TÌNH YÊU THỜI CHIẾN DƯỚI NGÒI BÚT CỦA NGUYỄN THỊ HOÀNG

 

Vào thời chinh chiến mấy ai được sống trọn vẹn tình yêu của mình. Chinh chiến là chia ly, là người tình xa người tình, là chồng xa vợ, cha xa con, là chết chóc đau thương. Thế nhưng Nguyễn Thị Hoàng muốn đối đầu với nghịch cảnh để giành cho nhân vật nữ của mình trong truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất một thoáng hạnh phúc huy hoàng, chói lọi.

Cuộc Tình Trong Ngục Thất là một trong những tác phẩm cuối cùng, nếu không nói là tác phẩm cuối cùng của Nguyễn Thị Hoàng vào thời văn học miền Nam, do nhà Nguyễn Đình Vượng xuất bản năm 1974.

Độc giả nào thích đọc những tiểu thuyết có cốt truyện với những đoạn, những biến cố luôn đổi mới, dồn dập, gay cấn, sẽ không được toại nguyện khi đọc Cuộc Tình Trong Ngục Thất, vì càng đọc độc giả càng sốt ruột, có cảm tưởng thời gian cứ kéo dài trong truyện, trong khi không có gì đặc biệt xảy ra, chỉ đến đoạn kết mới được dự lễ hội của tình yêu.

Sự thật, Cuộc Tình Trong Ngục Thất không phải là một truyện dài với lối kể truyện hiện thực nhìn từ bên ngoài, như phần nhiều những tiểu thuyết thông thường. Trong Cuộc Tình Trong Ngục Thất, tác giả chủ yếu dùng độc thoại nội tâm : đang kể truyện về thế giới hiện thực bên ngoài, tác giả trượt vào nội tâm của nhân vật và tiếp tục kể, từ đó truyện được diễn tiến qua tâm trạng của nhân vật. Có thể xem đây là một truyện dài tâm lý đưa độc giả vào trạng thái tâm hồn của hai nhân vật, hai vợ chồng, vào một cơn khủng hoảng tinh thần. Truyện gồm 16 chương, nhưng các chương không được đánh số, chỉ có một khoảng cách phân chia chương trước với chương sau. Để việc phân tích truyện được dễ dàng, thiết tưởng cần đánh số các chương, vậy chúng ta sẽ gọi chương 1… đến chương 16.

Truyện kể hai vợ chồng thương yêu nhau, nhưng xa cách nhau vì chiến tranh. Không gian truyện là Huế và Sài Gòn. Tác giả không gọi đích danh Huế, nhưng hiển nhiên là Huế, vì đó là một thành phố cổ có con sông, có những món ăn đặc biệt : bánh nậm, bánh ít, nem chua, mè xửng và nhất là món bún bò cay thơm. Huế cũng là quê hương của người vợ, nơi chốn của tuổi thơ, tuổi học trò. Vợ đang ở nhà tại Sài Gòn, chồng đóng quân ở miền Trung. Chồng quá nhớ nhung, nhắn vợ ra Huế để gặp nhau. Nhưng khi vợ đến nơi thì chồng được lệnh đi hành quân. Cuối cùng vợ chồng cũng được gần gũi nhau và trải qua một ngày lễ Giáng Sinh êm đềm. Đối với họ, vấn đề không phải là tiếp tục ở Huế với cái giấy phép xuất trại 24 giờ của người chồng, mà vấn đề là phải bay về Sài Gòn cho bằng được, vì Sài Gòn là nơi có tổ ấm hạnh phúc của họ, nơi họ cảm thấy thoát được vòng vây của chiến tranh. Chuyến bay về Sài Gòn là một vấn đề « sống, chết », gây nên một cuộc khủng hoảng tột độ.

Trong truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất, Nguyễn Thị Hoàng dùng độc thoại nội tâm để cho thấy tất cả những gì xảy ra ở ngoại giới đều được cảm nhận qua tâm thức của hai vợ chồng, nhất là qua tâm thức của người vợ ; cuộc khủng hoảng tinh thần xuất hiện và lớn dần cũng qua cảm xúc của người vợ. Người vợ có cảm tưởng con người mình bị tách đôi, một nửa để chống chọi với đời ngoài, một nửa đắm chìm vào lo âu tính toán những nỗi niềm cay cực riêng tư.

