NỖI ĐAU TRIỀN MIÊN TRÊN CÁNH ĐỒNG BẤT TẬN

         Năm 2005, có hai nhà văn nữ đã gây chấn động trên văn đàn và nhiều xôn xao, phản ứng trong dư luận : Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn Ngọc Tư. Đỗ Hoàng Diệu với tập truyện Bóng Đè, và Nguyễn Ngọc Tư với truyện Cánh Đồng Bất Tận. Cả hai nhà văn đều sinh vào thời hậu chiến, đồng lứa tuổi. Trong khi Đỗ Hoàng Diệu khai thác một đề tài có tính táo bạo, gây nhiều tranh cãi : đề tài tình dục của người phụ nữ, ít ra trong hai truyện Bóng ĐèVu Quy, thì Nguyễn Ngọc Tư, trong các truyện ngắn, không ngớt ca ngợi miền sông nước, quê hương của mình, với những người dân quê chất phác và tâm trạng vui buồn của họ ; đặc biệt truyện Cánh Đồng Bất Tận, in trong tập truyện mang cùng tên, vừa mới ra (năm 2005) đã gây được nhiều hào hứng trong giới độc giả. Với truyện Cánh Đồng Bất Tận, tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tư nổi như cồn. Thật ra tác giả không xa lạ gì với độc giả, trước đó Nguyễn Ngọc Tư đã có những tác phẩm trình làng như : Ngọn Đèn không Tắt (2000), Giao Thừa (2003), Biển Người Mênh Mông (2003), Nước Chảy Mây Trôi (2004). Cánh Đồng Bất Tận được dịch sang các tiếng Hàn, Thụy Điển, Đức, được giải thưởng trong nước và ở hải ngoại. Đặc biệt truyện được chuyển thể thành phim và kịch.

         Ở đây xin miễn bàn về bộ phim Cánh Đồng Bất Tận, vì văn chương và điện ảnh là hai ngành nghệ thuật khác nhau, văn chương được xây dựng bằng chữ nghĩa, ngôn từ, điện ảnh bằng hình ảnh, màu sắc.

         Cánh Đồng Bất Tận được giới thiệu như một truyện ngắn. Có lẽ vì sở trường của Nguyễn Ngọc Tư là truyện ngắn. Thật ra, truyện này dài 58 trang, có cấu trúc hẳn hòi, chia ra làm 8 phần. Cánh Đồng Bất Tận có thể được xem như một hình thức trung bình, giữa truyện ngắn và tiểu thuyết.

         Điều gì đã khiến Cánh Đồng Bất Tận có sức thu hút và trở nên một biến cố nghệ thuật như thế ? Chắc chắn là sự xúc động của độc giả trước một hoàn cảnh gia đình bi thảm.

I Cốt truyện

         Tác giả Nguyễn Ngọc Tư dẫn độc giả về một mảnh đất miền Tây Nam chằng chịt những sông rạch, nơi có những người dân chất phác lo làm lụng, sinh sống. Và ở đâu có con người chung sống với nhau, thì ở đấy xảy ra những chuyện buồn vui, vui thì ồn ào, hứng khởi, buồn thì có khi đến não nề, tan nát. Út Vũ là một người đàn ông 40 tuổi, chăm lo lao động cần cù để nuôi vợ và hai con, một gái tên Nương và một trai tên Điền.

