HIỆN TƯỢNG LIÊN VĂN BẢN TRONG TRUYỆN CỦA NGUYỄN HUY THIỆP

Ở Việt Nam, vào thời đổi mới, tức từ năm 1986 trở về sau, sáng tạo văn chương không còn bị những tiêu chí của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ràng buộc, kiềm chế ; cho nên sáng tạo văn chương đã dần dần bay bổng theo cảm hứng của mỗi nhà văn. Trong bối cảnh đó, tên tuổi của Nguyễn Huy Thiệp chẳng bao lâu đã rạng rỡ trên văn đàn với những tập truyện như : Mưa Nhã Nam (1999), Như Những Ngọn Gió (1999), Thương Cả cho Đời Bạc (2000), v.v… Sâu sắc nhất là những truyện về xã hội Việt Nam đương đại, những truyện có tính lịch sử, huyền thoại.

Cho đến nay, những phương pháp phê bình văn học của Tây phương còn ít được ứng dụng vào những tác phẩm văn học Việt Nam. Nhân đọc truyện của Nguyễn Huy Thiệp, xin thử có cái nhìn từ góc độ liên văn bản về hai truyện ngắn : Huyền thoại phố phườngThiên văn.

Nhưng trước khi đi vào hai truyện này, thiết tưởng cũng cần đặt câu hỏi : thuyết liên văn bản là gì ?

Nói một cách đơn giản thì theo thuyết liên văn bản, một văn bản viết lại một văn bản khác, và liên văn bản là toàn thể những văn bản đã có trước mà một văn bản làm dội lại. Theo Julia Kristeva, người đã đưa thuyết liên văn bản vào ngành lý luận văn học ở Pháp, với cuốn Séméiotikè (1969), thì bất cứ văn bản nào cũng là giao điểm của nhiều văn bản cùng thời hay đã có trước, nó là sự đọc lại, làm rõ nét, cô đặc hóa, thay đổi vị trí và là bề sâu của những văn bản đó. Đó là một hiện tượng đi kèm với sáng tạo văn chương. Nhìn xa hơn, thì thuyết liên văn bản bắt nguồn từ những công trình nghiên cứu của nhà lý thuyết văn học Nga Mikhaïl Bakhtine (1895-1975). Bakhtine cho rằng mọi phát biểu có tính văn chương đối thoại với những phát biểu văn chương khác ; chính nhờ sự tác động qua lại đó mà văn bản của một cá nhân có ý nghĩa và có giá trị. Bakhtine phủ nhận tính tự chủ, tính độc nhất của một văn bản.

Trở lại hai truyện của Nguyễn Huy Thiệp : Huyền thoại phố phườngThiên văn, trong hai truyện này diện mạo của liên văn bản rất rõ nét.

Huyền thoại phố phường kể chuyện một thanh niên nghèo tên Hạnh, sống giữa thủ đô xa hoa, đầy cám dỗ. Hạnh khao khát sự giàu có và luôn luôn bị đồng tiền ám ảnh. Một hôm có người bạn tên Phúc đưa Hạnh đến nhà bà Thiều, chị của Phúc, nhân dịp lễ sinh nhật của Thoa, con gái bà. Ông Thiều vắng mặt vì đang ở nước ngoài. Bà Thiều vốn là một bà bán bún ốc, nay trở nên giàu có nhờ buôn vàng. Trong bữa tiệc, Phúc đưa ra hai vé số, tặng cô cháu một vé và Hạnh một vé. Nhân dịp rằm, bà Thiều nảy ra cái ý đem vé số của con gái lên chùa xin lộc. Về nhà Hạnh trăn trở, nghĩ đến việc bà Thiều đi chùa xin lộc và dâng lễ vật để được trúng số. Hạnh bỗng có cái ý nghĩ rằng vé số của bà Thiều được thần thánh phù hộ, thế nào cũng trúng số độc đắc, còn con số trên vé của anh ta chỉ khác số vé kia một đơn vị, sẽ không trúng. Anh ta bèn mưu toan đánh tráo vé số của mình mà anh ta cho là bất hạnh với cái vé số của mẹ con bà Thiều. Trước đó anh ta cũng đã để ý đến cái bệnh buồn chán của hạng nhà giàu nơi mẹ con bà Thiều, một căn bệnh có thể khai thác để đạt đến mục tiêu của anh ta.

