GIẤC MƠ TRONG TRUYỆN « ĐÊM XUÂN TRĂNG SÁNG » CỦA VÕ PHIẾN

 

Trong đời người có thể xảy ra nhiều biến cố : lịch sử, xã hội, gia đình, nhiều cuộc gặp gỡ, sum họp, nhiều mất mát, chia ly, nhiều may mắn, rủi ro, v.v… Tóm lại, có vô số đề tài có thể được đưa vào một tác phẩm văn chương, bằng lối viết tự sự. Tự sự là cách thức trình bày một truyện có thật hay hư cấu. Một trong những hình thức hư cấu, qua sự phát biểu của tự sự, có khả năng rời xa thực tế một cách vô giới hạn và phi lý, đó là giấc mơ. Giấc mơ hư cấu có một giá trị về ý nghĩa, về nghệ thuật sáng tạo của nhà văn.

Thế nào là một giấc mơ hư cấu ?

Ai cũng có trải nghiệm về giấc mơ khi ngủ, và nhận xét rằng không thể kể lại giấc mơ đó một cách hoàn toàn, khi cố gắng kể lại thì giấc mơ nghèo đi, trở nên khô khan. Cho nên chúng ta không bao giờ thỏa mãn khi chúng ta kể lại một giấc mơ, đó là một chuyện vô ích vì chúng ta không còn ở trong giấc mơ. Nếu muốn kể lại giấc mơ, chúng ta cảm thấy cần bịa ra những chi tiết, cần nói rõ những hoàn cảnh và miêu tả những nơi chốn để giấc mơ có tính cụ thể hơn và đáng tin hơn. Kết quả là giấc mơ có thể được xác nhận là lý thú, kỳ dị, đẹp. Tuy nhiên cái giấc mơ được sắp xếp như thế không còn là giấc mơ thật sự đã xảy ra trong giấc ngủ nữa. Tóm lại, giấc mơ có thật không thể được kể lại, cần phải trình bày nó, tái tạo nó, viết nó ra, viết nó lại, phải bịa ra nó từ đầu đến cuối. Giấc mơ ban đêm chỉ là cái mẫu, nó chỉ thật sự đem lại những quy luật và cái cấu trúc, chứ không đem lại chất liệu tức cái đề tài. Mọi chuyện kể về giấc mơ đều gặp phải sự bất lực đó.

 Điều quan trọng là ý muốn của nhà văn tạo nên một giấc mơ hư cấu, trong tác phẩm của mình. Giấc mơ là một trải nghiệm vừa là của riêng một cá nhân, vừa là của tập thể. Việc thể hiện giấc mơ trong một hư cấu tùy thuộc trải nghiệm đó. Giấc mơ thoát khỏi những sự ngẫu nhiên hiện thực, nó cho nhà văn hoàn toàn tự do, ra khỏi những bó buộc về không gian cũng như thời gian, nó không đòi hỏi nhà văn phải có tính mạch lạc. Trong giấc mơ, tính không liên tục của thế giới, cũng như những biến đổi và sự chông chênh của thế giới được chấp nhận, nhưng có quy định hẳn hòi : để có vẻ là thật, giấc mơ hư cấu phải là phi hình thức. Jean Daniel Gollut, tác giả cuốn Conter les rêves (Kể những giấc mơ) (1), cho rằng : « Giấc mơ thật ra không có hình thức ngoài cái diễn ngôn đã làm nên nó. »

Giấc mơ hư cấu trong truyện của Võ Phiến

Một ví dụ cụ thể về giấc mơ hư cấu là truyện ngắn Đêm Xuân Trăng Sáng của Võ Phiến. Chúng ta sẽ thấy chẳng những truyện này trình bày một giấc mơ hư cấu, mà còn đưa đến một vấn đề văn học rộng lớn hơn : vấn đề liên văn bản.

Trong truyện Đêm xuân trăng sáng, nhân vật Hải sống ở thôn quê, vào thời kháng chiến. Đêm hôm đó, vừa dự xong một tiệc cưới, Hải trở về nhà ở một làng xa. Trên đường về, ánh trăng tràn ngập cả đồng quê, Hải có cảm tưởng những mảnh vụn của ve chai, của kính vỡ đều nhấp nháy khắp nơi, Khi anh về đến nhà, vợ con anh ngủ say. Anh bắt ghế ngồi gần cửa sổ, nhìn ra vườn : trời cao, không một làn gió, trăng sáng vằng vặc, đêm càng uy nghiêm.

Bỗng có cái gì lóe sáng ở phía bên trái, ngoài vườn. Hải liếc mắt nhìn và ngạc nhiên, sững sờ : một vật lóng lánh, lắc lư tiến đến phía vạt đất cát bỏ trống bên mấy luống rau. Một vật to bằng nắm tay. Và cứ theo cái chiều nó đang tiến tới thì nó phải là từ trong nhà đi ra. Hải dụi mắt, chú mục nhìn kỹ : rõ ràng nó đang lắc lư tiến tới, lấp loáng dưới ánh trăng.

Nhưng rồi không phải chỉ có một vật ấy. Nối đuôi nhau, cứ cách nhau vào khoảng từ nửa thước đến một thước rưỡi, những vật lóng lánh như thế, cái lớn, cái bé, cái cao, cái thấp, lần lượt lúc la lúc lắc kéo đi. Chúng tụ tập lại chỗ vạt cát trống, xúm nhau dồn lại, không tiến nữa, nhưng vẫn lắc lư, lộn xộn. Hải cố nhìn mà vẫn không phân biệt được chi tiết, không nhận được hình dạng rõ ràng của chúng, không biết chúng là những con gì, cái gì, thuộc về giống gì. Chúng kéo đi cách mặt Hải chừng năm chục thước tây. (tr. 74) (2)

Dần dần Hải nhận ra những đồ vật bằng chai từ trong nhà nối đuôi nhau ra vườn : một chai rượu tây, những đồ dùng bằng thủy tinh trên bàn viết, một miếng nhựa để gẩy đàn, chén rượu của ông chú, bộ nút áo bằng thủy tinh của cô em, và nhất là xâu hạt ngọc giả của vợ đang lướt đi, uyển chuyển, ưỡn ẹo. Hải lặng lẽ nhìn các đồ vật đó như bị mê mẩn, thôi miên. Đoàn ve chai tiếp tục biểu diễn, không có vẻ quan tâm đến Hải. Chẳng bao lâu một nhân vật xuất hiện, đó là một ông già tí hon đứng giữa vòng ve chai, ly, cốc, ông múa và đánh nhịp cho một màn vũ của chai lọ.

Đó là giấc mơ kỳ dị của Hải, trong giấc mơ, mỗi đồ vật đều nhắc lại một kỷ niệm trong đời Hải.

Sáng hôm sau vợ Hải thấy anh gục đầu xuống bàn ngủ.

Giấc mơ của Hải kết thúc bằng sự xuất hiện của xâu hạt ngọc của người vợ, khiến Hải nhớ đến một buổi đi chơi với vợ trên một ngọn đồi. Từ trên đỉnh đồi nhìn xuống, bỗng nhiên vợ Hải có cảm tưởng nhận ra ông tướng Hùng Sơn đang đi ngựa. Ông tướng này là một nhân vật nổi tiếng có tài đánh giặc và là một người bí ẩn, thu hút sự tò mò của dân chúng trong vùng. Khi vợ Hải tưởng nhận ra ông tướng thì Hải thấy gương mặt của vợ rạng rỡ, sáng lên như xâu hạt ngọc đang đeo ở cổ, khiến Hải nổi ghen. Sau này, khi vợ Hải mất xâu hạt ngọc, Hải tìm lại được, nhưng vì tức giận về chuyện ông tướng Hùng Sơn, Hải bèn vứt  xâu hạt ngọc xuống ao.

Võ Phiến và Guy de Maupassant

Phải chăng khi tạo nên giấc mơ này Võ Phiến muốn nói lên tính ghen của một người chồng ? Trước đó, tính ghen này đã xuất hiện một cách vô cớ ngay trong tiệc cưới, và đã dằn vặt Hải.

Nhưng giấc mơ hư cấu này lại tiết lộ một hiện tượng văn học gọi là hiện tượng liên văn bản. Truyện Đêm Xuân Trăng Sáng làm liên tưởng đến một truyện kỳ ảo của Guy de Maupassant có tựa đề : Qui sait ? (Nào ai biết đưọc ?)

Truyện Qui sait ? được kể như sau :

Người kể truyện là một người đàn ông thích sống một mình, ghét sự hiện diện của kẻ khác, ông chiếm nguyên ngôi nhà đồ sộ của ông và dồn gia nhân vào một căn nhà ở cuối vườn. Ông chỉ ưa thích những đồ vật trong nhà : bàn ghế, đồ mỹ nghệ v.v …, đến nỗi nhiều đêm ông do dự, không muốn đi ngủ để tận hưởng nỗi sung sướng được sống với những đồ vật thuộc sở hữu của mình.

Một đêm, ông đi coi hát về, khi gần đến nhà bỗng nhiên ông cảm thấy bồn chồn một cách kỳ lạ, ngôi nhà mà bấy lâu ông ưa thích, giờ đây nhìn từ xa, trong đêm tối, có vẻ như một ngôi mộ. Khi đến trước cửa, ông nghe có tiếng xôn xao bên trong, tựa như tiếng khua, kéo bàn ghế. Sau một lúc ngập ngừng, ông mở cửa và thình lình :

Cánh cửa đập mạnh như tiếng súng nổ, và trả lời cho tiếng nổ đó là một sự huyên náo ghê gớm từ trên nhà xuống dưới nhà. Sự huyên náo đó đột ngột, khủng khiếp, đinh tai, đến nỗi tôi phải lùi vài bước và tôi rút khẩu súng ra khỏi cái bao, mặc dù vẫn cảm thấy là nó vô dụng.

Tôi chờ một lúc nữa, nhưng ôi ! không lâu. Giờ đây tôi thấy rõ ràng một sự giậm chân phi thường trên các bậc cầu thang, trên sàn gỗ và trên các tấm thảm, một sự giậm chân không phải của dày dép loài người mà của các cây nạng chống bằng gỗ, bằng sắt, nó làm rung chuyển như những chiếc chũm choẹ đập vào nhau. Và thình lình tôi thấy ở ngưỡng cửa nhà tôi một chiếc ghế bành, cái ghế bành lớn tôi thường ngồi đọc sách, nó õng ẹo đi ra khỏi nhà, qua khu vườn. Những chiếc ghế bành khác, những chiếc ghế trong phòng khách đều theo chân nó, rồi những chiếc tràng kỷ thấp, chúng nó lê mình như những con cá sấu với những cái chân ngắn ngủn, rồi tất cả những chiếc ghế của tôi, chúng nhảy vọt lên như những con dê, những chiếc ghế đẩu nhỏ thì chạy lắt nhắt như thỏ.

Ôi ! xúc động làm sao ! Tôi lẻn vào lùm cây, ngồi sụp xuống, vẫn nhìn sững cuộc diễn hành bàn ghế, vì chúng ra đi cả, cái này sau cái kia, nhanh nhẹn hay chậm chạp tùy theo chiều cao và trọng lượng của chúng. Chiếc đàn piano của tôi, chiếc đàn piano cánh, vượt qua nhanh như ngựa phi nước đại với một chút âm nhạc thì thầm bên trong, những đồ vật nhỏ hơn thì lướt trên cát như đàn kiến, bàn chải, đồ pha lê, ly cốc mà ánh trăng làm phát lân quang như những con đôm đốm. Các đồ vật bằng vải thì bò, trải dài từng vũng giống như những con mực phủ ngoài biển. Tôi thấy bàn viết của tôi hiện ra, một thứ đồ mỹ nghệ hiếm có của thế kỷ trước, nó chứa đựng tất cả thơ từ của tôi, tất cả chuyện tình ái, một chuyện tình xưa đã từng làm tôi đau khổ biết bao ! Và trong cái bàn đó cũng có những tấm ảnh.

Bỗng nhiên tôi không còn sợ nữa, tôi xông tới cái bàn, chụp nó lại như người ta chụp một tên ăn trộm, hay một người phụ nữ đang chạy trốn ; nhưng nó phóng nhanh, tôi không làm sao trì nó lại dù bao cố gắng, và mặc dù tôi rất tức giận. Vì chống cự lại cái sức mạnh đáng ghê sợ đó một cách tuyệt vọng, vì vật lộn với nó, nên tôi ngã nhào xuống đất. Thế rồi nó làm tôi lăn tròn, nó kéo lê tôi trên cát và rồi các bàn ghế theo sau bắt đầu giẫm lên người tôi, và làm bầm chân tôi ; khi tôi thả cái bàn ra, những thứ khác chạy trên người tôi như một cuộc xung phong của kỵ binh trên thân hình của một người lính té ngựa.

Cuối cùng, sợ hãi đến phát điên, tôi lê mình ra khỏi lối đi trong vườn và ẩn núp trở lại sau khóm cây để nhìn những đồ vật nhỏ bé và tầm thường nhất của tôi, mà xưa nay tôi không hề để ý đến, lần lượt ra đi.

Rồi tôi nghe xa xa một tiếng động ghê gớm của các cánh cửa đóng sập lại trong ngôi nhà của tôi giờ đây vang lên như những ngôi nhà trống (tr. 1296-1297) (3).

Để tránh cho tâm thần khỏi bị rối loạn người kể truyện, theo lời khuyên của bác sĩ, đi du lịch ở Ý và Phi Châu một thời gian khá dài. Lúc trở về Pháp ông hơi áy náy và có ý định dừng chân ở thành phố Rouen nổi tiếng với những kiến trúc lịch sử. Một hôm dạo chơi trong thành phố, tình cờ ông đi vào một khu bán đồ cổ, và lạ thay, trong một tiệm bán đồ cổ ông bỗng nhận ra bàn ghế và rất nhiều đồ đạc của mình, chính những đồ vật đã tự động ra khỏi nhà ông một đêm nào. Trong tiệm vắng người, ông phải chờ lâu và gọi nhiều lần mới gặp được người chủ tiệm. Ông liền đặt mua vài cái bàn ghế thuộc sở hữu ông và dặn người chủ tiệm phải chở đến khách sạn ngày hôm sau. Rồi ông đi gặp vị cảnh sát trưởng để kể rõ mọi việc, nhưng ông dấu kín cái cảnh tượng lạ lùng bàn ghế ra khỏi nhà mình, chỉ nói ông là nạn nhân của một vụ trộm. Đêm hôm đó cảnh sát không tìm ra người bán đồ cổ, ngày hôm sau cảnh sát bao vây tiệm và khi người thợ khóa mở cửa tiệm, người kể truyện không còn thấy một đồ vật gì thuộc về mình nữa. Ông cảnh sát trưởng có vẻ nghi ngờ, nhưng vẫn hứa sẽ điều tra kỹ về vụ này. Người kể truyện ở lại Rouen mười lăm ngày, nhưng không thấy bóng dáng người bán đồ cổ đâu cả. Qua ngày thứ mười sáu ông ta nhận được thơ của người giúp việc báo tin tất cả bàn ghế, đồ đạc đều trở về nhà, không thiếu một món nào. Theo người giúp việc, chuyện xảy ra một cách lạ lùng vào ban đêm, con đường từ ngoài ngõ vào đến nhà bị cày sâu làm như những đồ vật đó đã bị kéo lê đến tận cửa.

Người kể truyện quá khiếp sợ, không dám trở về nhà, ông ta xin vào trú trong một dưỡng đường, nhưng ngay cả nơi đây ông ta cũng không yên lòng, ngày đêm nơm nớp lo sợ người bán đồ cổ sẽ vào tìm ông tận dưỡng đường.

Như đã nói trên, truyện Đêm Xuân Trăng Sáng tiết lộ hiện tượng liên văn bản đối với truyện Qui sait ? Theo thuyết liên văn bản thì trong một văn bản có sự hiện diện rõ hay ngầm của một hay nhiều văn bản khác. Thuyết liên văn bản ra đời ở Pháp vào cuối thập niên 1960, nhưng thể thức sáng tác và lối viết của các nhà văn, nhà thơ, chịu ảnh hưởng của các thế hệ đi trước thì đã có từ lâu. Trước khi viết, nhà văn đã là một người đọc, ký ức và tiềm thức của nhà văn đã hấp thụ và tích lũy vô số hình thức, chi tiết.

Hiện tượng liên văn bản trong Đêm Xuân Trăng Sáng

 Truyện Đêm Xuân Trăng Sáng có nhiều điểm trùng hợp với cách tạo dựng thế giới kỳ ảo của Maupassant.

1/ Không gian và thời gian

Chuyện xảy ra một đêm trăng.

Maupassant vẽ lên cảnh đêm trăng như sau để chuẩn bị cho hiện tượng sắp xảy ra : Lúc đó là một giờ sáng […] ; bầu trời hơi sáng trước mặt tôi và vừng trăng lưỡi liềm ló dạng, cái lưỡi liềm buồn bã của trăng hạ huyền. Trăng thượng huyền mọc vào khoảng bốn năm giờ chiều, sáng, vui, có chút màu bạc, còn trăng hạ huyền mọc sau nửa đêm, màu đỏ nhạt, buồn tẻ, làm cho người ta lo ngại, thật là lưỡi liềm của dạ hội phù thủy […] Trăng thượng huyền mặc dù mỏng manh như sợi chỉ nhưng chiếu một thứ ánh sáng nhẹ nhàng, vui vẻ, làm hoan hỉ lòng người và vẽ trên mặt đất những cái bóng rõ ràng ; trăng hạ huyền có một thứ ánh sáng yếu ớt, hấp hối, quá mờ nên gần như không vẽ lên được những bóng hình. (tr.1295)

Võ Phiến vẽ một cảnh trăng khác : Hải chợt để ý đến một hơi gió lạnh thổi tạt vào mặt. Trăng sáng quá. Trời lạnh rờn rợn. Đồng ruộng tháng giêng trống tận chân trời. Ở đàng xa, cuối cánh đồng mênh mông, ánh trăng mù mù như hơi khói nhẹ. Hải nhìn nghiêng ngửa ; và có cảm giác chơi vơi giữa đêm sáng mông lung bao la. (tr.67)

Nhân vật của Qui sait ? và của Đêm xuân trăng sáng vừa từ giã một nơi chốn ồn ào – một người vừa đi coi hát về và một người vừa ra khỏi một tiệc cưới – để đi vào một thế giới vắng lặng : một ngôi nhà trong đêm khuya.

2/ Nhân vật

Nhân vật của hai truyện đều có một tâm trạng bất ổn.

Maupassant : Khi đến gần nhà, một sự bối rối lạ lùng xâm chiếm tôi […] Càng đi tôi càng rùng mình… (tr. 1295-1296)

Võ Phiến : Anh (Hải) thấy áy náy xa lạ như một người khách. Bước chân anh rón rén, mất tự tín. (tr.71)

Cả hai nhân vật đều mất quyền sở hữu.

Nhân vật của Maupassant kể : […] tôi xông tới cái bàn, chụp nó lại như người ta chụp một tên ăn trộm […] ; nhưng nó phóng nhanh, tôi không làm sao trì nó lại… (tr. 1297)

Về phần Hải : Anh có cảm tưởng […] cả cái khung cảnh này, gồm những nhà cửa vườn tược của anh đều không còn thuộc về chủ quyền của anh nữa, mà đang nghiêm trang thản nhiên tham dự, đóng một vai trò trong cái sinh hoạt kia rồi. (tr. 71)

Trong thế giới kỳ ảo, nhân vật là một người cô đơn. Người kể truyện trong Qui sait ? sống một mình trong một ngôi nhà lớn. Còn Hải, khi anh về đến nhà mọi người đều ngủ say.

Trước cảnh tượng lạ lùng cả hai đều sửng sốt. Nhân vật của Maupassant lẻn vào lùm cây, ngồi sụp xuống, vẫn nhìn sửng cuộc diễn hành bàn ghế… (tr. 1297). Hải thì áp trán vào song cửa ngồi há hốc nhìn theo, tâm trí như dần dần mê mẩn, không còn suy nghĩ gì được nữa. Anh thẩn thờ, tê mê, và thấy rụt rè sợ hãi, không dám khinh động, không dám có một cử chỉ vội vàng trước cảnh tượng kỳ quái đang thao diễn trước mắt, trong đêm khuya bao la và lặng lẽ (tr.79). Trong khi Hải như bị thôi miên, hoàn toàn thụ động thì nhân vật của Maupassant, sau giây phút sững sờ, liền ra tay hành động.

Ngoài nhân vật chính đã chứng kiến hiện tượng lạ lùng trong mỗi truyện còn có nhân vật kỳ ảo ; qua cái nhìn của hai tác giả, nhân vật này là một ông già :

Trong Qui sait ? nhân vật kỳ ảo là người bán đồ cổ : Đó là một người đàn ông rất thấp và rất béo, béo như một hiện tượng quái dị, đang đứng giữa một căn phòng rộng lớn. Ông ta có bộ râu lưa thưa cắt không đều và vàng khè, trên đầu không một sợi tóc ! […] Vì ông ta đưa cao cây nến để nhìn tôi, cái đầu ông ta có vẻ như mặt trăng trong căn phòng rộng, đầy nhóc bàn ghế cổ này. Gương mặt nhăn nheo và phì ra, đôi mắt nhỏ xíu. (tr.1300)

Trong Đêm Xuân Trăng Sáng : […] từ ngoài gốc rào tiến vào một nhân vật kỳ dị. Một ông cụ già lớn vừa bằng một chai nước cam, mặc toàn đồ trắng muốt […] Hải vừa kịp để ý đến cái trán hói láng bóng của ông ta. Khi ông hất mặt lên, vừng trán sáng chói như bằng sứ tráng men. Và ông cụ già lại đeo một cặp kính trắng, mỗi mắt kính to bằng cái tròng mắt mèo. (tr.78)

Cả hai nhân vật kỳ ảo đều có một thân hình nhỏ bé trong một không gian rộng lớn ; nhân vật của Maupassant : người rất thấp, nhân vật của Võ Phiến lớn bằng một chai nước cam. Cả hai đều đầu hói và có đôi mắt rất nhỏ.