Chính người con gái tên Nương là người kể truyện, độc giả biết rõ mọi việc xảy ra qua cái nhìn đa cảm của cô gái. Người vợ của Út Vũ có tiếng là người đàn bà đẹp nhất xóm. Út Vũ yêu vợ đến nỗi anh ta lót đá quanh nhà để vợ khi ra bến sông, chân khỏi lấm bùn. Hai vợ chồng gặp nhau trong một hoàn cảnh lạ lùng. Một hôm, Út Vũ chèo ghe trên sông thấy một cô gái ngồi khóc trên bờ, anh ta ngạc nhiên đến gần và hỏi cô ta có muốn đi quá giang không. Người con gái bằng lòng xuống ghe, nhưng không biết đi về đâu, Út Vũ bèn đưa cô gái về nhà mình, thế là hai người trở nên vợ chồng. Người vợ thường ra bến sông chùi rửa nồi niêu, thấy ghe thuyền thương hồ qua lại, một trong những con buôn chuyên bán vải  lụa nhiều màu sắc, người vợ rất ham thích, nhưng không có tiền để mua. Tên lái buôn biết được hoàn cảnh của người này, bèn dở trò cám dỗ, khiến người vợ phạm tội thông dâm, ngay trong nhà mình, gần cái bồ lúa. Chẳng may trưa hôm đó chị em Nương ngủ quên sau bồ lúa, hai chị em thấy tận mắt cảnh mẹ mình trên giường với tên buôn vải, đứa em sợ hãi úp mặt vào ngực chị. Về sau hình ảnh cái bồ lúa vẫn còn ám ảnh hai chị em lâu dài. Khi biết được hai con mình đã mục kích cái cảnh trên giường, người mẹ xấu hổ liền bỏ nhà ra đi. Út Vũ hay tin vợ mình đã phụ bạc, nổi cơn điên, trở về nhà đốt áo quần vợ, đốt nhà và đem hai đứa con xuống ghe.

Kể từ đây, ba cha con sống một cuộc đời lênh đênh, trôi nổi với đàn vịt, từ con sông này qua con rạch kia. Tình cờ một cô gái điếm tên Sương bị đánh ghen gần ghe, được hai chị em Nương cứu. Thế là Sương đi vào cuộc sống của ba cha con. Út Vũ chấp nhận sự hiện diện của Sương một cách miễn cưỡng và tỏ ra khinh miệt, trong khi cô gái điếm đem lòng thương yêu anh ta.

Khi ra đi, hai chị em còn nhỏ, cuộc đời lênh đênh trên sông nước thấm thoát mà đã 8 năm. Điền đã 17 tuổi, nó có  thân hình của một thanh niên cường tráng, nhưng nó đè nén, tìm cách dập tắt những bản năng nhục dục, vì nó không muốn giống cha nó, ăn ở với đàn bà như vịt trống với vịt mái làm nó ghê tởm. Thiếu tình thương của người mẹ, Điền đâm ra yêu Sương. Khi hay tin Sương vì bị Út Vũ nhục mạ nặng nề bỏ đi, Điền đi tìm Sương một cách tuyệt vọng. Nương thương nhớ đứa em đã hiểu thấu lòng mình và luôn che chở mình.

Còn lại hai cha con, Út Vũ và Nương. Người cha trong mấy năm trời dửng dưng, lạt lẽo với con gái, nay nhìn đứa con với đôi mắt lạ lùng, vì đứa con gái giống mẹ như đúc, khiến anh ta dù có làm gì đi nữa cũng bị hình ảnh người vợ luôn theo dõi. Út Vũ làm hoà với con, tặng con chút nữ trang để … đi lấy chồng. Phần Nương ngao ngán biết lấy ai ở cái nơi hoang vắng này, chỉ có đôi người đàn ông thô bạo. Nương cay đắng nhận thấy sự thay đổi của cha mình đã trễ rồi, không còn hàn gắn được những tan vỡ.

         Xảy ra việc Nương bị ba tên côn đồ hãm hiếp dưới mắt người cha lúc đó đang bị ép trong thế nằm không sao cứu được đứa con của mình. Trong khi bị nạn, Nương nghĩ đến cái chết, bỗng dưng hình ảnh người mẹ hiện ra, và Nương nhớ rõ gương mặt của mẹ khi nằm trên giường với tên buôn vải, không phải là một gương mặt của khoái lạc, mà là gương mặt như gương mặt của Nương trong giây phút này. Đứa con gái có nghĩ rằng mẹ mình cũng là nạn nhân không ? Và lòng Nương tràn đầy thương yêu đối với đứa trẻ không cha sẽ ra đời. Tấm lòng cao cả của Nương đáp lại bao hận thù của người cha đối với người mẹ, đáp lại bao bất hạnh mà hai chị em Nương phải gánh chịu.

II Nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư

         Các nhân vật trong Cánh Đồng Bất Tận là yếu tố làm nên giá trị của truyện, những nhân vật bất hạnh đã đánh thức lòng thương xót, sự đồng cảm của độc giả. Cách dàn dựng, miêu tả những nhân vật khiến người đọc không thể dửng dưng. Giữa nhân vật và truyện kể có những quan hệ mật thiết, vì truyện cần đến nhân vật như một chức năng thiết yếu cho sự diễn biến của truyện. Mặt khác, có sự gần gũi, giống nhau giữa con người ngoài đời và nhân vật trong truyện. Bởi vì sự sáng tạo một nhân vật, ngay từ đầu, bắt nguồn từ trải nghiệm của tác giả. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sinh trưởng ở miền đồng bằng sông Cửu Long, lớn lên giữa cảnh sống và tâm tình của người dân quê ở đấy ; không có gì đáng ngạc nhiên khi những người dân quê đó hiện diện trong truyện. Nhà văn Pháp François Mauriac đã nhận xét : « Người nghệ sĩ, trong thời thơ ấu của mình, đã dự trữ những gương mặt, những bóng hình, những lời nói (…), những cái đó tồn tại nơi người nghệ sĩ thay vì tan biến như nơi những người khác, điều này không làm người nghê sĩ ngạc nhiên ; những cái đó sôi sục mà người nghệ sĩ không hay biết, chúng sống ẩn giấu và khi cần thiết thì chúng hiện ra. » (1)

         Nhân vật trong văn chương được xem như một giao diện (interface) giữa tác phẩm và người đọc tác phẩm. Nhân vật được đưa vào một khái niệm gọi là sự đồng nhất hóa người đọc, nhờ trải nghiệm của người này. Nhà lý luận văn học Hans Robert Jauss nhận xét có 5 hình thức người đọc được đồng nhất hóa với nhân vật. Đồng nhất hóa :

– do sự tham gia của người đọc vào trò chơi của truyện,

– do sự khâm phục của người đọc đối với nhân vật hoàn hảo,

– do cảm tình của người đọc khi cảm thấy thương hại một nhân vật không được may mắn,

– do lòng trắc ẩn của người đọc trước sự đau khổ của nhân vật,

– hay do sự mỉa mai của người đọc đối với một nhân vật đi ngược lại với người anh hùng. (2)

         Theo phân tích của Hans Robert Jauss, chúng ta nhận thấy khi người đọc đọc truyện Cánh Đồng Bất Tận thì dễ bị đồng hóa với các nhân vật « do lòng trắc ẩn trước sự đau khổ » của hai nhân vật bất hạnh là Nương và Điền. Hiện tượng này giải thích tính hấp dẫn của truyện.