Và đây là cảnh Hạnh cướp đoạt cái vé số mà anh ta tin là vé độc đắc, bằng cách dùng thủ đoạn quyến rũ, chinh phục :

Bà Thiều nằm trên đi-văng, mặc bộ đồ xoa mỏng dính, mắt ngó trông quầy bán đồ mỹ phẩm nữ trang […] Bà Thiều lơ đãng lật một tập ảnh khỏa thân nước ngoài. Cách giải trí này bà vẫn ngang nhiên phô ra với khách để chứng minh rằng đầu óc của bà tự do tân tiến và ghét thói đạo đức giả cổ hủ lỗi thời.

         Có tiếng gõ cửa. Bà Thiều nhỏm dậy nhìn ra.

– Ai đấy ?

– Hạnh đây… Tiếng ho húng hắng có vẻ bồn chồn.

Bà Thiều mở cửa. Hạnh mặc bộ đồ khá diện bước vào. Như thể tiện tay, y cài chốt cửa ra vào. 

– Đi đâu mà bảnh thế cháu ?

– Nhớ cô quá !  – Hạnh cười cầu tài. Ánh mắt ve vuốt người đàn bà – Cô có một sức thu hút mọi người đến khiếp ! […]

Hạnh hỏi :

– Cô đi lễ chùa về có mệt không cô ?

– Chẳng mệt tí nào ! -Bà Thiều vui vẻ – Cứ đi lễ chùa là cô lại khỏe như vâm mới lạ. Thần thánh cũng linh thiên thật ! Ngay cả đường đi chùa Hương cheo leo là thế mà năm nào cô cũng đi đấy nhé. Cứ ngậm ít sâm, vừa đi vừa nam mô niệm Phật phù hộ độ trì…

– Phật sẽ phù hộ cô thôi… Hạnh cười khe khẽ, y đang suy nghĩ rất lung. Thần kinh y căng như sợi giây đàn, những sợi gân xanh hai bên thái dương giần giật. Chiều nay mở số. Hạnh không thể nào chần chừ được nữa. Hạnh đoán chắc chiếc vé ấy trúng. Đây là cơ hội giúp mình thoát khỏi cảnh nghèo. « Dứt khoát, Hạnh nghĩ. Ta phải lập tức trở thành tình nhân của mụ dù bằng mọi giá. Thời giờ thật chật chội quá. Cần đổi bằng được chiếc vé lập tức bây giờ… »

– Cô độc đáo lắm ! Hạnh thả mồi câu. Những người phụ nữ độc đáo bây giờ rất hiếm !

– Thế cô độc đáo chỗ nào ? Bà Thiều thú vị và khép vạt áo ra phía đằng trước.

– Cô độc đáo trên toàn cơ thể. Hạnh nói và bỗng dưng giọng đổi khác, đôi mắt xoáy vào bờ vai tròn lẳn của người đàn bà, hai bên cơ hàm tự dưng cứng lại. Trông cô hấp dẫn như một thiếu nữ đương thì.

         Bà Thiều hơi hoảng hốt. Điều này giống như linh cảm của con gà mái bị con gà trống ngổ ngáo săn đuổi. Tuy nhiên, ý thích mơn trớn và thích phiêu lưu háo hức sống dậy trong lòng bà. Dục vọng trỗi lên thành một động tác bất cẩn : chiếc khuy bấm nơi ngực áo tuột ra.

         Hạnh chồm hẳn dậy và xô người đàn bà ngã xuống đi-văng.

         Bà Thiều rên rỉ. Ý thức phẩm giá khiến bà có những cử chỉ chống cự yếu ớt.

         Bà Thiều nhắm mắt, hoàn toàn mất vẻ tự chủ. Hạnh thở khò khè, y hỏi bằng một giọng nói gần như van lơn.

– Chiếc vé xổ số đâu rồi ?

Bà Thiều khựng lại, bà không hiểu ngay được câu hỏi ấy.

– Chiếc vé xổ số đâu rồi ? Hạnh hơi quát lên, giọng đanh lại như tiếng kim loại va đập vào nhau.

Phải đến mấy phút bà Thiều mới hiểu ra được câu hỏi của Hạnh và hiểu ra được tình thế bi kịch của bà.

