GAËTAN PICON, NGƯỜI ĐI TÌM CÁI ĐẸP TRONG TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT

         Gaëtan Picon (1915-1976) là một tên tuổi trong giới phê bình văn học, nghệ thuật ở Pháp. Sau khi đỗ cử nhân triết học, ông viết một tiểu luận về những tác phẩm thời trẻ của Nietzsche. Năm 1934, ông khám phá tác phẩm La Condition humaine (Thân phận con người) của André Malraux, và dần dần ông trở nên một nhà chuyên khảo về André Malraux. Ông giảng dạy tại các đại học Bordeaux, Beyrouth, ông là giáo sư văn chương tại Viện Cao học Pháp ở Florence (Ý). Ông cũng là giám đốc nhà xuất bản Mercure de France.

         Gaëtan Picon là tác giả của nhiều công trình về phê bình văn học và phê bình nghệ thuật. Trong số những tác phẩm quan trọng của ông có cuốn biên khảo L’écrivain et son ombre [1] (Nhà văn và cái bóng của ông (bà)), một dẫn nhập vào mỹ học của văn chương, đặc biệt chứng tỏ ông là một nhà duy mỹ. Cuốn biên khảo gồm hai phần : tác phẩm văn học và mỹ học.

Phần Tác phẩm văn học gồm 5 chương :

Tác phẩm như một khó hiểu / Tác phẩm như một tâm thức / Kinh nghiệm thẩm mỹ và sự phê phán / Kinh nghiệm về tác phẩm / Tác phẩm và những tác phẩm khác.

Phần Mỹ học gồm 7 chương :

Mỹ học và triết học về nghệ thuật / Mỹ học và sự phân tích về hình thức / Mỹ học và khoa học nghệ thuật / Mỹ học và sử học / Mỹ học và phê bình văn học / Mỹ học như một phương pháp học về phê phán / Nghệ thuật như một nỗi hối hận và như một niềm vui.

         Trong một bài viết, khó lòng trình bày đầy đủ nội dung một cuốn biên khảo, dù là tóm tắt. Vì Gaëtan Picon là một nhà duy mỹ, điều lý thú đối với chúng ta là tìm hiểu cách nhìn của ông về tác phẩm văn chương. Ông nhận xét : Không phải triết học về nghệ thuật, không phải sự phân tích của mỹ học về các hình thức, cũng không phải khoa học, sử học, giúp chúng ta khám phá giá trị của tác phẩm, mà chính là môn phê bình. Dựa vào sự nhận xét đó của tác giả, chúng ta có thể chọn chương X : Mỹ học và phê bình văn học, để tìm hiểu giá trị mỹ học của một tác phẩm theo Gaëtan Picon.

         Vào đầu chương, tác giả đặt câu hỏi và trả lời ngay : Phê bình là gì nếu không là phát biểu về giá trị của các tác phẩm ? Và tác giả mở rộng định nghĩa : phê bình không phải là đưa ra những khuyết điểm của tác phẩm, cũng không phải so sánh tác phẩm với một tác phẩm lớn, hoàn hảo. Phê bình là phê phán những giá trị của tác phẩm. Văn chương là đối tượng của giá trị chứ không phải đối tượng của sự hiểu biết về lịch sử, về triết học. Văn chương là đối tượng của phê bình. Và phê bình là một sự nhìn nhận. Phê bình là nhìn nhận trong tác phẩm sự hiện diện của một giá trị. Gaëtan Picon cho rằng môn phê bình chính là kinh nghiệm về mỹ học.

         Trước khi đi đến lập trường phê bình của mình, Gaëtan Picon trình bày một cái nhìn bao quát về ngành phê bình từ xưa đến nay ở Tây phương.

         Có những quy tắc về nghệ thuật, dựa theo đó người ta phê bình tác phẩm. Vào thời cổ điển, thế kỷ 17 ở Pháp, người ta tôn trọng những quy tắc đó, chúng có tính phổ thông, vì xuất phát từ sự hoàn hảo của thời cổ đại. Theo chủ nghĩa cổ điển thì chỉ có một cái đẹp duy nhất và cao nhất. Chủ nghĩa cổ điển đòi hỏi sự bắt chước những cái mẫu của thời cổ đại, đòi hỏi tách biệt các thể loại, phục tùng những quy tắc của bi kịch, ưu đãi cái phổ thông, cái có thật.

