PICASSO VÀ TRƯỜNG PHÁI LẬP THỂ

Khi tôi vẽ, tôi luôn luôn thử đưa ra một hình ảnh mà người ta không chờ đợi và phải là một hình ảnh khá nặng nề để không đáng được chấp nhận. Chính điều đó làm tôi thích. Và trong cái nghĩa đó, tôi muốn làm kẻ lật đổ. Nghĩa là tôi đưa ra cho người ta một hình ảnh của thiên nhiên và của chính họ. (1)

Lời tuyên bố trên đây của Picasso khẳng định một cuộc cách mạng về hội họa. Cuộc cách mạng mang tên « Lập thể ». Lật đổ cách thưởng thức hội họa của mọi người, buộc người xem tranh có một cái nhìn khác, bao quát cả những khía cạnh của đồ vật hay nhân vật ngay cả khi những khía cạnh đó không có trước mắt. Chúng ta quen nhìn một bức tranh trên mặt phẳng, thế nhưng Picasso cho chúng ta thấy chẳng hạn một gương mặt nhìn nghiêng nửa mặt, nhưng lại thấy cả con mắt của bên nửa kia, phía đáng lẽ không trông thấy. Cho nên người xem kinh ngạc, sững sờ, khó chấp nhận. Cách mạng chính là ở đó.

Pablo Picasso và Georges Braque được xem như những danh họa đã thành lập trào lưu lập thể là một trào lưu nghệ thuật xuất hiện từ đầu thế kỷ 20, đã tạo nên một cuộc cách mạng trong các ngành hội họa, điêu khắc, và ảnh hưởng đến kiến trúc, văn chương và âm nhạc.

Nếu chỉ nói riêng về văn chương, thì ảnh hưởng của hội họa lập thể thấy rõ trong tập thơ Alcools của nhà thơ Guillaume Apollinaire, xuất bản năm 1913. Trong tập thơ này, đáng chú ý là sự trà trộn những thời của động từ (thời quá khứ, thời hiện tại…), sự chằng chịt của các hình thái tu từ và không có chấm phết ; tất cả những đặc tính đó nói lên một cảm xúc chóng thay đổi, thể hiện qua nhiều điểm nhìn trong một bài thơ, đến nổi người đọc không còn biết ai nói, nói về gì, và không biết nghĩa của bài thơ. Với những đặc điểm đó, tập thơ Alcools của Apollinaire nhấn mạnh cảm tưởng tự do và sức ép của rượu. Tác giả đã đề tặng Picasso nhiều bài thơ trong tập này.

Pablo Picasso sinh năm 1881 tại Malaga, ở Tây Ban Nha, nhưng phần lớn cuộc đời của ông, ông sống ở Pháp. Thân phụ của Picasso là một giáo sư dạy môn vẽ ở các Trường Mỹ Thuật ở La Corogne và ở Madrid. Do đó Picasso được người cha khuyến khích, nâng đỡ trong việc trau dồi hội họa.

Năm 1900, Picasso dự một cuộc triển lãm ở Barcelone với một loạt chân dung. Bức tranh của Picasso mang tên Les Derniers Moments là một trong những họa phẩm được chọn để đại diện cho Tây Ban Nha dự cuộc Triển Lãm Thế giới ở Paris.

Những họa phẩm lập thể được sáng tạo ở Pháp và trải qua ba thời kỳ : tiền lập thể, lập thể phân tích, thời kỳ chịu ảnh hưởng của danh họa Cézanne (1910-1912), và lập thể tổng hợp (1912).

Làm sao trên một khung vải với hai chiều kích, làm hiện ra tất cả tính phức tạp của những cái khối ? Ngành hội họa đã bước vào thời hiện đại khi những họa phẩm trình bày các đồ vật đã được phân tích, tách rời các yếu tố, rồi tập hợp lại thành một bức tranh, tưởng chừng người nghệ sĩ làm tăng thêm những góc nhìn khác nhau. Và những họa phẩm tạo lại những hình của hình học.

Kể từ năm 1907, Picasso và Georges Braque sáng tạo nhiều theo lối vẽ lập thể, và trào lưu lập thể lên đến tuyệt đỉnh, trong thời kỳ lập thể phân tích (1910- 1912). Trào lưu lập thể bị gián đoạn bởi Đệ Nhất Thế chiến, rồi hoạt động trở lại đến năm 1920.

Theo Gilles Plazy, một trong những cây bút viết tiểu sử của Picasso thì « Trào lưu lập thể, thực ra, Picasso và Braque bất cần. Họ không tìm cách lập một trường phái và họ không liên hệ gì đến những đồ đệ. Họ lo cho họa phẩm của họ, lo cho công việc của họ, mà không tìm cách áp đặt phong cách của mình cho bất cứ ai. » (2)

Riêng sáng tạo nghệ thuật của Picasso, vào lúc đầu, có hai thời kỳ : thời kỳ xanh và thời kỳ hồng.

