THUYẾT LIÊN VĂN BẢN

Vào những năm 1960, ở Pháp, một cuộc cách mạng về lý luận văn học đã làm rung chuyển ngành phê bình văn học. Nghiên cứu văn học không còn là việc miêu tả, đề cao chân dung, tiểu sử của nhà văn – Roland Barthes đã gây ít nhiều ngỡ ngàng khi ông nói đến cái chết của tác giả – không còn hướng về lịch sử tính của tác phẩm, như các bậc thầy ở đại học đã từng giảng dạy từ trước. Kể từ nay, các ngành khoa học nhân văn như nhân loại học, sử học, phân tâm học, xã hội học, ngôn ngữ học, triết học, và đương nhiên thuyết cấu trúc – thuyết cấu trúc bao trùm các khoa học trên đây vào thời đó – đều được dùng để làm sáng tỏ nghệ thuật văn chương về mọi khía cạnh. Các ngành khoa học nhân văn cho phép thăm dò chiều sâu của văn bản, nhưng sự hình thành văn bản được thực hiện trong hoàn cảnh nào ? Để trả lời câu hỏi căn bản này, có một thuyết mới xuất hiện ở Pháp vào những năm 1960-70 : thuyết liên văn bản.

Người có công đưa thuyết liên văn bản vào lĩnh vực lý luận văn học ở Pháp là Julia Kristeva, thuộc nhóm Tel Quel. Từ intertextualité (hiện tượng hay thuyết liên văn bản) do bà đưa ra đã nổi tiếng ngay, vì nó đến đúng lúc để nhấn mạnh tầm quan trọng của một hiện tượng luôn luôn đi kèm với việc sáng tạo văn chương. Không một nhà văn nào, không một nhà thơ nào thoát khỏi hiện tượng đó. Trong cuốn Séméiotikè (1969), Julia Kristeva định nghĩa liên văn bản như sau : liên văn bản chủ yếu là một sự hoán vị những văn bản : trong không gian của một văn bản, nhiều lời phát biểu trích từ những văn bản khác chéo nhau và làm mất tác dụng nhau. Kristeva cho rằng bất cứ văn bản nào cũng là giao điểm của nhiều văn bản cùng thời hay có trước, nó là sự đọc lại, làm rõ nét, cô đặc hóa, thay đổi vị trí và là bề sâu của những văn bản đó.

Sau Kristeva, nhiều nhà lý luận văn học như Roland Barthes, Gérard Genette, Michael Riffaterre, Laurent Jenny đều định nghĩa liên văn bản, mỗi người mỗi cách.

Theo Laurent Jenny chẳng hạn, hiện tượng liên văn bản không phải là một sự thêm vào bừa bãi và bí ẩn những ảnh hưởng của những văn bản đã có trước, mà là một công trình biến hóa, đồng hóa nhiều văn bản bởi một văn bản được xem là trọng tâm, văn bản này có vai trò chủ đạo trong việc phát biểu ý nghĩa.

Roland Barthes thì đưa ra một lý luận về văn bản như một tổng hợp, trong Bách khoa Tự điển Encyclopoedia universalis, dưới tựa đề : Théorie du texte : Mọi văn bản là một liên văn bản ; những văn bản khác có mặt trong văn bản này, ở những mức độ có thể được biến đổi, dưới những hình thức có thể ít nhiều được nhận thấy : những văn bản của văn hóa đi trước và những văn bản của văn hóa bao quanh ; mọi văn bản là một mảng mới của những trích dẫn xưa cũ. Những mảnh rời của những cái mã, của những công thức, những cái mẫu có nhịp điệu, những mảnh rời của những ngôn ngữ của xã hội đều đi vào văn bản, được phân phối lại. (…) Liên văn bản là một lĩnh vực chung của những thành ngữ khuyết danh mà nguồn gốc hiếm khi có thể được xác định, là một lĩnh vực của những trích dẫn vô thức hay máy móc được dùng lại mà không có ngoặc kép.

Một cách đơn giản : theo thuyết liên văn bản, một văn bản viết lại một văn bản khác, và liên văn bản là toàn thể những văn bản đã có trước mà một tác phẩm làm dội lại.

