quán cháo với một người cán bộ vờ làm em chị và vờ gia nhập dân vệ. Chị Tư nhận lời một cách miễn cưỡng. Ở quán cháo chị Tư quen biết với một anh binh sĩ truyền tin. Hoàn cảnh đưa đẩy chị Tư dan díu với cả hai người : người cán bộ, chú em vờ và anh binh sĩ truyền tin. Chẳng bao lâu chị mang thai, chị lấy làm lo lắng, không biết cái thai là con của ai. Người cán bộ nói cái thai là con của Đảng. Chị Tư bơ phờ trở về ngôi nhà lụp xụp bên bờ con kinh. Người cán bộ đã đào ngũ dân vệ, đi theo chị và không ngớt hà hiếp chị, áp bức chị. Một hôm anh ta bắt chị phải tự tay kẻ một biểu ngữ « Đả đảo Đế quốc Mỹ », tự mình leo lên cây, gắn biểu ngữ và tự tay buộc một trái lựu đạn sau tấm biểu ngữ. Tác giả dùng kỹ thuật lặp lại để nói lên sự khó nhọc của người đàn bà mang thai gần đến ngày sinh : Chị Tư ì ạch kẻ khầu hiệu (…). Chị Tư ì ạch vác thang ra gốc cây trước nhà. Chị Tư ì ạch mang cái bụng chửa lên thang. Chị Tư ì ạch đóng đinh tấm bảng. Chị Tư ì ạch cột sợi giây oan nghiệt từ chốt lựu đạn sang một cành cây, trước cặp mắt khuyến khích của anh cán bộ đứng dưới. (tr. 11)

Rồi cuộc hành quân của quân đội Quốc gia dừng lại ở con kinh. Các cán bộ đều biến mất. Trong khi toán lính đi lục soát bên ngoài, thì người sĩ quan chỉ huy vào nhà chị Tư, quan sát khắp nơi. Một người lính vào báo tin có một khẩu hiệu đả đảo Mỹ. Người sĩ quan ra lệnh không ai được đụng vào cái khẩu hiệu ; đã có hai người lính bỏ mạng vì giật một khẩu hiệu, làm nổ một trái lựu đạn ở phía sau. Khi biết chính chị Tư đã treo khẩu hiệu và gài một trái lựu đạn, người sĩ quan ra lệnh cho chị ra gỡ xuống, chị Tư van lạy ông ta vì chị sợ chết. Người sĩ quan lại biết thêm chồng chị Tư đi tập kết đã mười năm, ông ta lớn tiếng bắt chị phải ra gỡ trái lựu đạn, ông ta rút súng, chị Tư đâm hoảng. Chị Tư ì ạch với cây gậy dựa nơi góc nhà. Chị Tư ì ạch bước ra gốc cây. Chị Tư ì ạch dơ gậy lên giáng thật mạnh vào tấm bảng (…). Khi trái lựu đạn rơi xuống, chị bỏ chạy, toán lính thì nằm rạp xuống đất. Nhưng lựu đạn không nổ. Chị Tư té nhào xuống đất, chị bị động thai. Người sĩ quan bế chị vào nhà, đặt chị lên giường. Đêm hôm đó chị sinh một đứa bé thiếu tháng, và người sĩ quan đã làm cái công việc đỡ đẻ cho chị một cách tận tụy ; ông ta cảm thấy vui khi nghe đứa bé khóc. Lần đầu tiên chị Tư và người sĩ quan mỉm cười với nhau. Mấy hôm sau người sĩ quan đi khai sinh cho đứa bé, vì chị Tư không biết cha nó là ai, người sĩ quan bèn cho đứa bé tên họ của mình.

Truyện kết thúc bằng một lời nhắn tin của người sĩ quan với đứa bé khi nó lớn lên. Người sĩ quan nhắn với nó rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào, trước khi  quyết định làm một việc gì, nó phải nghĩ đến nỗi thống khổ của một người đàn bà mang thai, nghĩ đến những người mẹ đã bị nhiều chủ nghĩa hành hạ. Xin cậu hãy nghĩ tới cái hình ảnh đó (…) vì tôi chính là tên sĩ quan đã hành hạ mẹ cậu, đã đỡ đẻ cho mẹ cậu sau khi các đồng đội của tôi chết vì những thứ khẩu hiệu như cái khẩu hiệu « Đả đảo Đế quốc Mỹ » ấy.

Trong truyện Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng tháp, những biến cố xảy ra dồn dập như để nhanh chóng đẩy người phụ nữ vào một hoàn cảnh không lối thoát, nỗi bất hạnh như giáng xuống thân phận một con người chỉ biết hứng chịu. Như đã nói, chị Tư bị ép giữa hai chủ nghĩa, chị đối diện với hai quyền lực mâu thuẫn nhau, chịu sự áp đặt của hai guồng máy tuyên truyền chống đối nhau, và cả trong thú nhục dục, chị hưởng thụ với hai đại diện của hai chủ nghĩa chống đối nhau. Tác giả dùng trạng từ ì ạch để nói lên sự khốn khổ của chị Tư trước hai quyền lực : chị tuân lệnh anh cán bộ cộng sản ì ạch leo lên cây, gài trái lựu đạn, chị tuân lệnh người sĩ quan Quốc gia ì ạch gỡ trái lựu đạn. Bên nào cũng hành hạ chị, bắt chị ì ạch gài, gỡ. Nhưng cuối cùng chị mỉm cười khi chị phát hiện lòng nhân ái của người sĩ quan.

Truyện ngắn thứ hai là truyện Trong hầm trú ẩn. Từ một con kinh ở miền Đồng tháp, người đọc đi vào không gian một khu xóm gần thành phố, để gặp một nạn nhân khác của chiến tranh.

Mở đầu truyện Trong hầm trú ẩn, cảnh chiến tranh tạo ngay một không khí bất an, gây lo sợ : trực thăng vần vũ trên trời, những tràng hỏa tiễn rơi xuống, những tiếng nổ làm rung chuyển nhà cửa.

Miện, nhân vật trong truyện, trước khi trở thành một người tàn phế, đã từng chỉ huy một tiểu đội, tham dự nhiều trận đánh, có lần chiến công của anh đã vang lừng trong dư luận. Nhưng rồi anh bị trọng thương, chân phải bị cưa, anh được lệnh giải ngũ, từ đó anh về sống với vợ con ở cái khu xóm ngoại ô này. Hằng ngày Miện giữ con cho vợ đi làm, anh cũng thường khập khiễng trên đôi nạng gỗ, ra quán cà phê uống nước, kể cho lũ trẻ con nghe cái thời oanh liệt của mình. Vợ Miện đi làm thuê ở một sở Mỹ, thường đem về những hộp thịt, thuốc hút, bia và các sản phẩm thường dùng của Mỹ. Chị ta cũng đem về những cái bao không, Miện liền đi đào đất bỏ đầy bao và kéo về nhà, chồng chất quanh bộ ván ngựa để làm thành cái hầm trú ẩn. Một hôm vợ Miện chạy về nhà than không đi làm được, vì có những người lính mang súng, ăn mặc lộn xộn, lạ lùng, đứng gác khắp nơi và xua mọi người trở về nhà. Vợ Miện lo sợ nếu không đi làm thì sẽ bị đuổi, Miện chống nạng lê chân đến khe cửa nhìn ra ngoài, rồi nói nhỏ với vợ : Tụi nó. Vậy là chiến tranh đã tràn đến cái khu xóm ngoại ô này. Miện bị vây hãm, và ngôi nhà tôn của hai vợ chồng cùng cái hầm trú ẩn trở nên cái không gian chật hẹp cầm tù Miện. Khi nghe tiếng súng nổ, Miện lầm bầm : Tiên sư mấy anh Cộng sản. Nhưng Miện có tới hai kẻ thù : Cộng sản và Mỹ. Đối với Mỹ, Miện không cần nhìn xa hiểu rộng với những lập luận chính trị, hệ tư tưởng gì cho rắc rối. Không, anh chống Mỹ chỉ vì… anh ghen, vì sợ người Mỹ xúc phạm đến vợ mình. Miện tưởng tượng người Mỹ thèm muốn phụ nữ Việt Nam, và lợi dụng địa vị làm chủ có nhiều tiền của họ để cưỡng ép những người phụ nữ nghèo, làm dưới quyền họ. Cho nên Miện không ngớt tra hỏi vợ, mặc dù chị vợ quả quyết không có chuyện gì, Miện vẫn không yên lòng. Có lần vợ Miện cười, tỏ vẻ coi thường cử chỉ ve vãn của người Mỹ, Miện liền tát vợ một cái tát nảy lửa. Nhưng rồi anh xin lỗi vợ, tỏ lòng thương yêu vợ và lấy làm khổ tâm. Miện nói : Em như thế này. Cổ trắng như thế này. Vai đầy như thế này… Đến anh… mà anh còn hằng ngày thèm muốn huống hồ tụi nó, tụi dâm đảng đó, tránh sao chúng không tìm cách gỡ gạc.

