CÁI NÓN SẮT

        Năm 1971, một bộ phim mang tên Người Tình Không Chân Dung của nhà đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc, với tài tử Kiều Chinh trong vai chính, ra mắt khán giả miền Nam. Bộ phim gây được chú ý tại Hội Điện ảnh Á châu lần thứ 17 ở Đài Bắc và được giải thưởng phim xuất sắc nhất.

        Người Tình Không Chân Dung nói về chủ đề Người lính Việt Nam Cộng Hòa, và bản nhạc mang cùng tên được dùng cho bộ phim là do nhạc sĩ Hoàng Trọng sáng tác, tác giả của ca từ là Dạ Chung, bút hiệu của diễn viên, nhà đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc khi ông viết ca từ.

        Những ai đã từng yêu nhạc thời xưa hẳn còn nhớ những ca khúc của Lâm Tuyền rất thơ mộng như : Trở về dĩ vãng, Tiếng thời gian, Khúc nhạc ly hương, Hình ảnh một buổi chiều. Sở dĩ những ca khúc đó được thính giả yêu chuộng là vì nhạc hay và ca từ mượt mà, gợi cảm như những bài thơ, và tác giả của những ca từ đó không ai khác hơn là Dạ Chung.

        Qua ca khúc Người Tình Không Chân Dung, thêm một lần nữa, Dạ Chung cho thấy ngôn ngữ thơ của ông. Người tình không chân dung là kẻ vắng mặt, là người lính không bóng dáng, không tên tuổi, mà ca từ là một tra vấn khẩn khoản, với những từ lặp lại : « bây giờ », « bây giờ », « ở đâu », « ở đâu », « vẫn còn đó », « vẫn còn đó », v.v… như một sự tìm kiếm vô vọng pha lẫn tiếc nuối. Giọng hát xen kẽ với lời nói như một nhận xét từ bên ngoài trở thành một kể lể gần gũi, thân thiết, làm tăng thêm nỗi lưu luyến người vắng bóng.

                Người Tình Không Chân Dung

Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt bên bờ lau sậy này

Bây giờ anh ở đâu, bây giờ anh ở đâu ?

Còn trên đời này, đang xông pha đèo cao, dốc thẳm,

Hay đã về bên kia phương trời miên viễn chiêm bao ?

Trên đầu anh cái nón sắt ngày nào ấp ủ mộng mơ của anh,

mộng mơ của một con người.

Nói :

Ôi nó khác chi mây trời hiền hòa,

Khác chi bốn mùa êm trôi,

Có tiếng cười thủy tinh của vài đứa trẻ

Và hơi ấm vòng tay ôm của một người vợ hiền,

phải thế không anh ?

Bây giờ, bây giờ trong cái nón sắt của anh để lại bên bờ lau sậy này,

Chỉ có một con ễnh ương mượn vũng nước mưa đọng trong đó làm hồ.

Trong cái nón sắt của anh bây giờ vẫn có đủ trời, vẫn mây hiền hòa trôi và bốn mùa vẫn về :

Xuân muôn thuở dịu dàng

Đông rét lạnh,

Thu khi xám buồn, khi rực vàng nắng quái,

Hạ cháy lửa nung trời.

Hát :

Trong cái nón sắt của anh, mặt trời vẫn có đó ban ngày và ban đêm mặt trăng hoặc muôn muôn triệu triệu vì sao vẫn còn đó,

Tất cả vẫn còn đó, vẫn còn đó.

Nhưng anh, bây giờ anh ở đâu ?

Con ễnh ương vẫn gọi tên anh trong mưa dầm.

Tên anh nghe như tiếng thở dài của lòng đất mẹ.

Dạo tháng ba, tên anh lẫn trong tiếng sấm đầu mùa mưa,

Nghe như tiếng gầm phẫn nộ đến từ cuối trời.

Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt bên bờ lau sậy này,

Anh là ai ? Anh là ai ? Anh là ai ?