         Nhưng thế kỷ 18 đi ngược lại và đề cao tính đa dạng của cái đẹp, của bút pháp trong thời gian và không gian, đề cao tính độc đáo của thiên tài và tính cá biệt của sở thích. Chủ nghĩa lãng mạn của thế kỷ 18 làm suy sụp những tiêu chuẩn về nghệ thuật của chủ nghĩa cổ điển. Chủ nghĩa cổ điển đề cao trật tự. Chủ nghĩa lãng mạn đề cao sự vô trật tự bất tận, không có gì bị cấm đoán đối với con người, không có đề tài được ưu đãi, không có hình thức được sắp đặt trước.

         Ở thế kỷ 19, đối với Baudelaire, cái đẹp trở thành « cái kỳ dị », Apollinaire thì yêu chuộng cuộc phiêu lưu, chống lại trật tự.

         Bởi vì không có một cái đẹp vượt hẳn trên tác phẩm, bởi vì mỗi nhà nghệ sĩ lớn tự tạo cho mình cái đẹp mà không có mẫu, không có cái gì để tham khảo, thì nhà phê bình dựa vào cái gì để đặt vấn đề nghi ngờ, để phê phán ?

          Năm 1931, nhà phê bình Sainte-Beuve đưa ra một lối phê bình dựa vào sự chọn lựa, ức đoán, ứng biến… một lối phê bình chiêm ngưỡng.

         Nhưng mọi người đều nghĩ rằng người phê bình phải là người phát hiện chứ không phải là người tán dương, không trở thành một nhà phê bình vì đã phân tích giá trị của một tác phẩm nổi tiếng. Người phê bình là người so tài với những sản phẩm của thời đại mình, là người có kinh nghiệm về khái niệm của văn chương trong liên hệ với thời cuộc.

         Sự hình thành của một phê bình về sử học, tâm lý học, triết học, chỉ là hậu quả của sự bất lực của mọi phê bình về phê phán. Trong khi Sainte-Beuve khám phá những bí ẩn của tiểu sử các nhà văn, Brunetière khám phá sự tiến hóa lịch sử của các thể loại, v.v… thì các nhà phân tâm học cho chúng ta thấy trong văn chương một hình thức của giấc mơ, các nhà mác xít thì cho thấy sự biến đổi của những liên hệ của sản xuất.

         Về phê bình thời cận đại ở Pháp, thì năm 1925, người ta đã nói đến « thông điệp » của tác phẩm. Phê bình tỏ ra nhạy cảm với nội dung tác phẩm và cho rằng chức năng của phê bình là làm sáng tỏ nội dung đó.

         Trong cuốn Văn chương là gì ? Sartre tuyên bố rằng tác phẩm văn xuôi thiết yếu là nội dung mà nó muốn truyền đi – ông khẳng định dành riêng trường hợp của thơ, nhưng không chắc là ông dành riêng, khi nói về Baudelaire, ông cho chúng ta biết Baudelaire là ai, nhưng quên nói Baudelaire là tác giả của tập thơ Les Fleurs du Mal – Sartre nói người viết văn xuôi viết để nói lên một cái gì, và người phê bình phải làm sáng tỏ điều người viết muốn nói, người phê bình phê phán tác phẩm tùy theo giá trị về triết học và đạo đức của nó. Theo Sartre, nhà văn « dấn thân » biết rằng lời nói là hành động. Tác phẩm là một sự hiểu biết và là một hành động.

         Còn Charles Du Bos, nhà phê bình về những giá trị thiêng liêng, thì trách Goethe đã quên lãng linh hồn, trách Thomas Hardy tuy đã biết cái phi thời gian nhưng không biết cái vĩnh hằng. Theo Du Bos, Balzac lớn hơn các nhà văn Flaubert, Maupassant hay Stendhal bởi vì tác phẩm của Balzac mở ra phía những chân trời siêu hình mà các nhà văn kia không biết.