Tuy chống Mỹ, nhưng thường ngày Miện vẫn ăn đồ hộp của Mỹ, vẫn hút thuốc Mỹ. Lòng anh uất ức, quặn đau. Anh đối mặt với hai kẻ thù : kẻ thù ở ngoài kia, đang mang súng AK, làm chủ khu xóm, và kẻ thù trong nhà, ngay trong hầm trú ẩn, hiện diện trong các món ăn, đồ uống, nó bám chặt lấy anh và như trêu cợt anh, anh không làm sao thoát khỏi kẻ thù này. Bị dằn vặt, Miện lầm lì bỏ ăn. Người vợ không hiểu, cằn nhằn, trách anh không ăn sao không nói trước để chị ta lỡ mở hộp thịt, giờ phải vứt đi, thật là phí, thời buổi khó khăn, đâu phải ai cũng được ăn các thứ đó. Thường khi Miện hay nói : Đồ vứt đi. Đồ của Mỹ. Mẹ cóc ăn làm đếch gì mà mang về. Lần này nghe vợ trách, Miện phát cáu : Đổ cho chó nó ăn. Vợ trả lời nhà không có chó. Miện nói : Thì đổ đi và coi như tôi đã ăn rồi, ăn hết rồi. Con chó này đã ăn hết rồi. Được không ?

Nỗi đau xót xa nhất của Miện là cái thân thể tàn phế của anh, khiến anh không còn chiến đấu được nữa. Anh tiếc không còn được vẫy vùng như trước kia : Mẹ cóc chúng đứng ngơ ngơ như thế kia mà không thấy thằng lính nào phe mình vào cả. Ngày xưa tao đâu có chịu thế. Tao nhào vào làm liền. Bây giờ chúng nó ỉ có trực thăng của tụi Mỹ, động một tí là kêu trực thăng bắn tùm lum, làm sao không cháy nhà cháy xóm (…) Tao mà không tàn tật như thế này. Chúng mày sức mấy còn đứng đây. Cái chân cụt của Miện trở nên một ám ảnh, anh thường lầm bầm trong miệng : Mẹ cóc ông mà không bị cụt chân (…) Tao mà không cụt chân thì phải biết (…) Mẹ cóc thằng nào nó tỉa mình mà độc quá.

Miện trở nên bất lực trước cuộc đời, chẳng những anh không còn là một người lính ra trận mà anh còn ăn nhờ vào sức lao động của vợ. Anh lấy làm tủi hổ : Phải, em đi làm cực khổ nuôi anh. Anh biết và anh thấy nhục quá. Anh què rồi mà. Anh muốn chết quá !

Cuộc chạm trán với kẻ thù bên ngoài xảy ra hai lần. Lần đầu một người cộng quân đứng trước nhà nói với Miện :

Còn ông nội này nữa. Cụt chân hả ? Chắc lính chứ gì. Có vào trong nhà ngồi không hay định nấp nom rình mò gì quân đội nhân dân đây.

Vợ Miện lanh miệng :

Dạ thưa các anh, nhà tôi không phải lính. Nhà tôi bị đụng xe

Miện nổi nóng, muốn chửi lại, nhưng vợ Miện đã nhanh nhẹn đóng cửa, kéo Miện vào trong nhà và dịu dàng vuốt ve anh. Nhưng Miện quát : Việc chó gì phải nói dối. Cứ nói mẹ nó là tao đi đánh chúng nó bị thương đó. Tao đâu có đụng xe mà nhục mạ tao. Mẹ cóc chứ thân này đã kể như bỏ rồi. Vứt đi rồi. Phế thải rồi.

Lần chạm trán thứ hai với kẻ thù là khi hai người lạ mặt cầm súng đập cửa bước vào, hạch hỏi và bảo có gì ăn thì đem ra ủng hộ bộ đội. Rồi một người hỏi Miện :

Anh làm gì ?

Thất nghiệp (…) Vợ tôi làm bồi cho Mỹ. Tôi ăn nhờ nó.

Hai người cầm súng mỉa mai :

Sướng nhỉ !

Miện gật đầu :

Sướng.

Rồi hai kẻ lạ mặt lên giọng khiêu khích :

À anh chàng cụt chân. Hạ sĩ phải không ? Tụi tôi biết rồi (…) Sao ? Bây giờ còn bắn súng được nữa không ? Sao không đi lính nữa đi ?

Miện phải cố hết sức để đừng chửi lại. Vợ Miện nhanh nhảu đưa mấy hộp thịt, rồi vội vàng đóng cửa. Chị lại vuốt ve mơn trớn chồng, khuyên chồng nên nhẫn nhục.

Truyện của Thảo Trường như một hình ảnh chớp nhoáng của một hoàn cảnh trong chiến tranh. Ngôn ngữ của nhân vật Miện là ngôn ngữ của phẫn nộ, của cay đắng tận cùng ; khí giới của Miện không còn là cây súng, chỉ còn lời nói, Miện đã trút vào lời nói tất cả những căm phẫn, uất ức của con người bị dồn vào tuyệt vọng.

Truyện ngắn Trong hầm trú ẩn của Thảo Trường nói lên thân phận bi đát của con người trong thảm họa chiến tranh. Miện đương đầu với kẻ thù ngoài mặt trận vì chính nghĩa. Miện, nếu còn sống sót, thì không còn là con người như trước kia nữa. Anh rơi vào tình trạng bất lực. Ban đêm nằm trong hầm trú ẩn có ánh sáng hỏa châu đôi lúc chiếu vào, Miện thấy rõ chiếc chân cụt đang ngọ nguậy. Thân thể bị suy thoái. Anh mất chỗ đứng trong xã hội. Anh không còn được tiếp xúc với những người chung quanh, bèn quay ra kể chuyện với lũ trẻ con trong xóm. Anh bị cướp mất lời nói. Anh chỉ có thể trút những lời hằn học, những cơn phẫn nộ cho vợ hoặc khi anh độc thoại. Nhưng anh phải câm nín trước lời cáo buộc, lời khiêu khích của những kẻ có quyền lực : những người cộng quân. Kẻ mạnh tướt đoạt lời nói của kẻ yếu.