3/ Hiện tượng kỳ ảo

Hiện tượng xuất hiện trong hai truyện đều như nhau : đồ vật được sinh động hóa và lũ lượt ra khỏi nhà. Người kể truyện của Qui sait ? nhìn sững cuộc diễn hành bàn ghế. Còn Hải trông theo đoàn ve chai biểu diễn. Cảnh tượng kỳ ảo của đôi bên : Qui sait ?Đêm xuân trăng sáng, đều diễn ra trong vườn.

Hai tác giả đều tả tỉ mỉ các đồ vật và gặp nhau ở một dáng đi ưỡn ẹo :

Maupassant : Và thình lình tôi thấy ở ngưỡng cửa nhà tôi một chiếc ghế bành, cái ghế bành lớn tôi thường ngồi đọc sách, nó ưỡn ẹo đi ra khỏi nhà, qua khu vườn.

Võ Phiến : Xâu ngọc giả vẫn cứ lướt đi, uyển chuyển, ưỡn ẹo, lẳng lơ, trong cái vòng vật dụng bằng pha lê.

4/ Kỳ ảo gắn liền với hiện thực

Trong số các đồ vật ra khỏi nhà có những đồ vật nhỏ nhặt mà trước đó nhân vật không từng quan tâm đến.

Nhân vật của Maupassant kể : Cuối cùng sợ hải đến phát điên, tôi lê mình ra khỏi lối đi trong vườn và ẩn núp trở lại sau khóm cây để nhìn những đồ vật nhỏ bé và tầm thường nhất của tôi, mà xưa nay tôi không hề để ý đến, lần lượt ra đi. (tr.1297)

Khi Hải nhìn những chai lọ, ly cốc ra đến vườn thì : Có những cái vô nghĩa lý, anh không ngờ là anh có chúng trong nhà, không hề để ý đến… (tr.76)

Nhưng cũng có những đồ vật nhắc nhở cho nhân vật một kỷ niệm tình cảm sâu đậm. Người kể truyện của Maupassant nói : Tôi thấy bàn viết của tôi hiện ra, một thứ đồ mỹ nghệ hiếm có của thế kỷ trước, nó chứa đựng tất cả thơ từ của tôi, tất cả chuyện tình ái, một chuyện tình xưa đã từng làm tôi đau khổ biết bao ! Và trong cái bàn đó cũng có những tấm ảnh. (tr. 1297)

Nhân vật của Võ Phiến cũng gặp lại nhiều kỷ niệm : cái ve mực của cha Hải gửi mua tận bên Pháp, cái chén rượu của ông chú đã qua đời, một miếng nhựa hình trái tim để gẩy đàn nhắc nhở Hải tình yêu của anh với Lộc, và nhất là xâu hạt ngọc của vợ Hải. Giờ đây thấy xâu hạt ngọc đang múa với lũ ve chai Hải lấy làm xấu hổ.

Nếu dùng thuật ngữ của Gérard Genette thì Đêm xuân trăng sáng là một tân văn bản (hypertexte) được viết lên một cựu văn bản (hypotexte) của Maupassant với nhiều điểm khác biệt, chẳng hạn, như đã nói trên, trong truyện của Võ Phiến hiện tượng kỳ ảo chỉ xảy ra trong  giấc mơ, và người đọc chỉ là khán giả bậc hai ; trong khi đó, Maupassant cho hiện tượng xuất hiện ngay trong đời sống thực tế và làm cho sự sợ hãi có thể lây sang người đọc. Tuy cùng một cảnh tượng kỳ ảo : đồ vật ra khỏi nhà, nhưng lý do dựng truyện không giống nhau, trong khi sự sợ hãi là động lực của truyện Qui sait ? thì hồi ức là động lực của truyện Đêm xuân trăng sáng. Liên văn bản của Đêm xuân trăng sáng là một văn bản thuộc một văn hóa khác, một ngôn ngữ khác và một thời đại khác.

Đêm xuân trăng sáng mang dấu vết của truyện Qui sait ? cho thấy trong trường hợp này, hiện tượng liên văn bản đã nảy sinh nhờ bối cảnh lịch sử. Trong những thập niên 30-40 của thế kỷ trước, khi Pháp còn đô hộ nước ta, văn hóa và văn học Pháp gần gũi với người dân Việt Nam, nhất là những người ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, và những người thuộc tầng lớp trí thức.

Võ Phiến sinh năm 1925, lớn lên vào thời Hán học suy tàn, bị đẩy lùi vào quá khứ để nhường chỗ cho Tây học. Vốn là một cậu học sinh ham đọc sách, ngay từ lúc còn học ở trường làng, Võ Phiến đã may mắn có một vị thầy có một tủ sách để thỏa mãn óc tò mò của cậu học sinh. Nỗi khao khát hiểu biết qua sách vở cũng lớn dần với tuổi đời. Trong thời gian Võ Phiến học ở Huế, vào thập niên 40, thư viện Bảo Đại và tủ sách của học giả Đào Duy Anh là những nơi cho phép ông say mê đọc sách. Võ Phiến đã đọc rất nhiều tác giả phương Tây, quen thuộc với những André Maurois, Alain, Alphonse Daudet, Ernest Hemingway, Kafka, Guy de Maupassant, Marcel Proust, v.v… Dấu ấn của Maupassant trong một truyện ngắn của Võ Phiến nói lên hiện tượng liên văn bản giữa hai nền văn hóa Đông Tây.

(1) Jean Daniel Gollut, Conter les rêves, José Corti, 1980.

(2) Võ Phiến, Truyện Ngắn II tái bản, Nxb Văn Nghệ, California, 1989.

(3) Guy de Maupassant, Contes et Nouvelles (1884-1890), Bel Ami, roman, Robert Laffont, Collection BOUQUINS, 1988. Những đoạn dẫn do Liễu Trương dịch sang Việt ngữ.

Advertisement

TÊN HORLA ĐẤY

 Truyện kỳ ảo của G. de Maupassant

Nguyên tác : Le Horla

Dịch giả Liễu Trương

Ngày 8 tháng 5.  Hôm nay trời đẹp quá ! Suốt buổi sáng tôi nằm trên cỏ, trước ngôi nhà của tôi, dưới cây dương ngô đồng to tướng phủ lên cái nhà, che nó và rợp bóng nó hoàn toàn. Tôi yêu thích miền này, và tôi thích sống ở đây, bởi vì nguồn cội của tôi là nơi này, những nguồn cội sâu xa, tinh tế ràng buộc con người với mảnh đất, nơi tổ tiên đã sinh ra và chết, ràng buộc con người với những gì con người suy nghĩ và ăn uống, với những tục lệ cũng như những thức ăn, với lối nói địa phương, với những ngữ điệu của người nông dân, với mùi của đất, của làng mạc và của cả không khí .

         Tôi yêu thích ngôi nhà nơi tôi đã lớn lên. Từ những cửa sổ, tôi thấy sông Seine chảy qua, ven mảnh vườn của tôi, phía sau con đường, gần như ngay ở nhà tôi, sông Seine lớn và rộng, chảy từ Rouen đến Le Havre, đầy những thuyền bè qua lại.

         Ở phía trái, đằng kia là Rouen, thành phố mênh mông với những mái nhà xanh, dưới những gác chuông nhọn, theo kiến trúc gô tích. Vô số những gác chuông, mảnh khảnh hay to lớn, phía trên có một mũi tên bằng gang của nhà thờ vươn lên, và rất nhiều chuông vang trong không trung xanh của những buổi sáng đẹp trời, làm dội đến tận nơi tôi ở tiếng vo vo êm dịu và xa xôi của chúng, và tiếng nhạc bằng đồng thanh mà làn gió đem lại cho tôi khi mạnh khi yếu, tùy lúc gió lên hay gió lặn.

         Sáng nay thời tiết dễ chịu quá !

         Vào khoảng mười một giờ, một đoàn tàu dài do một chiếc tàu kéo đi, chiếc tàu kéo nhỏ xíu, nó vừa vất vả thở vừa phun ra một màn khói dày đặc, đoàn tàu đi qua trước hàng rào lưới sắt nhà tôi.

         Theo sau hai chiếc thuyền buồm của người Anh có lá cờ đỏ phấp phới trên nền trời, là một chiếc thuyền ba cột buồm tuyệt đẹp của người Brazil, chiếc thuyền trắng tinh, rất mực sạch sẽ và bóng loáng. Không hiểu tại sao tôi chào chiếc thuyền, tôi thích thú vô cùng khi nhìn thấy nó.

Ngày 12 tháng 5.  Từ mấy ngày nay tôi hơi bị sốt ; tôi cảm thấy đau trong người, hay đúng hơn tôi cảm thấy buồn.

         Do đâu mà có những ảnh hưởng huyền bí làm biến đổi hạnh phúc của chúng ta thành chán nản, và sự tin tưởng thành tình trạng khốn quẫn ? Dường như không khí, cái không khí không thấy được, nó đầy những Uy lực khó hiểu mà chúng ta phải chịu đựng sự gần gũi bí ẩn. Tôi thức dậy vui vẻ, với những ý muốn hát lên trong cổ họng. Tại sao ? Tôi đi xuống dọc theo dòng sông ; và bỗng nhiên sau khi đi dạo đôi chút, tôi trở về sầu não, làm như có một tai họa nào đang chờ tôi ở nhà. Tại sao ? Có phải một cơn run lạnh lướt trên da tôi làm lay chuyển thần kinh tôi và khiến tâm hồn tôi trở nên sa sầm ? Có phải hình thức những đám mây, hay màu sắc của ngày, của đồ vật đã biến đổi đến thế, và qua cái nhìn của tôi nó làm rối loạn trí óc tôi chăng ? Có ai biết chăng ? Tất cả những gì vây quanh chúng ta, tất cả những gì chúng ta thấy mà không nhìn, tất cả những gì chúng ta phớt qua mà không biết, tất cả những gì chúng ta chạm phải mà không sờ nắm, tất cả những gì chúng ta gặp phải mà không phân biệt, đều có những tác dụng nhanh chóng, lạ lùng và khó hiểu đối với chúng ta, với những giác quan của chúng ta, do đó có tác dụng với những ý tưởng của chúng ta, ngay cả với tình cảm của chúng ta.

         Sự huyền bí của Cái không thấy được, nó sâu thẳm làm sao ! Chúng ta không thể thăm dò sự huyền bí đó với những giác quan thảm thương của chúng ta, với thị giác chúng ta không biết nhận thấy cái quá nhỏ cũng như cái quá lớn, cái quá gần cũng như cái quá xa, cũng không nhận thấy những người ở trên một vì sao, cũng như những người ở trong một giọt nước… với thính giác thì chúng ta lầm lẫn, bởi vì thính giác chuyển những dao động của không khí thành những nốt vang lên ; thính giác là bà tiên làm cái phép lạ là biến đổi sự dao động của không khí thành tiếng động, và qua sự biến hóa đó, thính giác làm nảy sinh âm nhạc khiến sự lay động câm nín của thiên nhiên trở thành ngân nga…, với khướu giác thì khướu giác của chúng ta yếu hơn khướu giác của loài chó…, với vị giác, chúng ta chỉ biết phân định chút ít về tính cũ mới của rượu !            

         Ôi ! Nếu chúng ta có được những giác quan khác để giúp chúng ta thực hiện những phép lạ, thì biết bao điều chúng ta có thể phát hiện thêm xung quanh chúng ta !

Ngày 16 tháng 5.  Rõ ràng là tôi bị bệnh ! Tháng trước tôi mạnh khỏe biết mấy ! Tôi đang lên cơn sốt, một cơn sốt ghê gớm, hay đúng hơn một sự bồn chồn nóng sốt của thần kinh khiến tôi đau trong tâm hồn cũng như trong thể xác. Tôi luôn luôn có cái cảm giác kinh khủng về một nguy cơ đe dọa, nỗi lo sợ một tai họa sắp xảy ra hay lo sợ cái chết đến gần, linh cảm đó có thể là một chứng bệnh chưa được biết đến, nó nảy mầm trong máu và trong da thịt.

Ngày 18 tháng 5.  Tôi vừa đi khám bệnh với bác sĩ của tôi, vì tôi không ngủ được. Ông nhận thấy mạch tôi đập nhanh, con ngươi giãn ra, thần kinh dao động, nhưng không có triệu chứng nguy ngập nào. Tôi phải tắm nhiều và uống bromure de potassium.

Ngày 25 tháng 5.  Không có gì thay đổi ! Tình trạng của tôi thật là lạ lùng. Hễ gần đến buổi tối là một sự lo lắng khó hiểu xâm chiếm tôi, tưởng chừng như đối với tôi đêm ẩn giấu một đe dọa ghê sợ. Tôi ăn tối nhanh chóng, rồi tôi cố đọc sách ; nhưng tôi không hiểu những từ trong sách ; hầu như tôi không phân biệt được các chữ. Thế rồi tôi đi qua đi lại trong phòng khách, tôi bị tức thở vì một lo sợ lờ mờ, không gì ngăn nổi, tôi sợ giấc ngủ và sợ cái giường.

Vào khoảng mười giờ đêm, tôi lên phòng. Vừa mới bước vào, tôi vặn hai vòng khóa, và tôi cài then ; tôi sợ… sợ cái gì ?… Cho đến bây giờ tôi chẳng sợ cái gì cả… tôi mở tủ ra, tôi nhìn dưới giường ; tôi lắng nghe… lắng nghe… cái gì ?… Có phải là lạ lùng không khi mà một sự khó ở tầm thường, có lẽ một sự rối loạn tuần hoàn, một kích thích thần kinh, một chút sung huyết, một rối loạn rất nhỏ trong hoạt động không hoàn toàn và mong manh đến thế của cái máy sinh động của chúng ta, có thể biến một người đàn ông vui vẻ nhất đời thành một người sầu muộn, và một người can đảm nhất thành một người nhát gan ? Rồi tôi nằm xuống, và chờ giấc ngủ như người ta chờ tên đao phủ. Tôi chờ giấc ngủ với sự sợ hãi nó đến, và tim tôi đập, và đôi chân tôi run rẩy ; và cả người tôi rùng mình dưới những tấm chăn trải giường ấm áp, cho đến lúc tôi thình lình rơi vào giấc ngủ, như người ta rơi vào một vực thẳm đầy nước tù đọng, để chết đuối trong đó. Cái giấc ngủ nham hiểm, tôi không cảm thấy nó đến như trước kia, nó núp gần tôi, nó rình tôi, nó sắp sửa chụp lấy đầu tôi, khép mắt tôi lại, tiêu diệt tôi.

         Tôi ngủ – lâu – hai hay ba tiếng đồng hồ – rồi một giấc mơ – không – một cơn ác mộng siết lấy tôi. Tôi cảm thấy rõ là tôi đang nằm và đang ngủ… tôi cảm thấy điều đó và tôi biết thế… và tôi cũng cảm thấy có một người đến gần tôi, nhìn tôi, sờ mó tôi, leo lên giường, quỳ trên ngực tôi, chụp cổ tôi và siết nó… siết nó… với tất cả sức mạnh của người đó, để bóp cổ tôi.

         Tôi thì tôi vùng vẫy, tôi bị kìm giữ bởi sự bất lực ghê gớm làm chúng ta tê liệt trong giấc mơ ; tôi muốn la lên – tôi không la được – tôi muốn cử động – tôi không cử động được – tôi vừa thở hổn hển vừa ráng sức với những cố gắng thảm hại để quay mình, để hất ra cái con người đang đè bẹp tôi và làm tôi nghẹt thở – tôi không thể làm được !

         Và bỗng nhiên tôi thức dậy, hoảng hốt, mình mẩy đẫm ướt mồ hôi. Tôi thắp một ngọn nến. Chỉ có mình tôi.

         Sau cơn khủng hoảng đó, cơn khủng hoảng tái diễn mỗi đêm, cuối cùng tôi ngủ yên ổn cho đến sáng.

Ngày 2 tháng 6. Tình trạng của tôi lại thêm trầm trọng. Tôi bị gì thế ? Thuốc bromure chẳng công hiệu gì ; tắm nhiều chẳng có tác dụng. Để làm cho thân thể mệt nhoài, tuy nó đã quá rã rời, ban nãy tôi đi một vòng trong rừng Roumare. Trước tiên tôi tưởng không khí tươi mát, nhẹ nhàng và êm dịu, đầy mùi cỏ lá, sẽ chuyển vào mạch máu tôi một thứ máu mới, vào tim tôi một năng lực mới. Tôi đi vào một đại lộ đi săn, rồi tôi rẽ qua phía làng La Bouille, bằng một con đường hẹp, giữa hai hàng cây sum sê, cao ngất trời, tạo nên giữa bầu trời và tôi, một mái nhà xanh, dày đặc, gần như màu đen.

         Bỗng nhiên tôi rùng mình, không rùng mình vì lạnh, mà rùng mình một cách kỳ lạ vì lo sợ.

         Tôi bước nhanh, lòng lo lắng vì chỉ có mình tôi trong khu rừng này, tôi sợ hãi không lý do, một cách ngớ ngẩn, vì sự hiu quạnh thâm u. Bỗng nhiên tôi có cảm tưởng có người theo dõi tôi, đi sát tôi, rất gần, rất gần, như chạm được vào người tôi.

         Thình lình tôi quay lại. Chỉ có mình tôi. Tôi chỉ thấy sau lưng tôi cái lối đi thẳng tắp, rộng, trống vắng, có cây cao, trống vắng một cách đáng sợ ; và phía trước, lối đi cũng trải dài bất tận, cũng như thế, đáng khiếp sợ.

         Tôi nhắm mắt lại. Tại sao ? Và tôi bắt đầu xoay mình rất nhanh, như một cái vụ. Tôi suýt ngã ; tôi lại mở mắt, cây cối múa, mặt đất trôi nổi ; tôi phải ngồi xuống. Và rồi, tôi không còn biết tôi đến đây bằng ngả nào ! Ý nghĩ kỳ cục ! Kỳ cục ! Ý nghĩ kỳ cục ! Tôi không còn biết gì nữa. Tôi đi về phía tay phải, và trở lại cái đại lộ đã đưa tôi đến giữa rừng.

Ngày 3 tháng 6.  Đêm qua rất khủng khiếp. Tôi sẽ đi vắng trong vài tuần. Một chuyến đi không xa lắm, tất nhiên, sẽ làm tôi bình phục.

Ngày 2 tháng 7.  Tôi trở về nhà. Tôi đã lành bệnh. Vả chăng tôi vừa có một cuộc đi chơi lý thú. Tôi đi tham quan núi Saint-Michel mà trước kia tôi không hề biết.

         Cảnh đẹp thay khi người ta đến Avranches, như tôi, vào cuối ngày. Thành phố tọa lạc trên một ngọn đồi ; người ta đưa tôi đến công viên, ở đầu kia của thành phố. Tôi cất tiếng reo đầy ngạc nhiên. Trước mắt tôi, một cái vịnh mênh mông trải dài hun hút, giữa hai bờ tách xa nhau và lẫn trong sương mù ; ở giữa cái vịnh bao la óng vàng, dưới một bầu trời vàng chói, vươn lên, giữa bãi cát, một ngọn núi lạ lùng, màu sẫm và đỉnh nhọn. Mặt trời vừa khuất bóng, và ở chân trời còn sáng rực, hình dáng tảng đá kỳ ảo đó được vẽ lên, nó mang trên chóp một tòa nhà kỳ ảo.

         Ngay lúc bình minh, tôi đi đến nơi đó. Nước biển rút thấp, như chiều hôm qua, và khi từ từ đến gần, tôi thấy sừng sững trước mắt cái tu viện kỳ lạ. Sau nhiều giờ đi bộ, tôi lên đến cái khối đá khổng lồ, nó đội một khu nhà có ngôi nhà thờ lớn nhô cao. Sau khi đã leo lên cái con đường hẹp có dốc đứng, tôi đi vào một tòa nhà đẹp nhất thuộc kiến trúc gô tích, tòa nhà được xây cất cho Thượng Đế dưới trần gian, nó rộng lớn như một thành phố, với vô số phòng có trần thấp, bị đè bẹp dưới những cái vòm, và vô số hành lang trần cao do những cái cột mảnh khảnh chống đỡ. Tôi đi vào cái kỳ công bằng đá hoa cương khổng lồ đó ; nó nhẹ như ren thêu, và đầy những tháp, những gác chuông nhỏ, mảnh mai ; từ phía dưới, những cầu thang uốn cong vươn lên tới đây, những cầu thang này ném lên nền trời xanh ban ngày, nền trời đen ban đêm, những cái đầu kỳ dị của chúng, xù lên những con quái vật đầu sư tử, những con quỷ, những con thú vật kỳ ảo, những bông hoa quái dị, và những cầu thang đó được nối liền với nhau bằng những vòm cầu được trau chuốt tinh vi.

         Khi lên đến đỉnh, tôi nói với vị tu sĩ cùng đi với tôi : « Thưa cha, cha ở đây thích quá ! »

         Ông trả lời : « Thưa ông, ở đây có nhiều gió lắm ! » và chúng tôi bắt đầu chuyện trò, vừa nhìn nước biển dâng cao, chạy dài trên cát và phủ bãi cát bằng một áo giáp bằng thép.

         Và vị tu sĩ kể cho tôi nhiều chuyện, tất cả những chuyện xưa của nơi này, những truyền thuyết, luôn luôn những truyền thuyết.

         Một trong những truyền thuyết làm tôi rất kinh ngạc. Người dân trong vùng, những người ở trên núi đá, cho rằng người ta nghe nói chuyện ban đêm ở bãi cát, bởi vì có tiếng hai con dê cái kêu be be, một con với giọng kêu lớn, con kia giọng kêu nhỏ. Những người không tin thì khẳng định rằng đó là những tiếng chim biển, khi thì giống tiếng be be của dê, khi thì giống tiếng than thở của loài người ; nhưng những người chài lưới khi họ trở về trễ, họ thề có thấy một người mục đồng già đi lang thang trên cồn cát, giữa hai thủy triều, xung quanh cái thành phố nhỏ bị tách rời như thế khỏi thế giới, một người mục đồng già mà người ta không bao giờ thấy được cái đầu che khuất dưới cái áo khoác, đang dắt một con dê đực có một bộ mặt đàn ông và một con dê cái có một bộ mặt đàn bà, cả hai có tóc bạc dài và nói chuyện không ngừng, cãi nhau trong một thứ tiếng xa lạ, rồi chúng thình lình ngừng la hét để ra sức kêu be be.