         Nhà nghiên cứu, phê bình có uy tín Maurice Blanchot giải thích về lối phê bình có tính triết học. Người phê bình không phải là người tuyên bố về giá trị của một tác phẩm và làm sáng tỏ tác phẩm, mà là người nói ra cái nghĩa của tác phẩm : vấn đề là đi từ cái cụ thể đến cái trừu tượng, từ cái động đến cái tĩnh. Maurice Blanchot báo trước rằng phê bình của ông không quan tâm đến giá trị nghệ thuật của tác phẩm, mà chỉ muốn xem xét một quan niệm nào đó về ngôn ngữ và về văn chương, không tìm hiểu những cấu trúc thẩm mỹ của ngôn ngữ, của văn chương, mà tìm hiểu chính sự tồn tại của ngôn ngữ, của văn chương : làm sao có thể có được ngôn ngữ, văn chương ? Blanchot viết : « Những văn bản (phê bình) đó được viết ra không vì sự quan tâm đến những cuốn sách, mà vì nỗi lo âu sâu xa, lớn lao, do cái sự kiện lạ lùng là có sách, và có người đọc, và có nhà văn, gây cho người viết phê bình và người đọc nó. » Theo Blanchot, sự lo âu đó chính nó không có tính lịch sử, nó không phê phán, không chỉ trích, nó không quan tâm đến mỹ học, cũng không quan tâm đến văn hóa.

         Gaëtan Picon nhận xét : tuy thế, đôi khi Blanchot cũng phát biểu những phê bình về mỹ học. Chẳng hạn khi Blanchot viết về nhà thơ René Char : « một trong những nét cao cả của ông, cái nét cao cả mà ngày nay không có ai bằng ông, đó là thơ của ông tiết lộ thơ, thơ của thơ… » Những tác phẩm khiến người phê bình chú tâm đến là những tác phẩm có vẻ như khớp với sự biểu lộ của ngôn ngữ, những tác phẩm không là một truyện kể nào đó, một bài thơ nào đó, mà là truyện kể của truyện kể, bài thơ của bài thơ, ngôn ngữ của ngôn ngữ. Khi chọn những cuốn sách mà ông nói đến, nhà phê bình Blanchot, dù muốn dù không, cũng phải áp đặt một thứ bậc mà người ta có thể gọi là mỹ học, nhưng ở đây mỹ học chỉ là hậu quả của một quan điểm của triết học.

         Gaëtan Picon cho rằng môn phê bình không cho chúng ta lời đáp với câu hỏi về mỹ học mà chúng ta chờ đợi ở môn phê bình. Đi từ những hệ thống đến phê bình không có nghĩa đi từ một kinh nghiệm khách quan đến một kinh nghiệm mỹ học, mà đi từ những cái khái quát đến những phân tích riêng biệt. Môn phê bình luôn tránh sự lo âu về mỹ học bằng cách chọn những hướng đi trốn tránh.

         Phê bình của thế kỷ 19 là một sai lầm thường kỳ về phê phán. Cái lầm lẫn thường kỳ đó tiết lộ sự thiếu khả năng căn bản : người phê bình không nhận rõ tác phẩm mới, bởi vì nhìn tác phẩm qua lăng kính của một truyền thống. Sự biến hóa của nghệ thuật hiện đại, việc đi từ một nghệ thuật truyền thống với những quy tắc đến một nghệ thuật không ngớt được sáng tạo có thể cho người ta tha thứ những lầm lẫn của lối phê bình đó.

         Lại thêm ảnh hưởng của nhà văn. Đối với nhà văn, lắm khi sự phê phán của người phê bình có vẻ như một sai lầm. Tác giả không chờ đợi ở người phê bình những phê phán về những chủ ý giả định của tác giả, mà chờ đợi người phê bình khám phá và nói lên những chủ ý thật sự của tác giả. Phê phán là giữ một độ lùi đối với tác phẩm, là nhìn tác phẩm như một hiện thực không nhất thiết, với nhiều khả thể. Đó là cái ngược lại với sự thấu hiểu. Thấu hiểu là chấp nhận tính cần thiết của tác phẩm, là xem tác phẩm như một hiện thực loại trừ mọi khả thể. Nhà văn mời gọi người phê bình hãy thấu hiểu ông ta và cấm không được phê phán ông ta.

         Theo Gaëtan Picon, chúng ta không phủ nhận giá trị của một phê bình đứng ngoài mỹ học. Loại phê bình này cần thiết. Những tác phẩm được môn phê bình nhìn nhận lắm khi ở ngoài mọi nhận xét về mỹ học. Những phê bình về tâm lý học, phân tâm học, xã hội học, triết học, sử học, v.v… tất cả những hình thức phê bình đó phải được chấp nhận, vì chúng có thể làm sáng tỏ tác phẩm.

