HANS ROBERT JAUSS VÀ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HỌC SỬ

 

Hans Robert Jauss (1921-1997) là giáo sư chuyên về văn học La Mã và là nhà lý luận văn học tại đại học Constance (Đức quốc) từ 1966 đến 1987. Cùng với Wolfgang Iser ông thành lập, vào cuối thập niên 60, một nhóm gồm những nhà nghiên cứu văn học dưới danh hiệu Trường phái Constance. Bên trong nhóm Constance, có thể phân biệt hai khuynh hướng : lịch sử của sự tiếp nhận của Hans Robert Jauss, và mỹ học của những tác động của sự tiếp nhận của nhà lý luận văn học Wolfgang Iser.

Trường phái Constance đưa ra lý thuyết về sự tiếp nhận tác phẩm văn chương và dời trọng tâm từ văn bản đến người đọc ; lần đầu tiên người đọc được đưa lên địa vị của người chủ động trong việc thưởng thức và tồn tại hóa tác phẩm văn chương.

Diễn từ khai giảng của Hans Robert Jauss tại đại học Constance, năm 1966, mang tựa đề : Văn học sử : một thách thức cho lý thuyết văn học, được dịch sang Pháp ngữ năm 1978, dưới tựa đề : Pour une esthétique de la réception (Biện luận cho một mỹ học của sự tiếp nhận). Theo Jauss, việc nghiên cứu sự tiếp nhận có thể đổi mới hoàn toàn ngành  văn học sử. Ông muốn dùng lịch sử của sự tiếp nhận những tác phẩm văn chương của người đọc làm nền tảng cho lịch sử văn học. Do đó ông đã đem lại một thay đổi khá quan trọng về lý thuyết văn học.

Trước đó, Jauss nhận thấy khoa chú giải cổ văn đã đặt vấn đề của sự tiếp nhận xuyên qua việc diễn giải về ngữ pháp và xuyên qua việc chú giải những phúng dụ trong Kinh thánh. Nhưng chính với khoa chú giải hiện đại và với tính quan trọng của hành động đọc tác phẩm được nhìn nhận mà vấn đề tiếp nhận trở nên quyết định. Những quan điểm có tính lịch sử ở thế kỷ 19, những ý nghĩ nào đó của Edgar Poe, Valéry, nhưng cũng là những nhận xét của Hegel, Heiddeger, Thibaudet, Benjamin và Sartre, đã đóng góp vào việc quan tâm đến những vấn đề của sự tiếp nhận. Ingarden với những luận đề trong cuốn L’œuvre d’art littéraire (tác phẩm nghệ thuật văn chương) (1930), và Gadamer với cuốn Vérité et méthode (Sự thật và phương pháp) (1960), nhằm khôi phục khoa chú giải, cả hai tác giả đã gợi ý cho một dự án về « mỹ học của sự tiếp nhận ».

Jauss cho rằng văn học sử cần được đổi mới. Vào thời đó ngành văn học sử bị chỉ trích nghiêm khắc. Mỹ học của sự tiếp nhận của Jauss xuất hiện vào lúc chủ nghĩa hình thức Nga và những lý thuyết về văn bản cùng thuyết cấu trúc đang thắng thế. Jauss chịu ảnh hưởng của Heiddeger và của hiện tượng luận, ông tách xa những lý thuyết trên ; ông cũng tách xa chủ nghĩa thực chứng về sử học và xã hội học mác xít.

Jauss quan tâm đến sự đối thoại giữa tác phẩm và người đọc. Ông đưa ra lập trường mới của mình về lý luận văn học. Theo truyền thống,  văn học sử căn cứ vào các tác giả và những tác phẩm được tập hợp theo thể loại. Công việc này không đề cập đến người đọc, trong khi đó chính người đọc đã tiếp nhận tác phẩm lúc nó ra mắt lần đầu, và chính những thế hệ người đọc kế tiếp nhau đã làm cho tác phẩm được tồn tại. Giữa quá khứ và hiện tại có một đối thoại liên tục cho phép chúng ta còn hiểu được những văn bản xưa nhất, mặc dù đã có một khoảng cách thời gian rất dài.