– Con Thoa để trong chiếc ví xách tay của nó ! Bà Thiều nói như nghẹn ngào và nỗi xấu hổ ê chề choán lấy người bà khi bà thấy Hạnh rời khỏi đi-văng, đứng lên thẫn thờ như người mất trí []

Mọi việc diễn ra chỉ trong nháy mắt. Hạnh sửa quần áo rồi luồn ra ngoài không nói năng gì [].

         Bà Thiều đứng dậy lấy quần áo mặc vào người [] (tr.27-31).

Cảnh tượng trên đây nhắc nhở một cảnh tượng tương tự trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Xuân Tóc Đỏ, nhân vật chính trong truyện này, là một tên ma cà bông, vô giáo dục, vô lương tâm, nhờ vận may và những mánh khóe bịp bợm, nó ngang nhiên bước vào xã hội thượng lưu. Nó sắp làm lễ thành hôn với cô Tuyết, một thiếu nữ quen sống trong nhung lụa. Một hôm bà Phó Đoan, một dâm phụ ẩn sau cái danh hiệu thủ tiết với hai đời chồng, bắt gặp Xuân Tóc Đỏ đang âu yếm cô Tuyết, cháu của bà, trong phòng khách nhà bà, bà nổi cơn thịnh nộ, đuổi cô Tuyết ra khỏi nhà. Xuân Tóc Đỏ liền bắt đền bà :

Bà Phó Đoan ngẩn người ra như người bằng gỗ. Lúc ấy, vì vừa ngủ dậy, bà chỉ có mặc quần áo ngủ mỏng manh, nó có thế lực làm cho thân thể bà lại lộ ra hơn là chủ nghĩa khỏa thân. Đương lúc rạo rực, đương cáu đến cực điểm, lại thấy trước mặt mình cái cảnh tượng khiêu gợi ấy, Xuân Tóc Đỏ chẳng nghĩ ngợi gì nữa, bèn bắt đền cái sự thiệt hại cho mình bằng cách ôm xốc lấy vị tiết phụ đáng kính trọng ấy !

         Rất tiếc cho cái công thủ tiết với hai đời chồng của mình, bị lôi kéo đến cái đi văng, bà Phó Đoan cứ phản đối một cách rất cương quyết bằng cách khẽ kêu :

–  Ơ kìa ! Hay chửa kìa ! Ơ hay ! Ơ hay !

Nhưng thằng Xuân Tóc Đỏ của chúng ta thì nào có biết gì là nghĩa lý, là đạo đức nữa ! Bưng tai giả điếc, nó cứ nhất định bắt đền. Từ đây trở đi, bà kia cứ khẽ kêu như một tiết phụ xứng đáng trong lúc bị xúc phạm.

– Ôi giời ơi ! Người ta giết tôi ! Người ta cưỡng bức tôi !

Bên ngoài, lúc ấy có tiếng kêu : « Em chã ! Em chã ! » Rồi thấy hình như cậu Phước chạy huỳnh huỵch xuống thang. Bà Phó Đoan ngừng kêu để nói :

– Cậu ấy xuống tìm vú em để vòi đấy chứ quái gì !

Rồi bà lại kêu tiếp cho sự chống cự quyết liệt khỏi gián đoạn :

– Người ta giết tôi ! Ối làng nước ơi ! Thế này có khổ tôi không ? Ai cứu tôi với !

Năm phút sau nó ngắn ngủi như một cái tích tắc đồng hồ, chợt thấy có tiếng gõ cửa. Hai người này vội chỉnh đốn y phục, chạy xa nhau, mỗi người ngồi một ghế ở hai góc phòng, rồi bà Phó Đoan dõng dạc bảo :

– Cứ vào. (tr. 284-286)

Cũng như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Thiệp cho thấy chuyện xảy ra trong phòng khách, trên một chiếc đi-văng. Phòng khách của bà Thiều có thể là phía sau tiệm vì bà đang trông quầy hàng. Và chuyện chỉ xảy ra trong một khoảnh khắc.

Vũ Trọng Phụng : Năm phút sau nó ngắn ngủi như một cái tích tắc đồng hồ.

Nguyễn Huy Thiệp : Mọi việc diễn ra chỉ trong nháy mắt.