         Tôi nói với vị tu sĩ : « Cha có tin chuyện đó không ? »

         Ông thì thầm : « Tôi chẳng biết ! »

         Tôi nói tiếp : « Nếu trên trái đất này có những sinh vật khác với chúng ta, làm sao chúng ta không biết chúng từ lâu ; làm sao cha, cha không thấy chúng ? Làm sao tôi, tôi không thấy chúng ? »

         Vị tu sĩ trả lời : « Chúng ta có thấy được một phần của trăm nghìn những gì đang hiện hữu không ? Ông xem, đây là ngọn gió, một mãnh lực lớn nhất của thiên nhiên, nó lật ngã loài người, phá đổ những tòa nhà, bật rễ cây cối, nhấc biển lên thành những ngọn núi nước, phá hủy những vách đá, ném những con tàu lớn vào đá ngầm, ngọn gió giết người, nó rít lên, nó rên rỉ, nó gào thét, ông có thấy nó không ? Và ông có khả năng thấy nó không ? Thế mà nó hiện hữu đấy ! »              

         Tôi im lặng trước sự suy luận đơn giản kia. Người đàn ông này là một bậc hiền nhân hay có lẽ là một người ngu ngốc. Tôi không thể khẳng định chính xác, tôi im lặng. Những điều ông ta nói ra nhiều lúc tôi đã nghĩ đến.

Ngày 3 tháng 7.  Tôi khó ngủ ; chắc là ở đây có một không khí nóng sốt, bởi vì người phu xe của tôi cũng bị cái chứng khó ngủ như tôi. Hôm qua, khi trở về nhà, tôi để ý cái vẻ mặt xanh xao kỳ lạ của anh ta. Tôi hỏi :

« Jean, chú mày bị gì thế ?

– Thưa ông, con không còn nghỉ ngơi được nữa, ban đêm của con nó ăn lấn qua ban ngày. Từ lúc ông ra đi, làm như con bị xui. »

         Tuy nhiên những người tôi tớ khác đều khoẻ mạnh, nhưng tôi, tôi rất sợ cơn bệnh tái phát.

Ngày 4 tháng 7.  Rõ ràng là bệnh của tôi tái phát. Những cơn ác mộng lúc trước đã trở lại. Đêm qua, tôi cảm thấy có người ngồi xổm trên người tôi, và cái miệng người đó đặt trên miệng tôi, uống lấy sự sống qua đôi môi tôi. Vâng, hắn ta hút sự sống trong cổ họng tôi, như một con đỉa. Rồi hắn đứng dậy, no nê, và tôi, tôi tỉnh dậy, mình mẩy quá ê ẩm, mệt mỏi, rã rời, đến nỗi tôi không thể cựa quậy. Nếu tình trạng này kéo dài thêm vài ngày nữa thì chắc chắn tôi lại ra đi.

Ngày 5 tháng 7.  Tôi có mất trí chăng ? Cái điều đã xảy ra, cái điều mà tôi trông thấy đêm qua, nó quá lạ lùng, đến nỗi đầu óc tôi lạc lõng khi tôi nghĩ đến !

         Đêm qua, tôi khóa cửa lại, như tôi thường làm bây giờ mỗi buổi tối ; rồi vì khát nước, tôi uống nửa ly nước, và tình cờ tôi để ý cái bình nước đầy nước đến cái nút bình bằng pha lê.

         Sau đó tôi đi nằm và tôi rơi vào một trong những giấc ngủ khủng khiếp, khoảng hai giờ đồng hồ sau tôi bị lôi dậy bởi một chấn động còn khủng khiếp hơn.

         Các bạn hãy tưởng tượng một người đang ngủ mà bị người ta ám sát, và người đó tỉnh dậy, với một con dao trong phổi, thở rền rền, mình đầy máu me, không còn thở được nữa, người đó sắp chết và không hiểu gì, thế đấy !

         Cuối cùng, khi tôi đã khôi phục lý trí, tôi lại khát nước ; tôi thắp lên một cây đèn cầy và tôi bước đến cái bàn có bình nước. Tôi nhấc cái bình lên, vừa nghiêng nó xuống cái ly ; không có gì chảy ra. Bình nước trống không ! Hoàn toàn trống không ! Trước hết tôi không hiểu gì cả, rồi thình lình, tôi cảm thấy một xúc động quá ghê gớm đến nỗi tôi phải ngồi xuống, hay đúng hơn, tôi ngã nhào xuống một cái ghế ! Rồi tôi vùng trỗi dậy để nhìn xung quanh tôi ! Rồi tôi lại ngồi xuống, cuống cuồng vì kinh ngạc và sợ hãi trước cái bình pha lê trong suốt ! Tôi nhìn nó với đôi mắt đăm đăm, tìm cách suy đoán. Tay tôi run lên ! Vậy là người ta đã uống nước trong bình ! Ai ? Tôi ? Có thể là tôi chăng ? Chỉ có thể là tôi ? Thế thì tôi bị bệnh mộng du, tôi sống cái cuộc đời đôi mà tôi không biết, cuộc đời đôi huyền bí làm chúng ta nghi ngờ không biết có phải có hai người trong chúng ta không, hay có một người xa lạ mà chúng ta không thể biết được và không thấy được, khi linh hồn chúng ta bạc nhược, người đó đôi lúc thúc đẩy cái thể xác bị giam cầm của chúng ta, cái thể xác tuân theo, như nó tuân theo chính chúng ta, nó tuân theo người đó còn hơn tuân theo chúng ta.

         Ôi ! Ai hiểu được nỗi lo sợ ghê gớm của tôi ? Ai hiểu được nỗi xúc động của một người trí óc lành mạnh, tỉnh táo, nhiều lý trí, đang khiếp sợ nhìn một ít nước đã biến mất trong cái bình trong khi người đó ngủ ! Và tôi ngồi đấy cho đến sáng, không dám trở lại giường.

Ngày 6 tháng 7.  Tôi trở thành điên. Người ta lại uống hết bình nước của tôi đêm qua ; hay đúng hơn, tôi đã uống !

         Nhưng, có phải tôi không ? Có phải tôi không ? Ai thế ? Ai ? Ôi, lạy Chúa ! Tôi trở nên điên chăng ? Ai sẽ cứu tôi ?

Ngày 10 tháng 7.  Tôi vừa mới thử nghiệm nhiều cái kỳ dị.

Rõ là tôi điên ! Ấy thế mà.

Ngày 6 tháng 7, trước khi đi nằm, tôi đặt trên bàn các thứ rượu, sữa, nước, bánh mì và trái dâu.

Người ta đã uống – tôi đã uống –  hết cả nước, và một chút sữa. Người ta không sờ đến rượu, bánh mì, trái dâu.

Ngày 7 tháng 7, tôi thử lại một lần nữa, kết quả vẫn thế.

Ngày 8 tháng 7, tôi bỏ đi nước và sữa. Người ta không sờ đến gì cả.

Cuối cùng ngày 9 tháng 7, tôi chỉ đặt lại trên bàn nước và sữa, tôi cẩn thận quấn hai cái bình với thứ vải trắng mịn, nhẹ, và cột các nút bình. Rồi tôi thoa than chì lên môi tôi, râu, hai bàn tay, và tôi đi ngủ.  

         Giấc ngủ không cưỡng được đã chụp lấy tôi, tiếp theo là sự thức tỉnh ghê sợ. Khi ngủ, tôi không hề cựa quậy ; các khăn trải giường không có dấu vết. Tôi xông tới cái bàn. Vải quấn các bình đều y nguyên. Tôi vừa tháo giây vừa hồi hộp lo sợ. Người ta đã uống hết nước ! Uống hết sữa ! Ôi ! Lạy Chúa !

         Chốc nữa đây tôi sẽ đi Paris.

Ngày 12 tháng 7.  Paris. Những ngày vừa qua tôi đã mất trí ! Có lẽ tôi là món đồ chơi của óc tưởng tượng bực dọc của tôi, trừ khi thật sự tôi là kẻ mộng du, hoặc tôi bị một trong những ảnh hưởng kia chi phối, những ảnh hưởng được nhận xét nhưng cho đến nay không thể giải thích được, mà người ta gọi là ám thị. Dù sao đi nữa, nỗi hoảng hốt của tôi đã đi đến sự cuồng điên, và hai mươi bốn tiếng đồng hồ ở Paris đủ để tâm hồn tôi vững vàng trở lại.

         Hôm qua, những công việc và những cuộc thăm viếng đưa vào tâm hồn tôi một sinh khí mới, tôi kết thúc buổi tối bằng cách đi xem kịch ở nhà hát Théâtre Français. Người ta trình diễn một vở kịch của Alexandre Dumas con (1) ; và cái tinh thần nhanh nhẹn, hùng mạnh của vở kịch cuối cùng khiến tôi bình phục. Hẳn là sự cô đơn nguy hiểm cho những đầu óc trăn trở. Chúng ta cần có xung quanh chúng ta những người biết suy nghĩ và nói chuyện. Khi chúng ta ở lâu một mình, chúng ta làm sinh sản ra đầy hồn ma trong sự trống trải.

         Tôi trở về khách sạn rất vui, qua các đại lộ. Khi sát cánh với đám đông, tôi mỉa mai nghĩ đến những cơn hoảng sợ, những giả thiết của mình hôm tuần trước, bởi vì tôi đã tưởng, vâng, tôi đã tưởng có một người vô hình ở dưới mái nhà tôi. Tinh thần chúng ta yếu đuối biết bao, nó hốt hoảng và nó nhớn nhác nhanh chóng, ngay khi một sự kiện nhỏ khó hiểu gây ấn tượng cho chúng ta !

         Thay vì kết luận bằng một câu đơn giản như : « Tôi không hiểu vì tôi không nắm bắt được nguyên nhân » thì chúng ta lập tức tưởng tượng những sự huyền bí ghê sợ và những quyền lực siêu nhiên.

Ngày 14 tháng 7.  Ngày lễ của nền Cộng hòa. Tôi đi dạo qua các đường phố. Pháo và cờ xí làm tôi vui thích như một đứa trẻ. Thế nhưng vui vẻ vào một ngày cố định, theo sắc lệnh của chính phủ thì là quá ngốc. Dân chúng là một bầy ngu xuẩn, khi thì kiên nhẫn một cách ngốc nghếch, khi thì nổi loạn tàn bạo. Người ta nói với dân chúng : « Hãy vui đùa lên.» Dân chúng vui đùa. Người ta nói : « Đi đánh giặc với láng giềng đi.» Dân chúng đi đánh giặc. Người ta nói : « Hãy bỏ phiếu cho Hoàng đế. » Dân chúng bỏ phiếu cho Hoàng đế. Rồi người ta nói : « Hãy bỏ phiếu cho nền Cộng hòa. » Và dân chúng bỏ phiếu cho nền Cộng hòa.

         Những người điều khiển dân chúng cũng ngu ngốc ; nhưng thay vì tuân theo con người, họ tuân theo những nguyên tắc, những nguyên tắc này chỉ có thể là ngu đần, khô cằn và sai lầm, do cái điều chúng là những nguyên tắc, nghĩa là những ý tưởng có tiếng là chắc chắn và bất di bất dịch trên đời này, nơi mà người ta không chắc chắn về điều gì cả, bởi vì ánh sáng là ảo tưởng, tiếng động là ảo tưởng.

Ngày 16 tháng 7.  Hôm qua tôi có thấy những điều làm tôi hết sức bối rối.

         Tôi ăn tối ở nhà người chị họ, bà Sablé, chồng của chị điều khiển đoàn kỵ binh thứ 76 ở Limoges. Tôi có mặt ở nhà chị với hai thiếu phụ, một người có chồng làm y sĩ, ông y sĩ Parent, ông này chuyên chữa bệnh thần kinh và chuyên về những hiện tượng phi thường do những cuộc thí nghiệm về thôi miên và ám thị hiện nay gây ra.

Ông y sĩ kể rất lâu về những kết quả lớn lao do những nhà bác học Anh và những y sĩ của trường phái Nancy tìm ra.

         Những sự kiện mà ông trình bày có vẻ lạ lùng quá, đến nỗi tôi tự xưng là kẻ hoàn toàn hoài nghi. Ông khẳng định :

« Chúng ta sắp sửa phát hiện một trong những điều bí ẩn quan trọng nhất của thiên nhiên, tôi muốn nói, một trong những bí ẩn quan trọng nhất trên trái đất này, bởi vì hẳn là thiên nhiên có những điều bí ẩn quan trọng khác trên kia, trong các vì sao. Từ khi con người tư duy, từ khi con người biết nói ra và viết ra tư duy của mình, con người cảm thấy bị động chạm nhẹ bởi một sự huyền bí không thấu hiểu được, đối với những giác quan thô thiển, không hoàn hảo của mình. Và con người cố bổ khuyết sự bất lực của giác quan bằng sức cố gắng của trí thông minh. Khi trí thông minh đó còn trong tình trạng sơ đẳng ; sự ám ảnh bởi những hiện tượng vô hình mang những hình thức thường tình đáng khiếp sợ. Từ đó nảy sinh những tín ngưỡng dân gian đối với cái siêu nhiên, những truyền thuyết về những linh hồn lang thang, những nàng tiên, những thần giữ của, những linh hồn hiện về, cả đến truyền thuyết về Thượng đế, bởi vì những quan niệm của chúng ta về người thợ-sáng tạo dù từ tôn giáo nào đi nữa, đều là những cái bịa đặt tầm thường nhất, ngớ ngẩn nhất, khó chấp nhận nhất, phát sinh từ bộ óc sợ hãi của con người. Không gì thật hơn là lời nói của Voltaire : « Thượng đế tạo dựng con người theo hình ảnh của ngài, nhưng con người đã đáp lại Thượng đế giống như thế ».

Nhưng, từ hơn thế kỷ nay, dường như người ta linh cảm có một cái gì mới. Mesmer (2) và vài người khác đã đặt chúng ta vào một con đường bất ngờ, và sự thật chúng ta đã đạt đến những kết quả đáng kinh ngạc, nhất là từ bốn, năm năm nay. »

         Bà chị họ tôi cũng rất hoài nghi, chị mỉm cười. Ông y sĩ Parent nói với chị :

« Thưa bà, bà có muốn tôi thử làm bà ngủ không ?

– Vâng, tôi sẵn lòng. »

         Chị ngồi trên một chiếc ghế bành và ông bắt đầu nhìn chị chòng chọc vừa thôi miên chị. Tôi thì bỗng dưng tôi cảm thấy hơi bối rối, tim tôi đập mạnh, cổ họng thắt lại. Tôi thấy đôi mắt của chị sụp xuống, miệng co dúm lại, ngực thở hổn hển.

         Mười phút sau chị ngủ.

« Ông hãy ngồi sau lưng bà đi », ông y sĩ nói.

         Và tôi đến ngồi sau lưng chị. Ông đặt trong tay chị một tấm danh thiếp và nói với chị : « Đây là một tấm gương ; bà thấy gì trong đó ?

– Tôi thấy cậu em họ tôi, chị trả lời.

– Ông ấy đang làm gì ?

– Cậu ấy đang vân vê râu mép.

– Và bây giờ ?

– Cậu ấy lôi trong túi ra một tấm hình.

– Hình đó là hình gì ?

– Hình của cậu ấy. »

         Đó là sự thật ! Và tấm hình do người ta đem đến cho tôi, buổi tối hôm đó, ở khách sạn.

« Ông ấy như thế nào trên bức chân dung ?

– Cậu ấy ở trong thế đứng, tay cầm cái mũ. »

         Vậy là bà chị họ thấy trong cái danh thiếp, trong tấm giấy cứng màu trắng, như thấy trong một tấm gương.

         Những người phụ nữ khiếp sợ la lên :

« Thôi ! Thôi ! Thôi ! »

         Nhưng ông y sĩ ra lệnh :

« Ngày mai, bà hãy ngủ dậy lúc tám giờ ; rồi bà đến gặp ông em họ của bà ở khách sạn, và bà hãy năn nỉ ông ấy cho bà mượn năm nghìn quan mà ông nhà yêu cầu bà đưa cho ông, ông em họ của bà sẽ đòi bà số tiền đó lần sau, khi ông ấy đi xa. »

         Rồi ông y sĩ làm bà chị tỉnh dậy.

         Khi trở về khách sạn, tôi nghĩ đến cái cảnh thôi miên lạ lùng ấy, và tôi có những mối hoài nghi, không phải về sự thành thực tuyệt đối không nghi ngờ được của người chị họ tôi, mà tôi biết rõ như chị ruột tôi, từ thời thơ ấu, nhưng hoài nghi về sự gian trá có thể có của ông y sĩ. Ông ta có giấu trong tay một cái gương mà ông ta đưa ra cho người thiếu phụ bị ngủ mê, cùng lúc với cái danh thiếp không ? Những người chuyên làm trò ảo thuật còn có những trò lạ lùng hơn nhiều.

         Vậy tôi trở về và đi ngủ.

         Thế mà sáng nay, vào khoảng tám giờ rưỡi, người giúp việc gọi tôi dậy và nói với tôi :

« Dạ, bà Sablé yêu cầu được nói chuyện với ông ngay lập tức. »

         Tôi vội vàng mặc áo quần và tiếp bà chị họ.

         Chị ngồi xuống, vẻ rất bối rối, đôi mắt nhìn xuống, và chị nói với tôi mà không giở lên cái khăn thưa che mặt :

« Này cậu em, chị xin cậu em giúp chị một việc lớn.

– Chuyện gì thế chị ?

– Chị rất lấy làm khó chịu mà phải nói với em điều này, ấy thế mà chị phải nói. Chị cần, tuyệt đối cần năm nghìn quan.

– Thôi nào, chị mà cần tiền à ?

– Phải, chị cần, hay đúng hơn chồng chị cần, anh ấy giao cho chị việc tìm cho ra số tiền đó. »

         Tôi quá sửng sốt, đến nỗi tôi trả lời một cách ấp úng. Tôi tự hỏi bà chị có thật sự chế nhạo tôi cùng với ông y sĩ Parent không, có phải đây chỉ là một trò đùa đã được chuẩn bị trước và được diễn rất hay không.

Nhưng khi chăm chú nhìn bà chị, tất cả ngờ vực của tôi đều tiêu tan. Chị run sợ, vì cái việc đi mượn tiền nó đau xót cho chị, và tôi hiểu sự nghẹn ngào của chị qua tiếng nấc.

         Tôi biết chị rất giàu, tôi nói tiếp :

« Sao ? Chồng chị không có sẵn được năm nghìn quan à ? Nào, chị hãy suy nghĩ đi. Chị có chắc là anh ấy giao cho chị cái việc đến mượn tiền em không ? »

         Chị do dự vài giây tưởng chừng chị hết sức cố gắng để tìm tòi trong trí nhớ, rồi chị trả lời :

« Phải… phải… chị chắc chắn điều đó.

– Anh ấy có viết thư cho chị à ?

         Chị lại do dự, suy nghĩ. Tôi đoán được sự dằn vặt của tâm trí chị. Chị không biết. Chị chỉ biết rằng chị phải mượn tôi năm nghìn quan cho chồng chị. Vậy là chị dám nói dối :

« Phải, anh ấy có viết thư cho chị.

– Hồi nào ? Hôm qua chị chẳng nói gì với em.

– Chị nhận được thư anh ấy sáng nay.

– Chị có thể cho em xem cái thư không ?

– Không… không… không… cái thư nói những chuyện riêng tư… quá riêng tư… chị đã… chị đã đốt nó rồi.

– Thế thì chồng chị bị nợ nần. »

         Chị lại do dự, rồi thì thầm :

« Chị không biết. »

         Thình lình tôi nói :

« Số là em không thể có ngay năm nghìn quan chị ạ ! »

         Chị kêu lên một tiếng đau đớn :

« Ôi ! Ôi ! Chị van em… chị van em…, hãy tìm cho ra số tiền đó… »

         Chị hăng lên, chắp hai tay như cầu khẩn tôi ! Tôi nghe chị đổi giọng, chị khóc và nói lắp, chị bị quấy rối, bị chế ngự bởi cái mệnh lệnh không cưỡng lại được mà chị đã nhận chịu.

« Ôi ! Ôi ! Chị van em… nếu em biết chị khổ như thế nào… chị phải có số tiền đó nội ngày hôm nay. »

         Tôi thương hại bà chị.

« Chị sẽ có số tiền đó chiều nay, em xin thề. »

         Chị reo lên :

« Ồ ! Chị cám ơn ! Chị cám ơn ! Em thực có lòng tốt. »

         Tôi nói tiếp :

« Chị có nhớ cái gì đã xảy ra hôm qua, ở nhà chị không ?

– Có.

– Chị có nhớ ông y sĩ Parent đã thôi miên chị không ?

– Có.

– Vậy thì ông ấy đã ra lệnh cho chị đến mượn em năm nghìn quan sáng nay, và hiện giờ chị đang tuân theo lời ông ấy. »

         Chị suy nghĩ vài giây và trả lời :

« Chính anh nhà yêu cầu chị mà ! »

         Trong một tiếng đồng hồ, tôi cố thuyết phục bà chị, nhưng tôi không tài nào thuyết phục được. Khi chị ra về, tôi chạy đến nhà ông y sĩ. Ông ta sắp sửa ra khỏi nhà ; ông ta nghe tôi nói và mỉm cười. Rồi ông nói :

« Bây giờ ông đã tin chưa ?

– Vâng, tôi bắt buộc phải tin.