Jauss triển khai khái niệm « viễn cảnh chờ đợi » (horizon d’attente) do Gadamer đưa ra trước đó, để thể hiện sự thể nghiệm về văn học tức sự tiếp nhận và thông hiểu nền văn học sắp đến. Viễn cảnh chờ đợi của một người đọc gồm sự hiểu biết của người đó về thi pháp và các thể loại, về những tác phẩm cùng chung một bối cảnh lịch sử-văn học, về sự đối lập giữa hiện thực và hư cấu, giữa ngôn ngữ văn chương và ngôn ngữ thường ngày, về hệ thống quy phạm và giá trị, do những tác phẩm đã có trước đem lại. Khi người đọc tiếp nhận một tác phẩm mới thì quá trình chính yếu là sự phối hợp giữa viễn cảnh chờ đợi của người đọc và viễn cảnh chờ đợi của tác giả. Sự phối hợp của hai viễn cảnh cụ thể hóa tác phẩm khi nó được tiếp nhận.

Jauss cho rằng sự đối lập giữa viễn cảnh do một văn bản mới đưa ra và viễn cảnh chờ đợi của người đọc quyết định giá trị mỹ học của văn bản. Nếu viễn cảnh chờ đợi của người đọc được mở rộng bởi sự cách tân của tác phẩm mới, thì có thể nói người đọc đã đạt đến nghệ thuật. Trong trường hợp ngược lại, khi tác phẩm mới chỉ tạo lại những quy phạm hiện hành thì người đọc vẫn ở trong cái gọi là văn học tiêu thụ.

Mỹ học của sự tiếp nhận được lập nên xung quanh sự tái tạo viễn cảnh chờ đợi của người đọc đầu tiên của một tác phẩm, rồi so sánh viễn cảnh đó với viễn cảnh của những thế hệ người đọc kế tiếp. Như thế có thể thấy những quan hệ giữa những viễn cảnh chờ đợi hoặc giữa những quan điểm của người đọc và những giá trị hay những quy phạm về mỹ học và xã hội. Theo Jauss, những tác phẩm lớn nổi bật là do khoảng cách đối với quy phạm, do những cắt đứt đối với một viễn cảnh chờ đợi. Đối diện với một lịch sử văn học được quan niệm như một lịch sử về tác giả và tác phẩm, Jauss nhấn mạnh về lịch sử của chức năng và của ảnh hưởng của người đọc đối với sự sáng tạo văn chương. Jauss biến lý thuyết của mình thành một dụng cụ để tiếp cận lịch sử văn học một cách mới mẻ. Ông dùng khái niệm thể nghiệm mỹ học để phục hồi cái lạc thú thẩm mỹ do văn bản đem lại, nhưng cũng để dung hòa quan điểm của sự tiếp nhận và quan điểm của sự nhận thức.

Ngành văn học sử thường căn cứ vào những yếu tố nguồn và ảnh hưởng. Thế nhưng Trường phái Constance lại hướng văn học sử về những khái niệm mới với những câu hỏi như :

Chúng ta có liên hệ nào với những tác phẩm xưa ?

Tính lịch sử của tác phẩm thuộc loại gì ?

Viễn cảnh chờ đợi nào và các phép chơi nào giả định tác phẩm mới ?

Làm sao những câu hỏi và câu trả lời liên kết được với nhau theo thời gian, bởi vì một tác phẩm luôn luôn là sự đáp lại một câu hỏi, mà người diễn giải phải nhận ra ?

Tất cả những câu hỏi đó buộc phải theo lịch đại, phải đặt ở hàng đầu người đọc và chiều kích mỹ học của tác phẩm, nghĩa là phải đặt trước tiên tác động của tác phẩm nơi công chúng.

Mỹ học của sự tiếp nhận trước tiên được quan niệm như một sự đổi mới văn học sử. Trong một thời gian dài, người ta chỉ kể đến tác phẩm và tác giả, điều quan trọng là đưa người đọc vào mọi nghiên cứu văn học có tính lịch đại.

Jauss kịch liệt chống lại lập trường của học thuyết mác xít và của chủ nghĩa hình thức Nga cùng với thi pháp học.