Do những mất mát đó, Miện bị chiến tranh tước quyền làm người. Anh biết thế nào là nhục nhã, nhục nhã khi phải ăn uống những thực phẩm của Mỹ, khi phải chịu thiệt thòi trước cái nhìn khinh bỉ của những người cộng quân, và anh tự cho mình là một con chó. Lịch sử đẩy Miện vào tận cùng cay đắng, tuyệt vọng và xóa tên anh.

Trong hai truyện của thời kỳ khói lửa này, hai nhân vật, một nữ một nam, đều hứng chịu chiến tranh. Chị Tư không được chung sống với chồng như chị mong muốn. Chị bị một cơn cuồng phong cuốn chị vào những căm thù vượt quá sự hiểu biết của chị. Miện cũng bị cơn cuồng phong của căm thù, của tàn bạo làm cho thân thể anh tàn phế.

Thế rồi chiến tranh chấm dứt. Và hình phạt kẻ thắng trận dành cho kẻ thua trận là những trại học tập, những nhà tù. Thảo Trường đã trải qua 18 nơi giam giữ từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vô Nam. Mười bảy năm sau, ông từ địa ngục trở về, tóc bạc, sức yếu, ông lên đường sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Ông cầm bút trở lại. Một thời kỳ mới trong sáng tạo của ông bắt đầu.

Thời xa xứ

Sau 17 năm không làm bạn với chữ nghĩa, nhưng trong tâm hồn của người tù lâu năm biết bao kỷ niệm, biết bao suy tưởng được tích lũy. Giờ đây Thảo Trường không rời chữ nghĩa, như để bù lại thời gian đã mất. Nhưng lối viết của Thảo Trường trên đất Mỹ, nơi ông dung thân như ông nói, nó không còn như trước nữa. Một tiếng nói từ nội tâm sâu thẳm của con người với bao trải nghiệm đau thương dần dần thành hình dưới ngòi bút. Cũng trong cuộc phỏng vấn của Đặng Phú Phong, khi nói về thời gian sống ở Mỹ, Thảo Trường tuyên bố : Tôi dành toàn bộ thời gian để ngẫm nghĩ về thời chiến, thời tù đã qua và đời lưu vong hiện tại. Tôi gửi gấm những suy nghĩ đó vào những sáng tác. Tôi không biết chép sử và cũng không thích viết hồi ký. Dù Thảo Trường không thích viết hồi ký, nhưng những truyện viết trong thời kỳ này phần nhiều có dáng dấp một hồi ký, một hồi ký không liên tục, đi từ truyện này sang truyện khác, mỗi truyện là một hình ảnh của quá khứ  tù đày bừng sáng. Những chuyện trong tù tác giả kể lại đều có thật. Qua một hồi ký phân mảnh như thế, người đọc có thể nhận ra trong các trại giam cộng sản nhiều nhân vật của giới văn nghệ miền Nam : những nhà thơ, nhà văn, nhà báo, người phụ trách chương trình thi văn « Tao đàn » trên đài phát thanh của thời miền Nam, và cả một nhà sử học đã từng bôn ba xứ người, nay về chết trong một trại giam. Có thể hiểu rằng tác giả muốn dùng một hình thức gián tiếp để kể truyện, tự gọi mình là « ông lão », « bác tù già », gọi người vợ gặp lại sau 17 năm xa cách là « bà lão ».

Ký ức của Thảo Trường còn mang quá nhiều kỷ niệm của 17 năm tù. Những kỷ niệm trở thành ám ảnh. Bên cạnh những truyện nói về một hoàn cảnh sống trong trại giam như Những đứa trẻ đầu thai giữa hàng rào, Con bò, Tiếng thì thầm trong bụi tre gai, lại có những truyện trong đó lối viết của Thảo Trường qua lại giữa hiện tại ở Mỹ và quá khứ ở Việt Nam, những chuyện cũ mới xen kẽ nhau, đan vào nhau theo kỹ thuật liên tưởng, như trong các truyện Hạt thóc, Cơn sốt. Truyện Cơn sốt bắt đầu bằng đời sống của ông lão trên đất Mỹ, tiếp đến kỷ niệm trong tù, ông lão bị bệnh sốt rét nặng, từ trong rừng được khiêng đến bệnh xá trại giam, rồi được đưa đến bệnh viện tỉnh, cơn hôn mê kéo dài, rồi truyện trở lại đời sống ở Mỹ, v.v…

Truyện Cơn sốt kể đời sống của một gia đình được đoàn tụ sau 17 năm xa cách. Bà lão ngày nào dắt díu đàn con thơ dại đến cái đất Mỹ này, vừa học tiếng người, vừa lao động mưu sinh để lo cho đàn con ăn học. Ngày nay con cái đã lớn khôn, thành tài ; bà lão lại có một xí nghiệp làm đồ gỗ rất phát đạt. Bà là một doanh nhân thành đạt, bà điều khiển vài chục nhân công và một bà Mỹ già làm quản lý, họ tuân lệnh bà răm rắp. Bà nói tiếng Mỹ nghe hấp dẫn, dùng thành thạo các máy vi tính, máy fax, máy chuyển tiền vào trương mục ngân hàng, bà thuộc lòng các số điện thoại, theo dõi thị trường hàng hóa, theo dõi khách hàng. Một người đàn bà như thế không còn chỗ nào chê được.

Còn ông lão ? Cái xứ Mỹ này có phải là thiên đường của ông không, sau khi ông đã từ địa ngục cộng sản trở về ? Sang Mỹ, ông được vợ con thương yêu, chiều chuộng, ông sống trong sung túc, về mặt nào ông cũng được đầy đủ. Nhưng sao ông cảm thấy có một khoảng cách lớn giữa ông với mọi người, có một sự chênh lệch quá lớn giữa ông và họ, khó lòng cho ông khỏa lấp. Ông nói tiếng Mỹ dở ; khi xưa ông lái máy bay, nhảy dù, giờ đây ở cái xứ xe cộ tuôn chảy như nước, ông chóng mặt không lái xe được, ngồi trước tay lái ông chậm chạp bị xe sau bấm còi inh ỏi. Bà lão giải thích :

– Ở Mỹ, nó bấm còi xe là nó chửi mình đấy.

Ông ngô ghê hỏi :

– Ở Mỹ nó chửi nhau bằng máy à ?

Cái bao tử Việt Nam của ông nó đòi hỏi ngày ba bữa cơm, thế mà bà lão vừa cắn một miếng pizza vừa nói chuyện liên miên trong điện thoại. Thêm một khám phá cho ông lão : ở cái xứ này thì giờ quý lắm, thì giờ là công việc, là tiền. Ông lão dí dỏm gọi bà lão là « bà Mỹ » còn ông là « kẻ lưu vong ».

Nhưng ông lão không chịu ăn không ngồi rồi. Ngoài việc gặp các ông lão cựu tù binh khác cũng sang Mỹ theo diện HO như ông, ông lão bày ra việc đi lượm ve chai, hộp nhôm, đồ nhựa, các loại có thể được tái chế, để bán lại. Ông biến cái xe đạp thể dục của đứa con trai thành cái xe thồ có hai cái giỏ hai bên, và cứ thế ngày ngày ông đạp xe quanh quẩn trong lối xóm, dọc bờ biển, chất đầy ve chai, hộp nhôm trong hai cái giỏ và thở gió biển. Ông lão cho như thế là có ích lợi và tốt cho sức khỏe. Nhưng ông vẫn mang tâm trạng mình khác với mọi người. Với ông không có vấn đề thích nghi hay hội nhập gì cả, vì trong thâm tâm ông kỷ niệm quê nhà, tù đày vẫn còn đấy.