1/ Nhân vật vắng mặt, trọng tâm của truyện

         Cốt truyện của Cánh Đồng Bất Tận gồm nhiều sự kiện dồn dập khiến người đọc mải miết theo dõi các nhân vật chính sống trên ghe : Út Vũ, hai đứa con và Sương, cô gái điếm, mà có thể quên nhận vật nguyên do của bao đổ vỡ, bất hạnh, đó là người vợ của Út Vũ, mẹ của hai chị em Nương và Điền, tức kẻ vắng mặt. Nhân vật này dường như phai mờ, chỉ biết chị ta là người đàn bà đẹp nhất xóm, bị tên buôn vải quyến rũ, rồi chị ta biến mất, bỏ mặc chồng con. Sự thật, kẻ vắng mặt không ngớt ngự trị trong ký ức của ba cha con. Hình ảnh người mẹ nằm trên giường với tên buôn vải là một hình ảnh đầy kinh hãi trong đầu óc vô tội của hai đứa con, lúc đó đứa chị 10 tuổi, đứa em 9 tuổi, không có gì bôi xóa được : … cả hai vẫn như thấy rõ ràng, trên chiếc giưòng tre quen thuộc, má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chớm những nốt ruồi. Họ cắn víu. Vật vã. Rên xiết. (tr. 169) Hình ảnh đó đã xô đẩy hai chị em vào một thế giới xa lạ, kể từ nay cuôc đời của chúng không còn như trước nữa.

         Khi thấy Điền chảy nước mắt vì bệnh đau mắt, người mẹ lo lắng hỏi thì đứa chị điềm nhiên trả lời : Chắc tại nó nhìn thấy chuyện bậy đó, má. Trưa nay nó ngủ kẹt bồ lúa. (tr. 170) Chỉ cần một tiếng duy nhất, tiếng « bậy », cũng đủ làm người mẹ giật thót cả người và đã vĩnh viễn ra đi. Cái bồ lúa là một biểu tượng tội lỗi của người mẹ, nó luôn ám ảnh hai đứa con. Mấy năm sau, khi bầy vịt xơ xác không đủ nuôi ba cha con, Út Vũ bèn ghé lại một bến sông, để làm thợ mộc đóng giường. Đứa con của người chủ nhà rủ hai chị em Nương vào nhà cùng chơi chung, nhưng vì sợ thấy lại cái bồ lúa năm xưa, nên Nương một mực từ chối. Dù bao đắng cay, người con gái vẫn nghĩ đến mẹ mình. Nhiều khi ghe đi qua những nơi có đám đông phụ nữ trên bờ, Nương tự hỏi có mẹ mình trong đám đông đó không, và nhận thấy hình ảnh kẻ vắng mặt dần dần đã nhạt nhòa. Nhưng hình ảnh cái bồ lúa thì không.

Về phần Út Vũ, anh ta cũng bị hình ảnh kẻ vắng mặt dằn vặt, thay vì âm thầm đau khổ như hai đứa con, thì anh ta có những hành động tàn nhẫn đối với đàn bà.

2/ Tâm lý của người chồng bị tình phụ

         Út Vũ thật thà nghĩ rằng một khi anh ta cần cù làm việc để nuôi vợ con, thì người vợ hiểu và thương anh ta. Nghĩ như vậy là quên những cám dỗ có sức quyến rũ một người đàn bà đẹp và yếu đuối. Cho nên khi hay tin người vợ mà mình yêu thương đã phụ bạc một cách tàn nhẫn, Út Vũ rơi vào một cơn khủng hoảng đau đớn, nó biến thành một mối thù hận ghê gớm, đến nỗi anh ta đi đến một sự lựa chọn quyết liệt : chẳng những bôi xóa hình ảnh, dấu vết kẻ bạc tình, mà còn bôi xóa cả ngôi nhà nơi vợ chồng anh ta đã từng hạnh phúc. Và lửa giúp anh ta làm cái công việc tẩy xóa đó. Rồi Út Vũ đi xa hơn : anh ta từ bỏ đất liền gồm có xóm làng, láng giềng, người quen biết, tức xã hội, và chọn con sông, cái nơi không có xã hội, để sống cuộc đời phiêu lưu, nay đây mai đó, một cuộc đời vô định kể từ đây. Đồng thời anh ta rơi vào một trạng thái lạ lẫm : ít nói, lạnh lùng, dửng dưng, tránh mọi tiếp xúc, bỏ mặc hai đứa con với đàn vịt. Lúc đầu, sau giấc ngủ trưa, Út Vũ thường đánh con, chỉ vì chúng là con của kẻ bạc tình, hai chị em Nương cam chịu vì biết cha đánh như thế là để bớt đau khổ. Đánh chán rồi Út Vũ đâm ra dửng dưng, lạnh lùng với hai đứa con.