– Chúng ta hãy đến nhà chị họ của ông đi. »

         Bà chị đang thiu thiu ngủ trên một chiếc ghế dài, thân xác mệt mỏi, rã rời. Ông y sĩ bắt mạch, nhìn chị một lúc, bàn tay ông đưa lên đôi mắt mà chị khép lại từ từ dưới cái mãnh lực có từ tính. Khi chị đã ngủ, ông nói :

« Chồng bà không cần năm nghìn quan nữa. Vậy bà hãy quên rằng bà có yêu cầu người em họ của bà cho bà mượn tiền, và nếu ông ấy có đề cập đến chuyện này, thì bà sẽ không hiểu gì cả. »

         Rồi ông y sĩ làm chị tỉnh dậy. Tôi lôi từ trong túi ra cái ví.

« Thưa chị, đây số tiền mà khi sáng chị yêu cầu em cho chị mượn. »

         Chị kinh ngạc quá đến nỗi tôi không dám lặp lại lời tôi vừa nói. Tuy nhiên tôi cố gợi lại trí nhớ của chị, nhưng chị kịch liệt chối, chị tưởng tôi chế nhạo chị, và cuối cùng chị suýt giận tôi.

……………………………………………………………………

         Thế đấy ! Tôi trở về khách sạn, và tôi ăn trưa không được, vì cuộc thí nghiệm làm tôi quá xúc động.

Ngày 19 tháng 7.  Tôi đã kể biến cố đó cho nhiều người nghe, họ chế nhạo tôi. Tôi không còn biết phải nghĩ gì. Hiền nhân nói : Có lẽ ?

Ngày 21 tháng 7.  Tôi ăn tối ở Bougival, rồi tôi đi dự cuộc khiêu vũ của những người chèo xuồng. Rõ ràng là tất cả đều tùy thuộc nơi chốn và môi trường. Ở trên hòn đảo Grenouillère này mà tin vào sự siêu nhiên là điên hết chỗ nói… nhưng còn ở trên đỉnh núi Saint-Michel thì sao ?… Ở Ấn độ thì sao ? Chúng ta chịu đựng ghê gớm ảnh hưởng của những gì vây quanh chúng ta. Tuần sau tôi sẽ trở về nhà.

Ngày 30 tháng 7. Tôi đã trở về nhà hôm qua. Mọi sự đều yên ổn.

Ngày 2 tháng 8.  Không có gì lạ ; trời rất đẹp. Ngày giờ của tôi là để nhìn con sông Seine trôi qua.

Ngày 4 tháng 8.  Có những cuộc cãi cọ giữa những người tôi tớ của tôi. Họ cho rằng có người đã làm vỡ ly, ban đêm, trong tủ. Người dọn phòng đổ lỗi cho chị làm bếp, chị làm bếp đổ lỗi cho cái chị trông coi áo quần, khăn vải, chị này lại đổ lỗi cho hai người khác. Ai đã làm vỡ ly ? Kẻ nào nói đúng sẽ là người tinh khôn lắm chăng ?

Ngày 6 tháng 8.  Lần này, tôi không điên. Tôi đã thấy… tôi đã thấy… tôi đã thấy !… Tôi không còn có thể nghi ngờ… tôi đã thấy !… Tôi vẫn còn ớn lạnh thấu xương… tôi vẫn còn sợ hãi quá sức… tôi đã thấy !…

         Vào lúc hai giờ trưa, trời nắng chang chang, tôi đi dạo giữa bồn hoa hồng… trên lối đi, hai bên có những cây hoa hồng mùa thu bắt đầu nở hoa.

         Khi tôi dừng lại để nhìn một cây hoa hồng có tên khổng lồ của các trận chiến, nó có ba cái hoa tuyệt đẹp, tôi thấy, tôi thấy rõ ràng, sát bên tôi, cái nhánh của một hoa hồng gập lại, tưởng như có một bàn tay vô hình xoắn nó, rồi cái nhánh bị gẫy, tưởng như bàn tay đó đón lấy nó ! Rồi cái hoa hồng được nhấc bổng lên, theo đường cong mà một cánh tay có thể vẽ ra bằng cách đưa cái hoa lên miệng, và cái hoa treo lửng lơ trên không trung trong suốt, một mình nó, bất động, một cái đốm đỏ ghê sợ, cách đôi mắt tôi ba bước.

         Tôi cuống cuồng, nhào tới để chụp nó ! Nhưng tôi không chụp được gì ; cái hoa biến mất. Thế rồi tôi tức giận đối với chính mình, bởi vì không thể nào chấp nhận được một người biết theo lẽ phải và nghiêm túc lại có những ảo giác như thế.

         Nhưng có phải là một ảo giác không ? Tôi quay lại để tìm cái nhánh hoa hồng, và tức thì tôi thấy nó trên cây, nó vừa mới bị gẫy, giữa hai cái hoa hồng kia vẫn ở trên cây.

         Thế rồi tôi trở vào nhà, tâm hồn điên đảo, bởi vì tôi chắc chắn, bây giờ tôi chắc chắn như sự luân phiên của ngày và đêm, chắc chắn rằng gần tôi có một kẻ vô hình đã tự nuôi mình bằng sữa và nước, kẻ vô hình có thể chạm đến đồ vật, lấy chúng và dời chỗ chúng, do đó kẻ vô hình có một bản chất cụ thể, mặc dù giác quan của chúng ta không nhận thấy được, và kẻ đó ở dưới mái nhà của tôi, như tôi.

Ngày 7 tháng 8. Tôi ngủ bình yên. Hắn đã uống nước trong bình, nhưng hắn không phá rối giấc ngủ của tôi.

         Tôi tự hỏi tôi có điên không ? Ban nãy, trong lúc đi dạo dưới trời nắng chang chang, dọc theo bờ sông, tôi có những nghi ngờ về lý trí của mình, không phải những nghi ngờ lơ mơ mà tôi có cho đến lúc này, mà là những nghi ngờ rõ rệt, tuyệt đối. Tôi đã thấy người điên ; tôi biết có những người điên vẫn thông minh, minh mẫn về tất cả mọi việc ở đời, chỉ trừ một điểm. Họ nói về mọi chuyện một cách sáng suốt, khéo léo, sâu sắc, và bỗng nhiên tư duy của họ chạm phải đá ngầm của bệnh điên, bị xé toạc ra từng mảnh, bị phân tán ra và chìm trong cái đại dương ghê sợ, dữ dội, đầy những ngọn sóng vọt lên, đầy sương mù, gió lốc mà người ta gọi là « cơn điên ».

         Hẳn tôi sẽ tưởng mình điên, hoàn toàn điên, nếu tôi không ý thức được, nếu tôi không biết một cách thấu suốt tình trạng của tôi, nếu tôi không dò xét được tình trạng đó bằng cách phân tích nó một cách hoàn toàn sáng suốt. Nói tóm lại, có thể tôi chỉ là một kẻ bị ảo giác ưa lý luận. Một chứng rối loạn chưa ai biết đến, có lẽ nó đã nảy sinh trong óc tôi, một trong những chứng mà ngày nay các nhà sinh lý học cố ghi chép và cho biết rõ ràng ; và cái chứng đó đã gây ra trong đầu óc tôi một kẽ nứt sâu theo thứ tự và sự hợp lý của những ý tưởng của tôi. Những hiện tượng tương tự như thế thường xảy ra trong giấc mơ, giấc mơ đưa chúng ta đi qua những cảnh huyền hoặc, khó tin nhất, mà chúng ta không ngạc nhiên bởi vì cái máy kiểm tra, bởi vì cái óc kiểm soát bị ru ngủ ; trong khi đó khả năng tưởng tượng thức tỉnh và hoạt động. Có thể nào một trong những nút bấm không thấy được của bàn phím trí não trong tôi bị tê liệt chăng ? Có những người sau khi bị tai nạn, thì mất trí nhớ về danh từ riêng, về động từ hay số, hay chỉ mất trí nhớ về ngày tháng. Ngày nay, những định vị của tất cả các mảnh của tư duy đã được chứng minh. Thế thì có gì là đáng ngạc nhiên khi khả năng kiểm soát của tôi về cái tính không hiện thực của những ảo giác nào đó bị đờ đẫn trong tôi lúc này !

         Khi đi dọc bờ sông, tôi nghĩ ngợi về những chuyện đó. Mặt trời tỏa ánh sáng trên sông, khiến mặt đất dễ chịu, làm cái nhìn của tôi tràn ngập yêu thương đối với cuộc đời, đối với đàn chim én mà tính nhanh nhẹn làm vui mắt tôi, đối với lớp cỏ bên bờ sông mà tiếng rì rào là một hạnh phúc cho tai tôi.

         Tuy nhiên, dần dần một sự bất ổn không giải thích được len lỏi vào tâm hồn tôi. Một mãnh lực, dường như một mãnh lực bí ẩn làm tôi đờ đẫn, ngăn chận tôi, không cho tôi đi xa hơn, nó kéo dật tôi lại phía sau. Tôi cảm thấy cần phải trở về nhà, một sự cần thiết đau nhói làm tức thở, khi người ta để ở nhà một bệnh nhân mà người ta thương yêu, mà linh tính báo cho biết là bệnh tình đang trầm trọng.

         Vậy bất đắc dĩ tôi trở về nhà, chắc chắn rằng khi bước vào nhà tôi sẽ nhận được một tin chẳng lành, một cái thư hay một điện tín. Không có gì cả ; và tôi còn ngạc nhiên hơn, lo lắng hơn là nếu tôi lại có một ảo giác nào khác.

Ngày 8 tháng 8.  Hôm qua, tôi đã trải qua một buổi tối khủng khiếp. Không còn dấu hiệu gì của hắn, nhưng tôi cảm thấy hắn đang ở gần tôi, đang rình rập tôi, đang nhìn tôi, vào thấu trong tôi, chế ngự tôi, và khi hắn ẩn núp như thế, hắn còn đáng sợ hơn là khi hắn hiển hiện một cách vô hình và đều đặn bằng những hiện tượng siêu nhiên. Tuy nhiên tôi vẫn ngủ.

Ngày 9 tháng 8.  Không có gì cả, nhưng tôi sợ.

Ngày 10 tháng 8.  Không có gì cả, ngày mai cái gì sẽ xảy ra ?

Ngày 11 tháng 8.  Vẫn không có gì cả ; tôi không thể nào ở trong nhà tôi với nỗi lo sợ và ý nghĩ đó trong tâm hồn ; tôi sẽ ra đi.

Ngày 12 tháng 8, 10 giờ đêm.  Cả ngày hôm nay tôi muốn đi khỏi đây ; tôi không đi được. Tôi muốn thực hiện cái hành động tự do quá dễ, quá đơn giản đó là ra khỏi nhà, lên xe để đi Rouen, thế mà tôi không làm được. Tại sao ?

Ngày 13 tháng 8.  Khi người ta bị một bệnh gì, tất cả những động lực của thân xác dường như bị suy sụp, năng lực tiêu tan, cơ bắp lỏng lẻo, xương cốt trở nên mềm nhũn như da thịt, và da thịt trở nên lỏng như nước. Tôi cảm thấy thế trong tâm hồn tôi một cách lạ lùng và sầu não. Tôi không còn sức lực, can đảm, tự chủ, không còn cả uy quyền để sai khiến ý chí. Tôi không còn ý chí ; nhưng một kẻ khác có ý chí dùm tôi ; và tôi tuân theo.

Ngày 14 tháng 8.  Chết tôi rồi ! Có một kẻ sở hữu linh hồn tôi và điều khiển nó ! Một kẻ ra lệnh cho tất cả những hành vi của tôi, những cử chỉ của tôi, những ý nghĩ của tôi. Trong tôi, tôi không còn là gì nữa, tôi chỉ là một khán giả nô lệ và khiếp sợ về tất cả những việc tôi làm. Tôi muốn ra khỏi nhà. Tôi không thể làm được. Hắn không muốn ; và tôi ngồi lại trong chiếc ghế bành nơi hắn bắt tôi ngồi, tôi cuống cuồng, run rẩy. Tôi chỉ muốn đứng dậy, muốn nhấc mình lên, để cảm thấy mình tự làm chủ mình. Tôi không làm được ! Tôi bị gắn chặt vào cái ghế bành ; và cái ghế dính chặt vào mặt đất, không có một sức mạnh nào có thể nhấc tôi và cái ghế lên nổi.

Rồi, bỗng nhiên tôi phải, tôi phải, tôi phải ra tận đầu vườn để hái trái dâu và ăn. Và tôi đi ra vườn. Tôi hái dâu và ăn dâu ! Ôi ! lạy Chúa ! lạy Chúa ! lạy Chúa ! Có một Thượng đế không ? Nếu có một Thượng đế, xin ngài hãy giải thoát tôi, hãy cứu tôi ! Cứu giúp tôi ! Xin tha tội cho tôi ! Xin thương xót tôi ! Xin cứu tôi với ! Ôi ! Biết bao đau đớn ! Biết bao dằn vặt ! Biết bao khiếp sợ !                                    

Ngày 15 tháng 8.  Chắc là khi bà chị họ tội nghiệp của tôi đến mượn tôi năm nghìn quan, chị cũng đã bị chiếm hữu và chế ngự như thế đấy. Chị phải cam chịu một ý chí xa lạ xâm nhập vào chị, như một linh hồn khác, như một linh hồn ăn bám và thống trị chị. Thế giới có sắp chấm dứt không đấy ?

         Nhưng kẻ chỉ huy tôi, cái tên vô hình đó, cái tên mà tôi không nhận ra, cái tên lảng vảng thuộc một giống siêu nhiên, hắn là ai ?

         Vậy những kẻ vô hình có thật ! Thế mà làm sao từ thuở tạo thiên lập địa chúng không hiển hiện rõ ràng như chúng đã hiển hiện với tôi ? Tôi chưa bao giờ đọc được chuyện gì giống như chuyện đã xảy ra trong nhà tôi. Ồ ! Nếu tôi có thể xa rời được ngôi nhà tôi, nếu tôi có thể đi khỏi nơi này, trốn thoát và không trở lại. Tôi sẽ được cứu thoát, nhưng tôi không thể làm gì được.

Ngày 16 tháng 8.  Hôm nay tôi thoát ra được khỏi nhà trong hai tiếng đồng hồ, như một người tù tình cờ thấy cửa ngục mở. Tôi cảm thấy thình lình được tự do và hắn ta đã đi xa. Tôi ra lệnh cho người nhà buộc ngựa vào xe nhanh và tôi đến Rouen. Ôi ! Vui làm sao khi nói được với một người biết tuân theo ý mình : « Đánh xe đến Rouen đi ! »

         Tôi cho ngừng xe trước thư viện, và tôi yêu cầu người ta cho tôi mượn cuốn chuyên luận của tiến sĩ Hermann Herestauss (3) về những cư dân xa lạ của thời cổ đại và thời hiện đại.

         Rồi khi trở lên xe, tôi muốn nói : « Ra nhà ga đi ! » nhưng tôi lại la lên, tôi không nói mà tôi la lên, với một giọng quá lớn đến nỗi những người đi đường phải quay lại, tôi la lên : « Trở về nhà đi ! » và tôi thả người xuống cái đệm xe, hoảng hốt vì lo sợ. Hắn ta tìm được tôi và bắt tôi trở về nhà.

Ngày 17 tháng 8.  Ôi ! Cái đêm lạ lùng biết bao ! Cái đêm lạ lùng biết bao ! Ấy thế mà tôi tưởng mình nên vui mừng. Tôi đọc cuốn chuyên luận cho đến một giờ sáng ! Hermann Herestauss, tiến sĩ về triết học và thần hệ, đã viết về lịch sử và những biểu lộ của tất cả những sinh vật vô hình lảng vảng xung quanh con người hay được con người thấy trong giấc mơ. Ông miêu tả nguồn gốc, lĩnh vực, quyền uy của những sinh vật vô hình đó. Nhưng không một sinh vật nào giống như sinh vật đang ám ảnh tôi. Tưởng chừng như con người, từ khi biết tư duy, đã linh cảm và lo sợ một sinh vật mới, mạnh hơn con người, kẻ kế vị con người ở trần gian này, và khi cảm thấy sinh vật đó gần mình và vì không thể tiên đoán bản chất của vị thầy đó, nên trong cơn sợ hãi, con người đã tạo dựng cả một đám người kỳ ảo bí ẩn, những con ma vu vơ nảy sinh từ sự sợ hãi.

         Vậy khi đã đọc cuốn chuyên luận đến một giờ sáng, tôi đến ngồi gần cửa sổ đang mở, để trán và đầu óc tôi được làn gió êm dịu của bóng đêm làm cho mát mẻ.

         Thời tiết dễ chịu, khí trời ấm áp. Xưa kia tôi yêu biết mấy những đêm như đêm nay !

         Trời không trăng. Ở cuối bầu trời tối đen, các vì sao chiếu lấp lánh, lung linh. Ai ở trong những thế giới đó ? Những hình thể nào, những sinh vật nào, thú vật nào, cây cỏ nào ở đấy ? Những sinh vật tư duy trong những vũ trụ xa xôi đó, họ biết gì hơn chúng ta ? Họ có thể làm gì được hơn chúng ta ? Họ thấy gì mà chúng ta không hề biết ? Một trong số họ, ngày nọ hay ngày kia, khi vượt qua không gian, sẽ chẳng xuất hiện trên trái đất của chúng ta để xâm chiếm nó sao, như người dân Normand xưa kia vượt qua biển cả để nô lệ hóa những dân tộc yếu hơn ?

         Chúng ta quá tật nguyền, quá yếu ớt, quá dốt nát, quá nhỏ bé, chúng ta ở trên cái hạt bùn xoay quanh và bị hòa trong một giọt nước.

         Tôi thiu thiu ngủ vừa mơ màng như thế trong làn gió mát ban đêm. Thế mà khi đã ngủ được khoảng bốn mươi phút, tôi mở mắt ra mà không cử động, không biết nỗi xúc động mơ hồ và kỳ dị nào đã đánh thức tôi. Trước hết tôi không thấy gì cả, rồi thình lình tưởng chừng như một trang của cuốn sách đang mở trên bàn tự nó vừa mới lật qua. Không một hơi gió lẻn vào cửa sổ. Tôi ngạc nhiên và tôi chờ. Khoảng bốn phút sau tôi thấy, tôi thấy, vâng, chính mắt tôi, tôi thấy một trang sách khác nhấc lên và nằm xuống trên trang trước, làm như có một ngón tay lật nó. Chiếc ghế bành của tôi trống, có vẻ trống ; nhưng tôi biết hắn đang ở đấy, đang ngồi ở chỗ của tôi, và hắn đang đọc sách. Tôi nhảy vọt tới một cách giận dữ, một cái nhảy vọt của con thú phẫn nộ, sắp sửa phanh thây kẻ thuần hóa nó, tôi vượt qua căn phòng để chụp lấy hắn, để siết chặt hắn, giết hắn !… Nhưng cái ghế bành của tôi, trước khi tôi nhào đến nó, nó lật ngửa, làm như có người chạy trốn trước mặt tôi… cái bàn của tôi lắc lư, cây đèn của tôi rơi xuống và tắt, và cái cửa sổ đóng lại như có một kẻ gian bị bắt quả tang liền chụp hai cánh cửa, xông ra ngoài bóng đêm.

         Vậy hắn đã chạy thoát ; hắn hoảng sợ, sợ tôi, hắn ấy mà!

         Thế thì… thế thì… ngày mai… hay sau đó… hay một ngày nào đó, tôi có thể nắm lấy hắn và đè nát hắn trên mặt đất ! Có phải đôi khi loài chó cắn và bóp chết chủ của chúng không ?

Ngày 18 tháng 8.  Tôi suy nghĩ suốt ngày nay. Ồ ! Vâng, tôi sẽ tuân theo hắn, tuân theo những thôi thúc của hắn, thực hiện tất cả những ý muốn của hắn, tôi sẽ tỏ ra khiêm nhường, khuất phục, hèn hạ. Hắn là kẻ mạnh nhất. Nhưng một giờ nào đó sẽ đến…

Ngày 19 tháng 8.  Tôi biết… tôi biết… tôi biết hết ! Tôi vừa mới đọc cái này trong Tạp chí của Thế giới Khoa học : « Một cái tin khá lạ lùng đến từ Rio de Janeiro. Một bệnh điên, một bệnh dịch điên, có thể so sánh với những bệnh điên truyền nhiễm đã lan đến các dân tộc Âu châu thời trung cổ. Hiện nay bệnh dịch đó đang hoành hành trong tỉnh Sao-Paulo. Dân chúng cuống cuồng rời bỏ nhà cửa, làng mạc, công việc trồng trọt, họ cho là họ bị đeo đuổi, chiếm hữu, cai trị như lũ người hóa thú bởi những sinh vật vô hình mặc dù có thật, bởi những thứ ma hút máu, chúng tự nuôi dưỡng bằng sự sống của họ, trong khi họ ngủ, thêm nữa chúng uống nước và sửa mà không có vẻ chạm đến một món ăn nào khác.

         “ Giáo sư Don Pedro Henriquez, cùng với nhiều y sĩ uyên bác, đi đến tỉnh Sao-Paulo, để nghiên cứu tại chỗ những nguyên nhân và những biểu hiện của chứng điên lạ lùng đó, và để đề nghị với Hoàng đế những biện pháp mà ông cho là thích đáng nhất, ngõ hầu đưa những người dân điên cuồng trở về với lý trí. »

         À ! À ! Tôi nhớ ra rồi, tôi nhớ chiếc thuyền ba cột buồm của Brazil đi qua dưới cửa sổ nhà tôi, khi nó đi ngược lên sông Seine, ngày 8 tháng 5 vừa qua ! Nó đẹp đến thế, trắng đến thế, vui đến thế ! Kẻ đứng trên thuyền đến từ xứ đó, nơi chủng tộc của hắn sinh ra ! Và hắn thấy tôi ! Hắn cũng thấy ngôi nhà màu trắng của tôi ; và từ chiếc thuyền hắn nhảy xuống bờ. Ôi ! Lạy Chúa !

         Bây giờ tôi biết, tôi đoán được. Thời đại thống trị của con người đã chấm dứt.

