SARTRE, CON NGƯỜI KIỆT XUẤT ĐÓ BỊ LẦM LẠC

                      Bài của Pascal Bruckner

Nhà văn, nhà triết học Pascal Bruckner, một gương mặt rất quen thuộc trong giới trí thức Pháp, là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng như : La tentation de l’innocence (Sự quyến rũ của vô tội) được giải thưởng Médicis về biên khảo, 1995, Les voleurs de beauté (Những kẻ trộm cắp cái đẹp), giải thưởng Renaudot, 1997, Misère de la prospérité (Sự khốn khổ của phồn vinh), giải thưởng Cuốn Sách Hay Nhất về Kinh Tế và giải thưởng Aujourd’hui, 2002, Un bon fils (Một người con tốt), giải thưởng Marcel Pagnol và giải thưởng Duménil, 2014, Une brève éternité (Một vĩnh hằng ngắn ngủi), triết lý về tuổi thọ, 2019, v.v… Những tác phẩm của Pascal Bruckner được dịch ra khoảng 30 thứ tiếng.

Pascal Bruckner là một thành viên của Viện Goncourt. Ông là tác giả của bài  Sartre, ce génial égaré (Sartre, con người kiệt xuất đó bị lầm lạc) đăng trên tuần báo Le Point ở Pháp, số 2555, ra ngày 5/8/2021. Trong bài này, Pascal Bruckner nói lên nỗi kinh ngạc và thất vọng của mình trước lập trường có tính hệ tư tưởng và chính trị, cùng những hành động của Sartre, Sartre, nhà triết học xuất chúng, nhà văn lỗi lạc đó đã từng là thần tượng của ông thời tuổi trẻ.

Nhiều độc giả Việt Nam hẳn còn nhớ đến phong trào thuyết hiện sinh đã xuất hiện sôi nổi vào những năm 60-70, ở miền Nam, từ đại học đến các tầng lớp trong xã hội. Trong một đất nước bị chiến tranh tàn phá, sinh viên, trí thức, nghệ sĩ đều bị thu hút bởi cái triết thuyết về sự hiện hữu, và Jean-Paul Sartre được xem như một nhà triết học kiệt xuất.

Kể từ sau thời kỳ lên ngôi của phong trào văn hóa đó, đã có nhiều biến cố lịch sử xảy ra ở Việt Nam và trên thế giới. Ngày nay, giới trí thức của miền Nam xưa có còn những quan điểm về Sartre như thời đó không ?

Pascal Bruckner tiết lộ cho mọi người cái nhìn thất vọng của ông về nhà triết học đó, một cái nhìn hãy còn ít được khai thác.

Bản dịch sau đây của bài Sartre, ce génial égaré đã được sự chấp thuận của tác giả.

        *   *   *

         Tháng 6 năm 1979, với sự hướng dẫn của André Glucksmann (1), Sartre và Aron (2) gặp lại nhau trên thềm điện Élysée để biện hộ cho những thuyền nhân (3) với tổng thống Giscard d’Estaing. Đó là giây phút đầy xúc động. Năm sau Sartre sẽ từ giã cõi trần, ông gần như mù và đi đứng loạng choạng. Cái bắt tay của ông với Aron có ý nghĩa nhiều hơn là một sự hòa giải : đó là một thú nhận ngầm rằng ông đã đi lầm đường.