         Mối thù hận của Út Vũ không trừng phạt được người đàn bà tội lỗi, mà chỉ gây ra những nạn nhân vô tội. Anh ta trừng phạt kẻ vắng mặt bằng cách tỏ ra độc ác với tất cả những người phụ nữ có lòng thương yêu anh ta, khởi đầu là Sương, một cô gái bị buộc làm điếm để sinh sống, Sương yêu Út Vũ, nhưng bị anh ta khinh bỉ, nhục mạ, rồi đến những người phụ nữ khác có ý muốn xây dựng cuộc đời với Út Vũ, kể cả những người phụ nữ mà Út Vũ phải tốn công chiếm đoạt, cuối cùng tất cả đều bị anh ta bỏ rơi. Khi Út Vũ hại những người phũ nữ, đó là lúc anh ta vật lộn với một bóng ma, bóng ma của kẻ vắng mặt. Hóa ra anh ta chỉ yêu có một người, và như thế nỗi đau đớn càng vô phương cứu chữa. Anh ta tưởng tình yêu của mình đối với vợ mãi mãi lâu dài, như con sông chảy bất tận, nhưng tình yêu của người vợ thì lại ngắn hạn, như một chuyến quá giang trên sông. Nỗi  tuyệt vọng quá lớn, và vô tình anh ta đã gây tai họa cho hai đứa con.

         Cuối cùng Út Vũ trực diện với kẻ vắng mặt qua đứa con gái, Nương giống mẹ như đúc : từ sắc đẹp đến cách cột tóc, cách kho cá rắt nhiều tiêu, cách ngồi vá áo quần. Vào cuối truyện, Út Vũ bị ép buộc chứng kiến cảnh con gái, tức người vắng mặt, bị kẻ bất lương xúc phạm, do hiện tượng đồng hóa đứa con gái với mẹ. Hóa ra người mẹ cũng như đứa con gái là nạn nhân của tình dục.

3/  Những nhân vật bất hạnh sống bên ngoài xã hội

         Lỗi lầm lớn nhất của Út Vũ là đã hành động mù quáng mà không nghĩ đến tương lai hai đứa con. Nỗi bất hạnh của hai chị em Nương bắt đầu với cái bồ lúa. Rồi hai chị em bị cắt đứt với đời sống quen thuộc trên đất liền. Xung quanh không còn tiếng nói, tiếng cười của con người, chỉ có nước và đàn vịt. Bất hạnh vì thiếu thốn, thèm khát những cái cần thiết cho đời sống của một con người. Trước hết hai chị em thiếu đời sống trong xã hội, với những liên hệ giữa những con người với nhau, hai chị em không hề biết đến nhà trường, thiếu học vấn, giáo dục, bạn bè. Tóm lại, hai chị em thèm người. Nương nói : Nhiều lúc tôi hơi nhớ con người. Họ ở trong cái xóm nhỏ kia, chỉ cách chỗ chúng tôi dựng trại vài ba công đất. Họ lúc nhúc trên thị trấn kia, nơi chúng tôi vẫn thường ghé lại mua gạo, cám, mắm muối… dự trữ cho những chuyến chạy đồng xa. Và họ ở gần ngay đây, họ vừa gặt lúa vừa nói chuyện tục tĩu rồi cười vang (…) Có lẽ cuộc sống của họ ngày càng xa lạ với chúng tôi. Họ có nhà để về, chúng tôi thì không. Họ sống giữa chòm xóm đông đúc, chúng tôi thì không. Họ ngủ với những giấc mơ đẹp, chúng tôi thì không. (tr. 177-178) Câu « chúng tôi thì không » được lặp lại nhiều lần như để ngẫm đi ngẫm lại cái thân phận bất hạnh của hai chị em.