        Hình ảnh cái nón sắt nằm chơ vơ ngoài trời, trong đám lau sậy, không người sở hữu, gây ngậm ngùi cho kẻ phát hiện ra nó. Không gian quen thuộc của cái nón sắt lẽ ra là một đồn lính, một trại lính, hoặc những nơi xảy ra những cuộc giao tranh. Nhưng đây cái nón sắt bị bỏ không trong một không gian bất ngờ và bất thường, giữa đám thảo mộc. Sự bất thường này là một khẳng định : người lính, người sở hữu cái nón sắt không còn trên đời này nữa. Người lính đã chết, vì nếu anh còn sống thì cái nón sắt phải đồng hành với anh, che chở anh trong các chiến trận.

        Cái nón sắt vừa là một khẳng định cái chết của người lính vừa là một kỷ vật có khả năng gây liên tưởng, làm xuất hiện nhiều hình ảnh. Kẻ nhìn nó nghĩ đến một thời yên vui của người lính khi anh đội cái nón sắt, anh đã từng ôm ấp mộng mơ của mình, từng nhớ đến tiếng cười của những đứa con thơ, nhớ đến tình âu yếm của người vợ. Nhưng rồi cái nón sắt của hạnh phúc đột ngột trở thành cái nón sắt của bất hạnh, của cái chết.

        Cuối cùng, cái nón sắt có một giá trị biểu tượng, biểu tượng của người anh hùng đã từng hiện hữu trên đời này, từng xông pha ngoài chiến trận và đã hy sinh xương máu cho một lý tưởng. Nhưng hồn thiêng của người anh hùng vẫn còn trong vũ trụ, dường như ta nghe được tên anh vang rền trong tiếng sấm ; tinh tú trên trời, bốn mùa của thiên nhiên đều phản chiếu trong cái nón sắt để tôn vinh người anh hùng, và tiếng kêu của con ễnh ương như một lời nhắc nhở, một tiếng kinh cầu.

        Ngôn từ của Dạ Chung đã làm cho cái nón sắt của người lính có một giá trị biểu tượng rất cao. Hình ảnh cái nón sắt quả đã gây ấn tượng sâu xa và đi vào ký ức của thính giả.

        Sau đây là ca từ Người Tình Không Chân Dung dịch sang Pháp ngữ.

Le Soldat inconnu

Cher Soldat qui avez laissé votre casque au bord de ces roseaux,

Où êtes-vous maintenant ? Où êtes-vous maintenant ?

Êtes-vous encore de ce monde, en train de vous lancer bravement vers des cols élevés, des pentes raides,

Ou êtes-vous passé de l’autre côté d’un monde à jamais lointain, comme en songe ?

Sur votre tête, le casque naguère avait protégé vos rêveries,

les rêveries d’un être humain.

Paroles :

Oh ! ce casque est semblable aux doux nuages du ciel,

aux quatre saisons qui s’écoulent paisiblement.

Il contient le rire cristallin de quelques enfants

et la chaleur de l’étreinte d’une tendre épouse,

n’est-ce pas, cher Soldat ?

Et maintenant, maintenant,

Le casque que vous avez laissé au bord de ces roseaux,

est rempli d’eau de pluie,

Où seule une grenouille a élu domicile.

Dans votre casque maintenant il y a toujours la voûte céleste,

toujours des nuages paisibles qui passent

et les quatre saisons qui reviennent :

le printemps éternellement doux,

l’hiver glacial,

l’automne tantôt grisâtre tantôt doré de soleil,

l’été au feu brûlant.

Chant :

Dans votre casque le soleil est encore là, le jour,

et la nuit, la lune ou des millions, des millions d’étoiles sont encore là,

Tout est encore là, encore là.

Mais vous, où êtes-vous maintenant ?

La grenouille vous appelle sans cesse, sous une pluie sans trêve,

Votre nom semblable à un soupir venant du fond de la terre maternelle.

Au mois de mars, votre nom s’est mêlé au bruit du tonnerre du début d’une saison de pluie,

Comme un rugissement de révolte venu de l’horizon lointain.

Cher Soldat qui avez laissé votre casque au bord de ces roseaux,

Qui êtes-vous ? Qui êtes-vous ? Qui êtes-vous ?

                                       Liễu Trương dịch