         Hắn đã đến. Hắn, kẻ đã làm cho các dân tộc ngây ngô hãi hùng, Hắn, kẻ khiến các giáo sĩ lo lắng trừ tà ma và các tên phù thủy gọi Hắn lên trong đêm u tối mà chưa thấy hiện ra, Hắn đã được linh cảm của những giáo chủ nhất thời của thế giới gán cho những hình dạng quái dị hay duyên dáng của những thần giữ kho tàng, của hồn ma, của thần bản mệnh, của tiên, của yêu tinh. Sau những quan niệm thô thiển của sự sợ hãi nguyên thủy, có những người sáng suốt hơn đã linh cảm về kẻ đó rõ ràng hơn. Mesmer đã tiên đoán, và các vị y sĩ, từ mười năm nay, đã phát hiện, một cách chính xác, bản chất mãnh lực của hắn, trước khi chính hắn dùng mãnh lực này. Họ đã đùa với cái khí giới của vị Chúa tể mới, sự thống trị của một ý chí huyền bí trên linh hồn con người trở nên nô lệ. Họ gọi điều đó là tác dụng của từ tính, thôi miên, ám thị… và gì nữa ? Tôi đã thấy họ đùa như những đứa trẻ bất cẩn với cái mãnh lực ghê sợ đó ! Tai họa cho chúng ta ! Tai họa cho con người ! Hắn đã đến… Hắn… hắn tên là gì…hắn…hình như hắn hô to tên hắn cho tôi nghe, và tôi không nghe được…hắn…vâng…hắn la to… Tôi lắng nghe… tôi không thể… hắn lặp lại… cái… tên Horla (4)… Tôi nghe rồi… tên Horla… chính là hắn… tên Horla… hắn đã đến !

         Ôi ! Con diều hâu đã ăn thịt con bồ câu ; con chó sói đã ăn thịt con cừu ; con sư tử đã ngốn con trâu có sừng nhọn ; con người đã giết con sư tử với mũi tên, với ngọn giáo, với bột độc ; nhưng tên Horla sẽ biến con người thành cái mà con người đã biến con ngựa và con bò : thành một đồ vật của hắn, tôi tớ và thức ăn của hắn, chỉ do mãnh lực ý chí của hắn ! Tai họa cho chúng ta !

         Thế nhưng con thú đôi khi phẫn nộ và trở lại giết người thuần hóa nó… tôi cũng thế, tôi muốn… tôi có thể… nhưng phải biết hắn, sờ hắn, thấy hắn ! Các nhà bác học nói rằng mắt của con thú khác với mắt của chúng ta, nó không biết phân biệt như mắt chúng ta…Và con mắt tôi không có khả năng nhận ra kẻ mới đến và áp bức tôi. 

Tại sao ? À ! Giờ đây tôi mới nhớ lại lời của vị tu sĩ ở Mont-Saint-Michel : « Chúng ta có thấy một phần của trăm nghìn phần  những gì đang hiện hữu không ? Đây này, gió là mãnh lực lớn nhất của thiên nhiên, nó lật ngã loài người, làm sụp đổ những tòa nhà, bứt gốc cây cối, nhấc biển lên thành núi nước, tàn phá những vách đá, và ném những con tàu lớn vào đá ngầm, gió giết người, nó rít lên, nó rên rỉ, nó gào thét, thế ông đã thấy nó chưa, và ông có khả năng thấy nó không ? Thế mà nó có thật đấy ! »

         Và tôi còn nghĩ rằng mắt tôi quá yếu, quá khiếm khuyết đến nỗi nó chẳng nhận ra những vật thể cứng, nếu chúng trong suốt như kính ! Nếu một tấm gương không có tráng thủy ngân chắn ngang đường đi của tôi, con mắt tôi làm tôi đâm đầu vào tấm gương, như con chim khi bay vào một căn phòng đâm đầu vào mặt kính. Vả lại, hằng nghìn thứ phỉnh lừa mắt tôi và làm nó thất lạc. Vậy có gì đáng ngạc nhiên nếu mắt tôi không biết nhận thấy một vật thể mới trong suốt mà ánh sáng xuyên qua ?

         Một sinh vật mới ! Tại sao vậy ? Chắc chắn nó phải đến ! Chẳng lẽ chúng ta là những sinh vật cuối cùng sao ? Sao chúng ta không nhận ra nó, cũng như không nhận ra những sinh vật khác được tạo dựng trước chúng ta ? Bởi vì bản chất của nó hoàn toàn hơn chúng ta, thân xác nó tinh vi hơn và hoàn hảo hơn thân xác chúng ta, một thân xác yếu đuối đến thế, được hình thành vụng về đến thế, bị kềnh càng với những bộ phận luôn luôn mệt mỏi, luôn luôn bị áp lực như những chiếc lò xo quá phức tạp, thân xác chúng ta sống như một thực vật và như một thú vật, bằng cách tự vất vả nuôi dưỡng với không khí, cỏ cây và thịt, một bộ máy thú vật bị giày vò bởi bệnh tật, bởi sự biến dạng và sự thối rữa, một bộ máy ì ạch, không điều hành đúng, ngây ngô và kỳ cục, một bộ máy tồi, một tác phẩm thô thiển và mảnh dẻ, bản phác thảo của một sinh vật có thể trở nên thông minh và tuyệt vời.

         Chúng ta là những sinh vật quá ít trên đời này, từ con hàu đến con người. Tại sao lại không có thêm một sinh vật nữa, một khi thời kỳ phân chia những xuất hiện liên tiếp của các loài khác nhau đã qua đi ?

Tại sao không có thêm một sinh vật nữa ? Tại sao không có thêm những loại cây cối khác có hoa to tướng, sặc sở, và làm thơm ngát cả nhiều vùng ? Tại sao không có những nguyên tố khác với lửa, không khí, đất và nước ? Đó là bốn nguyên tố, chỉ có bốn, những nguyên tố làm cha nuôi dưỡng các sinh vật ! Đáng thương hại làm sao ! Tại sao không là bốn mươi, bốn trăm, bốn nghìn nguyên tố ! Tất cả đều nghèo nàn, ty tiện, thảm thương làm sao ! Tất cả được ban cho một cách dè sẻn, được sáng chế một cách khô khan, được tạo ra một cách nặng nề ! Ôi ! Con voi, con lợn nước, biết bao kiều diễm ! Con lạc đà, biết bao lịch sự !

Nhưng các bạn sẽ nói, con bướm ! một cái hoa biết bay ! Tôi mơ một con bướm lớn bằng một trăm vũ trụ, với đôi cánh mà tôi không thể miêu tả hình dáng, vẻ đẹp, màu sắc, và sự chuyển động. Nhưng tôi thấy nó… nó bay từ ngôi sao này đến ngôi sao khác, làm cho những ngôi sao tươi mát và thơm tho bằng cái hơi êm ái và nhẹ nhàng khi nó di chuyển ! Và những cư dân ở trên cao kia nhìn nó bay qua mê mẩn và vui thích !…

…………………………………………………………………………………………..

         Tôi bị gì thế ? Chính hắn, hắn, tên Horla, hắn ám ảnh tôi, khiến tôi nghĩ đến những chuyện điên rồ đó ! Hắn ở trong tôi, hắn trở thành linh hồn tôi ; tôi sẽ giết hắn !

Ngày 19 tháng 8.  Tôi sẽ giết hắn. Tôi có thấy hắn ! Tối hôm qua, tôi ngồi vào bàn viết, và tôi vờ viết một cách rất chăm chú. Tôi biết hắn sẽ đến lảng vảng xung quanh tôi, gần sát tôi, gần quá đến nỗi có lẽ tôi có thể sờ hắn được, chụp lấy hắn được chăng ? Và rồi sao ?…thế là, tôi sẽ có sức mạnh của những kẻ tuyệt vọng ; tôi sẽ có đôi bàn tay, đầu gối, ngực, trán, hàm răng để bóp cổ hắn, đè nát hắn, cắn hắn, xé nát hắn.

         Và tôi rình hắn với tất cả những giác quan bị kích thích tột độ của tôi.

         Tôi thắp hai ngọn đèn và tám cây nến trên lò sưởi, làm như trong ánh sáng đó, tôi có thể khám phá ra hắn.

         Trước mặt tôi là cái giường, một cái giường xưa bằng gỗ sồi có bốn cột ; bên phải là lò sưởi, bên trái là cửa phòng được cần thận khóa lại, sau khi để cửa mở lâu, để dụ hắn ; sau lưng tôi là một cái tủ rất cao có gương, tủ gương này tôi dùng mỗi ngày để cạo râu, mặc quần áo, và tôi có thói quen soi gương, từ đầu đến chân, mỗi lần tôi đi qua trước tủ.

         Vậy tôi vờ viết để đánh lừa hắn, bởi vì hắn cũng rình tôi; và bỗng dưng, tôi cảm thấy, tôi chắc chắn là hắn đang đọc trên vai tôi, chắc chắn hắn ở đấy, hắn đang sướt qua tai tôi.

         Tôi đứng thẳng lên, hai tay dang ra, vừa xoay người quá nhanh đến nỗi tôi suýt ngã. Và rồi sao ?… thấy trong gương sáng như ban ngày, thế mà tôi không thấy tôi trong gương ! Tấm gương trống không, trong suốt, sâu thẳm, đầy ánh sáng ! Hình ảnh của tôi không có trong đó… mặc dù tôi đứng trước gương, chính tôi ! Tôi thấy khung kính lớn trong veo từ trên xuống dưới. Và tôi nhìn với cặp mắt hoảng hốt ; và tôi không còn dám bước tới, không còn dám cử động, tuy vậy tôi cảm thấy hắn ở đấy, nhưng hắn vẫn thoát khỏi tay tôi, thân hình hắn không thể nhận ra được, hắn đã nuốt chửng cái ánh phản chiếu của tôi.

         Tôi sợ hãi biết bao ! Rồi thình lình tôi bắt đầu thấy tôi trong một màn sương, ở tận đáy gương, trong một thứ sương mù như qua một lớp nước ; và tôi tưởng như làn nước đó lướt đi từ trái sang phải, chậm rãi, làm cho hình ảnh của tôi rõ nét hơn, từ giây phút này qua giây phút khác. Giống như sự chấm dứt của một việc che khuất. Cái đã che khuất tôi dường như không có đường viền rõ rệt, mà là một thứ ánh sáng mờ đục cứ dần dần sáng ra.

         Cuối cùng tôi có thể nhận ra tôi hoàn toàn, như tôi đã nhận ra tôi mỗi ngày khi tự nhìn mình trong gương.

         Tôi đã thấy hắn ! Nỗi hãi hùng vẫn còn trong tôi, còn làm tôi rùng mình.

Ngày 20 tháng 8.  Giết hắn, bằng cách nào đây ? Bởi vì tôi không thể nắm bắt hắn. Giết bằng độc dược chăng ? Nhưng mà hắn sẽ thấy tôi trộn độc dược vào nước ; vả chăng độc dược của chúng ta có tác hại đến thể xác vô hình của hắn không ? Không… không… không chút nghi ngờ nào… Thế thì sao ?… thế thì sao ?…

Ngày 21 tháng 8. Tôi cho kêu một người thợ khóa đến từ Rouen, và tôi đặt ông ta làm trong phòng tôi những cửa chớp bằng sắt, như một số dinh thự ở Paris có ở tầng trệt, vì sợ kẻ trộm. Thêm nữa, ông ta cũng sẽ làm cho tôi một cái cửa lớn cũng bằng sắt. Tôi làm thiên hạ tưởng tôi là kẻ nhát gan, nhưng tôi bất cần !

……………………………………………………………………

Ngày 10 tháng 9.  Tôi đến Rouen, ở khách sạn Continental. Xong rồi… xong rồi… Nhưng hắn có chết không ? Tâm hồn tôi điên đảo vì điều tôi đã thấy.

         Thế là hôm qua, sau khi nguời thợ khóa đã gắn cái cửa chớp và cửa lớn bằng sắt, tôi để tất cả các cửa mở cho đến nửa đêm, mặc dù trời bắt đầu lạnh.

Thình lình, tôi cảm thấy hắn ở đấy, và một niềm vui, một niềm vui điên rồ xâm chiếm tôi. Tôi chậm rãi đứng dậy, và tôi bước đi, về bên phải, về bên trái, đi lâu để hắn không đoán được điều gì ; rồi tôi cởi đôi giày cổ cao và mang vào đôi dép một cách hờ hững ; rồi tôi đóng cái cửa chớp bằng sắt, và khi thong thả trở lại cái cửa lớn, tôi cũng đóng cửa lại, khóa hai vòng. Thế rồi tôi quay lại cửa sổ, tôi đóng nó với một cái ổ khóa, rồi tôi cho chìa khóa vào túi.

Thình lình, tôi hiểu là hắn cựa quậy xung quanh tôi, tôi hiểu là đến lượt hắn, hắn sợ, và hắn ra lệnh cho tôi phải mở cửa. Tôi suýt chiều theo ý hắn, nhưng tôi không chiều, tôi đứng dựa vào cái cửa, để nó hở, đủ rộng để tôi đi lùi qua cửa ; và vì tôi rất cao, cái đầu tôi chạm phải phía trên của cánh cửa. Tôi chắc chắn là hắn không thoát khỏi được, và tôi giam hắn, một mình, một mình. Vui quá ! Tôi nắm được hắn đây ! Thế rồi tôi chạy xuống nhà, tôi lấy trong phòng khách, ngay dưới phòng ngủ của tôi, hai cây đèn và tôi đổ cả dầu ra tấm thảm, trên bàn ghế, khắp nơi ; rồi tôi nhóm lửa, và tôi chạy thoát, sau khi đã đóng chặt cái cửa lớn ra vào, bằng hai vòng khóa.

Tôi đến núp ở cuối vườn, trong lùm cây nguyệt quế. Tôi chờ lâu biết bao ! lâu biết bao ! Tất cả đều tối om, câm nín, bất động ; không một hơi gió, không một vì sao, những núi mây không thấy được, nhưng chúng đè nặng trên tâm hồn tôi, quá nặng, quá nặng.

Tôi nhìn ngôi nhà tôi và tôi chờ đợi. Lâu làm sao ! Khi tôi tưởng ngọn lửa tự nó đã tắt, hay hắn đã tắt lửa, Hắn ấy mà, thì một trong những cánh cửa sổ ở tầng dưới bật ra dưới sức mạnh của lửa, và một ngọn lửa, một ngọn lửa lớn, đỏ và vàng, dài, ẻo lả, mơn trớn, leo dọc bức tường trắng và hôn nó đến mái nhà. Một ánh sáng lờ mờ chạy trong cây cối, trong các cành cây, lá cây, và một cơn run, một cơn run sợ cũng chạy qua. Chim chóc thức dậy, một con chó bắt đầu tru ; hình như trời rạng sáng ! Hai cửa sổ khác nổ ngay lúc ấy, và tôi thấy phần dưới ngôi nhà của tôi chỉ còn là một lò lửa cháy rực ghê sợ. Nhưng có một tiếng la, một tiếng la khủng khiếp, rất chói tai, xé ruột, một tiếng la của phụ nữ trong đêm, và hai cái buồng sát dưới mái nhà mở toang ra. Tôi quên mất những người tôi tớ ! Tôi thấy gương mặt hoảng sợ của họ và những cánh tay họ quơ lia lịa.

Thế là tôi cuống cuồng vì khiếp sợ, tôi chạy về phía làng vừa hét lên « Cứu tôi với ! Cứu tôi với ! Có lửa cháy ! Có lửa cháy ! » Tôi gặp những người đã thoát ra từ nơi có lửa cháy, và tôi trở lại với họ, để xem !

Ngôi nhà bây giờ chỉ còn là một giàn thiêu kinh khủng và tuyệt đẹp, một giàn thiêu quái dị, chiếu sáng cả trái đất, một giàn thiêu trên đó nhiều người bị đốt cháy, và trên đó hắn cũng bị đốt cháy, Hắn, Hắn, người tù của tôi, Sinh vật mới, người chủ mới, tên Horla đấy !

Bỗng nhiên cả mái nhà sập xuống giữa các bức tường, và một núi lửa phun lên thấu trời. Qua tất cả các cửa sổ mở ra trên lò lửa, tôi thấy cái thùng rực lửa, và tôi nghĩ rằng hắn ở trong đó, trong cái lò lửa, hắn đã chết…

« Chết à ? Có lẽ thế ?… Còn thân xác hắn ? Cái thân xác mà ánh sáng xuyên qua, có phải là nó không thể bị hủy diệt bởi những phương tiện có thể giết thân xác chúng ta không ?

« Nếu hắn không chết ?… Có lẽ chỉ có thời gian mới tác động đến cái Sinh vật Vô hình và Đáng sợ đó. Tại sao có cái thân xác trong suốt đó, cái thân xác không thể được nhận ra, cái thân xác của Tinh thần, nếu nó cũng phải sợ những bệnh tật, những chấn thương, những tật nguyền, và sự hủy diệt xảy ra sớm ?

« Sự hủy diệt xảy ra sớm ? Tất cả sự sợ hãi của con người đều do đó ! Sau con người là tên Horla. Con người có thể chết hằng ngày, hằng giờ, hằng phút, do tất cả những tai nạn ; sau con người, đó là một con người chỉ chết vào ngày của hắn, giờ của hắn, phút của hắn, bởi vì hắn đã đi đến tận cùng đời sống của hắn !

« Không…, không…, không chút nghi ngờ gì, không chút nghi ngờ gì… hắn không chết… Thế thì… thế thì… tôi, tôi phải tự tử vậy !…. »

                                                             Guy de Maupassant

                        Nguyên tác : Le Horla (1887), Gallimard, 1986.

                                                      Bản dịch của Liễu Trương

Chú thích :

(1) Alexandre Dumas con (1824-1895), nhà văn Pháp nổi tiếng với tác phẩm La Dame aux camélias. Sở dĩ ông mang tên Alexandre Dumas con là vì khi sinh ra ông bị xem là đứa con hoang, đến khi lên bảy tuổi ông mới được người cha nhìn nhận và cho đứa con tên của mình.

(2) Franz Mesmer (1734-1815) y sĩ người Đức nổi tiếng. Người lập ra thuyết thôi miên.

(3) Tên Đức do tác giả tưởng tượng.

(4) Tên Horla do tác giả đặt ra. Có thể hiểu : Hor là “hors de” có nghĩa là ở ngoài; la là “là“ có nghĩa ở đấy. Kẻ vừa có mặt vừa vắng mặt, vừa ở trong vừa ở ngoài, là kẻ song trùng của nhân vật.

VIẾT TỰ TRUYỆN

  Khi nghĩ về thời gian, nhà thơ Nicolas Boileau của thời văn học cổ điển Pháp thốt lên :

                   Hãy vội vàng lên : thời gian trốn khuất và kéo chúng ta theo,

                   Khoảnh khắc tôi đang nói đã xa tôi rồi.

                   (Hâtons-nous : le temps fuit et nous traîne avec soi,

                   Le moment où je parle est déjà loin de moi.)                   

Quả thật thời gian là một vấn đề làm cho con người trăn trở, khắc khoải. Thời gian trôi nhanh và không bao giờ trở lại. Cho nên nhiều nhà thơ, nhà văn muốn vội vàng níu kéo thời gian, muốn ghi chép những sự kiện của những thời đã qua, những trải nghiệm, những cảm xúc riêng tư ngõ hầu để lại cho đời một dấu vết. Do đó trong văn học dần dà có một thể loại mới : thể loại tự truyện. Tự truyện là truyện kể bằng văn xuôi về cuộc đời đã qua của một tác giả và do chính tác giả viết.

I Tự truyện trong văn học Việt Nam

Trong văn học Việt Nam thời tiền chiến đã có những tác phẩm tự truyện có giá trị như Những ngày thơ ấu (1938) của Nguyên Hồng, Quê Mẹ (1941) của Thanh Tịnh, Chân trời cũ (1942) của Hồ Dzếnh.

Qua các truyện ngắn trong Quê Mẹ, Thanh Tịnh đưa độc giả về làng Mỹ Lý. Mỹ Lý là cái tên do tác giả đặt ra chăng ? Dù sao làng Mỹ Lý cũng là làng quê của tác giả mà mỗi nhân vật được tác giả nâng niu qua ngòi bút. Thanh Tịnh kể lại thời thơ ấu, khi cùng mẹ đến trường lần đầu tiên, vào ngày khai giảng, không khí nhà trường làm cậu bé xúc động, lo âu (Tôi đi học), cậu bé Thanh lớn dần và khám phá những tập tục của dân làng (Ra làng), sự tàn tạ của Nho học (Chú tôi) và tình yêu của người lớn (Tình thư).

Chân trời cũ của Hồ Dzếnh thì đưa độc giả vào một thế giới khác : một gia đình có hai dòng máu, hai văn hóa. Tác phẩm bắt đầu bằng sự gặp gỡ của một cô lái đò với một người Trung Hoa đi buôn ; thế là cây gia phả của Hồ Dzếnh đã được vẽ lên, một gia đình được xây dựng để rồi tất cả mọi người đều mang tâm trạng đau khổ : người mẹ, người con trai cả, người chị dâu, người con trai thứ, người em gái tên Dìn.

Theo lời kể của một nhà thơ miền Bắc, ông Mai Ngọc Thanh (1), thì khi ông còn học tiểu học ở Thanh Hóa, một hôm Hồ Dzếnh cùng đi với Xuân Diệu đến thăm lớp học để giới thiệu với các học sinh cuốn Chân trời cũ của ông. Hồ Dzếnh nói với các học sinh : Thân sinh tôi là người Trung Hoa, vậy tôi là người Trung Hoa. Nhưng tôi chưa hề biết quê nội tôi. Mẫu thân tôi là người Việt Nam, làm nghề chèo đò ngang bên bờ sông Ghép của Thanh Hóa. Tôi chỉ biết và thân quen cùng quê ngoại. Vậy tôi cũng là người Việt Nam… Mỗi người đều có thời thơ ấu. Cuốn sách này tôi viết về thời thơ ấu của chính tôi, thời thơ ấy trong tình thương của mẫu thân tôi nhưng nghèo và buồn lắm.