         Thiếu người, thiếu tiếng nói, hai chị em bỗng dưng nhận thấy mình ít nói, chỉ hiểu nhau qua trực cảm, như thể đã quên tiếng nói của loài người và gần gũi với tiếng vịt hơn. Khi có dịch cúm gia cầm, đại diện của chính quyền đến để tiêu diệt đàn vịt thì, Thằng Điền mếu máo :

Mấy ông ơi, vịt tui sân sẩn, có bệnh tật gì đâu

Một người càu nhàu :

Sao cậu biết ?

Rõ ràng tụi vịt nói với tui. (tr. 197)

         Nỗi thèm muốn thứ hai là đất. Điền nói với chị nó, nó thèm có miếng đất để trồng cây ăn trái, và người chị đồng cảm với đứa em. Điền nhớ xóm cũ, nó nói : Sao gió ở đây giống hệt gió nhà mình (tr. 178), hai chị em  xúc động.

         Thiếu người, thiếu đất, hai chị em thiếu cả tình thương. Có lần Điền hỏi chị : Người ta thương mẹ ra làm sao ?

Nương kể một hôm đi qua một thôn xóm, thấy một ông già ngồi chơi với cháu : … thằng Điền đứng tần ngần bên hàng rào dâm bụt, bảo : Phải chi ông này là ông nội mình, thương đỡ chơi, hen Hai. (tr. 188). Hai chị em bất hạnh đến nỗi không có một người ông để thương.

Điền có cái bệnh hay chảy nước mắt, phải chăng đó là dấu hiệu của một cuộc đời bất hạnh ? Còn Nương là một cô gái đa cảm, mau nước mắt ; khi thấy Sương sau khi trải qua một đêm với người cha bèn hăng hái lo chuyện bếp núc, như thể cô ta là vợ của Út Vũ, Nương biết đó là một ảo tưởng, và đã khóc cho thân phận của Sương.

Và thiếu thốn cuối cùng là kinh nghiệm sống. Hai chị em chỉ biết tự mình tìm hiểu chuyện này chuyện nọ, nhưng có khi đành bó tay trước một sự kiện bất ngờ, như khi Nương có kinh lần đầu, hai chị em cuống cuồng tìm cách làm cho máu ngưng.

Khi Điền ra đi để tìm Sương, Nương thương nhớ đứa em, chính đứa em đã thấu rõ lòng chị, muốn che chở chị. Khi thấy chị mình đã lớn, xinh đẹp ra, Điền xót xa, lo lắng : Đẹp làm chi dữ vậy Hai ? Còn Nương lo sợ cho em mình sẽ không tìm được tình yêu với Sương, một người phụ nữ già dặn, từng trải, có nhiều đòi hỏi sinh lý.

Sở dĩ truyện Cánh Đồng Bất Tận được đón nhận một cách nhiệt liệt là vì truyện có một giá trị tình cảm. Với một ngôn ngữ bình dị, không mấy trau chuốt, rặt miền Nam, và do sự chọn lựa những chi tiết tình cảm bắt nguồn từ trải nghiệm riêng tư của mình, tác giả Nguyễn Ngọc Tư đã lột tả được hoàn cảnh bi đát và nỗi lòng của hai nhân vật bất hạnh trong truyện.

         Truyện Cánh Đồng Bất Tận vẽ lên hình ảnh một chiếc ghe nhỏ bé, lạc lõng giữa trời nước mênh mông, chiếc ghe là kiếp người bềnh bồng trong vũ trụ, một ngày kia sẽ trôi đến bến bờ.

Chú thích :

  • (1) L’Analyse  littéraire, nhiều tác giả, Nxb Armand Colin, 2015, tr. 167.
  • (2) Hans Robert Jauss, Pour une esthétique de la réception (Biện luận cho một mỹ học của sự tiếp nhận), Nxb Gallimard, 1978.