Việc chọn lựa và cách miêu tả nhân vật đều như nhau. Trong hai truyện đều có một thanh niên ngổ ngáo xúc phạm một người đàn bà luống tuổi. Tuy thế, động cơ thúc đẩy hai thanh niên trong việc cưỡng bách hai người đàn bà không giống nhau : Xuân Tóc Đỏ vì tình dục, Hạnh vì tiền. Người đàn bà luống tuổi là một người giàu có, đa dâm, nhưng ẩn giấu dục vọng sau những quy định của xã hội : tiết hạnh của bà Phó Đoan được cái tiếng Thủ tiết với hai đời chồng bảo đảm, phẩm giá của bà Thiều được việc đi lễ chùa, tụng kinh, niệm Phật làm nên một thành trì kiên cố. Cả hai ăn mặc khêu gợi : bà Phó Đoan vừa ngủ dậy chỉ có mặc quần áo ngủ mỏng manh, nó có thế lực làm cho thân thể bà lại lộ ra hơn là chủ nghĩa khỏa thân, bà Thiều thì nằm trên đi-văng, mặc bộ đồ xoa mỏng dính.

Đối với hai người đàn bà, việc xảy đến rất bất ngờ, và chiếc đi-văng tạo điều kiện dễ dàng cho sự cám dỗ : bà Phó Đoan bị lôi kéo đến cái đi-văng, bà Thiều bị xô ngã xuống đi-văng. Bà Phó Đoan không ngớt kêu khe khẽ, bà Thiều rên rỉ, chống cự yếu ớt, mất tự chủ. Cuối cùng Xuân Tóc Đỏ và bà Phó Đoan vội chỉnh đốn y phục. Hạnh sửa quần áo, còn bà Thiều đứng dậy lấy quần áo mặc vào người.

Trong hai cảnh đều có một thiếu nữ làm nhân vật phụ vắng mặt : trong Số Đỏ cô Tuyết bỏ đi trước khi sự việc xảy ra ; trong Huyền thoại phố phường, cô Thoa, con gái bà Thiều, xuất hiện sau khi sự việc đã kết thúc.

Những yếu tố trên đây : không gian, thời gian, nhân vật và cách dàn dựng cảnh làm nổi bật tính chất liên văn bản của Số Đỏ đối với truyện Huyền thoại phố phường.

Truyện thứ hai của Nguyễn Huy Thiệp mang tựa đề Thiên văn, kể một người khách xuống đò để sang sông. Nhưng đò không có người chèo, không có mái chèo. Bến sông vắng người. Khách lấy thức ăn mang theo ra ăn, rồi nghỉ trưa trên đò. Chiều xuống. Mưa rơi nặng hạt, sấm sét trên trời. Khách vất vả cố đưa chiếc đò qua bên kia sông. Rồi khách xuống khỏi đò và lẫn trong đêm tối.

Hình ảnh người khách ở bến đò trên đây làm liên tưởng đến hình ảnh một người khách khác cũng ở một bến đò, trong truyện Ngày gặp gỡ trích trong Chân trời của Hồ Dzếnh. Cuốn Chân trời cũ gồm nhiều tự truyện trong đó tác giả kể chuyện về tuổi thơ và về gia đình của mình. Trong Ngày gặp gỡ, Hồ Dzếnh kể cha của ông, người gốc Trung Quốc, trong một chuyến tha hương lưu lạc đã dừng lại bên bờ sông Ghép, vào một buổi hoàng hôn. Khách ngồi trên cỏ, lấy thức ăn trong một gói vải ra. Ăn xong khách nằm nghỉ. Đêm xuống. Có tiếng hát một cô lái đò đến gần. Khách gọi đò và lên đò ; đêm hôm đó khách ngủ nhờ nhà cô lái đò. Đó là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa cha và mẹ của Hồ Dzếnh.

Thiên vănNgày gặp gỡ có nhiều điểm trùng hợp về hình tượng nhân vật, không gian, thời gian và về cách kết thúc truyện. Trong hai văn bản đều có một người khách lạ từ phương xa đến bến đò và tìm cách qua sông. Hình dáng người khách được tô đậm : cách ăn mặc, hành lý trên tay, cách ăn lương thực mang theo.

Trong Ngày gặp gỡ của Hồ Dzếnh, người khách tay xách một gói vải xanh và va ly, và đầu chụp chiếc mũ rơm đã vàng ỏng. Khách mặc một bộ quần áo bằng lĩnh Quảng Đông, nguyên màu đen nhưng sau khi trải nhiều phong trần, đã đổi sang màu xám kệch […] Từ đằng xa, những gợn lụa phơ phất như những gợn gió trùng dương. (tr. 10)

Người khách trong Thiên văn của Nguyễn Huy Thiệp mặc bộ đồ chàm xanh, tay nải khoác vai.