Cũng cần nói rõ về phương diện hình thức, độc thoại nội tâm ở đây không hoàn toàn giống độc thoại nội tâm trong tiểu thuyết Tây phương ; lắm lúc độc giả không vào ngay cái dòng chảy của tâm thức của nhân vật, mà có sự can thiệp của người kể truyện để bắt đầu một độc thoại nội tâm, chẳng hạn như : Nàng rùng mình. Cố nghĩ một cái gì êm dịu. Và nhân vật độc thoại thường tự xưng « ta, mình ».  

Khởi đầu là tại hãng máy bay ở Huế, khi người vợ có thai đã cực nhọc đi dưới trời mưa, bước vào phòng bán vé có đông người chen lấn. Người đàn bà xông xáo, cũng trườn được đến quầy bán vé, được biết hết vé đi Sài Gòn cho ngày mai, lại sắp đến giờ đóng cửa, nhân viên sửa soạn ra về. Nhưng người đàn bà không thối chí, vẫn năn nỉ, kỳ kèo khá lâu, cuối cùng mua được hai vé trên một chuyến bay đặc biệt ngày mai, nhưng không chắc có chuyến bay đó.

Chỉ có một quyết định không lay chuyển là chuyến đi Sài Gòn của hai vợ chồng, vào ngày mai chứ không là một ngày khác, phải chăng vì cái giấy phép xuất trại 24 giờ của người chồng khiến thời gian quá ngắn ngủi ? Người đàn bà bất chấp mọi khó khăn, đe dọa ; coi thường những phương tiện dễ dàng nhưng không thích hợp với ý muốn của mình, như nhận lời mời đi máy bay quân sự, vì có thể gặp những người quen biết gây phiền phức cho chuyện riêng tư của mình. Người đàn bà gạt bỏ tất cả những gì không liên quan đến tình yêu và hạnh phúc của mình, không muốn nghe người phóng viên chiến trường kể chuyện chiến tranh. Chỉ có hai cái vé máy bay là quan trọng.

Kể từ thời điểm đã được quyết định cho cuộc khởi hành, sự chờ đợi mòn mỏi chuyến bay gây nên một cuộc khủng hoảng lớn dần qua thời gian ở nhà ga rồi ở sân bay.

Cuộc chạy đua với thời gian

Cái ngày hai vợ chồng đã chọn để lên đường về Sài Gòn là khoảng thời gian từ 7 giờ sáng lúc lên xe xích lô đến nhà ga, đến 6giờ rưỡi chiều, giờ máy bay cất cánh đi Sài Gòn. Trong ngày, mỗi một chuyến bay đến rồi đi về hướng khác là một cuộc chạy đua với thời gian đầy lo âu, căng thẳng, qua những giai đoạn sau đây :

Chương 6 và 7. Hai vợ chồng từ giã nhà trọ ở Huế. Trên xe xích lô đến nhà ga, người chồng quả quyết chỉ có thời gian bên nhau là quý báu : … không cần gì hơn là có em, và đừng mất đi giờ phút nào với em. Còn người vợ trong độc thoại nội tâm thì nghĩ rằng có hai cách yêu : người đàn bà phải chịu đựng, chịu khốn khổ, cay cực để tìm thấy hạnh phúc vẹn toàn ; còn người đàn ông thì không thể kiên nhẫn chờ, không chấp nhận mất mát điều gì.

Khi đến nhà ga, quan cảnh nhộn nhịp với nhiều xe ca, nhiều hành khách lũ lượt qua lại. Sự chờ đợi bắt đầu từ đây. Trước hết chờ có một chuyến xe ca chở đến sân bay. Sự chờ đợi quá lâu, không gian như ngừng trôi. Khi người vợ hỏi han nhân viên nhà ga thì : Cuộc đối thoại im lìm và căng thẳng trong từng đường gân mạch máu, làm cho trái tim thắt bóp không đều, làm cho thần trí nhức nhối mỏi mê. Từng phút xê dịch rã rời của kim đồng hồ. Từng phút như không muốn vượt qua cái mốc ngập ngừng rình chực của định mệnh. Thời gian bỗng chết đứng, ngày bỗng treo cao… Và người vợ nghĩ mình đang ở địa ngục.

Bỗng người chồng reo lên : có xe đến. Họ vui mừng sắp đi đến sân bay. Nhưng nỗi vui mừng chợt tắt vì chưa thật sự khởi hành.