 Những ngày thơ ấu là tự truyện của Nguyên Hồng, viết khi ông chưa đầy 20 tuổi, đăng trên báo Ngày Nay của Tự Lực Văn đoàn, năm 1938. Đứa trẻ thơ tên Hồng trong truyện khám phá thế giới phức tạp và cay nghiệt của người lớn. Cha mẹ không lấy nhau vì tình mà do sự sắp đặt của gia đình đôi bên. Giữa cha mẹ là sự im lặng, sự hững hờ. Người mẹ trẻ hơn bố nhiều và có nhan sắc, luôn dịu dàng, phục tùng chồng và bà mẹ chồng. Nhưng tâm hồn người mẹ khao khát yêu đương, bà phải lòng một người cai thổi kèn, đứa em gái của cậu bé Hồng sinh ra không phải là đứa em cùng cha. Mặc cho những lời dèm pha, miệt thị của người cô, cậu bé Hồng vẫn yêu mẹ thắm thiết và buồn khổ khi mẹ phải tha phương cầu thực. Khi người mẹ ở xa về thăm hai con, cậu bé kể : Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mơn man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường. (Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, Những ngày thơ ấu, Nxb Văn hóa Thông tin, tr. 268) Người cha thì đâm ra nghiện thuốc phiện, khiến gia đình sa sút, cuối cùng ông chết. Tuổi trẻ của Nguyên Hồng thiếu tình thương cha mẹ, phải nương tựa vào bà nội, sống lăn lóc giữa những đứa trẻ bất hạnh. Thầy giáo ở trường thì quá khắc nghiệt, tàn nhẫn, chỉ vì thầy hiểu lầm một câu nói mà giáng cho cậu học trò Hồng một trận đòn chí tử và phạt quỳ trong lớp ngày nọ qua ngày kia. Dù cảnh đời đen tối, đầy uất ức, cậu bé Nguyên Hồng vẫn ấp ủ những giấc mơ êm đẹp của trẻ con.

Trong văn học miền Nam, có Võ Phiến cũng viết về tuổi thơ của mình, nhưng chỉ trong khuôn khổ của một truyện ngắn : truyện Về một xóm quê. Tác giả vẽ lên khung cảnh của một làng quê, nơi đó gia đình ông là một gia đình ly tán. Cậu bé (tức Võ Phiến, tên thật : Đoàn Thế Nhơn) sinh ra và lớn lên mà không biết mặt người cha đi làm nơi xa và không hề có thư từ về nhà. Cậu bé sống với ông bà và người mẹ, đến lúc được bảy tuổi thì người cha làm ăn khá trở về với gia đình. Nhưng chỉ hai năm sau, người cha lại ra đi, lần này đem theo người mẹ và đứa em mới sinh. Thế là cậu bé ở lại sống với người ông và người bà, rồi bà cũng ra đi, chỉ còn lại hai ông cháu. Tác giả miêu tả vẻ hiu quạnh của ngôi nhà vắng lặng và nỗi buồn cô đơn của hai ông cháu.

Tự truyện chỉ có thế : một tuổi thơ cô đơn, thiếu tình thương cha mẹ.

Sau này người ta được biết đứa em mà cha mẹ đem theo vào Nam tên Đoàn Thế Hối. Đoàn Thế Hối trở thành nhà văn với bút danh Lê Vĩnh Hoà, làm cách mạng và chết vì bom đạn năm 1967.

Nói chung, các nhà văn Việt Nam viết tự truyện đặc biệt về thời thơ ấu, về một tuổi thơ có khi đầy lưu luyến như ở Thanh Tịnh, nhưng phần nhiều là một tuổi thơ mang thương tích và đau buồn.

II Lịch sử và định nghĩa của tự truyện

Lối viết tự truyện có rất sớm ở Tây phương. Vào thời César (100 hay 101- 44 trước CN), Hoàng đế La Mã Marc-Aurèle (121-180), thánh Augustin (354-430), đã xuất hiện những văn bản tự truyện. Phải chờ đến nhà văn Pháp Montaigne ở thế kỷ 16, với tác phẩm Les Essais (Tiểu luận) của ông, mới có cái mẫu đầu tiên của tự truyện hiện đại. Montaigne viết : Chính tôi là chất liệu cuốn sách của tôi (Je suis moi-même la matière de mon livre). Montaigne mở đầu cho một truyền thống tự truyện được các nhà văn nổi tiếng đến sau tiếp nối.

Tự truyện là một thể loại rất gần với tiểu sử, với nhật ký riêng tư. Còn hồi ký là một thể loại hướng về đời sống công khai của tác giả, như cuốn Mémoires de guerre (1954-1959) (Hồi ký chiến tranh) của tướng De Gaulle.

Trong văn học Pháp, sau Montaigne, có thể nói cuốn Les Confessions (Tự thú) của Jean-Jacques Rousseau, viết từ năm 1765 đến 1770, được xem như một cái mẫu của tự truyện hiện đại, vì sự cách tân của nó : viết về mình bằng cách tiết lộ cái nội tâm và nguồn gốc của cá tính.

Đặc điểm của tự truyện là mọi người đều có một lịch sử, một tuổi thơ. Như thế tự truyện trở thành một văn bản của cá nhân, của huyền thoại về nguồn gốc. Một đặc điểm khác nữa là khả năng của tác giả tự quan sát nội tâm của mình và làm cho sự quan sát đó trở nên phong phú. Chỉ có tôi mới tự hiểu được tôi, và những điều tôi sắp khám phá trong tôi sẽ là những điều quan trọng đối với kẻ khác.

Tự truyện là một hình thức văn học, nhưng cũng là một hành động có tính xã hội. Người đọc tự truyện biết kẻ viết không phải là một nhân vật hư cấu mà là một con người hiện thực, do đó người đọc tò mò muốn biết những trải nghiệm riêng tư của tác giả để suy nghĩ, so sánh với những trải nghiệm của chính mình. Tự truyện là một tác phẩm nghệ thuật, tác giả phải làm thế nào để có một ngôn ngữ, một lối viết hấp dẫn ngõ hầu đưa người đọc đến với sự thật của mình.

Tự truyện của Rousseau không phải là cái mẫu duy nhất. Ngày nay bất cứ ai cũng có thể viết về mình và cho xuất bản. Do đó độc giả có thể biết được nhiều hoàn cảnh sống. Tại sao viết về đời mình ? Câu hỏi này cả nhà văn và người đọc đều tự đặt. Câu trả lời nằm trong văn bản. Nhà văn Pháp Georges Pérec viết : Dự án viết chuyện của tôi đã nảy sinh gần như cùng một lúc với dự án viết. Lời tuyên bố này quan trọng khi ta đọc một nhà văn đã viết tự truyện song song với truyện.

Trước sự xuất hiện của nhiều tự truyện ở thế kỷ 20, học giả Philippe Lejeune đưa ra định nghĩa như sau : Tự truyện là truyện kể bằng văn xuôi về quá khứ mà một người có thật viết về đời tư của mình, khi người đó nhấn mạnh về đời sống cá nhân, đặc biệt về lịch sử cá tính của mình (2). Định nghĩa này mở đầu cho một công trình nghiên cứu rất dài về tự truyện.

Bởi vì tự truyện là một truyện kể cho nên nhà phê bình Jean Starobinski cho rằng tự truyện ngầm có một tiến trình trong cách kể truyện, ông viết : … phải có một sự tiếp diễn trong thời gian đủ để đường nét một cuộc đời hiện lên. (Jean Starobinski, La Relation critique, Gallimard, 1970).

Theo Philippe Lejeune, phải có tính đồng nhất giữa tác giả, người kể truyện và nhân vật thì truyện kể mới là một tự truyện. Philippe Lejeune gọi đó là điều ước (pacte) của tự truyện. Mọi tác giả của tự truyện phải khẳng định sự đồng nhất đó.

III Những chức năng của tự truyện

Chức năng của tự truyện rất đa dạng mà các nhà chuyên môn chưa nắm hết. Tuy nhiên những chức năng thường có trong tự truyện là những chức năng sau đây.

1/  Chức năng lịch sử 

Cuốn Les Mémoires d’outre–tombe (Hồi ký từ bên kia thế giới) (1849-1850) của Chateaubriand trình bày, song song với cuộc đời của một cá nhân, những cuộc đổi thay của nền văn minh, những biến chuyển của lịch sử trải dài trên ba mươi năm gây nên cảm giác chóng mặt.

Mỗi đời người là một mảnh của lịch sử. Đọc tự truyện L’amant (Người tình) của Marguerite Duras cũng là khám phá Đông dương thời Pháp thuộc giữa hai thế chiến, và mối tương quan giữa hai cộng đồng người Pháp và người bản xứ. Như vậy tự truyện chiếu rọi vào một thời kỳ, một xã hội.

2/  Chức năng tự thú 

Trong trường hợp của Rousseau, ông viết cuốn Les confessions trong một cơn khủng hoảng tinh thần, để giải thích mối tương quan giữa tác phẩm và cuộc đời của ông. Rousseau muốn tự biện hộ cho mình về những hành động trong quá khứ, để nói lên sự thật mà kẻ thù của ông đã xuyên tạc, để xin lỗi người đọc… và xin lỗi Thượng đế.

3/  Nói sự thật

Sự thật mà người đọc tìm thấy trong tự truyện phải tùy thuộc mỹ học của văn bản, cho nên là một sự thật có tính văn học, không phải là một sự thật có tính khách quan. Tuy nhiên nói lên sự thật vẫn là phương tiện tốt nhất để mời người đọc nghe lời thú của tác giả.

Trong cuốn L’avenir dure longtemps (Tương lai lâu dài) nhà triết học mác xít Louis Althusser muốn kể lại chứng loạn thần kinh đã đưa ông đến việc giết vợ. Ông muốn người đọc trở nên chứng nhân về những tai hại của cơn bệnh thần kinh của ông và để người đọc có một ý nghĩ đúng về thảm kịch đó. Ông viết : Tôi không muốn đưa ra trước công chúng chỉ những yếu tố chủ quan của mình mà thôi. (tr. 24)

Tác giả tự truyện có ý muốn nói lên sự thật. Phải hiểu đây là sự thật của một con người, tức một sự thật chủ quan. Ngoài ra có nhiều cản trở cho sự thật, đó là sự thiếu trí nhớ, sự xâm nhập của vô thức, tính không thành thực, ý muốn tự kiểm duyệt và tô điểm bút pháp. Có khi vô thức làm cho trí nhớ khiếm khuyết. Ví dụ trong cuốn Les Confessions của Rousseau, tác giả chép lại bài hát mà khi nhỏ ông nghe bà dì Suzon hát. Bài hát ông chép không đầy đủ. Philippe Lejeune cho rằng sự thiếu sót đó là do vô thức xua đi những lời của bài hát nhắc nhở đến người mẹ đã chết. Còn về vấn đề tự kiểm duyệt thì một trong những lý do là tránh động chạm đến những người thân, vấn đề tiền bạc là một lý do khác, tác giả không bàn đến vì cảm thấy ngượng ngùng hay vì tính kín đáo.Vậy những khoảng trống, những khoảng im lặng trong tự truyện cần được các nhà chuyên môn giải thích.

4/  Trình bày cái tôi

Viết về đời mình là để tự hiểu mình thêm. Đây là chức năng được dùng nhiều nhất. Người duy nhất có thể nói thật về tôi là tôi. (P. Lejeune). Tự hiểu mình là một việc mà cả tác giả và người đọc đều muốn. Người đọc biến thành khán giả của cuộc điều tra về một cá thể, điều này giúp người đọc hiểu được chính mình qua sự trải nghiệm của một kẻ khác.

 Tự hiểu mình, nhưng cũng tự rèn luyện qua sự viết.

5/ Sống lại quá khứ và thắng thời gian

Mục đích của tự truyện là gạt bỏ sự trôi qua của thời gian, cho nên lắm khi tự truyện có tính luyến tiếc.Tác giả thường có cái nhìn lưu luyến về một thời đã qua và được kỷ niệm làm đẹp thêm. Tuy nhiên bên trong của tự truyện thường có cái ý muốn làm cho thời gian trở nên sinh động, vượt khỏi sự luyến tiếc. Cuốn La vie de Henry Brulard của nhà văn Stendhal là một tự truyện uyển chuyển, người kể truyện không ngừng gợi lên những khoảng thời gian đã tạo nên cái tôi để làm nổi bật cái ý tưởng rằng sự thật của cá thể gắn liền với sự thật của khoảnh khắc, của cái lúc mình trình bày sự việc : chính người kể truyện nắm trong tay cái sự thật nhất thời của cá thể, nếu không sự thật đó sẽ bất động, mơ hồ hay sai lầm.

Tác giả cũng có thể có cái nhìn phê phán về quá khứ, giải thích sự hình thành của cá tính hay năng khiếu của mình, chứ không mân mê một kỷ niệm tuổi thơ. Đó là trường hợp của Sartre trong tác phẩm Les Mots (Chữ nghĩa) (3).

Qua tự truyện tác giả muốn để lại cho hậu thế dấu vết của mình. Trong những trang đầu của cuốn Les Mémoires d’outre-tombe, Chateaubriand viết : Cuốn hồi ký này sẽ là một ngôi đền của cái chết được dựng lên nhờ ánh sáng kỷ niệm của tôi. Và ông kết luận : Tôi chỉ còn ngồi xuống bên huyệt ; sau đó, tay cầm cây Thánh giá tôi mạnh mẽ đi xuống cõi vĩnh hằng. Đối với nhà văn, viết ngôi đền của mình cho phép mình mãi mãi ở trong ký ức của loài người. 

Tự truyện là một truyện nhìn lại quá khứ, là đối chất với thời gian, một thời gian đã qua không vãn hồi được. Vậy viết tự truyện là một cách muốn thắng thời gian và cái chết ; thời gian đã mất nhưng tìm lại được nhờ sự xây dựng tác phẩm. Tự truyện không phải là sự thỏa mãn tính tự si (narcissisme), thể văn này có những chức năng như vừa nói trên, những chức năng đa dạng, xếp chồng lên nhau hoặc tréo nhau. Văn bản tự truyện trước tiên là văn bản thuộc văn học, trong đó hình thức là quan trọng nhất, viết về đời mình là chọn cho lối viết một hình thức có thể lôi cuốn người đọc.

Chú thích :

(1) Phê bình, Bình luận Văn học – Trương Vĩnh Ký, Hoàng Ngọc Phách, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Hồ Dzếnh Nxb Văn Nghệ, T.P. Hồ Chí Minh, 1998, tr. 328.

(2) « Récit rétrospectif en prose qu’une personne réelle fait de sa propre existence lorsqu‘elle met l’accent sur sa vie individuelle, en particulier sur l’histoire de sa personnalité. » Philippe Lejeune, Le Pacte autobiographique, Nxb Le Seuil, 1975, tr. 14

(3) Xem « Tiếp cận Văn học Pháp » của Liễu Trương, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2007.

« CHỐN VẮNG » CỦA DƯƠNG THU HƯƠNG

Đối với một nhà văn Pháp, có tác phẩm được đưa vào bộ sách Bouquins là một vinh dự. Đối với một nhà văn từ một nước xa xôi đến, được góp mặt vào bộ sách này, vinh dự càng lớn hơn. Đó là trường hợp của nhà văn Dương Thu Hương. Năm 2008, bốn tác phẩm của bà vốn đã được dịch sang Pháp ngữ, nay được đưa vào bộ sách Bouquins : Bên kia bờ ảo vọng / Những thiên đường mù / Tiểu thuyết vô đề / Chốn vắng. Tên tuổi của Dương Thu Hương đã vang dội trong nước, nay càng lẫy lừng hơn.

Tiểu sử của Dương Thu Hương là một cuộc hành trình khá sôi nổi. Bà sinh năm 1947, tại Thái Bình, lớn lên dưới chế độ Cộng sản miền Bắc. Năm 20 tuổi, đang thời chiến tranh, bà gia nhập một đoàn văn công vào Nam, đi trình diễn văn nghệ ở chiến trường Bình Trị Thiên. Năm 1975, khi miền Nam sụp đổ, lẽ ra Dương Thu Hương phải vui mừng hoan hỉ, vì bà thuộc bên thắng cuộc. Nhưng không, Dương Thu Hương thất vọng, khám phá mình bị nhiều mất mát. Trở về Hà Nội, bà theo học trường viết văn Nguyễn Du, hoạt động trong ngành điện ảnh, và bắt đầu viết truyện. Vào thời kỳ đổi mới, trong những năm 1980, Dương Thu Hương viết khỏe, truyện của bà bắt đầu lôi cuốn người đọc, như Chuyện tình kể trước lúc rạng đông (1983).

Dương Thu Hương tính tình ngang nhiên, có tiếng ăn nói táo tợn, bốp chát, chống đối thẳng thừng. Bà vốn là một đảng viên Đảng Cộng sản, tuy nhiên bà quay lại chỉ trích nặng nề chính quyền Cộng sản, và kêu gọi người dân lật đổ Đảng Cộng sản. Hai truyện dài : Bên kia bờ ảo vọngNhững thiên đường mù, nói lên lập trường chống đối của Dương Thu Hương. Và hình phạt đã đến nhanh : Dương Thu Hương bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản, năm 1989, khai trừ khỏi Hội Nhà văn Việt Nam, năm 1990, và đi tù trong 8 tháng, năm 1991.

Phải nói Dương Thu Hương có duyên với nước Pháp. Năm 1994, bà sang Pháp, được Jacques Toubon, bộ trưởng Bộ Văn hóa Pháp, tặng Huân chương Văn hóa Nghệ thuật (Chevalier des Arts et des Lettres). Năm 2006, Dương Thu Hương được mời sang Paris, rồi sang New York dự Hội nghị Văn bút Quốc tế. Sau đó bà xin cư trú tại Pháp. Ở hải ngoại bà vẫn tiếp tục viết. Tính đến năm 2020, Dương Thu Hương là tác giả của khoảng 10 tiểu thuyết, và khoảng 10 tập truyện ngắn.

Chốn Vắng, một trong bốn tác phẩm được đưa vào bộ sách Bouquins, được tác giả viết xong năm 1998, in tại Paris năm 2009, sau khi đã được dịch sang Pháp ngữ, không có tên nhà xuất bản. Chốn Vắng là một tiểu thuyết dài 656 trang, gồm 29 chương. Để hiểu rõ Dương Thu Hương muốn nói gì qua truyện Chốn Vắng, và để theo dõi nghệ thuật tự sự của tác giả, trước tiên chúng ta cần đi vào truyện.

I  Truyện Chốn Vắng

Truyện xảy ra vào thời hậu chiến. Mới vào truyện, người đọc gặp ngay một hoàn cảnh éo le, gay cấn, phải đi theo tác giả đến cùng để xem sự việc được giải quyết ra sao.

Ở Xóm Núi, Miên là một phụ nữ đẹp, nết na thùy mị, sống hạnh phúc với chồng con. Cơ ngơi của hai vợ chồng rất đồ sộ : một ngôi nhà cất trên một đỉnh đồi, xung quanh là vườn cây trái, xa hơn là những nương tiêu, nương cà phê. Hoan, chồng Miên, làm ăn phát đạt, có một đoàn thuyền chở hàng hóa vào bán ở Đà Nẵng, Sài Gòn.

Một hôm, Hoan đi vắng với đoàn thuyền, Miên vào rừng tìm mật ong với những người phụ nữ khác. Khi trở về, Miên ngạc nhiên thấy đông người tụ họp trước nhà và trong nhà mình, có cả ông xã trưởng. Một người đàn ông gọi tên Miên, tự xưng là Bôn, chồng của Miên. Miên sững sờ không nhận ra người đàn ông của 14 năm trước, đã từng làm chồng của Miên trong một mùa hè ngắn ngủi. Rồi Bôn nhập ngũ 5 năm, rồi có giấy báo tử gửi về. Hai năm sau, Miên chính thức làm vợ của Hoan. Người từ mặt trận trở về có quyền hưởng đặc ân của cộng đồng, có quyền đòi cái phần hạnh phúc của mình. Trong thời gian chiến đấu, Bôn nhớ thương vợ, và giờ đây cảm thấy yêu vợ say đắm. Ông xã trưởng, trước khi ra về, nghiêm nghị nói với Miên những lời đầy ẩn ý : Chính quyền cũng như đảng ủy xã không can thiệp vào chuyện riêng tư của bất cứ công dân nào. Chị và anh Hoan đều là những người lương thiện, chấp hành đúng mọi pháp luật của nhà nước. Nay do tình cảnh éo le chị phải đứng trước sự lựa chọn. Chỉ có chị mới có quyền quyết định cuối cùng. Như chị đã thấy, anh Bôn là người trực tiếp góp xương máu cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng đất nước. Chúng ta có được cuộc sống thanh bình thịnh vượng, đất nước được độc lập tự chủ là nhờ sự đóng góp của những chiến sĩ như anh Bôn (tr. 24). Khi mọi người ra về, chỉ còn lại Bôn và Miên, cảm thấy trong ánh mắt của Bôn nỗi say đắm, ham muốn, Miên đâm hoảng sợ và tỏ ra lạnh lùng. Còn Bôn nhớ rõ kỷ niệm đêm tân hôn, nhưng sợ hãi trước sự lạnh lùng của Miên và hoang mang nghĩ đến người chồng thứ hai của Miên. Miên để Bôn ăn tối và ngủ tạm trong nhà như một người khách. Bất ngờ bị dồn vào thế bí, và trước câu hỏi khẩn cấp của Bôn, Miên buộc phải có một quyết định ; Miên bình thản cho Bôn biết trước kia Miên là vợ của Bôn, nay Miên là vợ của Hoan, cả hai lần đều kết hôn chính thức. Bôn biết Miên có quyền lựa chọn, mặc dù làng xã, truyền thống, đạo đức bênh vực anh. Bôn thổ lộ : … tôi yêu Miên. Suốt ngần ấy năm trời tôi chẳng quên em một ngày… và tôi không hề biết chuyện báo tử (tr. 61). Miên thẫn thờ, nói sẽ làm tròn bổn phận với một người có công với đất nước. Miên cho Bôn biết sẽ sắp đặt chuyện nhà cửa xong xuôi, trong hai tuần nữa sẽ đến sống với Bôn. Miên biết rồi đây phải từ giã dinh cơ, cái nơi hạnh phúc với chồng con, để trở về căn nhà tồi tàn, mục nát của Bôn. Miên vẫn yêu Hoan, thương đứa con 5 tuổi, và không nhớ gì nhiều về Bôn. Miên bị dằn co đau đớn.