         Mọi tác phẩm đều cần sự phê phán về giá trị, lối phê bình nào không đáp lại sự đòi hỏi đó không làm chúng ta thỏa mãn. Có một lối phê bình mỹ học, nhưng nó mong manh gây thất vọng, khiến những người yêu thích sự chính xác, sự chặt chẽ, hướng về phân tâm học, sử học, triết học, xã hội học.

         Ngày nay phê bình mỹ học ra sao ?

         Môn phê bình nối liền với tính đặc thù của tác phẩm, và như thế môn phê bình không thể đặt ra một mỹ học đại cương. Mỹ học cũng không phải là một hệ thống được thiết lập trước mà môn phê bình chỉ cần áp dụng : người phê bình phải tự vượt xa về mỹ học, nhưng chỉ từ phê bình mới có thể đạt tới mỹ học. Trong sự tiếp xúc sống động với tác phẩm, một ý nghĩ về mỹ học phải được thành hình. Đến nỗi mỹ học xuất hiện như một ý thức của phê bình bằng cách phát biểu rõ ràng sự hiểu biết ngầm của phê bình. Nhưng có thật phê bình có sự hiểu biết có thể được phát biểu rõ ràng không ? Nhà triết học Benedetto Croce[2] cho rằng môn phê bình là cái góc nhìn duy nhất về tác phẩm nghệ thuật, phê bình đồng nhất với lịch sử của nghệ thuật, phê bình là lịch sử của nghệ thuật thật sự, bởi vì phê bình có tính chuyên khảo, và nghệ thuật chỉ có thể được nhìn từ góc độ của tính đặc thù. Tác phẩm là một hiện thực cụ thể, duy nhất, một sáng tạo sống động, tác phẩm không tự để cho một thể loại nào khác bao hàm. Một bức tranh khác biệt với một bức tranh khác, cũng như nó khác biệt với một bài thơ. Tác phẩm không gắn với thời đại, cũng như không gắn với thể loại nào. Sự miêu tả tác phẩm tránh miêu tả về thời đại, về lịch sử. Lối phê bình đó, theo Croce, không chỉ là phê bình « giải thích và bình luận » : lối phê bình đó là phê phán và có ý muốn là một phê bình mỹ học. Nhưng trong nghĩa nào ? Phê bình sẽ đối chiếu tác phẩm với chính cái định nghĩa của nghệ thuật như một linh cảm – biểu lộ, và sẽ quyết định tác phẩm là một tác phẩm nghệ thuật hay không. Có một tác phẩm nghệ thuật hay không, đó là cái hình thức khả thể duy nhất của sự phê phán về mỹ học. Đến nỗi phê bình (và mỹ học) biến thành sự nhìn nhận tác phẩm trong tính hiện thực của nó. Tác phẩm có thể được đưa vào lịch sử của nghệ thuật. Theo Benedetto Croce, phê bình loại bỏ mọi suy nghĩ về mỹ học đại cương, do đó loại bỏ mọi khả năng phân tích giá trị mỹ học của một tác phẩm : chỉ còn là chấp nhận và yêu thích tác phẩm mà thôi.

         Trong chương kế tiếp, Gaëtan Picon nói thêm về cái đẹp trong tác phẩm và về mỹ học.

         Cái đẹp của một tác phẩm không dựa vào những giá trị mà óc thông minh của con ngưởi cô lập, phân tích, cái đẹp xuất hiện toàn vẹn, một cách không phân tích được, trong sự tồn tại đơn nhất của nó. Cái đẹp của tác phẩm hoàn toàn bí hiểm đối với cái tâm thức muốn phân tích nó. Chúng ta phải chịu đựng cái đẹp đó, tức chấp nhận nó, chứ không tìm cách làm sáng tỏ nó. Tất cả đều xảy ra như là giá trị một tác phẩm là do những gì tác phẩm đem lại cho các giá trị đã có trước, qua một cử chỉ khó hiểu và bất khả quy.

         Theo nhà thơ cũng là nhà biên khảo Valéry, « nói rằng một vật thể đẹp tức là cho nó một giá trị khó hiểu ».

         Giá trị nghệ thuật nhiều vô kể, bởi vì mỗi tác phẩm cụ thể biến hóa các giá trị : không có hai tiểu thuyết có lối viết như nhau, không có hai bức họa mà màu sắc, diện tích như nhau. Nhưng nếu chỉ có những giá trị cá biệt thì những giá trị cá biệt đó thuộc về những phạm trù nào đó, ở những mức độ khác nhau. Nếu sự hiểu biết do suy nghĩ về mỹ học  không cho chúng ta những chuẩn mực về nghệ thuật, thì sự hiểu biết đó cho thấy trong tương lai những phạm trù khác nhau về các giá trị.