Chương 8 và 9. Trên xe ca đi đến sân bay, lòng bớt nặng trĩu, lo âu, nhịp tim nhẹ nhàng, ấm áp. Khi đến sân bay, chờ chuyến bay về Sài Gòn. Nhiều chuyến bay đến rồi đi về những hướng khác. Tâm trạng của hai vợ chồng căng thẳng, thoi thóp, lo sợ : Chồng không nói gì. Vợ cũng im hơi, nhưng hai người nghe rõ trong nhau những tiếng thở dài thầm kín pha lẫn những tiếng kêu gào náo nức quay quắt của phút đợi chờ phập phồng kéo dài tưởng đến hết một đời người chưa dứt.

Chương 10. Độc thoại nội tâm của người chồng khi chờ đợi ở sân bay. Người chồng ý thức một cách sâu sắc cuộc chạy đua với thời gian : … làm thế nào để có thể đi được. Đi ngay, tức thì, không chờ đợi. Mỗi phút giây tới và qua là một cơ hội bỏ lỡ, mất đi, đưa dẫn người tới chân tường, tới đường cùng.

Trong độc thoại, người chồng nhớ lại tâm trạng của mình lúc hành quân : Ta thấy ta ngồi trên chót núi cao, giữa đêm dài không dứt, với mưa phủ đầy trời, với gió rút xương da, với tuyệt vọng không cùng, với hoang mang không bến. Ta chết ngoài sự chết. Ta sống ngoài sự sống. (…) Ta ngồi đây nhớ em điên cuồng. Ta ngồi đây nhớ phố vui xưa, ta ngồi đây nhớ thương đời mình không bao giờ được sống đúng và đầy nghĩa sống như ước mơ, như mong muốn, như hình dung. Đó là cuộc hành quân gian khổ trước khi trở về gặp lại vợ.

Chương 11. Độc thoại nội tâm của người vợ khi chờ đợi ở sân bay. Lại một chiếc máy bay hạ cánh, nhưng không phải chuyến đi Sài Gòn. Tâm trạng phập phồng, lo sợ, căng thẳng, tác động đến thân xác như khi chờ đợi xe ca ở nhà ga : Mọi sự như căng phồng đến độ cùng, sắp sửa vỡ toang, bùng nổ. Mọi sự lên tới chót đỉnh của nín thở, của đe dọa, của vỡ rơi hung hiểm nhất. (…) Nghe cồn cào khắp ruột gan, những đường gân và mạch máu trong đầu rần rật.

Chương 12. Vẫn chờ đợi ở sân bay. Một chuyến bay khác đến, nhưng cũng không phải chuyến bay về Sài Gòn. Người vợ trơ ì ra, không còn sợ hãi nữa vì sợi dây căng thẳng đã đứt, có thể rơi xuống vực thẳm, và cái chết này không phải là cái chết cuối cùng của một đời người.

Chương 13. Cuối cùng máy bay đến. Nỗi vui mừng của người vợ không xiết kể. Nàng sống lại. Nàng nhẹ tênh. Nàng lướt trên sàn gạch hoa… Nàng phóng vào khung cửa phòng mở. Nàng sập tới sau lưng người đàn ông, như cơn gió mát.

Chẳng bù trước đó, trong một lúc tuyệt vọng : Nàng lê từng bước nặng gông cùm tới phía quầy và hỏi thăm bằng giọng run của người sắp chết.

Chương 14. Lên máy bay đi Sài Gòn. Nỗi vui mừng, nhẹ nhõm bay trên trời, xa lìa mọi đe dọa, lo âu của cuộc đời. Cả hai cùng nhìn xuống, nhận ra thành phố Sài Gòn « dấu yêu ».

Chương 15. Hai vợ chồng về đến Sài Gòn. Sài Gòn như đang trẩy hội vui, lũ xe người xôn xao lướt bay trên con đường tim phổi của miền Nam. Sau bao xa cách, lo âu, căng thẳng, đôi vợ chồng đã đến bến bờ hạnh phúc.

Chương 16. Trước bàn thờ Phật, hai vợ chồng tạ ơn đời, tạ ơn Trời Phật.

Nhưng ngày mai sẽ ra sao ? 

Và nàng chợt hoảng kinh nhận ra, đoạn kết của cuộc hành trình gian nan, thực ra chỉ là khởi điểm của một thời phiêu lưu khác, truân chuyên và đày đọa hơn.

Thái độ bất khuất trong việc đi tìm hạnh phúc

Cả hai vợ chồng đều đồng lõa trong thái độ bất khuất : liều lĩnh chon lựa một quyết định không lay chuyển là tìm về cái nơi hạnh phúc của mình, dẫu cho có phải gánh chịu những hậu quả sau này. Cả hai mãnh liệt gắn bó với nhau, người vợ tự nhủ : … bây giờ, cả hai, đôi ta cùng đi, cùng bỏ, cùng đến, những chặng đường đời, những khúc tang thương. Cùng nhận chịu. Và cùng chia sẻ. Cùng xót xa và cùng đắm say.