Học thuyết mác xít đơn giản hóa tính lịch sử của văn học bằng cách thấy trong tác phẩm sự dời đổi các cuộc tranh đấu giai cấp. Thật ra, người tiếp nhận tác phẩm không hoàn toàn được quyết định bởi cái xã hội trong đó mình sống, và tác phẩm cũng không hẳn là một phản ánh của cái hiện thực xã hội-kinh tế đương đại trong đó tác phẩm được hình thành. Cuối cùng lý luận về sự biểu hiện của học thuyết mác xít trở về với cái lý thuyết của phản ánh (théorie du reflet).

Đối với chủ nghĩa hình thức Nga, Jauss nhắc lại rằng chủ nghĩa này chống chủ nghĩa thực chứng thiên về tiểu sử tác giả, chống những cách diễn giải có tính hệ tư tưởng. Chủ nghĩa hình thức khẳng định rằng việc nghiên cứu văn học phải căn cứ vào cái tính văn chương chuyên biệt, tiếng Nga gọi là literaturnost, tiếng Pháp : littérarité, là văn chương tính. Do đó chủ nghĩa hình thức đặt tầm quan trọng vào những cách thức có thể biến đổi chất liệu trung tính của ngôn ngữ thường ngày thành một văn bản. Jauss chỉ trích chủ nghĩa hình thức lấy tác phẩm làm trọng điểm và cắt đứt tác phẩm với hiện thực, chủ nghĩa hình thức không hề nghĩ đến vai trò người đọc. Các nhà hình thức chủ nghĩa hình dung sự tiến hóa của văn học như một sự tiếp nối các hệ thống. Đối với họ, một hệ thống quy phạm về nghệ thuật chiếm chỗ của một hệ thống khác khi hệ thống này mất giá trị bằng cách trở nên những tập tục, những thói quen. Nặng hơn nữa là quan niệm của họ về lịch sử hình thức như trên khó ăn khớp với Lịch sử nói chung, với lịch sử văn hóa, lịch sử tâm tính con người và lịch sử con người sống trong xã hội.

Trong quan niệm của Jauss, tác phẩm không được xem như một hình thức thuần khiết, tác phẩm trước tiên là một quá trình, một hình thức đang chờ đợi để được hiện tại hóa. Theo Jauss, người tiếp nhận tác phẩm được đặt vào một vị trí lịch sử, có một chức năng lịch sử quyết định để hiểu văn học sử, hiểu sự tiến triển của những tác phẩm như một quá trình luôn luôn tiến hóa :

Trong bộ ba gồm tác giả, tác phẩm và công chúng, công chúng không phải là một yếu tố thụ động chỉ biết phản ứng dây chuyền ; công chúng, đến lượt mình, phát triển một năng lực, góp phần vào việc làm nên lịch sử. Sự sống còn của tác phẩm văn chương trong lịch sử không thể được quan niệm mà không có sự tham gia tích cực của người mà tác phẩm được gửi đến (Pour une Esthétique de la réception).

Trước Jauss đã có Valéry và Sartre nói đến cái nguyên tắc theo đó chính việc đọc làm nên tác phẩm. Sartre, trong tiểu luận Qu’est-ce que la littérature ? (Văn chương là gì ?) viết : Nội dung văn chương là một cái vụ lạ đời, nó chỉ tồn tại khi nó quay. Để làm cái vụ xuất hiện, phải có một hành động cụ thể gọi là việc đọc, và cái vụ chỉ kéo dài khi mà hành động đó có thể kéo dài.

Nhưng còn phải cho sự thực hiện tác phẩm một hình thức cụ thể, bằng cách miêu tả việc đọc. Đó là việc mà Jauss đề nghị, đặc biệt qua khái niệm « viễn cảnh chờ đợi ». Viễn cảnh chờ đợi là mục tiêu của một công việc hồi phục. Theo Jauss, viễn cảnh chờ đợi là một hệ thống của những biểu hiện còn hiệu lực vào một lúc nào đó của lịch sử nghệ thuật, bởi vì chặng đầu tiên của cuộc thử nghiệm luôn luôn đã được biết đến, không có tâm thức trống không. Việc đọc một tác phẩm mới luôn luôn thuộc về những cách đọc đã có trước, thuộc về những quy tắc, những cái mã mà người đọc đã quen với những cách đọc trước kia.