         Nói rằng tôi có đọc sách của Sartre là nói quá ít : tôi đã tôn sùng ông và tôi vẫn khâm phục ông. Tôi đã từng học với các cha dòng ở tỉnh nhỏ nên tôi tìm thấy ở nhà phù thủy phi thường này liều thuốc chữa cái tình trạng bị giam kín của tôi : tôi đọc tất cả các sách của ông và tôi giữ cuốn L’Être et le Néant (Bản thể và Hư vô) với những lời bình chú như một thánh vật. Quan niệm của ông về tự do, tư tưởng vô thần của ông khiến tôi say mê, trong suốt mười năm ông là người trái ngược với các bậc thầy của tôi. Sự thất vọng đầu tiên của tôi xảy ra năm 1967, khi Sartre thuyết trình tại trường Cao đẳng Sư phạm (Normal Sup.), trường này vào thời đó đã thích các nhà cấu trúc luận hơn Sartre rồi ; trong lúc thuyết trình ông bị vài người đeo kính cặp mũi thì thầm : Lo sợ quá, lo sợ quá (trích từ cuốn Buồn Nôn). Làm sao họ dám chế nhạo ông như thế ? Một năm sau, tại đại học Sorbonne, tôi thấy thần tượng của tôi ốm yếu và khòm lưng bị nhiếc mắng bởi những tên ăn mặc lố lăng tóc dài, chúng la hét : Câm mồm đi Sartre ! Mười năm sau, trong khi tôi gặp những người ly khai ở Đông Âu, tôi bị ấn tượng mạnh bởi mối ác cảm của họ đối với cặp Sartre và Beauvoir, cặp này bị họ tố cáo là đồng lõa với những kẻ uy quyền trong điện Kremlin. Tôi phải nhìn nhận rằng những người hăng hái bênh vực giới vô sản đã dùng danh tiếng của họ để phụng sự những chế độ độc tài.

         Chính giáo sư của tôi, nhà triết học Vladimir Jankélévitch, người đã bị gạt khỏi việc giảng dạy giữa năm 1940 và năm 1944 vì lý do ông là người Do Thái, bậc thầy của tôi không thừa nhận cái tham vọng của các nhà hiện sinh muốn giảng dạy vì họ đã im lặng, thậm chí họ đồng lõa với phe chiếm đóng (4). Năm 1943, Sartre cho trình diễn vở kịch Les Mouches với sự cho phép của ban tuyên truyền Propagandastaffel (5), ông viết trong tạp chí cộng tác với địch Comoedia, ông cho ra cuốn L’Être et le Néant, cho trình diễn vở kịch Huis clos vào đầu năm 1944. Rồi ông cho đăng trên báo Combat một bài phóng sự phi thường có tựa đề là Un promeneur dans Paris insurgé (Một người đi dạo trong thành phố Paris bạo loạn) kể lại những biến cố từ ngày 28/8 đến ngày 4/9/1944. Sau đó ông sang Mỹ do báo Le Figaro gửi đi, ở Mỹ ông được đón tiếp long trọng như một người anh hùng của Kháng chiến và ông trở thành một tên tuổi cự phách quốc tế. Đó là sự khởi đầu của một hiểu lầm ghê gớm. Kể từ nay mọi người trí thức được yêu cầu phải dấn thân bên cạnh những người bị đàn áp, kẻ nào vi phạm quy luật đó sẽ bị khai trừ.

         Chiến tranh lạnh sẽ đẩy mạnh sự ép buộc đó và đưa tạp chí Les Temps modernes (Thời hiện đại) của Sartre lên hàng phê bình với những người cộng sản và nước Nga của Staline. Sartre tố cáo Kế hoạch Marshall (6), việc thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO), chế độ dân chủ thuộc quốc hội. Năm 1953, ông viết : Nước Mỹ bị bệnh chó dại và, về sau ông viết : một người chống cộng sản là một con chó. Ông giảm nhẹ những tội ác của Staline, ông tuyên bố năm 1954 trên báo Libération, khi ông từ Matxcơva trở về : Ở Liên Bang Xô Viết hoàn toàn có tự do chỉ trích (dẫu cho ông có tìm cách nói nhẹ bớt đi), ông bất hoà với Aron và Camus. Nếu ông có dùng danh tiếng lớn lao của ông để bảo vệ người Da đen và người Do Thái và dấn thân vào sự chiến đấu chống thực dân, đó là theo cái cách hành động cực đoan của ông. Trong bài tựa cuốn Les Damnés de la terre của Frantz Fanon, ông có viết cái câu đầy tai họa này : Phải giết : hạ sát một người Âu châu, đó là đạt hai kết quả bằng một hành động, thủ tiêu cùng một lúc một kẻ đàn áp và một kẻ bị đàn áp. Còn lại một người chết và một người tự do. Về sau ông ủng hộ không chút e dè tất cả các chế độ chống đế quốc, chế độ Castro, chế độ Mao Trạch Đông, ông cho những bất công của các chế độ đó sự bảo đảm của tài năng ông. Ở con người tư sản đó vốn bị sự thù ghét chính mình xói mòn, mọi chế độ chống lại tư bản và chống lại Tây phương đều được hưởng một cảm tình tiên nghiệm. Đó là sự đồi bại của một cứu cánh cao siêu – sự giải phóng loài người – bằng những phương tiện đáng ghê tởm.