Còn trong độc thoại nội tâm của người chồng : Bây giờ thì mọi sự phải được khởi đầu từ ngày hôm nay, khi bóng đêm cuối cùng dứt hẳn ngoài trời. Mình đã chọn lựa. Đã quyết định. Không phải một giây phút. Một phản ứng bất ngờ. Mà quyết định cho cả một đời. Và quyết định bằng cả một đời. Và trả giá bằng cả một đời.

Người vợ thì quả quyết giành lại đời sống cho đôi vợ chồng. Khi trở về Huế như một người xa lạ đi tìm kho tàng tình yêu của mình, và cảm thấy mình bất lực trước cuộc đời, thì người vợ chẳng những muốn giành lại đời sống của hai người mà còn muốn « đánh cướp ». Vậy thì, không có cách nào khác hơn là phải đánh cướp. Cướp lấy đời ta… cướp lấy từng phút giây sống, từng trăm năm chết, cướp lấy nước mắt và nụ cười, cướp lấy hạnh phúc và thương đau…

Từ đầu chuyến đi, mình đã bị đày vào cái thế giới của những kẻ cùng đường phải đánh cướp để nuôi sống, để tháo thân. (…) Đánh cướp đời mình từ tù ngục và trở về với một tù ngục mới chung thân, nhưng đồng lõa, cùng nhau, có nhau, suốt đời… Vậy là có hai ngục tù : ngục tù lớn của cuộc đời với bao bó buộc, thử thách, đe dọa và ngục tù riêng của hai kẻ yêu nhau.

Khi tranh đấu để đoạt lại đời mình, người vợ biết không thể trông nhờ vào ai, chỉ tự cậy sức mình : Hãy tự ráp nối lấy những xích sắt dắt dẫn đời mình, không ai giúp đỡ, không ai lay chuyển. Hãy nối và gỡ những vòng dây xích định mệnh, không chia sẻ ai.

Nhưng tinh thần bất khuất phải đối phó với bao khó khăn, lo sợ, hoang mang. Chiến tranh vẫn còn đó, người vợ bị những câu thơ của Chinh phụ ngâm ám ảnh, nghĩ đến những sầu muộn, biệt ly. Phải gạt đi những hình ảnh của chiến tranh ; khi người vợ gặp người phóng viên từ chiến trường về nhắc đến trận đánh khủng khiếp vừa qua thì : Nàng không muốn nói đến những thứ đó. Chuyến bay. Trận đánh. Hành quân. Trời mưa. Di chuyển. Tiếp vận. Địch. Ta. Đạn. Máu.

Chủ đề chết : đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng

Đối với hai nhân vật, đi tìm hạnh phúc là vấn đề sống chết. Vậy phải mua cho được hai vé máy bay vào cái ngày đã được quyết định. Ý nghĩ chết bắt đầu xuất hiện ở chương 9 và trở lại nhiều lần. Khi sự chờ đợi ở sân bay quá dài, quá căng thẳng, vô vọng, người vợ bỗng nghĩ đến cái chết : … Nàng bỗng nhận ra và hoảng kinh một sự thật quái dị. Mỗi người không phải chỉ được chết một lần, thật êm đềm trọn vẹn, cuối đời, mà cứ mỗi đoạn đời, qua mỗi biến chuyển, mỗi khúc quanh lịch sử của đời người trầm luân, đều phải bị chết đi một lần. Một đời người, bao nhiêu lần biến động, là bấy nhiêu lần chết. (…) Vậy thì em đang chết. Anh cũng đang chết. Ta đang chết bên nhau. (…) Hãy ngồi im. Hãy chết lặng lẽ, riêng tư một mình.

Cùng với cái chết có hình ảnh của địa ngục : cuộc đời địa ngục, và hình ảnh của vực thẳm : khi cả hai vợ chồng chọn lựa sự liều lĩnh, sự bất khuất thì thất bại sẽ làm rơi xuống vực thẳm : Cái vực thẳm ghê gớm đã chọn lựa.