Trong khi chờ qua sông, hai người khách đều ăn, và cách ăn được tả tỉ mỉ :

Ngày gặp gỡ :

Khách ngồi xuống vệ cỏ […] tháo cái gói vải từ bao lâu vẫn đeo ở tay, lấy trong đó ra một gói cơm nắm. Rồi không dao, không đủa, khách bẻ ngoắt nửa nắm cơm, đưa lên miệng, trong khi mấy ngón tay lần gỡ từng miếng cá khô. Đôi lúc khách ngừng nhai, chép miệng cho thấm xuống đáy lòng cái hương vị đậm đà của bữa cơm lưu lạc.

Chỉ sau mười phút, không còn một miếng cơm, một khúc cá nào sót lại trên mảnh lá chuối héo. Tất cả lương thực ngọt ngào trôi qua cổ họng, đảo lộn trong cái dạ dày vô bệnh, để biến thành những giòng máu hùng cường luân lưu nuôi mạch sống, và nuôi lớn mãi cái chí nguyện giang hồ. (tr. 12)

Thiên văn :

Khách lôi ở tay nải ra một miếng lương khô […] khách nhai trệu trạo, đôi mắt đăm đăm nhìn dòng nước.

Khách ăn rất lâu, có vẻ như thể ăn dè. Hay đây là miếng lương khô cuối cùng ? Hay trong tay nải vẫn còn lương khô nhưng chặng đường đi còn xa ? (tr. 160)

Hai người khách cùng có một cử chỉ :

Ngày gặp gỡ :

Ăn xong, khách xoa tay đứng dậy, bước xuống bến sông, rửa mặt và vốc nước uống. (tr. 12)

Thiên văn :

Khách cúi người bên mạn đò, vốc nước rửa mặt. (tr. 162)

Ăn xong cả hai đều nghỉ, cách nằm của họ như nhau :

Ngày gặp gỡ :

Rồi lại trở lên nằm, đầu gối trên bọc hành lý […] Khách nằm rất bình tĩnh, tay chân duỗi thẳng, mắt hướng lên không gian, tâm thần nhập định. (tr. 12)

Thiên văn :

Lựa một thế dễ chịu, khách duỗi chân, gác đầu lên tay nải, dim mắt lại. (tr. 161)

Không gian trong hai văn bản là một bến đò vắng người, làm nổi bật sự bơ vơ, lạc lõng của nhân vật. Thời gian trong Ngày gặp gỡ là từ hoàng hôn đến đêm tối và trong Thiên văn : từ buổi trưa nắng gắt đến đêm tối. Chuyến sang sông của người khách Trung Quốc trong Ngày gặp gỡ được an toàn bên cạnh cô lái đò. Trái lại, người khách trong Thiên văn gặp mưa to gió lớn, sấm sét vang trời, và một mình phải chống chọi với bao nguy hiểm. Nhưng cuối cùng hai người khách đều sang được bên kia sông và cùng đứng trước một cảnh đêm đầy sao.

Ngày gặp gỡ :

Trời quang lấp lánh sao, hứa hẹn một đêm phẳng lặng. (tr. 12)

Thiên văn :

Khách thở dài, ngước mắt nhìn trời. Đêm xuống. Những ngôi sao mọc lên rất nhanh trên nền trời trong vắt. (tr. 167)

Hai văn bản kết thúc bằng hình ảnh cô lái đò, nhưng ở đây Nguyễn Huy Thiệp đã tách xa hẳn Hồ Dzếnh, sự rời xa đó đã bắt đầu ngay trong cách tả nhân vật ở đầu truyện. Người khách của Hồ Dzếnh có những nét cụ thể : chiếc trán nhỏ nhưng nhô ra một cách bướng bỉnh, đôi mắt sắc như dao, nhìn vật gì thì như thu hút vật ấy. Nét mặt nói lên ý chí người khách không dễ bị ảnh hưởng của cảnh sông nước thê lương. Người khách của Nguyễn Huy Thiệp mặc bộ đồ chàm xanh và tay nải khoác vai, nhưng độc giả không biết gì về diện mạo, trái lại tâm trạng của khách đã được biểu lộ rất nhiều, nhất là qua các câu thơ xen kẻ như một độc thoại nội tâm. Trên sông, khách có một tâm trạng khắc khoải, lo lắng :