Trong truyện dài Đá mục, tác giả viết : Ông lão thấy rõ ràng cuộc đổi đời của mình thật là phi lý. Tự nhiên tình thế xoay chiều, « sông núi đã biến thiên, thời đại đã xa cách », đang từ miền đất quen thuộc bao đời, u mê một cơn, mở mắt ra đã thấy mình sống ở một nơi hoàn toàn xa lạ. Mình trở thành một kẻ dưới hạng thứ dân, cái gì cũng thấp kém, cái gì cũng không bằng người, cái gì cũng phải học tập lại. Từ cách ăn mặc, đi đứng, nói năng, cư xử… đến cách suy nghĩ, yêu thương, giận hờn… đều phải xem xét lại cho phù hợp với đời sống xung quanh. Mình đang là người Kinh ở quê nhà, nay hóa ra người Thượng ở quê người. Mà trong cái giới người Thượng này mình lại còn là người Thượng mới không giống người Thượng cũ. (…) Cho dù anh có vào quốc tịch người Kinh ở đây đi nữa thì anh cũng vẫn không giống họ….

Ông lão không thể là người Thượng cũ được, nói gì đến việc trở thành người Kinh. Điều khiến ông lão quá xa lạ với cái xứ Mỹ này là cái chấn thương tâm lý, cái chấn thương của thời ở tù cộng sản. Trong suốt 17 năm sống trong lao tù cộng sản, Thảo Trường là một chứng nhân của nhiều hoàn cảnh đau thương. Ông biết thế nào là tàn ác, là hẹp hòi, ngu ngốc, là nhục nhã, là chịu đựng ; giọng kể truyện của ông khi ngậm ngùi, đau xót, khi dí dỏm, mỉa mai.

Có một truyện đặc biệt nói về cái chết, về sự chấm dứt cuộc đời của những người lính bại trận, bị tất cả bỏ rơi, chìm vào lãng quên. Đó là truyện Tiếng thì thầm trong bụi tre gai. Trại giam Rừng Lá có hai đặc điểm : trước hết nó được bao quanh bằng những hàng rào tre gai vuông vắn, thành quách, sừng sững như là dấu ấn của một thời hận thù nghiệt ngã, để lại cho lịch sử. Đặc điểm thứ hai là nó có một nghĩa địa riêng, nơi chôn rất nhiều hài cốt tù binh. Chính nơi này có hai nấm mộ của hai người tù trẻ. Một người là đại úy Lam, một hôm anh thắt cổ trên cây tự sát, vì không muốn là gánh nặng cho đứa em gái phải lo thăm nuôi, hai anh em mồ côi cha mẹ. Ba ngày sau người ta mới tìm ra xác của đại úy Lam, lúc đó xác đã bị thối rữa. Người thứ nhì là một sĩ quan rất trẻ vừa ra trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Vì quá tin cộng sản, người sĩ quan trẻ này vào trại giam hy vọng sẽ sớm được trở về. Người vợ trẻ của anh thường vào thăm nuôi, hai vợ chồng vừa mới lấy nhau, chưa có con. Mỗi lần vợ đến thăm, hai vợ chồng quá thương nhau, chỉ biết nhìn nhau rơi nước mắt. Một hôm người sĩ quan trẻ được tin vợ anh đã biến mất ; anh thường nghe nói vợ tù binh bỏ chồng đi lấy người khác. Anh quá đau đớn vượt hàng rào bị công an bắn chết. Chôn cất anh xong thì người vợ đến, chị cho biết chị bị bắt giam hai tháng vì tội mua cá định bán lại lấy tiền đi thăm nuôi chồng. Người vợ trẻ chỉ còn biết khóc lóc thảm thiết trên ngôi mộ chồng. Ngoài ra, có một ngôi mộ không thuộc quản lý của trại giam. Người ta cho biết đó là ngôi mộ của một người lính Cộng hòa bị Việt Cộng sát hại năm 1968, ngôi một được dân trong vùng săn sóc chu đáo. Trong trại giam Rừng Lá có bác tù già đã chứng kiến hàng trăm người tù ra khỏi trại giam, mà mình thì vẫn còn ở lại ; từ trên một nghìn người tù, nay chỉ còn lại mười hai người. Bác tù già mang tâm trạng cô đơn của một kẻ bị bỏ rơi. Rồi bác tù để ý đến ngôi mộ bên ngoài, bác đi nhặt những cành cây khô đem lại đốt trước mộ như làm một buổi lễ truy điệu. Bác tù binh già nghĩ rằng hôm nay bác chiêu hồn, truy điệu, tưởng nhớ, tri ân, ngậm ngùi… những liệt sĩ vị quốc vong thân vốn từng là đồng đội chiến hữu. Mặc cho kẻ thù triệt hạ, mặc cho đồng minh phản bội phủi tay, mặc cho lãnh đạo bỏ chạy và đồng ngũ quên lãng, mặc cho thời gian lạnh lùng trôi qua, mặc cho lịch sử sang trang… hôm nay, ở đây, có người tù binh già thì thầm với anh, thì thầm với các anh, trong nỗi cô đơn tột cùng của kẻ sống người chết, nỗi cô đơn tột cùng của những người lính đã mãn phần hay đang là tù binh. (tr. 84)

Có lời kinh truy điệu nào hay hơn cho những người lính đã nằm xuống ?

Qua ba thời kỳ sáng tạo, thời của dòng sông, thời khói lửa và thời xa xứ, Thảo Trường một mực trung thành với lập trường của mình, là tranh đấu cho tự do, chống lại một hệ tư tưởng cực quyền gây bao tàn phá, khổ đau, hận thù. Cho nên sáng tạo của Thảo Trường bắt nguồn từ sự dấn thân cho một lý tưởng, dấn thân là chủ đề của phần lớn các tác phẩm của ông, dấn thân bất cứ trong bối cảnh lịch sử nào, dẫu cho phải trả một giá rất đắt.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THƯ TÌNH VIẾT TỪ BỒ ĐÀO NHA

 

Năm 1669, một chủ tiệm sách ở Paris, ông Claude Barbin, cho xuất bản một cuốn sách mỏng tựa đề : Những Lá Thư Bồ Đào Nha dịch sang tiếng Pháp (Lettres portugaises traduites en français), không có tên tác giả, cũng không có tên dịch giả. Cuốn sách gồm năm lá thư tình của một nữ tu ở Bồ Đào Nha. Người nữ tu bị một sĩ quan người Pháp thuộc dòng dõi quý tộc quyến rũ rồi bỏ rơi khi ông ta trở về Pháp. Người nữ tu viết năm lá thư cho kẻ bạc tình. Những Lá Thư Bồ Đào Nha được vô số độc giả lúc bấy giờ nhiệt liệt yêu thích. Tác phẩm không có tên tác giả càng làm tăng tính lạ lùng, huyền bí của nó. Người ta tự hỏi người nữ tu nào đây ? Và người đàn ông quý tộc kia là ai ?