Vì gia cảnh của Bôn quá nghèo, đảng ủy cho một số trai làng đến giúp sửa lại gian nhà của Bôn, trước khi đón Miên về.

Phần Hoan, khi trở về nhà hay tin chồng cũ của Miên đã trở về, anh bàng hoàng, ngẩn ngơ. Hai vợ chồng ôm nhau khóc khi nghĩ đến chia ly. Hoan nói : Anh chẳng biết anh sẽ sống thế nào khi không có em. Hoan đau khổ, gào thét trước sự phi lý. Miên chấp nhận số phận, Hoan thì không.

Ngày Miên ra đi, Hoan nhìn theo, thấy Miên thẫn thờ đi theo Bôn như một tên tử tù. Miên để lại tất cả áo quần đẹp, đồ đạc sang trọng mà Hoan đã mua tặng Miên, chỉ đem theo vài bộ đồ cũ mốc. Hoan nhét tiền theo cho Miên. Đứa con của Miên được gửi cho một bà dì nuôi. Miên khuyên Hoan nên lấy vợ. Hoan nói cả dinh cơ là sở hữu của Miên, Hoan sẽ thuê một quản gia trông nom, rồi về thành phố buôn bán với người chị.

Miên cho phơi khô thứ cỏ thạch trinh hương để nấu nước tắm tẩy trần, khi về ở với Bôn. Căn nhà của Bôn đã được sửa sang lại, Bôn chưng hoa cho đẹp mắt. Nhưng trong nhà chỉ có 5 ký gạo nhiều sạn, không nồi niêu, bát đĩa, dầu đèn. Miên khám phá tiền Hoan cho là một số tiền lớn. Ngày đầu tiên chung sống với Bôn, Miên tỏ ra dửng dưng, sống như một người khách lạ ; biết mình không yêu Bôn, cuộc trở về này là phận sự phải chấp nhận thôi. Còn Bôn thì  Trong ánh mắt yêu đương và quỵ lụy của anh có một nỗi thiết tha rồ dại khiến chị mủi lòng (tr. 160). Bôn yêu Miên và tin tưởng sẽ có nhiều con với Miên. Nhưng khi làm tình với Miên, Bôn mới biết mình bất lực. Còn Miên sau mỗi lần chịu đựng sự chung chạ, thì vội đi tắm với thứ nước tẩy trần. Miên vẫn làm bổn phận của mình : bỏ tiền nuôi Bôn, nuôi cả người chị dâm ô của Bôn ở bên cạnh. Bôn thường nhìn Miên, nhưng đôi mắt đẹp của Miên nhìn vào khoảng trời xa xôi là một cõi xa lạ đối với Bôn. Bôn lấy làm khốn khổ, vì giải ngũ trở về với hai bàn tay trắng, phải ngả tay xin tiền vợ. Bôn cảm thấy nhục nhã vì không thể chinh phục lại được người vợ xinh đẹp mà mục đích chính của Bôn là có nhiểu con với người đó. Bôn tìm đến ông cụ Phiều, một ông lão cường tráng, sành sõi về tình dục, để ông bày cho Bôn những bí quyết chửa bệnh bất lực. Nhưng bí quyết của ông lão chưa thấy có hiệu quả. Những lúc Bôn làm tình với Miên, thì Miên bất động như khúc gỗ, gương mặt xa vắng, hướng về cõi riêng. Miên ghê tỡm những nụ hôn đắm đuối, hôi hám của Bôn, đến nỗi Miên phải đẩy Bôn ra để chạy ra ngoài nôn mửa.

Bôn cũng nhớ lại quảng đời đã sống qua trong chiến tranh. Có một người mà Bôn yêu mến, đặt hết lòng tin, đó là người tiểu đội trưởng của Bôn, 23 tuổi, người Hà Nội, đã dìu dắt chỉ dẫn Bôn. Cái chết của anh ta xảy ra sau trận đánh ở ngọn đồi 327. Tiểu đoàn của Bôn chết rất nhiều. Bôn đào mộ trong rừng, chôn người tiểu đội trưởng và giữ lại cuốn nhật ký để sau này về Hà Nội trao lại cho người cô. Sau đó Bôn đi tiếp ba tiếng đồng hồ, chịu đói khát, ngủ đêm trong rừng. Nhưng không chịu nỗi cô đơn, Bôn trở lại ngôi mộ, đào mộ lên, mang theo cái xác. Tử thi đã bốc mùi, một bầy kền kền theo sát. Bôn đi rất lâu trong rừng, dừng lại để ngủ và rơi vào một giấc chiêm bao đầy bóng ma. Rồi Bôn đuối sức, bất tỉnh. Cuối cùng Bôn được lính của một đại đội khác phát hiện, họ chôn cất xác người tiểu đội trưởng và đưa Bôn vào y viện quân đoàn.

Ký ức của Bôn đưa Bôn về một kỷ niệm khác. Sau một trận dội bom, đơn vị của Bôn tan rã, Bôn là người sống sót, mò mẫm tìm đường, đi bộ nhiều ngày và lạc vào một làng Lào : Bản Kheo, được một cô gái Lào câm điếc cứu và cho ăn uống, nghỉ ngơi, cô gái tên Thoọng. Bôn được Thoọng yêu thương, được gia đình cô quý mến. Anh cảm thấy cuộc sống dễ chịu, nhận lời kết hôn với Thoọng, và tham gia vào đời sống của người dân quê Lào. Nhưng Bôn bắt đầu cảm thấy buồn nhớ quê hương Xóm Núi, nhớ Miên. Nỗi nhớ ngày càng quay quắt, một hôm Bôn kiếm cách trốn thoát và trở về.

Rời kỷ niệm, Bôn trở lại hiện tại, những nổ lực của Bôn để có con với Miên ngày càng thất bại. Xá, người bạn thân của Bôn, khuyên Bôn đi nông trường kiếm kế sinh nhai, và ở đấy có rất nhiều cô gái lỡ thì để Bôn chọn vợ. Nhưng Bôn không muốn rời Xóm Núi, lại nữa Bôn nay sức đã yếu không mong làm được những công việc nhọc nhằn. Vì Bôn muốn có con, Xá lại mách Bôn một bài thuốc kích dục, bằng cách uống cà phê  đặc với chút muối trước khi gần đàn bà. Bôn vội vàng thực hành lời khuyên của Xá. Sau vụ Bôn vồ vập, Miên cảm thấy mình có thai, Miên không muốn đứa bé chịu ơn Hoan, và có ý định phá thai, nhưng lòng người mẹ không nỡ nào. Về phần Bôn khi biết Miên có thai thì tỏ ra hết lòng chiều chuộng Miên. Nhưng xảy ra một chuyện xô xát do mấy đứa con của người chị của Bôn gây nên. Miên nổi giận, đâm bụng vào một cánh cửa để làm trụy thai, Bôn khóc lóc van nài Miên để cho đứa con được sống. Một thời gian sau, Miên vào bệnh viện thành phố sinh một quái thai không đầu. Bôn rụng rời không còn hy vọng gì nữa.

Về phần Hoan, anh có những dự định lớn lao. Anh lo giảm bớt công việc king doanh ở thành phố, trở về Xóm Núi, bỏ tiền xây cất một trường học cho trẻ con, và xây cất một nông trại ở Suối Nhỏ hy vọng sẽ đưa Miên về đấy. Hoan xem cơ ngơi của hai người như một sở hữu của Miên. Hoan thân hành đến nhà Bôn khi Miên còn ở đấy, và với một thái độ tử tế, ôn hòa, Hoan khẳng định Hoan và Miên là vợ chồng chính thức, và mời Bôn đến ở nhà của Miên, Hoan hứa sẽ giúp đỡ Bôn. Miên trở về cơ ngơi tĩnh dưỡng và ở hẳn đấy, dần dà Bôn cũng đến cơ ngơi. Nhưng giữa Miên và Bôn có sự ngăn cách rõ ràng. Miên chỉ xem Bôn như một người anh ; đời sống vật chất của Bôn được đầy đủ, có người quản gia chăm sóc Bôn. Ban ngày Hoan đến đón Miên và đứa con, chiều tối lại đưa hai mẹ con trở về nhà Miên. Chẳng bao lâu Miên có thai, trong thời kỳ này xảy ra một biến cố. Bôn vì nghĩ rằng Hoan đã phá hoại đời mình, nên tìm cách giết Hoan. Nhân mùa săn, đặc biệt có sự hiện diện của Hoan, Bôn mượn cây súng của Xá, vợ Xá linh cảm điều chẳng lành, bèn báo cho Miên. Miên chạy băng qua nông trại để báo cho Hoan biết. Chẳng may phát súng đã nổ, viên đạn trúng tay Miên, Miên bị thương ở mấy ngón tay. Miên tuyên bố với mọi người rằng lỗi tại mình, vì quá táy máy với cây súng. Nhưng Hoan biết Miên nói dối để che chở Bôn vì lòng cao thượng, và Hoan càng thầm phục Miên, càng yêu thương Miên. Miên hạ sinh một đứa con trai, Hoan vui mừng thương quý đứa con, Hoan nghĩ nó chào đời để về sau che chở bố nó.

Về phần Bôn ngày càng thẫn thờ, anh không còn ai trên đời để yêu thương, trò chuyện. Bôn ra nghĩa địa ngồi dưới mưa, trò chuyện với những bóng ma, với người tiểu đội trưởng. Không gian mở rộng quanh Bôn, không một bóng người.

II Những con người của thời hậu chiến

1/  Người chiến sĩ từ dãy núi Trường Sơn trở về

 Từ đầu đến cuối truyện, nhân vật Bôn không để người đọc dửng dưng. Những biến cố xảy ra trong cuộc đời của Bôn cho thấy anh luôn luôn là con người của thất bại, nạn nhân của bao tai họa, một con người bị thiệt thòi, mất mát những cái làm cho đời sống con người được hạnh phúc. Trước hết là tuổi trẻ của Bôn, từ một thanh niên mạnh khỏe, cường tráng, học giỏi, có ý định vào đại học, anh nhập ngũ, đi chiến đấu trong nhiều năm, lúc trở về là một thân tàn ma dại. Bôn sợ hãi cái dãy núi Trường Sơn, nó là cái nơi kinh hoàng đã tước đoạt tuổi trẻ và sinh lực của anh. Khi trở về Bôn cũng mất người vợ trẻ mà anh vô cùng thương nhớ khi xa cách. Nay vợ anh đã thuộc về người khác. Nhưng vì là một người phụ nữ có đức hạnh, biết lẽ phải, nên người đó chấp nhận trở về sống với anh, điều này không tạo hạnh phúc cho anh mà khiến anh chịu nhiều nỗi đắng cay khác : Bôn khám phá mình bất lực, không có khả năng tạo nên những đứa con mà anh mơ ước. Anh phải chịu thái độ lạnh lùng, sự ghê tỡm của vợ, chịu nhiều nhục nhã. Anh lại không có đủ sức để làm việc tự nuôi sống và nuôi vợ. Anh hoàn toàn sống tùy thuộc vào một người vợ không yêu anh. Rồi người vợ, sau những cố gắng của anh, đã miễn cưỡng mang thai và sinh ra một quái vật không đầu, Bôn đã đến tận cùng nỗi đau xót, đắng cay. Bôn mất tất cả, còn chăng là cái danh hiệu chiến sĩ cứu quốc, mà đại diện của chính quyền – ông xã trưởng – đã long trọng tuyên bố trước mọi người : … anh Bôn là người trực tiếp góp xương máu, cho cuộc chiến tranh chống Mỹ, giải phóng đất nước. Chúng ta có được cuộc sống thanh bình thịnh vượng, đất nước được độc lập tự chủ là nhờ sự đóng góp của những chiến sĩ như anh Bôn. Những lời đẹp đẽ đó đem lại được gì cho Bôn, hay đó chỉ là những lời hão huyền, những lời rỗng ?

Trở lại sự mất mát về tình yêu, Dương Thu Hương có cái nhìn bi quan về tình yêu : chỉ có tình yêu bị ngăn cản, hạnh phúc ngắn hạn, như trong truyện  Chuyện tình kể trước lúc rạng đông : Vũ Sinh yêu say đắm Hạnh Hoa, nhưng bị người vợ mà anh không hề yêu, lấy nhau vì áp lực của dư luận, người vợ đó gây cản trở trong nhiều năm vì ghen. Khi mọi khó khăn chấm dứt, Vũ Sinh và Hạnh Hoa được chính thức kết hôn với nhau, thì Hạnh Hoa không còn sống được bao lâu nữa. Tóm lại, Vũ Sinh và Hạnh Hoa yêu nhau trong 25 năm mà chỉ sống được với nhau 6 tháng 7 ngày.

Tình yêu và hạnh phúc của Bôn cũng ngắn hạn, Bôn và Miên yêu nhau như vợ chồng trong một mùa hè ngắn ngủi, rồi xa nhau trong mười bốn năm. Khi Bôn trở về thì tình yêu của Bôn bị hoàn cảnh cản trở. Cái giấy báo tử đã chấm dứt cuộc đời vợ chồng của Miên và Bôn. Miên vì lòng cao thượng, vì trọng bổn phận, đã chấp nhận đến sống với Bôn, nhưng Bôn thấy rõ trong những lúc làm tình, Miên lạnh lùng và tỏ ra ghê tỡm, rồi sau đó vội đi tắm với thứ nước tẩy trần. Bôn cảm thấy nhục nhã nhưng vẫn quỵ luỵ, van nài Miên sinh cho đứa con. Cái thai nhi không đầu nói lên cái tai họa Bôn đem từ chiến trường về : phải chăng anh đã bị nhiễm chất độc do Mỹ thả xuống dãy núi Trường Sơn ? Cái giấy báo tử và cái quái thai không đầu đều là những tai họa của chiến tranh. Chiến tranh đã làm tan nát cuộc đời của Bôn. Chiến tranh cũng đã cướp đi các bạn đồng đội của Bôn, nhất là người tiểu đội trưởng mà Bôn thương quý.

Khi cuộc sống vật chất của Bôn được Miên thu xếp ổn thỏa, cuộc sống đầy đủ này cũng chẳng đem lại được gì cho Bôn. Nỗi đau lớn nhất của Bôn, luôn ám ảnh anh, là nỗi cô đơn tuyệt vọng. Bôn không còn có ai bên cạnh để chuyện trò, thương yêu. Anh côi cút. Anh đơn chiếc tột cùng. Bôn là kẻ sống sót, nhưng như là một người đã chết, chỉ còn biết chuyện trò với người chết.

2/ Cõi riêng của người phụ nữ

Miên, người phụ nữ trong truyện, cũng chịu hậu quả của chiến tranh. Cái giấy báo tử đã biến Bôn thành một bóng ma ngự trên bàn thờ để Miên cúng giỗ hàng năm. Không ngờ bóng ma hiện về bằng xương bằng thịt làm chao đảo cuộc đời của Miên, đặt Miên trước một sự chọn lựa quá nghiêm trọng, quá lớn lao. Lý do nào đã khiến Miên quyết định rời xa hạnh phúc với Hoan để trở về với Bôn ? Phải chăng do áp lực của chính quyền ? Do áp lực của dư luận, của xã hội ? Do áp lực của đạo đức truyền thống ? Miên hoang mang không thấy rõ điều gì. Hình ảnh sương mù nói lên sự mù mờ đó. Những lúc hoang mang, lạc lõng, Miên thường cảm thấy có sương mù. Sương mù ngày Miên từ biệt Hoan để ra đi : Sớm ấy sương mù… tại sao lại có một buổi sớm sương mù như thế sau những ngày hạnh phúc (tr. 452) ? Sương mù khi Miên trở về cơ ngơi của mình và băn khoăn nghĩ đến Bôn : Những nỗi hoang mang vô ngôn và mù mờ vẫn theo sát chị, nó như một thứ sương mù, một đám hơi ngưng đọng trong khe núi, không thể nắm bắt, không thể xua đuổi (tr. 552). Sương mù là những lúc Miên cảm thấy bất an, tự đi tìm mình. Tâm hồn Miên trong trắng, cỏ thạch trinh hương là biểu tượng của sự trong trắng đó. Nhưng chưa đủ, người phụ nữ cần có một nơi ẩn náu, một đời sống nội tâm, một cõi riêng như tác giả đã lặp lại nhiều lần. Một cõi riêng trong tâm hồn, nơi mà Bôn không tài nào đến được, và là nơi tạo nên một sức mạnh để Miên đối phó với cuộc đời. Chính vì sống với cõi riêng mà Miên có cái nhìn xa xôi, Miên như người mộng du. Cõi riêng là kho tàng vô giá của Miên. Cuối cùng quyết định của Miên rời bỏ hạnh phúc để về sống với Bôn, nó vượt lên trên mọi áp lực của chính quyền, của dư luận, của truyền thống, quyết định về sự hy sinh lớn lao đó nó nảy sinh từ cõi riêng của Miên.

Khái niệm cõi riêng mà Dương Thu Hương đưa vào truyện là một đòi hỏi cho người phụ nữ có một đời sống nội tâm cho riêng mình, một đời sống nội tâm độc lập, không chịu ảnh hưởng, áp lực của bất cứ ai. Trong cõi riêng của mình, người phụ nữ cảm thấy mình có một đời sống tình cảm phong phú, không ai tước đoạt được cái kho tàng đó.

Tình cảm của Miên đối với Bôn trải qua hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, khi về chung sống với Bôn, Miên tỏ ra lạnh lùng, ghê tởm. Miên nghĩ thà Bôn là một hồn ma ngự trên bàn thờ còn có giá hơn là một gã quay về với đôi mắt sầu u, hai má hóp sạm đen vì chứng sốt rét kinh niên, cặp môi thâm và hơi thở bốc mùi địa ngục. Cái hồn ma xa vời kia bỗng thành kẻ háo hức dục tình… (tr. 277). Miên nhớ lúc lao vào cánh cửa để làm trụy thai, Miên tỏ ra hả hê một cách tàn nhẫn, trong khi Bôn lạy lục Miên.

Nhưng cũng có lúc Bôn làm Miên xúc động, như khi Bôn lấy trong ba lô ra cái bánh xà phòng thơm của Mỹ mà Bôn lấy được ở chiến trường và giữ trong chín năm, cái giấy bọc đã vàng ố, Bôn đưa cái bánh xà phòng cho Miên tắm, như một món quà rất quý. Một kỷ niệm khác cũng làm Miên xúc động. Miên nhớ khi còn trẻ, hai người đi chơi với nhau trên đồi, nhằm lúc Miên bất thình lình có kinh, Bôn vội xé áo sơ mi của mình và đưa cho Miên hai tay áo.

Trong giai đoạn hai, khi Miên trở về sống hẳn ở cơ ngơi của mình, thì Miên cảm thấy một nỗi bất an trong lòng. Những thù oán, căm ghét Bôn không còn nữa. Miên đâm ra lo lắng cho đời sống hằng ngày của Bôn. Lòng trắc ẩn của Miên bỗng xao động. Miên tự nhủ và tự xét mình : Ta không còn căm ghét Bôn ? Bởi chính anh cũng chẳng sung sướng nỗi gì, bởi anh ấy cũng biết phận mình nhục nhã… nếu ta ở trong tình cảnh của Bôn… (tr. 554) Ta đã từng ghê sợ và căm ghét Bôn. Vì sao vậy ? Ta là một người đàn bà bất công và đỏng đảnh. Liệu ta còn có thể yêu chăng ? (tr. 569) Lòng trắc ẩn của Miên bùng lên mạnh mẽ : Tội nghiệp cho Bôn…Bôn lẻ loi, bần hàn. Bôn thành kẻ trắng tay. Nếu như ta cũng như Bôn, ra đi từ tuổi mười bảy rồi sau mười bốn năm trở về với chiếc ba lô giống cái bị rách của gã ăn mày ? Nếu ta là Bôn, là Bôn… (tr. 573)

Qua hai giai đoạn, Miên đi từ những tình cảm tiêu cực đối với Bôn đến những tình cảm xót thương và không tránh được đau đớn khi tự đặt mình ở địa vị Bôn. Miên cũng là nạn nhân của chiến tranh, một nạn nhân gián tiếp.

III Tự sự của Dương  Thu  Hương

Viết đến tác phẩm Chốn Vắng, tự sự của Dương Thu  Hương đã trở nên lão luyện. Cốt truyện có sức lôi cuốn nhờ ba yếu tố được khai thác : nhân vật, không gian và thời gian, thể hiện nghệ thuật dựng truyện của tác giả.

Cách dùng độc thoại nội tâm cho ba nhân vật chính : Miên, Bôn và Hoan, tuy không được trình bày khéo léo, để người đọc có cảm tưởng là độc thoại ở trong cái luồng vô thức của nhân vật, trái lại, độc thoại nội tâm của Dương Thu Hương được nêu lên một cách hiển nhiên, dưới hình thức chữ in nghiêng, tuy thế, hình thức độc thoại này cũng đưa người đọc vào nội giới của mỗi nhân vật để hiểu rõ tâm lý của họ.

Nhưng yếu tố tự sự quan trọng nhất trong Chốn Vắng là yếu tố không gian, không gian đa dạng cho người đọc cái cảm giác mênh mông, và đồng thời không gian cũng nói lên thời gian, đi kèm với thời gian. Không gian trong rừng của dãy Trường Sơn nói lên thời chiến đấu của Bôn, với cảnh đám cháy trên đỉnh 327 đã thiêu đốt biết bao mạng người, cảnh Bôn vác xác chết đi trong rừng có bầy kền kền đuổi theo ; không gian của một bản Lào nói lên thời gian Bôn đi lạc và khám phá một thế giới khác, một dân tộc khác ; không gian ở thành phố, khác hẳn Xóm Núi, với những con người thuộc giới doanh thương, người đọc theo bước chân của Hoan ra tận bờ biển, hoặc đi vào những con đường quanh co, bí ẩn dẫn đến một nhà điếm, không gian này nói lên thời kỳ Hoan sống xa Miên, tự cảm thấy lạc lõng.