Thời kỳ xanh (1901-1904) khi Picasso mới ngoài 20 tuổi. Gọi là thời kỳ xanh, vì màu xanh trội nhất trong các bức tranh của Picasso thời đó. Thời kỳ xanh bắt đầu với vụ tự tử của Carlos Casagemas, người bạn thân của Picasso. Những bức tranh được vẽ theo các chủ đề sầu buồn, cái chết, tuổi già và sự nghèo khốn. Picasso vẽ những người ăn xin, những người mù, dưới ảnh hưởng của danh họa Greco.

Thời kỳ hồng (1904-1906) : Kể từ năm 1906, Picasso sống ở Paris, tại khu nhà của nghệ sĩ Bateau-Lavoir. Bateau-Lavoir tọa lạc trên đồi Montmartre, tại số 13 Quảng trường Emile Goudeau, quận 18 Paris. Kể từ năm 1904, Bateau-Lavoir là nơi chẳng những nhiều nghệ sĩ về hội họa, điêu khắc thuộc tứ xứ đến cư ngụ, hội họp và sáng tạo, mà còn là nơi gặp gỡ, hội họp của các nhà văn, nhà thơ, nhà kịch nghệ và những nguời buôn tranh. Trong thời kỳ hồng này, Picasso dùng những màu hơi đỏ, không còn những chủ đề buồn sầu, chết chóc nữa, mà là những chủ đề vui tươi và trăn trở cho sự hiện hữu trên đời, đây là thời kỳ của tình yêu. Picasso hướng về đề tài sở thú, rạp xiếc, và vẽ những mặt nạ, những vai hề, những người tập luyện thú vật. Người nghệ sĩ quan tâm đến nét vẽ hơn là màu sắc.

Năm 1905 đánh dấu nhiều biến cố. Trước hết Picasso quen biết với nhà thơ Guillaume Apollinaire, giữa hai nhà nghệ sĩ nảy sinh một tình bạn lâu dài. Picasso cũng quen biết với nhà văn, nhà phê bình nghệ thuật André Salmon và danh họa Amedeo Modigliani. Picasso tham gia cuộc triển lãm tại Galerie Serrurier với những bức tranh thời kỳ hồng. Vào mùa xuân năm đó, Picasso vẽ bức tranh Les Saltimbanques (Những người làm trò ảo thuật rong). Mùa hè, nhân một chuyến đi qua Hòa Lan, Picasso vẽ Les Trois Hollandaises. Qua mùa thu, cuộc gặp gỡ Gertrude và Leo Stein là một biến cố về sau có ảnh hưởng đối với hội họa lập thể. Gertrude Stein (1874-1946) là một nhà thơ, nhà văn Mỹ, và là người bênh vực nữ quyền. Bà sống phần lớn cuộc đời bà ở Pháp. Gertrude Stein là người thường gây sôi nổi trong giới văn chương và nghệ thuật hiện đại. Do sách của bà, bà đã góp phần vào việc phổ biến trường phái lập thể và đặc biệt họa phẩm của Picasso, Matisse, Cézanne. Picasso đã vẽ chân dung của Gertrude Stein.

Từ năm 1907 đến năm 1909, Picasso chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phi châu, nhất là nghệ thuật của Congo. Trong bức tranh Les Demoiselles d’Avignon (Các cô gái ở Avignon) hai gương mặt bên phải chịu ảnh hưởng phần nào của những mặt nạ của nghệ thuật này.

Trong thời kỳ 1909-1914, Picasso và Georges Braque thực hiện những bức tranh được gọi là « lập thể ». Đặc tính của những bức tranh này là nghiên cứu về hình học và những hình thức : tất cả những đồ vật bị phân chia và trở thành những hình thức đơn giản của hình học, lắm khi là những hình vuông. Điều này có nghĩa là một đồ vật không được vẽ lên như nó thường được thấy, mà được vẽ với những cái mã đáp ứng với hiện thực của nó đã được biết đến.

Hội họa lập thể cũng là việc vẽ trên khung vải một đồ vật trong hai chiều kích của không gian. Picasso tách rời hình ảnh thành nhiều mặt còn gọi là hình lập phương – tiếng Pháp là « cube », do đó mới gọi nghệ thuật vẽ này là « cubisme » (lập thể) – và phá vỡ những hình thức của hiện thực để tạo nên những gương mặt lạ lùng, chẳng hạn một gương mặt được cho thấy phân nửa và thêm phân nửa của phía bên kia.

Trong vô số họa phẩm của Picasso, phải kể hai họa phẩm nổi tiếng nhất, đó là Les Demoiselles d’Avignon (1907) và Guernica (1937).