Tình yêu của người nữ tu trong năm lá thư khi thì quá nồng nàn, say đắm, khi thì quá tuyệt vọng để đi đến việc chấp nhận một tình yêu không lối thoát và người nữ tu phải chịu xa người yêu. Lời lẽ trong các lá thư quá thật đến nỗi về sau văn hào Stendhal (1783-1842), cũng như nhiều người khác, không chút nghi ngờ mà tin rằng đây là những lá thư của một người nữ tu có thật. Phải chờ ba thế kỷ nghiên cứu, tìm tòi người ta mới chắc rằng Những Lá Thư Bồ Đào Nha là do tử tước de Guilleragues viết. De Guilleragues sinh năm 1628 ở Bordeaux, học luật xong, ông trở thành thư ký của hoàng thân de Conti, sau đó ông làm thư ký nội các của vua năm 1669, rồi ông được bổ nhiệm đại sứ ở Thổ Nhĩ Kỳ, năm 1677. Ông mất ở đấy năm 1685.

Lý do thành công của Những Lá Thư Bồ Đào Nha

Vào nửa đầu thế kỷ 17 ở Pháp, người ta không ngừng in ra những tập thư tín, kiểu như : Lettres amoureuses et morales des beaux esprits de ce temps (Thư về tình yêu và đạo đức của những tâm hồn cao đẹp thời nay) của François de Rosset, năm 1612. Cách trình bày những tập thư tín đó không theo một thứ tự nào, có sự trộn lẫn những lá thư có mục đích an ủi, tỏ tình, cám ơn hay khen ngợi. Điều quan trọng không phải là nội dung lá thư, mà chính là tài hùng biện, sức thuyết phục của người viết. Cho nên trước khi Những Lá Thư Bồ Đào Nha ra đời, thì thư tín được quan niệm như một cách viết điêu luyện ; tuy nhiên những xảo thuật được dùng đến không thích hợp với sự diễn đạt hồn nhiên của cảm xúc. Lại nữa những lá thư truyền thống không có tính hư cấu và không phải là một tổng hợp có tính mạch lạc. Và đến giữa thế kỷ 17, thư tín được xem như một lối viết thuộc về nam giới. Những thư tình truyền thống được viết theo cái mẫu thơ La tinh của nhà thơ Ovide. Điều cốt yếu không phải cách diễn đạt độc đáo một cảm xúc, mà mục đích là để mọi người rút được bài học đạo đức khi đọc các thư đó. Quan niệm này quá xa với lời lẽ nồng nhiệt của người nữ tu trong Những Lá Thư Bồ Đào Nha.

Thế nhưng trong những năm 1660-1670, có sự thay đổi sâu xa trong tâm tính của công chúng. Qua thư tín, người ta chờ đợi một lối diễn đạt tình cảm xác thực hơn, sâu đậm hơn. Do đó, khi Những Lá Thư Bồ Đào Nha ra mắt độc giả, tác phẩm đã được hoan nghênh nhiệt liệt ; kể từ nay người phụ nữ được xem như kẻ viết thư tình.

Nỗi niềm của một người nữ tu qua năm lá thư tình

Năm lá thư cho phép tạo lại trình tự thời gian và cấu trúc chặt chẽ của tác phẩm toàn diện. Người nữ tu, tên Mariane, đi từ một yêu cầu thúc hối, Hãy năng viết thư cho em, đến một nhận xét, rồi đến một tiếc nuối, một câu hỏi và cuối cùng đến một yêu cầu ngược lại với lá thư đầu : Em xin chàng đừng viết thư cho em nữa.

Lá thư 1

Chức năng của lá thư đầu tiên này là trình bày sự việc. Người đọc nhanh chóng đi vào trạng thái tâm hồn của người nữ tu đang yêu say đắm. Người nữ tu tôn thờ tình yêu đó đến nỗi thế giới xung quanh bị bôi xóa, thực tế biến mất, nếu trong thực tế không có người yêu. Kẻ vắng mặt được thần tượng hóa, đôi mắt của chàng đủ cho em rồi. Từ vựng của người nữ tu dùng để nói lên tâm trạng của mình làm liên tưởng đến sự tử vì đạo và đến lời cầu khẩn : em cảm thấy một thích thú nào đó khi hy sinh (đời em) cho chàng, ban ngày em gửi đến chàng nghìn lần những tiếng thở dài của em. Người nữ tu đi đến cái mức lầm lẫn bằng cách đồng nhất hóa nỗi đau khổ của mình với người đã gây ra đau khổ đó, và thích tự giam mình trong một nỗi thống khổ có tính bệnh hoạn.

Trong lá thư này, tất cả sự kiện đều được phơi bày với người đọc. Nếu nữ tu Mariane còn hy vọng người yêu quay trở lại, thì người đọc linh cảm sự trở về của người này không phải là mục đích của những lá thư, mà chính là thảm kịch xảy ra trong nội tâm, và những « nhân vật » thật sự chỉ là những tiếng nói lạc điệu của nội tâm, chúng hành hạ người nữ tu.

Lá thư 2

Lá thư này trình bày hai sự kiện có tính thời gian. Sự kiện thứ nhất chỉ rõ giai đoạn lịch sử trong đó sự việc đã xảy ra : Một người sĩ quan Pháp có lòng tốt đã nói chuyện với em sáng hôm nay về chàng, trên ba tiếng đồng hồ, người đó nói với em rằng đã có hoà bình ở Pháp. Chi tiết này ám chỉ hoà bình ký kết ở Aix-la-Chapelle tháng 5-1668. Nước Bồ Đào Nha bị Tây Ban Nha xâm chiếm, năm 1580. Pháp giúp Bồ Đào Nha khôi phục quyền độc lập, qua hoà bình Aix-la–Chapelle.

Sự kiện thứ hai liên quan đến việc trao đổi thư từ : đã sáu tháng nay em không nhận được một thư nào của chàng. So với lá thư đầu thì thư này cũng nói đến nỗi đau khổ, tuyệt vọng, trách móc, luyến tiếc tình yêu, nhưng với một chút đổi thay : Mariane bắt đầu tách rời tình yêu của cô với nhu cầu sự có mặt của người yêu. Lá thư đầu còn chất chứa một nỗi hy vọng được diễn đạt qua lời cầu khẩn đau đớn : Ước gì hôm nay giống như hôm qua ; chàng hãy đến với em. Sáu tháng sau, nỗi tuyệt vọng khiến Mariane viết : tình yêu của em không còn tùy thuộc cái cách mà chàng sẽ đối đãi với em nữa. Tình yêu càng lúc càng giống như một trải nghiệm đơn độc, như một tu luyện khổ hạnh : em không còn dùng vinh dự của em, tôn giáo của em chỉ để yêu chàng quấn quít suốt đời em.

Mariane có cái nhìn bi thảm về tình yêu. Trước hết cô đặt tình yêu của cô ở ngoài những chiều kích tầm thường. Rồi cô tự tra vấn về sự chóng tàn của những hoan lạc yêu đương và về những ảo tưởng mà hoan lạc đó đưa đến. Mariane nói lên không chút giấu giếm về tình yêu hứng dục của cô : cô thích thú, ham muốn, say mê, hưởng thụ. Nhưng để cảm thấy một cách đau đớn hơn sự chóng tàn của tình yêu đó : hưởng thụ về thể xác không đáp lại những kỳ vọng của trái tim. Sự chênh lệch giữa thể xác và tâm hồn lại đi kèm với sự mâu thuẫn trong nhận thức về thời gian. Thời gian của đôi nhân tình là những giây phút quá hạnh phúc, nhưng rồi cũng phải đi đến kết thúc, mà Mariane thì đi tìm cái tuyệt đối, cái không có kết thúc.