Viễn cảnh chờ đợi là do ba yếu tố chính :

1/ Thể nghiệm tiên quyết của công chúng về thể loại của tác phẩm. Chẳng hạn việc ghi chú ngoài bìa sách : tiểu thuyết là sự chỉ định toàn thể những chờ đợi và những phép chơi điều khiển sự nhận thức của công chúng.

2/ Hình thức và chủ đề của những tác phẩm đã có trước mà công chúng được giả định là đã biết đến.

3/ Thang giá trị văn học hiện thời, đặc biệt cái nghĩa của sự tương phản giữa ngôn ngữ thi vị và ngôn ngữ thực dụng, đành rằng ranh giới giữa hai ngôn ngữ không được quy định một cách dứt khoát mà nó xê dịch theo thời đại. Điều này thấy rõ trong lịch sử của tiểu thuyết ở Tây phương. Trên bình diện rộng lớn, khởi đầu tiểu thuyết là một thể loại bị xem là thấp kém, nhưng với thời gian tiểu thuyết đã lên ngôi và biểu hiện cho một trong những đỉnh cao của nghệ thuật văn học. Trên bình diện cá nhân, có những tác phẩm như Voyage au bout de la nuit (Cuộc hành trình thâu đêm) của Céline ở Pháp chẳng hạn, lúc ra mắt công chúng, tác phẩm này đã gây những phản ứng chống đối trong dư luận, vì tác giả đã dùng lối nói bình dân, dung tục ; tác phẩm bị xem là phi nghệ thuật. Nhưng dần dà ngôn ngữ bình dân đó được xem là một dấu hiệu của tài năng, một giá trị mỹ học.

Sự kiện này đưa đến khái niệm thay đổi viễn cảnh. Viễn cảnh thay đổi mỗi khi một tác phẩm mới đưa vào một khoảng cách, một sự chênh lệch không được chấp nhận bởi hệ thống của những chuẩn mực hiện hành. Có những tác giả chẳng những không hài lòng đã tìm cách thay đổi viễn cảnh mà còn lý luận hóa sự thay đổi đó, như các tác giả của trào lưu Tiểu Thuyết Mới ở Pháp. Trong cuốn Pour un nouveau roman (Biện luận cho một tiểu thuyết mới) (1961), Alain Robbe–Grillet, thủ lĩnh của nhóm Tiểu Thuyết Mới, phân tích sự tiếp nhận khó khăn các tiểu thuyết mới. Ông chỉ trích những quan niệm lỗi thời về cốt truyện, về nhân vật, về tâm lý. Cuốn sách của Alain Robbe–Grillet là một sự tố cáo những viễn cảnh chờ đợi đã chỉ định hướng đọc cho công chúng từ thế kỷ 19. Trong những năm 60 của thế kỷ trước, sự thay đổi viễn cảnh, sự hình thành một lối viết khác được trình bày như một thể nghiệm có tính ý thức hệ cũng như tính mỹ học.

Mỹ học của sự tiếp nhận đưa đến quan niệm về nghệ thuật như một hành động truyền thông và về sử tính đặc biệt của văn học. Đối với Hans Robert Jauss, sử tính của tác phẩm văn học là do sự tiềm tàng của những cái nghĩa nội tại của tác phẩm, sự tiềm tàng đó có khả năng phát triển theo thời gian và có khả năng hiện tại hóa trong những lần tiếp nhận liên tiếp tác phẩm. Khi Hans Robert Jauss nói đến sự phê phán thấu hiểu và sự phối hợp các viễn cảnh, ông nhấn mạnh về chiều sâu của thời gian theo đó thể nghiệm mỹ học đã triển khai. Ông cũng nhấn mạnh về sự căng thẳng – đối với người đọc cũng như với người diễn giải – giữa viễn cảnh hiện tại và một văn bản của quá khứ. Sự thấu hiểu đưa đến sự phối hợp các viễn cảnh.

Lý thuyết của Hans Robert Jauss tìm cách phối hợp sự tiếp cận tác phẩm văn học với sự tiếp cận lịch sử.

 

Tài liệu tham khảo :

1/ Hans Robert Jauss, Pour une esthétique de la réception, Gallimard, 1978.

2/ Dictionnaire des Genres et notions littéraires, Encyclopaedia Universalis, Albin Michel, 2001.

3/ Nathalie Piégay-Gros, Le lecteur, Flammarion, 2002.