Picasso bắt đầu vẽ Les Demoiselles d’Avignon năm 1906 và kết thúc năm 1907. Đây là họa phẩm đã thành lập trường phái lập thể. Cũng cần nhắc trong những năm 1910, Picasso đã vẽ một loạt chân dung – đặc biệt chân dung của nhà văn Daniel-Henry Kahnweiler và chân dung của nhà buôn tranh Ambroise Vollard – dưới ảnh hưởng của những công trình toán học của Henri Poincaré và của Esprit Jouffret, được nhà toán học Maurice Princet giản dị hóa cho Picasso và các nghệ sĩ ở Montmartre. Kể từ đó, vẽ không gian và thời gian là vẽ trên một khung vải một đồ vật trong không gian với hai chiều kích.

Bức tranh thứ hai là Guernica trình bày cảnh tượng bi thảm của Guernica sau trận bỏ bom ngày 26-4-1937, trong thời nội chiến ở Tây Ban Nha. Picasso khiếp đảm vì tội ác nên đã sáng tạo một trong những họa phẩm rất nổi tiếng. Guernica là biểu tượng của sự ghê tởm chiến tranh và sự phẫn nộ của Picasso khi mục kích vô số nạn nhân. Trong hoàn cảnh này, Picasso xin nhập quốc tịch Pháp, nhưng bị từ chối. Từ đó nhà nghệ sĩ không bao giờ còn xin quốc tịch Pháp nữa.

Về sau, Picasso có một hình vẽ nổi tiếng Colombe de la paix (Bồ câu của hòa bình) (1949), hiện được lưu giữ ở viện bảo tàng Musée d’Art Moderne de Paris. Picasso yêu thích chim bồ câu, vì thuở nhỏ thấy người cha thường dùng chim bồ câu làm mẫu để dạy vẽ.

Trong thời kỳ Picasso lui tới với nhóm Siêu thực, lối vẽ của Picasso thay đổi. Năm 1925 đánh dấu sự cắt đứt với những bức tranh có tính hung bạo, với những thân người dị hình, co giật trong những cơn cuồng loạn. Ảnh hưởng của các nhà thơ siêu thực rất rõ ràng, Picasso muốn vẽ cái địa ngục từ bên trong. Trong số những họa phẩm của những năm 1920 phải kể : Femme dans un fauteuil (Người phụ nữ ngồi trong ghế bành), Baigneuse assise (Phụ nữ ngồi tắm), La Danse (Khiêu vũ), Le Baiser (Nụ Hôn), Buste de jeune fille (Tranh nửa người của thiếu nữ), Le peintre et son modèle (Họa sĩ và người mẫu), v.v…

Ngoài những sinh hoạt nghệ thuật, Picasso gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1944. Nhưng ông sẽ không bao giờ là một đảng viên tích cực vì quá tha thiết với sự tự do của mình. Ông còn xung đột với Đảng về bức chân dung của Staline bị chỉ trích là thiếu kính trọng.

Picasso là một tên tuổi lớn của thế kỷ 20, một người quá say mê nghệ thuật, đã từng tuyên bố : Hội họa mạnh hơn tôi, hội họa bắt tôi làm những gì nó muốn (2).

Picasso để lại một di sản đồ sộ gồm gần 50.000 tác phẩm trong đó có 1.885 bức tranh, 1228 tượng điêu khắc, 2.280 hình vẽ trên đồ sứ, 7.089 hình vẽ, 342 bức thảm treo tường, 150 sổ phác họa, v.v…

Picasso mất năm 1973 tại Pháp.

John Golding, nhà sử học uyên bác người Anh, chuyên về lịch sử nghệ thuật thế kỷ 20, đặc biệt về hội họa lập thể, là tác giả cuốn sách được nhiều người biết đến : Cubism, A History and an Analysis, 1907-1914, xuất bản năm 1959. John Golding viết : Hội hoạ lập thể là một ngôn ngữ tạo hình tuyệt đối độc đáo, một cách tiếp cận thế giới hoàn toàn mới mẻ và là một lý thuyết về mỹ học được khái niệm hóa. Người ta hiểu vì sao hội họa lập thể đã in vào nền hội họa hiện đại một hướng đi mới. 

(1) Quand je peins, j’essaie toujours de donner une image à laquelle les gens ne s’attendent pas et qui soit assez écrasante pour être inacceptable. C’est cela qui m’intéresse. Et dans ce sens, je veux être subversif. C’est-à-dire que je donne aux gens une image de la nature et d’eux-mêmes.

Françoise Gilot, Vivre avec Picasso, Nxb Calmann-Lévy, 1991.

(2) Gilles Plazy, Picasso, Nxb Gallimard, 2006.