Người nữ tu lại quan niệm một tình yêu đặt trên nền tảng của sự cam kết hoàn toàn : em đã hiến cho chàng tất cả… Người yêu trái lại đi khắp nơi. Trong thư đầu, người đó vượt biển cả để đến sống giữa bao hoan lạc. Trong thư này, người nữ tu trách người đàn ông không chịu ở lại Bồ Đào Nha, mà lại thích những hoan lạc với những người tình mới ở Pháp.

Tất cả dường như lừa lọc người nữ tu : một người tình không xứng đáng với tình yêu của cô, những rung động của thể xác chóng qua. Những người nữ tu khác tưởng cô điên. Trong lá thư 3, Mariane sẽ đi xa hơn trong sự điên loạn, đến mức khẩn cầu cái chết.

Lá thư 3

Người nữ tu lên đến đỉnh điểm của đau đớn, của rối loạn. Lá thư đầu là tiếng kêu của niềm hy vọng : Hãy yêu em mãi mãi ! Lá thư 2 là một nhận xét chua chát : Chàng đã yêu em trong hoan lạc và bây giờ chàng không yêu em nữa. Trong thư này Mariane tỏ ra lo sợ : Chàng không bao giờ yêu em. Sự vắng mặt của người yêu được xem như một sự bỏ rơi có tính toán.

Mariane đi tìm sự thống khổ như một cái gì thay thế cho những hoan lạc đã biến mất cùng với người yêu. Cô đòi hỏi người đàn ông im lặng đó phải biến cô thành một nhân vật bi thảm, bằng cách ra lệnh cho cô chết vì yêu. Chỉ có cái chết mới chấm dứt được sự đau khổ, bằng cách thăng cao hóa nó, mà không phản bội lý tưởng : một kết thúc bi thảm sẽ buộc chàng thường nhớ đến em

Lá thư 4

Lá thư này tạo nên những khoảng cách. Trước hết không gian được mở rộng. Người đọc rời khỏi căn phòng ngột ngạt của Mariane, cái nơi làm ẩn dụ cho sự hành xác vì tình yêu vắng bóng. Nhiều chân trời hiện lên : vương quốc Algarve, ở phía nam Bồ Đào Nha, đại dương chàng đã vượt qua, nước Pháp nơi mà có lẽ chàng đang yêu một người khác, Mertola, thành phố bên cạnh có thể thấy từ ban công, trên ban công này Mariane lần đầu tiên phát hiện người sĩ quan đẹp trai. Việc trở lại những nơi này, những nơi mà tình yêu say đắm đã chớm nở, mặc dù nó làm cho người nữ tu khóc sướt mướt, nó tương ứng với một tâm trạng thấu hiểu cái quá trình của sự quyến rũ.

Cảm giác về thời gian cũng thay đổi. Trước kia người nữ tu nhắc đến một quá khứ hạnh phúc, bây giờ thời gian được nhận thức một cách sáng suốt hơn. Mariane phân tích sự hình thành của tình yêu say đắm và sự trôi giạt của nó. Cô ôn lại kỷ niệm của những ngày đầu, cô nhắc : Trong vài ngày nữa sẽ đúng một năm mà em yêu chàng với tất cả tấm lòng của em, không chút đắn đo.

Cũng như không gian, xã hội mở rộng ra. Mariane nhắc tới nhiều nhân vật : người trung úy đưa tin về trận bão, người sĩ quan mang lá thư đi, người mẹ của Mariane, cô nhớ là có thổ lộ tất cả với bà, những người nữ tu khác, v.v… Mariane để ý mọi người đã nhận thấy sự thay đổi nơi cô, về tính tình, cách cư xử và về con người cô. Nhưng bây giờ đối với những người xung quanh, cô đã trở lại tử tế, bình thường. Trước đây trong lá thư 2, cô đã tỏ ra hoàn toàn xa lạ với họ, dửng dưng với mọi cố gắng của họ để giúp đỡ cô. Trong lá thư 4 này, Mariane tỏ ra có khả năng suy xét, và tâm thần bắt đầu dịu lại, trở lại sáng suốt. Cô phân tích tỉ mỉ cái quá trình quyến rũ về phương diện của người phản bội cũng như về phươg diện của nạn nhân. Việc phân tích sáng suốt này là điều kiện cần thiết cho sự dửng dưng sắp tới.

Lá thư 5

Lá thư cuối cùng này là một tổng kết về cuộc phiêu lưu tình cảm của Mariane, và một cái nhìn về tương lai. Người nữ tu trở lại chuyện quyến rũ để làm giảm uy tín người đã quyến rũ mình. Nhưng lá thư đoạn tuyệt này không tránh được sự khó hiểu, nó lưỡng lự giữa một quyết định có tính Kitô giáo và một tư thế bi thảm. Những hàng cuối cùng của tác phẩm vừa là một tổng kết, một quyết định, vừa là việc hướng về một tương lai thanh thản, lý trí đã thắng. Có sự khinh bỉ kẻ đã quyến rũ. Người nữ tu dường như trở về với sự thanh thản nếu không hoàn toàn thì ít ra cũng được hứa hẹn. Nhưng có lẽ mọi việc không đơn giản như thế, vì nếu dễ dàng vĩnh biệt người tình, thì có dễ dàng vĩnh biệt tình yêu không ? Vào đầu lá thư này, Mariane viết : Em cảm thấy em ít quý chàng hơn quý tình yêu nồng nhiệt của em.

Tác phẩm kết thúc bằng một sự mập mờ : tiếp tục thư từ làm gì với một con người đã mất uy tín ? Nhưng không vì thế mà đối thoại nội tâm với Tình yêu phải chấm dứt.

Cấu trúc của tác phẩm

Có sự cân đối giữa lá thư đầu và lá thư cuối. Tác phẩm bắt đầu bằng cách gợi lên mối tình nồng nhiệt của người nữ tu, và tác phẩm kết thúc bằng một đoạn tuyệt do lý trí quyết định. Nhìn chung, các lá thư 1, 2, 3 cho thấy nữ tu Mariane trong một trạng thái đau khổ càng lúc càng tăng, trước sự bỏ rơi của người tình. Hai lá thư cuối 4 và 5 là sự thức tỉnh ; lá thư 4 chuẩn bị đoạn tuyệt với những lời trách móc về sự vắng tin của người tình và về những lời lẽ dửng dưng của người này trước đó. Từ lá thư 1 đến lá thư 5, đối thoại dần dần đi đến độc thoại.

Nhà nghiên cứu phê bình Leo Spitzer, năm 1954, nhận thấy trong các lá thư có 5 hồi cô đặc lại của một vở kịch tôn trọng phép tam nhất. Phép tam nhất của kịch cổ điển ở Pháp gồm : nhất sự, nhất thời và nhất sở. Theo Spitzer, cách cấu trúc năm lá thư theo kịch nghệ tương ứng với sự tiến hóa tâm lý của tình yêu nồng nhiệt của Mariane : Năm lá thư đánh dấu năm giai đoạn của một tình yêu nồng nhiệt bị bỏ rơi, gần như không được đối tượng của tình yêu đó nuôi dưỡng, có thể nói tình yêu nồng nhiệt đang chết vì đói lả.

Vị trí của Những Lá Thư Bồ Đào Nha trong văn học Pháp

Thành công lớn của Những Lá Thư Bồ Đào Nha chứng tỏ sự chờ đợi của công chúng ham thích đọc truyện về những mối tình say đắm được kể dưới hình thức thư tín. Về trường hợp Những Lá Thư Bồ Đào Nha, những sự kiện được trình bày dường như không phải là mục đích thật sự của những lá thư. Người nữ tu Mariane viết trong lá thư 4 : Em viết cho em hơn là viết cho chàng, em chỉ tìm cách làm nhẹ lòng mình.