Thật ra, trước khi Julia Kristeva và các học giả ở Pháp quan tâm đến vấn đề liên văn bản, thì đã có nhà lý thuyết văn học Nga Mikhail Bakhtine (1895-1975), tác giả các cuốn : Thi pháp của Dostoïevski, Mỹ học của sáng tạo ngôn từ, Mỹ học và lý luận về tiểu thuyết, v.v… Thuyết liên văn bản bắt nguồn từ những công trình nghiên cứu của Bakhtine. Theo ông, mọi phát biểu có tính văn chương đối thoại với những phát biểu văn chương khác ; chính nhờ sự tác động qua lại đó mà văn bản của một cá nhân có nghĩa và có giá trị. Vậy Bakhtine phủ nhận tính tự chủ, tính chuyên biệt hay tính độc nhất của một văn bản mà ông đặt vào chỗ gặp gỡ với những văn bản khác ; mỗi văn bản đến sau là một lời đáp, một đọc lại, một chuyển dần, một sự cô đặc hóa những văn bản đi trước.

Bakhtine có một lý thuyết về lời phát biểu và về hiện tượng của nhiều tiếng nói không thuần nhất đối nhau trong một diễn ngôn, hiện tượng này gọi là dialogisme, xin dịch là mạng lưới đối thoại. Thuyết về lời phát biểu và khái niệm mạng lưới đối thoại có một vai trò cơ bản trong sự hình thành của thuyết liên văn bản. Bakhtine cho rằng tiểu thuyết – đặc biệt tiểu thuyết của Dostoïevski – có một mục tiêu riêng biệt, đó là con người đang nói và diễn ngôn của anh ta. Tiểu thuyết chủ yếu là một hiện tượng ngôn ngữ, thể hiện chính ngôn ngữ, và ngôn ngữ đó mang dấu ấn của những lời phát biểu đã có trước. Bất cứ lời phát biểu nào, dù thuộc về văn chương hay không, đều ăn sâu vào một bối cảnh xã hội, mang dấu ấn của bối cảnh này và được hướng về lĩnh vực xã hội. Cho nên mỗi một lời phát biểu, mỗi một từ là một phương tiện truyền đi một lời nói không thuần nhất. Vậy một lời phát biểu luôn luôn ở trong một mạng lưới của những lời phát biểu khác và bị những lời phát biểu này nhồi nắn. Đó là lời nói vỡ tung, không thuần nhất, bị lời kẻ khác xuyên qua. Lý thuyết của Bakhtine về lời phát biểu, về mạng lưới đối thoại được xem như chủ yếu trong việc hình thành khái niệm liên văn bản.

Vì những công trình nghiên cứu của Bakhtine được dịch sang Pháp ngữ rất muộn : chỉ vào những năm 1960, cho nên thuyết liên văn bản đến Pháp có phần chậm trễ.

Vậy thuyết liên văn bản đã trở nên một vấn đề cốt lõi trong lĩnh vực phê bình văn học. Tuy thuyết này chỉ được biết đến trong những năm 1960-1970 ở Pháp, như đã nói, nhưng trên thực tế hiện tượng liên văn bản đã có từ xưa, vì nó luôn đi kèm với việc sáng tạo văn chương. Dù sao thuyết liên văn bản cũng đã giúp các nhà nghiên cứu văn học có cái nhìn mới về văn bản, công việc của họ là thăm dò những tương tác hiển nhiên hoặc ngấm ngầm giữa các văn bản, vì liên văn bản có thể là một hiện tượng dễ xác định, hoặc trái lại một hiện tượng lan tỏa, khó nhận dạng.

Có những trường hợp dễ nhận dạng, như cuốn tiểu thuyết Ulysse của nhà văn Ai-len James Joyce cho thấy dấu ấn của văn bản đã có trước, tức sử thi Odyssée của nhà thơ Hy lạp lừng danh Homère.

Trong văn học Pháp cũng có những ví dụ cho chúng ta một ý niệm về vị trí của một văn bản, một vị trí không thể nào đứng biệt lập.

Trong bộ tiểu thuyết À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust, vào đầu thế kỷ 20, có đoạn mang dấu ấn của Phèdre, một kịch bản của Racine ở thế kỷ 17. Trong cuốn Mademoiselle de Maupin của Théophile Gautier (1811-1872), sự hiện diện của Shakespeare (1564-1616) quá hiển nhiên, không thể phủ nhận được.