         Thảm kịch của Sartre là như thế này : nhà triết học kiệt xuất của tự do đã bảo đảm cho chủ nghĩa cực quyền như thế nào ? Cái người gác đêm hiện diện ở khắp các chiến tuyến của trí tuệ, nói theo nhà văn Jacques Audiberti, đã tán thành một số việc đáng ghê tởm như thế nào ? Phải chăng cái bi kịch của một chủ nghĩa tiến bộ nào đó ngày nay là đồng hành với những kẻ râu ria xồm xoàm vì chống lại sự kỳ thị chủng tộc và là hoan hô sự nô lệ có tính sùng bái ? Chừng nào người ta không hiểu được sự lầm lạc quái gở đó mà Sartre là một hiện thân gây sửng sốt, thì người ta sẽ không hiểu gì về cái chết của tư duy tả phái.

                                                        Pascal Bruckner

                                                        Liễu Trương dịch

(1) André Glucksmann (1937-2015) là một nhà triết học, tác giả của nhiều tiểu luận, có mặt trong mọi cuộc đấu tranh cho tự do, cho nhân quyền. Thời trẻ Glucksmann theo tư tưởng Mao Trạch Đông. Sau đó ông đoạn giao với phái cực tả và thuyết mác xít. Cùng với Bernard Henri Lévy ông trở thành trụ cột của nhóm « các nhà triết học mới ». Glucksmann theo dõi biến cố 30 tháng 4, 1975 ở Việt Nam. Tháng giêng 1979, Glucksmann cùng với Jean-Paul Sartre và Raymond Aron có sáng kiến huy động chiến dịch « Một chiếc tàu cho Việt Nam » để vớt thuyền nhân Việt Nam ngoài biển. Ngày 26/6/1979 cả ba nhân vật vào gặp tổng thống Giscard d’Estaing để yêu cầu sự giúp đỡ của chính quyền Pháp. Sự họp mặt của Sartre và Aron, hai người bạn học đã trở thành trong nhiều năm hai kẻ thù về mặt chính trị, trở nên bất hủ trên tấm hình chụp trước điện Élysée.

(2) Raymond Aron (1905-1983) là nhà triết học, xã hội học, chính trị học, sử học và là nhà báo. Lúc đầu ông là bạn của Sartre, cả hai cùng khóa ở trường Cao đẳng Sư phạm. Khi các chế độ cực quyền bùng phát, ông là người khởi xướng nhiệt thành chủ nghĩa tự do đi ngược lại với giới trí thức chủ trương hoà bình của tả phái lúc bấy giờ rất mạnh thế. Raymond Aron trở thành bậc trí thức của hữu phái đối diện với Sartre biểu tượng cho giới trí thức của tả phái.

(3) Thuyền nhân Việt Nam vượt biên lánh nạn cộng sản.

(4) Phe chiếm đóng tức phe Đức Quốc Xã.

(5) Propagandastaffel : tiếng Đức có nghĩa là « đoàn tuyên truyền » có nhiệm vụ tuyên truyền và kiểm soát báo chí và những hoạt động xuất bản ở Pháp, trong thời Pháp bị Đức Quốc Xã chiếm đóng.

(6) Kế hoạch Marshall là một chương trình của Mỹ nhằm cho các nước Âu châu vay tiền để xây dựng lại các thành phố và các nơi đã bị các cuộc oanh tạc tàn phá trong thời Đệ nhị Thế chiến.