Nghệ thuật thư tín khiến nhân vật tự khép lòng mình lại, chỉ nói về tình yêu nồng nhiệt của mình cho chính tình yêu đó. Vậy khi đặt ra lý thuyết về nghệ thuật thư tín, người ta đã nhấn mạnh về tính xác thực của mối tình say đắm. Trong văn chương hư cấu, tính thành thực của tình yêu là căn bản. Tất cả đều do tính xác thực của tình cảm và tính đa cảm của con người đang yêu. Điều này đáp lại sự chờ đợi của một xã hội thượng lưu, lịch thiệp ở Pháp, vào thế kỷ 17, xã hội đó đang tra vấn bề sâu của tâm lý và những quanh co của một mối tình nồng nhiệt.

Những Lá Thư Bồ Đào Nha được xem như một tiểu thuyết dưới hình thức thư tín. Tác phẩm này đã mở đường cho những tác phẩm nổi tiếng đến sau như : La Religieuse của Diderot, La Nouvelle Héloïse của Jean Jacques Rousseau, Les Liaisons dangereuses của Laclos, v.v…

Giữa hư cấu và thế giới hiện thực, thể văn thư tín cho phép tìm ra một hình thức mới của tiểu thuyết trong đó việc phân tích đạo đức trừu tượng nhường chỗ cho một « tâm lý » riêng tư của nhân vật. Sự mập mờ giữa hư cấu và hiện thực mà thể văn thư tín tạo nên là điều đem lại thành công cho Những Lá Thư Bồ Đào Nha, bằng cách nhấn mạnh sự gần gũi giữa thế giới hư cấu của các nhân vật và thế giới hiện thực của người đọc.

 

Tài liệu tham khảo :

Guilleragues, Lettres portugaises suivies de Guilleragues par lui-même, Présentation de Frédéric Deloffre, Gallimard, 1990.

Lettres portugaises, Librairie Générale Française, 2003.

Denis Fauconnier, Etude sur Guilleragues, Lettres portugaises, Ellipses, 2005.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ, CON ĐƯỜNG ĐẠO ĐỨC, TRÍ TUỆ CỦA NHIỀU THẾ HỆ HỌC SINH

 

Xuân đi học coi người hớn hở, câu thơ giản dị này mở đầu cho bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư, đã khắc sâu vào ký ức của biết bao thế hệ học sinh, nhất là những thế hệ thuộc nửa đầu thế kỷ 20. Dù sau này có đi Đông đi Tây, dù học cao hiểu rộng hay chỉ có một trình độ tầm thường, dù giàu sang phú quý hay sống trong cảnh nghèo túng, những thế hệ đã từng học ê a câu thơ trò Xuân đi học, hay Thương người như thể thương thân, đều vẫn giữ trong lòng cái kỷ niệm một thời thơ ấu được hấp thụ một nền giáo dục trong sáng với những giá trị vững bền.

Vào thời đại toàn cầu hóa, thời đại của Internet, của facebook, youtube, mà đọc lại Quốc Văn Giáo Khoa Thư, có thể sẽ có người mỉm cười mà cho rằng giáo dục này quá xưa, quá ngây ngô. Thưa, xin chớ vội phê phán nghiêm khắc. Đúng là ở thời đại chúng ta, nhờ những tiến bộ không ngừng của khoa học, kỹ thuật, chúng ta đi xa, hiểu rộng, những hiểu biết quá dồn dập nên lắm khi có hiện tượng khó tiếp thu hoặc không kịp tiếp thu. Nền văn minh khoa học, kỹ thuật lại có một khía cạnh tiêu cực : trong tình trạng toàn cầu hóa, biên giới văn hóa giữa các nước mờ đi, con người ngày càng mất gốc. Có hai nguy cơ đe dọa sự tồn tại văn hóa Việt Nam : người trong nước có xu hướng vọng ngoại, với ý nghĩ rằng cái gì của người cũng tốt hơn, đẹp hơn của ta ; người ở hải ngoại thì ngày càng quên ngôn ngữ mẹ đẻ, nói gì đến lịch sử, văn hóa nước nhà. Đó là nhận xét chung, đương nhiên không phải ai cũng rơi vào một trong hai trường hợp đó. Bên cạnh hiện tượng mất gốc còn có hiện tượng mất đạo đức. Vào thời đại chúng ta, mấy ai can đảm hô hào những nguyên lý căn bản của đạo đức thời xưa ?

Thế cho nên bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư nhắc nhở chúng ta một nền văn hóa giáo dục của quá khứ đã đào tạo nhiều thế hệ về tình người, về cách ăn ở, đối xử giữa con người với nhau. Quốc Văn Giáo Khoa Thư là một bộ sách gồm ba cuốn được soạn cho các lớp bậc tiểu học : cuốn Luân Lý Giáo Khoa Thư cho lớp Đồng Ấu và hai cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư cho lớp Dự Bị và lớp Sơ Đẳng. Cả ba cuốn được xuất bản và tái bản nhiều lần kể từ những năm 1920. Bộ sách do một số học giả biên soạn, đứng đầu là Trần Trọng Kim (1883-1953), ngoài những hoạt động chính trị đã đưa tên tuổi ông vào lịch sử, Trần Trọng Kim còn là một học giả uyên bác, am hiểu Hán học và Tây học, một nhà giáo và là tác giả của những cuốn sách như : Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm (đồng soạn), Nho giáo. Bên cạnh Trần Trọng Kim có Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận. Tất cả các soạn giả đều là nhà giáo, đều hiểu biết nhu cầu của con em ở bậc tiểu học.

Có một điều không tránh khỏi là bộ sách mang dấu ấn của thời gian, của thời xưa với những quan niệm không còn phù hợp với những quan niệm và cách nhìn  của chúng ta ngày nay. Nhưng phần chính của văn hóa giáo dục trong bộ sách vẫn sáng ngời như ngọn hải đăng.

Trong hai cuốn dành cho các lớp Dự Bị và Sơ Đẳng, ở cuối mỗi bài có phần giải nghĩa những chữ khó, thêm phần Bài tập và phần Làm văn. Cuốn của lớp Dự Bị, ở cuối bài lại có thêm một lời khuyên : Đừng bỏ phí thì giờ, Ta nên giúp đỡ lẫn nhau, v. v… Còn trong cuốn Luân lý cho lớp Đồng Ấu, mỗi bài được kết thúc bằng một câu cách ngôn rất dễ nhớ đối với trẻ em : Con có cha như nhà có nóc, Chị ngã em nâng, Gần mực thì đen. Phần nhiều ý chính của mỗi bài ở ngay trong tựa đề của bài : Không vì tiền mà làm điều phi nghĩa, Có học phải có hạnh, Không nên khinh những nghề lao lực. Thú vật cũng được dùng cho việc giáo huấn : Con hổ và con chuột nhắt, Con rùa và con chuột, theo kiểu những bài ngụ ngôn của La Fontaine.

Trong ba cuốn sách, mỗi bài được minh họa, hình vẽ tuy thô sơ nhưng làm vui mắt trẻ em và gây chú ý đến bài học. Còn đối với người đọc như chúng ta ngày nay, thì những hình vẽ đó biểu hiện xã hội thời xưa : đàn ông và nam sinh mặc chiếc áo dài truyền thống, đàn ông búi tóc hoặc đội khăn đóng hay khăn đầu rìu, đàn bà mặc áo dài, vấn tóc, hoặc đội nón quai thao. Không gian cũng được minh họa : có cảnh đồng ruộng, cảnh một lớp học, một nhà ga, cảnh Cửa Ngọ Môn ở Huế, v. v…

Qua nội dung của ba cuốn sách, có hai chủ đề nổi bật : đạo đức và trí tuệ.