Một ví dụ khác về thi ca Pháp sau đây cũng cho thấy tác dụng của liên văn bản. Khi đọc bài thơ Brise marine (Gió biển) của Mallarmé và bài thơ Le voyage (Cuộc du hành) của Baudelaire, người ta có cảm tưởng hai bài thơ tương tự nhau, mặc dù cả hai tác giả đều là những bậc tài hoa và địa vị của họ vững vàng trong nền văn học Pháp. Sở dĩ người đọc có cảm tưởng có một quan hệ giữa hai bài thơ là vì hiện tượng liên văn bản đã xuất hiện trong chủ đề chung của hai bài thơ : sự mơ ước một chân trời xa xôi để tránh những nhàm chán của cuộc sống, và việc đi xa có thể đem lại sự thất vọng.

Trở lại thơ của Baudelaire, tập thơ Les Fleurs du Mal (Hoa tội lỗi) cho thấy rõ hiện tượng liên văn bản từ những truyện thần thoại của Ai Cập và Đức. Hiện tượng này là nét đặc thù của sáng tạo thơ của Baudelaire. Tính liên văn bản không rõ ràng dưới hình thức của một câu, một đoạn trích dẫn, mà dưới hình thức của một ám chỉ về một quy chiếu tôn giáo hay văn hóa. Sự ám chỉ có thể rõ ràng, đôi khi có tính ngầm. Vậy thơ Baudelaire mang dấu ấn của truyện thần thoại và có hai đặc điểm : một mặt, Baudelaire không gắn bó với những truyện thần thoại nổi tiếng của thời cổ đại đã thu hút trường phái lãng mạn, như truyện Orphée, Prométhée chẳng hạn. Mặt khác, trong những truyện thần thoại, Baudelaire không chọn những vị thần, mà chọn những bậc anh hùng và những nhân vật nửa thần nửa người mà cuộc phiêu lưu diễn ra trên đời hay trong địa ngục ; bởi vì những bậc anh hùng và những nhân vật nửa thần nửa người thích hợp với tính anh hùng của đời sống hiện đại và thích hợp với sự biểu hiện những xung khắc của tâm hồn. Hiện tượng liên văn bản, bắt nguồn từ những truyện thần thoại, thể hiện trong thơ của Baudelaire để làm cho thơ, tình yêu, số phận con người và cái chết có được tính ẩn dụ hay tính biểu tượng là những yếu tố của mỹ học.

Trong văn học Việt Nam, có thể xem, chẳng hạn, tập du ký Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi 1876 của Trương Vĩnh Ký, viết vào cuối thế kỷ 19, như một liên văn bản của hai tập du ký của Phạm Quỳnh : Mười ngày ở HuếMột tháng ở Nam Kỳ viết vào năm 1918 và năm 1919, mặc dù vào thời Phạm Quỳnh, nền văn học quốc ngữ đã tiến một bước khá dài so với thời Trương Vĩnh Ký. Hai nhà văn hóa đều có một cuộc du hành theo chiều dài của đất nước, cả hai đi ngược chiều để khám phá cái phần của đất nước mà mình chưa được biết, và họ đã say mê phát hiện những thành phố lạ, những đền đài lịch sử cổ kính, những thắng cảnh nên thơ và người dân địa phương với những phong tục tập quán khác với nơi họ sống.

Đến thời Tự Lực Văn Đoàn, khởi đầu năm 1933, văn học quốc ngữ càng phát triển mạnh, bước vào thời hiện đại, và tiểu thuyết lên ngôi. Những độc giả yêu thích truyện của Khái Hưng, hẳn không quên một truyện tình lãng mạn, rất đẹp, trong tác phẩm đầu tay của ông, xuất bản năm 1933 : tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên. Tựa đề Hồn Bướm Mơ Tiên tiết lộ một hiện tượng liên văn bản. Tương truyền vua Lê Thánh Tôn, ở thế kỷ 15, một vị vua yêu văn thơ, thích ngâm vịnh, đã sáng tác hai câu thơ :

Gió thông đưa kệ tan niềm tục

         Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời.

để xướng họa với một ni cô, nhân dịp vua đến viếng chùa Ngọc Hồ.

Trong truyện Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng, hiện tượng liên văn bản không chỉ ở cái tựa đề của truyện, mà nó còn làm lan tỏa cái không khí Phật giáo trong khắp truyện.