         Mỹ học không phải là sự xây dựng của tri thức : mỹ học là một biến cố được trải nghiệm. Mỹ học không gì khác hơn là sự cố gắng nói lên rõ ràng cái tâm thức mù mờ được kinh nghiệm cụ thể làm sáng tỏ. Mỹ học không chỉ là một khoa học khả thể, mà là một hoạt động cần thiết để biến đổi một vật thể.


[1] Gaëtan Picon, L’écrivain et son ombre, Nxb Gallimard, 1953.

[2] Benedetto Croce, nhà triết học Ý, tác giả cuốn biên khảo về mỹ học Essai d’esthétique do Gilles A. Tiberghien dịch sang Pháp ngữ. Nxb Gallimard, 1991.

MƯỜI NHÀ VĂN MIỀN NAM ĐẾN VỚI ĐỘC GIẢ PHÁP

       Tháng 6/2022, nhà xuất bản La Frémillerie ở Pháp cho ra cuốn VENT DU SUD (Gió Nam), một tuyển tập truyện ngắn của mười nhà văn miền Nam, do Liễu Trương dịch ra tiếng Pháp.

         Để giúp độc giả Pháp hiểu biết sự hình thành của nền văn học miền Nam, và khám phá một số nhà văn của nền văn học này, dịch giả đã viết một bài Tựa nội dung như sau.

         Lịch sử Việt Nam ở thế kỷ 20 mang dấu vết sâu đậm của hai cuộc chiến : cuộc chiến chống Pháp và cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Cuộc chiến chống Pháp kết thúc bằng cuộc bại trận của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ, năm 1954, tiếp theo là việc ký kết Hiệp định Genève, chia đôi lãnh thổ Việt Nam ngang vĩ tuyến 17. Kể từ đó, hai nước Việt Nam, miền Bắc cộng sản và miền Nam cộng hòa, chống đối nhau trong một cuộc chiến về hệ tư tưởng, một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cho đến ngày miền Nam sụp đổ, năm 1975.

         Vậy nền Cộng hoà miền Nam tồn tại được hai mươi mốt năm. Lịch sử của sự tồn tại ngắn ngủi này được phong phú hóa bởi cuộc di cư của gần một triệu người đã từ bỏ quê cha đất tổ ở miền Bắc, để vào sinh sống ở miền Nam. Những đảo lộn chính trị, xã hội đã làm rung chuyển đời sống ở miền Nam. Chính trong bối cảnh đó một nền văn học mới đã được hình thành.

         Hẳn trong những năm 30-40 của thế kỷ trước, Tự Lực Văn ĐoànThơ Mới đã khởi đầu một thời đại mới của văn học Việt Nam, hoàn toàn cắt đứt với văn học truyền thống được các nhà nho học ca tụng. Năm 1954, trong một đất nước bị phân chia về lãnh thổ cũng như về hệ tư tưởng, một nền văn học mới xuất hiện ở miền Nam. Đó là sự cắt đứt lần thứ hai với quá khứ. Kể từ đây, những tác phẩm của Tự Lực văn Đoàn và của Thơ Mới được dân chúng thưởng thức như những tác phẩm của một thời đã qua. Các nhà văn, nhà thơ từ mọi chân trời, tập hợp trên dải đất miền Nam, đều ý thức rằng rồi đây họ sẽ xây dựng một nền văn học hiện đại. Do đó sáng tạo văn chương có được một nguồn sinh lực đặc biệt. Đối diện với nền văn học miền Bắc bị trói cứng trong hệ tư tưởng cộng sản, văn học miền Nam có tính nhân bản và mở ra với những trào lưu của Tây phương, chứng tỏ một tính năng động phong phú. Đông đảo là những người cầm bút đã thấy trong nền văn học này một cơ hội may mắn để tự do viết, xa mọi hệ tư tưởng cực quyền, một lối viết có khả năng phản ánh tâm hồn người Việt Nam trước sự bi thảm của chiến tranh và sự tiến hóa của xã hội.