Về luân lý, đạo đức, xã hội thời xưa là một xã hội nông nghiệp, đặt nền tảng trên đạo đức truyền thống. Một xã hội đề cao Không Tử, Mạnh Tử, có thứ bậc tôn ti, thờ phụng tổ tiên, lấy tình thương đối xử với người trên kẻ dưới, tình thương và kính trọng cha mẹ, lòng biết ơn thầy, tình thương người già, người tàn tật, người tôi tớ. Trong nền đạo đức cổ truyền, gia đình là yếu tố cốt lõi. Trong bộ sách, các soạn giả cho thấy cảnh đầm ấm của một gia đình, cảnh một bữa cơm ngon, cảnh ngày giỗ trong gia đình, và đưa ra những lời khuyên về việc phụng thờ tổ tiên, lòng yêu mến gia tộc, lòng biết ơn và giúp đỡ cha mẹ. Thường các soạn giả chọn những giai thoại để giáo dục trẻ con, như gương hiếu thảo của ông Tử Lộ, lòng kính thương chị của ông Lý Tích chẳng hạn. Phần trong gia đình là thế, còn ngoài xã hội, vào thời vua chúa thì có những nghi lễ, tế tự, như Lễ Tế Nam Giao. Trẻ em cũng phải biết rằng sống trong xã hội thì phải tuân theo pháp luật. Ở trường học, người học trò phải chuyên cần trong việc học, phải đối đải tốt và đoàn kết với bạn bè. Tốt với bạn nhưng cũng phải biết lựa bạn mà chơi.

Tóm lại, bộ sách đề cao những đức hạnh cần có, và khuyên tránh những tật xấu.

Ngoài đạo đức được xem như nền tảng của phẩm giá con người, Quốc Văn Giáo Khoa Thư còn dẫn người học trò tiểu học vào lĩnh vực văn hóa, bằng việc mở mang trí tuệ để hiểu biết vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, rồi đến lịch sử, văn học. Trước hết, muốn được khỏe mạnh để học tập, người học trò phải giữ vệ sinh cho thân thể. Về việc học hành đã có gương chăm học của Thừa Cung. Rồi biết bao điều trong vũ trụ cần hiểu biết : tinh tú trên trời, những hiện tượng của thời tiết, sự ích lợi của thú vật, của thảo mộc. Trẻ em cũng cần hiểu biết cái thế giới quanh mình. Nếu ở thôn quê thì được biết đến làng mạc, nơi có chùa, có những nhân vật như ông lý trưởng và người tuần phu, công việc đồng áng được giải thích rõ ràng, cùng với những dụng cụ như cái cày, cái cối giả gạo. Lại có bài ca dao Khuyên về làm ruộng, hay ca ngợi cái thú chăn trâu. Nếu ở thành thị thì phát hiện những thành phố lớn : Sài Gòn, Huế, những thắng cảnh như Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội, Lăng tẩm ở Huế. Qua những bài học, trẻ em ý thức trong xã hội có những tổ chức để đời sống con người được dễ dàng hơn, tiện lợi hơn, như đường xe lửa, nhà ga, những trung tâm có những sinh hoạt chuyên môn như nhà bưu điện mà thời đó gọi là nhà dây thép, Viện Pasteur, v. v…

Ngoài việc giúp trẻ em phát hiện thế giới hiện thực, việc mở mang trí tuệ còn đưa đến hai vấn đề văn hóa lớn : lịch sử và văn học.

Quốc Văn Giáo Khoa Thư giúp trẻ em biết yêu đất nước qua những bài về lịch sử. Trước tiên, trẻ em cần biết mình có một quê hương đẹp, còn gọi là đất nước. Môn lịch sử giảng cho trẻ em không cần đưa ra năm tháng của các biến cố và nhiều chi tiết rắc rối như trong các pho sách lịch sử của người lớn, mà chỉ kể chuyện, những chuyện có sức thu hút ; tên của các vị anh hùng sẽ in sâu vào trí nhớ. Trẻ em dễ theo dõi chuyện Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Tầu ; rồi đến ông Ngô Quyền cũng đánh đuổi giặc Tầu trên sông Bạch Đằng, thắng trận, ông lên làm vua và đóng đô ở Cổ Loa. Qua các trận đánh, trẻ em có một ý niệm về người anh hùng của đất nước. Phần vua Lê Thánh Tôn, thì ngài đánh Chiêm Thành để mở mang bờ cõi, ngài lại giỏi văn thơ, quan tâm đến lịch sử và địa lý của nước nhà. Lại có gương hy sinh đáng nhớ của ông Lê Lai liều mình cứu chúa ; còn ông Tô Hiến Thành, văn võ vẹn toàn, thì rất thương dân, thương nước. Các nhân vật lịch sử được kể lại trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư đều nêu cao lòng yêu nước. Ngoài ra, trí óc trẻ con còn non nớt, rất gần gũi với những chuyện hoang đưòng, nên khó quên truyện gươm thần của vua Lê Lợi.

Tóm lại, cách trình bày lịch sử của Quốc Văn Giáo Khoa Thư đối với học trò bậc tiểu học rất dễ hiểu, có sức lôi cuốn và góp phần vào việc tạo nên những người công dân tốt.

Sau lịch sử, trẻ em tiểu học được tiếp cận văn học dân gian truyền khẩu, tức ca dao, kho tàng của văn hóa nước nhà. Các soạn giả đã chọn những bài ca dao phản ánh đời sống ở nông thôn khi xưa, như về công việc đồng áng quanh năm : Tháng giêng là tháng ăn chơi / Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà…, về nỗi lo âu của nhà nông : Người ta đi cấy lấy công / Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề… Hoặc những bài gồm những lời khuyên có tính đạo đức : Con ơi, muốn nên thân người, / Lắng tai nghe lấy những lời mẹ chaLàm trai quyết chí tu thân / Công danh chớ vội, nợ nần chớ lo… Hoặc bài về hoa sen : Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, đầy tính ẩn dụ.

Thể thơ lục bát của ca dao giàu nhạc điệu, khiến trẻ em dễ học, nhớ lâu, và đồng thời giúp trẻ em phát hiện cái đẹp của văn chương. Ngoài ca dao còn có thơ cổ cũng cùng mục đích khuyên răn : Thương người như thể thương thân… hoặc cho thấy một cảnh đẹp của thiên nhiên : Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Ngoài ra, ở học đường trẻ em còn được biết việc tổ chức các khoa thi ngày xưa và bởi đâu có chữ quốc ngữ ngày nay.

Bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư giúp trẻ em thời trước vừa có trí khôn đã phát hiện vị trí của mình trong gia đình, ngoài xã hội, và nhiệm vụ của mình đối với mọi người. Qua những nguyên lý đạo đức, phẩm giá con người được khẳng định và nâng cao ; và qua những đề tài giáo huấn đa dạng, việc mở mang trí tuệ ở bậc tiểu học có thể nói là đầy đủ vào thời đó. Đặc biệt những bài lịch sử trong bộ sách đã in sâu vào tâm hồn trong trắng của tuổi mới lớn ; phải chăng những bài lịch sử đó đã đắp nền phần nào cho lòng yêu nước của toàn dân hiện nay, trước hiểm họa xâm lăng của Trung Quốc ? Biết bao thế hệ học sinh đã được hưởng cái công lao giáo dục của các soạn giả.