Gần chúng ta hơn, trong văn học miền Nam, có hai nhà văn mang dấu ấn của bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, đó là Vũ Khắc Khoan và Võ Phiến. Cả hai nhà văn đều nói đến chiếc bánh madeleine của Proust. Để kể truyện, Proust dùng một phương pháp gọi là trí nhớ bất chợt (mémoire involontaire) do những cảm giác gây ra. Vào dịp viếng thăm người cô tên là Léonie, người kể truyện được mời ăn thứ bánh ngọt được gọi là bánh madeleine. Khi người kể truyện cho vào miệng miếng bánh và uống một ngụm trà, thì bỗng nhiên vị giác làm sống lại cả một thời quá khứ với bao kỷ niệm trong cái làng Combray, với nhà cửa, ngôi nhà thờ và những người trong làng. Kể từ đó, trong văn hóa Pháp, người ta thường nhắc đến chiếc bánh madeleine như một biểu tượng của ký ức.

Vũ Khắc Khoan, trong bài túy bút (túy bút chứ không phải tùy bút) Mơ Hương Cảng, khi nhắc đến nhà văn Nguyễn Tuân, ông viết : Nhưng tại sao chiều nay tôi lại chợt nghĩ tới Nguyễn ? (…) Có những chiếc bánh madeleines của Proust trong cuộc phiêu lưu ngược dòng thời gian thăm thẳm vào ký ức.

Về phần Võ Phiến, ông gọi chiếc bánh madeleine là « bánh quả bàng », vì nó có hình quả bàng. Trong bài tùy bút Buổi chiều tịch mịch, Võ Phiến viết : Tôi không hề nhớ gì cả. Chỉ biết bất thần cảnh chiều ấy vụt dựng lên như một phép lạ trước mắt – Một tiếng chim kêu đánh « chíu » một cái – cũng tựa như một miếng gạch long khua dưới chân, một miếng bánh quả bàng nhúng vào tách nước trà trong pho sách mênh mông của Marcel Proust, thế là cả một thế giới đột nhiên hiện về (Tùy bút II, tr. 293). Chẳng những Võ Phiến nhắc đến chiếc bánh madeleine mà ông còn nhắc đến miếng gạch long khua dưới chân là cảm giác thứ hai, tức xúc giác, trong truyện của Proust ; vậy, cũng như vị giác, xúc giác làm xuất hiện trí nhớ bất chợt. Có điều mới lạ ở Võ Phiến là ông dựa vào thính giác (tiếng chim kêu), tức ông thêm một cảm giác thứ ba để làm xuất hiện trí nhớ bất chợt.

Hiện tượng liên văn bản thường xảy ra bên trong một văn hóa. Con người sinh ra và lớn lên trong môi trường văn hóa của mình. Khi nằm nôi có lời ru của mẹ ; khi có trí khôn, nghe người lớn hát ca dao, kể truyện ; ở trường, được học những bài văn hay, bắt đầu tập đọc sách ; và khi trưởng thành, nếu là người thích văn chương thì có cả kho tàng sách để đọc. Vậy khi một người cầm bút, họ có cả một vốn văn hóa được tích luỹ trong ký ức một cách ý thức hay vô thức, và họ đi vào hiện tượng liên văn bản mà lắm khi họ không biết.

Cũng có những hiện tượng liên văn bản ngoài văn hóa gốc, tức nhà văn từ văn hóa của mình đến với một văn hóa khác, và mang dấu ấn của văn hóa đó, như trường hợp của Vũ Khắc Khoan và Võ Phiến trên đây.

Hiện tương liên văn bản giữa hai nền văn hóa có nhiều nguyên nhân : hoặc do sự hiểu biết ngoại ngữ của nhà văn có khả năng tiếp cận văn hóa nước ngoài, hoặc do những công trình dịch thuật. Quan trọng hơn nữa là do sự đưa đẩy của lịch sử. Như chế độ thuộc địa khi xưa, khiến nước mạnh áp đặt văn hóa của mình cho nước yếu ; và ngày nay, vào thời đại toàn cầu hóa, thời đại Internet, giao lưu văn hóa trên mạng càng trở nên dễ dàng, nhanh chóng. Trong hoàn cảnh đó, vấn đề liên văn bản giữa các nền văn hóa càng có cơ hội phát triển mạnh hơn, và có thể trở nên phức tạp hơn. Có vô số vấn đề đang chờ đợi các nhà nghiên cứu, phê bình văn học.

Tài liệu tham khảo :

Nathalie Piégay-Gros, Introduction à l’Intertextualité, Dunod, Paris, 1996.

Marc Eigeldinger, Lumières du Mythe, Presses Universitaires de France, 1983.