         Nhưng cuối cùng, chính lịch sử đã phán quyết : sự thất thủ của miền Nam, năm 1975, làm biến mất một nền văn học đang trong tình trạng sung mãn. Tuy nhiên, chỉ là một sự biến mất tạm thời, bởi vì mặc dù bên phía cộng sản, từ nay làm chủ đất nước, có ý muốn bôi xóa, tiêu diệt văn học miền Nam, nhưng nền văn học này vẫn mạnh mẽ tái hiện trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng như ở trong nước. Vậy văn học miền Nam sẽ có một chỗ đứng vững vàng trong văn học sử Việt Nam.

         Tuyển tập truyện ngắn này tập hợp mười nhà văn tiêu biểu của văn học miền Nam. Bên cạnh hai nhà văn nữ : Túy Hồng và Nguyễn Thị Hoàng, có tám nhà văn nam : Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Nhật Tiến, Nguyễn Thụy Long, Thanh Nam, Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường và Phan Nhật Nam. Trong số các tác giả trên đây, Mai Thảo là người đã tích cực góp phần vào việc cách tân văn học. Đứng đầu tạp chí Sáng Tạo, mà một nhóm nhà văn, nhà thơ cùng chung tinh thần xây dựng cái mới hợp tác, Mai Thảo kêu gọi các thế hệ trẻ cắt đứt với quá khứ để lên đường đi đến một văn học hiện đại.

         Sự chọn lựa các tác giả trên đây có vẻ võ đoán, tuy nhiên đáng được độc giả lượng thứ, bởi vì khuôn khổ giới hạn của cuốn sách không cho phép chúng tôi giới thiệu thêm nhiều tác giả khác của miền Nam.

         Trong những truyện đầu, chủ đề chiến tranh nổi bật. Thanh Tâm Tuyền, Thảo Trường, Dương Nghiễm Mậu, Phan Nhật Nam là những người ở trong quân ngũ, như những thanh niên cùng thế hệ ; vì bị xoáy vào cơn lốc sinh tử, họ là những chứng nhân trực tiếp của những cảnh khủng khiếp của chiến tranh. Thanh Tâm Tuyền nổi tiếng vì đã làm mới thơ miền Nam với những vần thơ tự do, độc đáo, cũng là một tác giả tiểu thuyết và truyện ngắn ; trong truyện Dọc Đường, ông đã tạo nên một không khí lo sợ đến cùng. Thảo Trường, tác giả truyện Trong Hầm Trú Ẩn, diễn tả sự bất lực và nỗi nhục nhã của một thương phế binh. Nguyễn Thụy Long và Dương Nghiễm Mậu thì hướng về cái chết của người lính. Ngày tháng buồn hơn của Nguyễn Thụy Long kể cái chết của một người lính trẻ sắp lập gia đình. Chuyến trở về sau cùng của Dương Nghiễm Mậu cho thấy mối đe dọa của tử thần chờn vờn trên một đám đông dân chúng đầy khiếp sợ, với chiếc quan tài của một người lính trẻ mà người ta không tìm ra được gia đình để trao lại. Về phần Nhật Tiến, nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, ông kể trong truyện Đường Vào Trần Gian cảnh lang thang của một đứa bé trong chiến tranh. Những cuộc hành quân bất ngờ đẩy Phan Nhật Nam đến mảnh đất quê hương của mình, khiến ông viết Những Ngày Dài Trên Quê Hương gồm những suy tưởng xót xa về sự tàn bạo và phi lý của chiến tranh.

         Rời xa chiến tranh, một chủ đề thứ hai tiết lộ một khía cạnh của xã hội Việt Nam : chủ đề người phụ nữ. Người phụ nữ bị giam cầm trong những lề thói của truyền thống, trong truyện Buồn Ga Nhỏ của Thanh Nam, người phụ nữ chống đối truyền thống trong Nhìn Xuống của Túy Hồng và Một chút Đời Người của Nguyễn Thị Hoàng, và người phụ nữ ý thức về nhân phẩm của mình trong Bàn Chân Tưởng Tượng của Mai Thảo. Những gương mặt phụ nữ trên đây thuộc hai thế giới : thế giới của quá khứ, của truyền thống và thế giới hiện đại với sự tìm kiếm tự do, tự chủ.

         Gió Nam là tựa đề chung cho mười truyện ngắn, tạo nên cái nhìn toàn diện về văn học miền Nam từ 1954 đến 1975. Gió Nam là biểu tượng của nền văn học này, dù bao tai họa do chiến tranh gây nên, ngọn gió huyền thoại từ phương Nam vẫn đem lại cho dân tộc Việt Nam niềm hy vọng, sự tự do và tinh thần nhân bản.