Đặc biệt Dương Thu Hương miêu tả một không gian phản ánh tâm trạng của nhân vật. Chẳng hạn khi Miên và Hoan sắp xa nhau, đêm cuối cùng hai vợ chồng lên sân thượng nhìn cảnh vật xung quanh, trong thiên nhiên phảng phất một nỗi buồn báo hiệu những ngày sắp tới không có nhau : … gió như chẳng còn là gió mà chỉ là tiếng thở dài trộm lén của kẻ nghi kị và sợ hãi tất thảy nhân gian đành ngấu nghiến nỗi buồn của chính mình. Càng về khuya trăng càng sáng. Nhưng chẳng phải ánh vàng lộng lẫy mà là thứ ánh bạc trộn cùng các tia lửa dạ quang. Trăng mênh mông trùm phủ núi rừng, thôn xóm, các giải đồi hoang, các nương rẫy, tất thảy các đường nét hình khối hoà trộn thành một niềm mờ ảo, một đại dương giao hoà bóng tối, ánh trăng, lửa lân tinh thoi thóp ven rừng… (tr.105). Một thứ mờ ảo buồn như tương lai vô định của hai vợ chồng.

Một ví dụ khác cho thấy cảnh thung lũng vào mùa thu có tác dụng đến tâm trạng của Bôn : Vào những sáng thu, thung lũng nở một loài hoa li ti giống những giọt sương màu lục thẫm… Hoa nở từng chùm, đong đưa muôn ngàn giọt lục trên những tầng lá dày đặc màu cẩm thạch có ánh bạc như phủ lông nhung… Bôn không phải thi sĩ nhưng sớm nay, bất chợt bắt gặp cả thung lũng bừng lên một màu lục thẫm, màu lục trong suốt long lanh tựa ánh sáng trời ngân tụ, anh bỗng sững sờ. Đây là quê hương, vùng đất mòn nhẵn dấu chân anh, vậy sao mãi tới hôm nay anh mới nhìn thấy loài hoa kỳ lạ… Vẻ đẹp của nó khiến anh ngơ ngẩn. Anh ngồi bệt xuống cỏ, nhìn ánh nắng trôi dạt trên triền hoa, bỗng dưng muốn khóc, muốn rã rời đứt đoạn chân tay, muốn ai đó xiên một lưỡi lê qua trái tim anh để kết thúc cuộc đơn hành khốn khổ trên cõi đời… (tr. 229-230). Bôn quá khổ, muốn xa thế giới loài người, và chỉ sống trong cảnh đẹp của thiên nhiên.

Tóm lại, không gian đa dạng dồn dập khiến truyện có một chiều kích mênh mông và cốt truyện sống động.

Qua truyện Chốn Vắng, Dương Thu Hương đã đi đến tột cùng nỗi khốn khổ của con người bị chiến tranh nghiền nát ; con người sống sót từ chiến trường trở về quê hương mình như một kẻ xa lạ, tuy còn sống nhưng kể như đã chết. Hai cảnh tượng mâu thuẫn vào đầu truyện và cuối truyện thể hiện cái thân phận bi đát của người từ chiến trường trở về. Truyện khởi đầu với một quang cảnh tấp nập : đám đông dân chúng ở Xóm Núi tập hợp trước nhà và trong nhà Miên với sự hiện diện của ông xã trưởng, để đón người chiến sĩ từ mặt trận trở về, người chiến sĩ được vinh danh vì đã góp xương máu đánh đuổi Mỹ, dành độc lập cho nước nhà. Vào cuối truyện, người chiến sĩ bơ vơ, côi cút trong một nghĩa địa hiu quạnh, chỉ còn biết chuyện trò với người chết. Những tai họa của chiến tranh cũng gây bao ngả nghiêng, đau xót cho người thân yêu của nạn nhân.

GAËTAN PICON, NGƯỜI ĐI TÌM CÁI ĐẸP TRONG TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT

         Gaëtan Picon (1915-1976) là một tên tuổi trong giới phê bình văn học, nghệ thuật ở Pháp. Sau khi đỗ cử nhân triết học, ông viết một tiểu luận về những tác phẩm thời trẻ của Nietzsche. Năm 1934, ông khám phá tác phẩm La Condition humaine (Thân phận con người) của André Malraux, và dần dần ông trở nên một nhà chuyên khảo về André Malraux. Ông giảng dạy tại các đại học Bordeaux, Beyrouth, ông là giáo sư văn chương tại Viện Cao học Pháp ở Florence (Ý). Ông cũng là giám đốc nhà xuất bản Mercure de France.

         Gaëtan Picon là tác giả của nhiều công trình về phê bình văn học và phê bình nghệ thuật. Trong số những tác phẩm quan trọng của ông có cuốn biên khảo L’écrivain et son ombre [1] (Nhà văn và cái bóng của ông (bà)), một dẫn nhập vào mỹ học của văn chương, đặc biệt chứng tỏ ông là một nhà duy mỹ. Cuốn biên khảo gồm hai phần : tác phẩm văn học và mỹ học.

Phần Tác phẩm văn học gồm 5 chương :

Tác phẩm như một khó hiểu / Tác phẩm như một tâm thức / Kinh nghiệm thẩm mỹ và sự phê phán / Kinh nghiệm về tác phẩm / Tác phẩm và những tác phẩm khác.

Phần Mỹ học gồm 7 chương :

Mỹ học và triết học về nghệ thuật / Mỹ học và sự phân tích về hình thức / Mỹ học và khoa học nghệ thuật / Mỹ học và sử học / Mỹ học và phê bình văn học / Mỹ học như một phương pháp học về phê phán / Nghệ thuật như một nỗi hối hận và như một niềm vui.

         Trong một bài viết, khó lòng trình bày đầy đủ nội dung một cuốn biên khảo, dù là tóm tắt. Vì Gaëtan Picon là một nhà duy mỹ, điều lý thú đối với chúng ta là tìm hiểu cách nhìn của ông về tác phẩm văn chương. Ông nhận xét : Không phải triết học về nghệ thuật, không phải sự phân tích của mỹ học về các hình thức, cũng không phải khoa học, sử học, giúp chúng ta khám phá giá trị của tác phẩm, mà chính là môn phê bình. Dựa vào sự nhận xét đó của tác giả, chúng ta có thể chọn chương X : Mỹ học và phê bình văn học, để tìm hiểu giá trị mỹ học của một tác phẩm theo Gaëtan Picon.

         Vào đầu chương, tác giả đặt câu hỏi và trả lời ngay : Phê bình là gì nếu không là phát biểu về giá trị của các tác phẩm ? Và tác giả mở rộng định nghĩa : phê bình không phải là đưa ra những khuyết điểm của tác phẩm, cũng không phải so sánh tác phẩm với một tác phẩm lớn, hoàn hảo. Phê bình là phê phán những giá trị của tác phẩm. Văn chương là đối tượng của giá trị chứ không phải đối tượng của sự hiểu biết về lịch sử, về triết học. Văn chương là đối tượng của phê bình. Và phê bình là một sự nhìn nhận. Phê bình là nhìn nhận trong tác phẩm sự hiện diện của một giá trị. Gaëtan Picon cho rằng môn phê bình chính là kinh nghiệm về mỹ học.

         Trước khi đi đến lập trường phê bình của mình, Gaëtan Picon trình bày một cái nhìn bao quát về ngành phê bình từ xưa đến nay ở Tây phương.

         Có những quy tắc về nghệ thuật, dựa theo đó người ta phê bình tác phẩm. Vào thời cổ điển, thế kỷ 17 ở Pháp, người ta tôn trọng những quy tắc đó, chúng có tính phổ thông, vì xuất phát từ sự hoàn hảo của thời cổ đại. Theo chủ nghĩa cổ điển thì chỉ có một cái đẹp duy nhất và cao nhất. Chủ nghĩa cổ điển đòi hỏi sự bắt chước những cái mẫu của thời cổ đại, đòi hỏi tách biệt các thể loại, phục tùng những quy tắc của bi kịch, ưu đãi cái phổ thông, cái có thật.

         Nhưng thế kỷ 18 đi ngược lại và đề cao tính đa dạng của cái đẹp, của bút pháp trong thời gian và không gian, đề cao tính độc đáo của thiên tài và tính cá biệt của sở thích. Chủ nghĩa lãng mạn của thế kỷ 18 làm suy sụp những tiêu chuẩn về nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển. Chủ nghĩa cổ điển đề cao trật tự. Chủ nghĩa lãng mạn đề cao sự vô trật tự bất tận, không có gì bị cấm đoán đối với con người, không có đề tài được ưu đãi, không có hình thức được sắp đặt trước.

         Ở thế kỷ 19, đối với Baudelaire, cái đẹp trở thành « cái kỳ dị », Apollinaire thì yêu chuộng cuộc phiêu lưu, chống lại trật tự.

         Bởi vì không có một cái đẹp vượt hẳn trên tác phẩm, bởi vì mỗi nhà nghệ sĩ lớn tự tạo cho mình cái đẹp mà không có mẫu, không có cái gì để tham khảo, thì nhà phê bình dựa vào cái gì để đặt vấn đề nghi ngờ, để phê phán ?

          Năm 1931, nhà phê bình Sainte-Beuve đưa ra một lối phê bình dựa vào sự chọn lựa, ức đoán, ứng biến… một lối phê bình chiêm ngưỡng.

         Nhưng mọi người đều nghĩ rằng người phê bình phải là người phát hiện chứ không phải là người tán dương, không trở thành một nhà phê bình vì đã phân tích giá trị của một tác phẩm nổi tiếng. Người phê bình là người so tài với những sản phẩm của thời đại mình, là người có kinh nghiệm về khái niệm của văn chương trong liên hệ với thời cuộc.

         Sự hình thành của một phê bình về sử học, tâm lý học, triết học, chỉ là hậu quả của sự bất lực của mọi phê bình về phê phán. Trong khi Sainte-Beuve khám phá những bí ẩn của tiểu sử các nhà văn, Brunetière khám phá sự tiến hóa lịch sử của các thể loại, v.v… thì các nhà phân tâm học cho chúng ta thấy trong văn chương một hình thức của giấc mơ, các nhà mác xít thì cho thấy sự biến đổi của những liên hệ của sản xuất.

         Về phê bình thời cận đại ở Pháp, thì năm 1925, người ta đã nói đến « thông điệp » của tác phẩm. Phê bình tỏ ra nhạy cảm với nội dung tác phẩm và cho rằng chức năng của phê bình là làm sáng tỏ nội dung đó.

         Trong cuốn Văn chương là gì ? Sartre tuyên bố rằng tác phẩm văn xuôi thiết yếu là nội dung mà nó muốn truyền đi – ông khẳng định dành riêng trường hợp của thơ, nhưng không chắc là ông dành riêng, khi nói về Baudelaire, ông cho chúng ta biết Baudelaire là ai, nhưng quên nói Baudelaire là tác giả của tập thơ Les Fleurs du Mal – Sartre nói người viết văn xuôi viết để nói lên một cái gì, và người phê bình phải làm sáng tỏ điều người viết muốn nói, người phê bình phê phán tác phẩm tùy theo giá trị về triết học và đạo đức của nó. Theo Sartre, nhà văn « dấn thân » biết rằng lời nói là hành động. Tác phẩm là một sự hiểu biết và là một hành động.

         Còn Charles Du Bos, nhà phê bình về những giá trị thiêng liêng, thì trách Goethe đã quên lãng linh hồn, trách Thomas Hardy tuy đã biết cái phi thời gian nhưng không biết cái vĩnh hằng. Theo Du Bos, Balzac lớn hơn các nhà văn Flaubert, Maupassant hay Stendhal bởi vì tác phẩm của Balzac mở ra phía những chân trời siêu hình mà các nhà văn kia không biết.

         Nhà nghiên cứu, phê bình có uy tín Maurice Blanchot giải thích về lối phê bình có tính triết học. Người phê bình không phải là người tuyên bố về giá trị của một tác phẩm và làm sáng tỏ tác phẩm, mà là người nói ra cái nghĩa của tác phẩm : vấn đề là đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ cái động đến cái tĩnh. Maurice Blanchot báo trước rằng phê bình của ông không quan tâm đến giá trị nghệ thuật của tác phẩm, mà chỉ muốn xem xét một quan niệm nào đó về ngôn ngữ và về văn chương, không tìm hiểu những cấu trúc thẩm mỹ của ngôn ngữ, của văn chương, mà tìm hiểu chính sự tồn tại của ngôn ngữ, của văn chương : làm sao có thể có được ngôn ngữ, văn chương ? Blanchot viết : « Những văn bản (phê bình) đó được viết ra không vì sự quan tâm đến những cuốn sách, mà vì nỗi lo âu sâu xa, lớn lao, do cái sự kiện lạ lùng là có sách, và có người đọc, và có nhà văn, gây cho người viết phê bình và người đọc nó. » Theo Blanchot, sự lo âu đó chính nó không có tính lịch sử, nó không phê phán, không chỉ trích, nó không quan tâm đến mỹ học, cũng không quan tâm đến văn hóa.

         Gaëtan Picon nhận xét : tuy thế, đôi khi Blanchot cũng phát biểu những phê bình về mỹ học. Chẳng hạn khi Blanchot viết về nhà thơ René Char : « một trong những nét cao cả của ông, cái nét cao cả mà ngày nay không có ai bằng ông, đó là thơ của ông tiết lộ thơ, thơ của thơ… » Những tác phẩm khiến người phê bình chú tâm đến là những tác phẩm có vẻ như khớp với sự biểu lộ của ngôn ngữ, những tác phẩm không là một truyện kể nào đó, một bài thơ nào đó, mà là truyện kể của truyện kể, bài thơ của bài thơ, ngôn ngữ của ngôn ngữ. Khi chọn những cuốn sách mà ông nói đến, nhà phê bình Blanchot, dù muốn dù không, cũng phải áp đặt một thứ bậc mà người ta có thể gọi là mỹ học, nhưng ở đây mỹ học chỉ là hậu quả của một quan điểm của triết học.

         Gaëtan Picon cho rằng môn phê bình không cho chúng ta lời đáp với câu hỏi về mỹ học mà chúng ta chờ đợi ở môn phê bình. Đi từ những hệ thống đến phê bình không có nghĩa đi từ một kinh nghiệm khách quan đến một kinh nghiệm mỹ học, mà đi từ những cái khái quát đến những phân tích riêng biệt. Môn phê bình luôn tránh sự lo âu về mỹ học bằng cách chọn những hướng đi trốn tránh.

         Phê bình của thế kỷ 19 là một sai lầm thường kỳ về phê phán. Cái lầm lẫn thường kỳ đó tiết lộ sự thiếu khả năng căn bản : người phê bình không nhận rõ tác phẩm mới, bởi vì nhìn tác phẩm qua lăng kính của một truyền thống. Sự biến hóa của nghệ thuật hiện đại, việc đi từ một nghệ thuật truyền thống với những quy tắc đến một nghệ thuật không ngớt được sáng tạo có thể cho người ta tha thứ những lầm lẫn của lối phê bình đó.

         Lại thêm ảnh hưởng của nhà văn. Đối với nhà văn, lắm khi sự phê phán của người phê bình có vẻ như một sai lầm. Tác giả không chờ đợi ở người phê bình những phê phán về những chủ ý giả định của tác giả, mà chờ đợi người phê bình khám phá và nói lên những chủ ý thật sự của tác giả. Phê phán là giữ một độ lùi đối với tác phẩm, là nhìn tác phẩm như một hiện thực không nhất thiết, với nhiều khả thể. Đó là cái ngược lại với sự thấu hiểu. Thấu hiểu là chấp nhận tính cần thiết của tác phẩm, là xem tác phẩm như một hiện thực loại trừ mọi khả thể. Nhà văn mời gọi người phê bình hãy thấu hiểu ông ta và cấm không được phê phán ông ta.

         Theo Gaëtan Picon, chúng ta không phủ nhận giá trị của một phê bình đứng ngoài mỹ học. Loại phê bình này cần thiết. Những tác phẩm được môn phê bình nhìn nhận lắm khi ở ngoài mọi nhận xét về mỹ học. Những phê bình về tâm lý học, phân tâm học, xã hội học, triết học, sử học, v.v… tất cả những hình thức phê bình đó phải được chấp nhận, vì chúng có thể làm sáng tỏ tác phẩm.

         Mọi tác phẩm đều cần sự phê phán về giá trị, lối phê bình nào không đáp lại sự đòi hỏi đó không làm chúng ta thỏa mãn. Có một lối phê bình mỹ học, nhưng nó mong manh gây thất vọng, khiến những người yêu thích sự chính xác, sự chặt chẽ, hướng về phân tâm học, sử học, triết học, xã hội học.

         Ngày nay phê bình mỹ học ra sao ?

         Môn phê bình nối liền với tính đặc thù của tác phẩm, và như thế môn phê bình không thể đặt ra một mỹ học đại cương. Mỹ học cũng không phải là một hệ thống được thiết lập trước mà môn phê bình chỉ cần áp dụng : người phê bình phải tự vượt xa về mỹ học, nhưng chỉ từ phê bình mới có thể đạt tới mỹ học. Trong sự tiếp xúc sống động với tác phẩm, một ý nghĩ về mỹ học phải được thành hình. Đến nỗi mỹ học xuất hiện như một ý thức của phê bình bằng cách phát biểu rõ ràng sự hiểu biết ngầm của phê bình. Nhưng có thật phê bình có sự hiểu biết có thể được phát biểu rõ ràng không ? Nhà triết học Benedetto Croce[2] cho rằng môn phê bình là cái góc nhìn duy nhất về tác phẩm nghệ thuật, phê bình đồng nhất với lịch sử của nghệ thuật, phê bình là lịch sử của nghệ thuật thật sự, bởi vì phê bình có tính chuyên khảo, và nghệ thuật chỉ có thể được nhìn từ góc độ của tính đặc thù. Tác phẩm là một hiện thực cụ thể, duy nhất, một sáng tạo sống động, tác phẩm không tự để cho một thể loại nào khác bao hàm. Một bức tranh khác biệt với một bức tranh khác, cũng như nó khác biệt với một bài thơ. Tác phẩm không gắn với thời đại, cũng như không gắn với thể loại nào. Sự miêu tả tác phẩm tránh miêu tả về thời đại, về lịch sử. Lối phê bình đó, theo Croce, không chỉ là phê bình « giải thích và bình luận » : lối phê bình đó là phê phán và có ý muốn là một phê bình mỹ học. Nhưng trong nghĩa nào ? Phê bình sẽ đối chiếu tác phẩm với chính cái định nghĩa của nghệ thuật như một linh cảm – biểu lộ, và sẽ quyết định tác phẩm là một tác phẩm nghệ thuật hay không. Có một tác phẩm nghệ thuật hay không, đó là cái hình thức khả thể duy nhất của sự phê phán về mỹ học. Đến nỗi phê bình (và mỹ học) biến thành sự nhìn nhận tác phẩm trong tính hiện thực của nó. Tác phẩm có thể được đưa vào lịch sử của nghệ thuật. Theo Benedetto Croce, phê bình loại bỏ mọi suy nghĩ về mỹ học đại cương, do đó loại bỏ mọi khả năng phân tích giá trị mỹ học của một tác phẩm : chỉ còn là chấp nhận và yêu thích tác phẩm mà thôi.

         Trong chương kế tiếp, Gaëtan Picon nói thêm về cái đẹp trong tác phẩm và về mỹ học.

         Cái đẹp của một tác phẩm không dựa vào những giá trị mà óc thông minh của con ngưởi cô lập, phân tích, cái đẹp xuất hiện toàn vẹn, một cách không phân tích được, trong sự tồn tại đơn nhất của nó. Cái đẹp của tác phẩm hoàn toàn bí hiểm đối với cái tâm thức muốn phân tích nó. Chúng ta phải chịu đựng cái đẹp đó, tức chấp nhận nó, chứ không tìm cách làm sáng tỏ nó. Tất cả đều xảy ra như là giá trị một tác phẩm là do những gì tác phẩm đem lại cho các giá trị đã có trước, qua một cử chỉ khó hiểu và bất khả quy.

         Theo nhà thơ cũng là nhà biên khảo Valéry, « nói rằng một vật thể đẹp tức là cho nó một giá trị khó hiểu ».

         Giá trị nghệ thuật nhiều vô kể, bởi vì mỗi tác phẩm cụ thể biến hóa các giá trị : không có hai tiểu thuyết có lối viết như nhau, không có hai bức họa mà màu sắc, diện tích như nhau. Nhưng nếu chỉ có những giá trị cá biệt thì những giá trị cá biệt đó thuộc về những phạm trù nào đó, ở những mức độ khác nhau. Nếu sự hiểu biết do suy nghĩ về mỹ học  không cho chúng ta những chuẩn mực về nghệ thuật, thì sự hiểu biết đó cho thấy trong tương lai những phạm trù khác nhau về các giá trị.

         Mỹ học không phải là sự xây dựng của tri thức : mỹ học là một biến cố được trải nghiệm. Mỹ học không gì khác hơn là sự cố gắng nói lên rõ ràng cái tâm thức mù mờ được kinh nghiệm cụ thể làm sáng tỏ. Mỹ học không chỉ là một khoa học khả thể, mà là một hoạt động cần thiết để biến đổi một vật thể.


[1] Gaëtan Picon, L’écrivain et son ombre, Nxb Gallimard, 1953.

[2] Benedetto Croce, nhà triết học Ý, tác giả cuốn biên khảo về mỹ học Essai d’esthétique do Gilles A. Tiberghien dịch sang Pháp ngữ. Nxb Gallimard, 1991.