Khách đứng dậy, vẻ lo lắng hiện trong đôi mắt […]

Khách ngồi xuống chỗ ban nãy ở đầu mũi đò […]

Khách bỗng choàng dậy. Những kẻ có số phận bất trắc mạo hiểm vẫn luôn có những giây khắc bừng thức hãi hùng như thế. Những kẻ khao khát tri thức tự do và chân lý tuyệt đối cũng luôn có những giây khắc bừng thức hãi hùng như thế […] Khách băn khoăn nhìn quanh… (tr. 161-163)

Có thể nói truyện Thiên văn là một phúng dụ : người khách sang sông một mình, trên một chiếc đò không có mái chèo, giữa lúc mưa gió, sấm sét hãi hùng, không khác gì kiếp người cô đơn, lạc lõng, đầy băn khoăn, sợ hãi, trước những thử thách, gian nguy của cuộc đời, và chỉ biết cậy vào sức mình để chống đỡ. Nguyễn Huy Thiệp kết thúc phúng dụ bằng cách đi vào huyền thoại : đồn rằng

Hẳn trong truyện của Hồ Dzếnh cũng có xu hướng huyền thoại : huyền thoại một nước Trung Quốc đã ảnh hưởng sâu đậm đến văn hóa Việt Nam từ nghìn xưa. Bộ quần áo Quảng Đông bạc màu của người khách, dưới ngòi bút của Hồ Dzếnh, có tính gợi cảm. Y phục ấy gợi được trong lòng người gặp, bao nhiêu là cảm giác thanh thú, hương vị xa xôi

Linh hồn Trung Quốc phát lộ ra trong từng bước đi, điệu đứng, trong sự trầm mặc

Khách được xem là vị thần tử của giang sơn Trung Quốc.

Nguyễn Huy Thiệp vượt khỏi một huyền thoại có giới hạn địa lý như nước Trung Quốc, để đi vào một huyền thoại có chiều kích rộng lớn hơn : đó là huyền thoại của vũ trụ và của con người. Vũ trụ qua hình ảnh của chòm sao Thần nông trên trời và con người qua dấu chân để lại trên đò, cô lái đò mang thai vì đã ướm chân vào đấy. Hình ảnh cô lái đò mang thai nhắc nhở chúng ta bà mẹ của Thánh Gióng và đồng thời làm cho huyền thoại con người trong phúng dụ này hòa hợp với huyền thoại vũ trụ : Thánh Gióng lên trời với con ngựa sắt và như thế đã đi vào vũ trụ. Phải chăng để cho hình ảnh con người trong phúng dụ được mãi tồn tại ?

Trong hai truyện của Nguyễn Huy Thiệp, ngôn ngữ là dấu hiệu của liên văn bản, chẳng hạn những từ như đi-văng, mỏng : mỏng manh (Vũ Trọng Phụng), mỏng dính (Nguyễn Huy Thiệp), và những từ như khách, vệ : vệ cỏ (Hồ Dzếnh), vệ sông (Nguyễn Huy Thiệp), duỗi : tay chân duỗi thẳng (Hồ Dzếnh), khách duỗi chân (Nguyễn Huy Thiệp), vốc nước uống (Hồ Dzếnh), vốc nước rửa mặt (Nguyễn Huy Thiệp), v.v… Nhưng hiện tượng liên văn bản chủ yếu ở trong hình tượng các nhân vật và cách dàn dựng cảnh. Qua sự quy tụ hình tượng và cảnh trí, văn bản đã làm cái công việc biến hóa liên văn bản. Ở đây hiện tượng liên văn bản không phải chỉ là việc bứng trồng văn bản này sang văn bản khác mà là một công trình biến hóa, một cách viết lại liên văn bản, tạo lại ý nghĩa để có một văn bản mới.                                                           

Tác phẩm :

Nguyễn Huy Thiệp, Huyền Thoại Phố PhườngThiên Văn trích trong tập truyện ngắn Thương Cả Cho Đời Bạc, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, 2000.

Vũ trọng Phụng, Số Đỏ, Nxb Văn Nghệ T.P. Hồ Chí Minh, 1999.

Hồ Dzếnh, Chân Trời Cũ, Nxb Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2001.