Nhưng dù sao sự sống vẫn quý hơn hết : … em muốn anh sống, sống thế nào cũng mặc, đọa đày thế nào cũng xong, (…), lạy trời, con chỉ cầu xin còn lại mỗi một điều này thôi, là cả hai người còn sống, sống thế nào cũng được, trong khoảng cách cũng cam, miễn là còn có nhau, đâu đó, trên đời địa ngục này. (Chương 11)

Một bút pháp giàu chất thơ

Bút pháp của Nguyễn Thị Hoàng đa dạng tùy theo loại truyện kể : hiện thực, kỳ ảo, thi hóa. Truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất là một truyện được xuất phát từ nội tâm của nhân vật, do đó giọng nói có tính âm thầm, tự mình nói với mình, có khi thầm nói với người mình yêu, tiếng nói âm thầm đó chuyển tải tất cả những gì chất chứa trong tâm lý của con người : quá khứ, kỷ niệm, buồn rầu, lo âu, sợ hãi, thù hận, vui mừng, sung sướng, v.v… Và không có ngôn ngữ nào có khả năng hơn thơ để diễn đạt đầy đủ những cung bậc của tâm trạng con người. Qua thơ, con người bộc lộ sự thầm kín của nỗi lòng mình, tự ru lòng mình. Cho nên ngôn ngữ thơ có thể thích hợp với hình thức độc thoại nội tâm. Nói như thế không có nghĩa là phải dùng ngôn ngữ thơ cho độc thoại nội tâm. Trong tiểu thuyết Tây phương, độc thoại nội tâm được viết theo thể văn xuôi, và thường khi câu văn rất dài, không chấm phết để thể hiện dòng tâm thức của nhân vật. Trong trường hợp của Nguyễn Thị Hoàng, tác giả vốn là một nhà thơ, cho nên thơ đã tràn vào hình thức độc thoại nội tâm. Những yếu tố của thơ trong Cuộc Tình Trong Ngục Thất là những hình ảnh gần kề nhau, thủ pháp lặp lại và âm điệu của câu văn.

Có những hình ảnh được ghép với nhau như trong những câu hai chữ sau đây : Tóc bay. Chiều bay. Hồn bay. (Chương 14)

Thủ pháp lặp lại được tác giả dùng một cách tự nhiên, theo nguồn hứng, như khi sáng tác một bài thơ : Ta ngồi đây nhớ em điên cuồng. Ta ngồi đây nhớ phố vui xưa, ta ngồi đây nhớ thương đời mình

Khi người vợ nhìn chồng và lo sợ cho sinh mạng của người chồng, thì hình ảnh của cái chết – được đêm tối biểu tượng – chập chờn trong sự lăp lại của hai chữ « đâu đây » : Chập choạng đâu đây là bóng hoàng hôn sụp xuống hoang tàn. Đâu đây là tiếng vỗ cánh của loài dơi khát thèm bóng tối. Đâu đây là hình hài xương tủy trắng xóa dưới trăng mờ.

Nỗi vui mừng lên được máy bay : Phút cuối cùng là đây. Ngày mở cửa là đây. Đêm thênh thang nhã nhạc vang lừng là đây. (…) Bay lên, xa lìa quá khứ. Xa lìa ngục tù. Xa lìa ám ảnh mịt mờ trận địa. (Chương 14)

Lặp lại một từ hay một cụm từ nhiều lần như trong một bài thơ là để nói lên một ám ảnh, một mong muốn quả quyết, một tình cảm mãnh liệt, v.v…

Đáng chú ý nhất là âm điệu của những câu văn cân đối, tạo nên một điệu ru, như trong một bài thơ. Ví dụ :

Nỗi niềm riêng tư của người chồng khi cuộc hành quân chấm dứt : Nằm chờ đêm qua. Nằm ru mộng buồn. Nằm quên khoảng cách. Nằm vùi gian nan.

Và niềm vui về đến Sài Gòn :

Chỉ còn lại đêm lồng lộng. Chỉ còn đèn giăng soi. Chỉ còn hương ngan ngát. Chỉ còn đàn vui say.

Với truyện Cuộc Tình Trong Ngục Thất, Nguyễn Thị Hoàng đã làm mờ ranh giới giữa văn xuôi và thơ, tác giả cho truyện kể một hình thức mới, bút pháp được thi hóa và những độc thoại có dáng dấp những giấc mơ.

Nguyễn Thị Hoàng là nhà văn và cũng là nhà thơ, đã từng làm thơ từ thuở còn ngồi trên ghế nhà trường, và sau này đã có những tập thơ xuất bản. Đối với tác giả, sáng tác truyện đến sau sáng tác thơ, và kể truyện với một tâm hồn thơ là điều tự nhiên. Vả chăng một ngôn ngữ giàu chất thơ thích hợp với tâm trạng của nhân vật trong truyện muốn trải lòng mình trong một độc thoại.