VẤN ĐỀ XÂY DỰNG MỘT VĂN HỌC SỬ

 

Các nền văn minh trên thế giới, ngay từ đầu, đã lo tìm cách truyền lại cho các đời sau cái di sản văn hóa của mình. Nhưng di sản đó được trình bày như thế nào ? Vì theo thời gian, con người với sự say mê cái đẹp, sáng tạo cái đẹp, đã không ngừng tích lũy những sản phẩm nghệ thuật. Riêng trong lĩnh vực văn chương, qua các thế kỷ, số người cầm bút ngày càng đông đảo, tác phẩm ngày càng dồn dập. Vậy trình bày như thế nào cái di sản văn chương đó trong một nước, khi mà thời đại không ngừng tiến hóa, xã hội và con người sống trong xã hội không ngừng biến đổi.

Cho nên cần có một phương pháp để trình bày lịch sử của văn học. Phương pháp đó không dễ đặt ra, vì nó tùy thuộc nhiều yếu tố, và là kết quả của bao sự tìm tòi, suy nghĩ của các nhà nghiên cứu, đặc biệt từ thế kỷ 19 đến thế kỷ 20.

Để có một khái niệm về sự hình thành của ngành văn học sử, chúng ta cần dựa vào những kinh nghiệm của Tây phương, khởi đầu là nước Pháp, nơi có nhiều công trình nghiên cứu trong quá khứ để dần dần đạt đến kết quả ngày nay. Có điều là chúng ta không thể ngừng lại ở nhiều giai đoạn nghiên cứu trong quá khứ với những chi tiết quá chi li, mà chỉ quan tâm đến giai đoạn hình thành của văn học sử ở thế kỷ 20.

Bước đầu tìm tòi của Gustave Lanson

Có thể nói Gustave Lanson (1857-1934), tác giả cuốn Histoire de la littérature française, là bậc thầy nổi tiếng nhất, ông muốn xem văn học sử như một tổng thể gồm những phương pháp chính xác, bằng cách dùng lịch sử các xã hội và ngay cả môn xã hội học như một cái mẫu. Lanson muốn vừa tránh « óc tưởng tượng theo xu hướng ấn tượng » vừa tránh « thói độc đoán cứng nhắc » để tìm những sự thật có tính lịch sử mà những thử nghiệm đã được xác nhận.

Đối với Lanson, « văn chương là tập luyện, sở thích, vui thích » ; « không gì có thể thay thế sự thưởng thức tác phẩm ». « Việc đọc văn bản là mục đích cuối cùng của văn học sử, nó cho phép chúng ta hiểu rõ hơn tác phẩm và thích thú hơn khi hiểu tác phẩm. Điều quan trọng là đừng lầm lẫn thú vui và sự hiểu biết : Phân biệt hiểu biếtcảm nhận, tôi chắc rằng phương pháp khoa học của văn học sử quy về sự phân biệt đó  : không cảm nhận cái nơi mình có thể hiểu biết và không tin là mình hiểu biết khi mình cảm nhận. Điều này chính yếu và rất tế nhị : văn bản chính nó có một cái nghĩa, không phụ thuộc đầu óc chúng ta, tính nhạy cảm của chúng ta. »

Như thế, văn học sử sẽ là một công trình khoa học, có ích, và là cái môn đào tạo óc phê bình, suy nghĩ về triết học, sự bao dung và bình đẳng dân chủ, đoàn kết quốc gia.

Tuy nhiên, nếu mải miết theo dõi những sự kiện được đặt ra một cách hợp lý, người ta có thể mất đi cái chiều kích của tưởng tượng và mỹ học.

Ngoài cuốn Histoire de la littérature française và những bài biên khảo, công việc của Lanson là công việc của một nhà nghiên cứu uyên bác, một nhà sử học và một nhà xã hội học. Ông viết : « Mọi tác phẩm văn chương (…) là một hành động cá nhân, nhưng là một hành động xã hội của cá nhân. Điều mà thiên tài của cá nhân có chiều kích lớn nhất không phải là tính riêng biệt, nó biệt lập thiên tài, mà chính trong cái tính riêng biệt đó, thiên tài tượng trưng cho đời sống tập thể của một thời kỳ và của một nhóm – tất nhiên văn chương không hề là một tấm gương của hiện thực, mà lắm khi văn chương bổ sung cho xã hội : văn chương biểu đạt những luyến tiếc, những giấc mơ, những khát vọng. (…) Thiên tài luôn luôn thuộc về thế kỷ của mình, nhưng luôn luôn vượt xa thế kỷ : những người tầm thường hoàn toàn thuộc hẳn về thế kỷ của họ. » (1910)

Cái công của Lanson là định nghĩa công việc của văn học sử trong chiều rộng của nó, kể cả cái mà người ta phát hiện lại nửa thế kỷ sau, dưới danh hiệu « tiếp nhận » và « viễn cảnh chờ đợi », tức thuyết về người đọc của nhà lý luận văn học Đức Hans Robert Jauss. Theo Lanson, công việc đặc thù và chính yếu của văn học sử là tìm lại trong các tác phẩm « cái điều mà tác giả muốn đặt vào đấy, cái điều mà công chúng đầu tiên tìm thấy ở đấy. »

Tuy nhiên, Lanson chưa bắt đầu thực hiện cái chương trình có nhiều tham vọng của ông, và chỉ trong một triển vọng có giới hạn, ông đã thiết lập một trường phái văn học sử được đệ tử của ông là Gustave Rudler truyền bá ở Anh, với cuốn Les techniques de l’histoire littéraire (Những kỹ thuật của văn học sử), Oxford, 1923, và một đệ tử khác : André Morize truyền bá ở Mỹ  với cuốn Problems and Methods of Literary History (Vấn đề và phương pháp của văn học sử), Boston, 1922.

Ở Pháp, văn học sử của Lanson chiếm ưu thế, đến nỗi làm phai mờ những công trình nghiên cứu khác không đi theo chiều hướng của Lanson.

Nhưng chẳng bao lâu, có nhiều tiếng nói phản đối, trách Lanson đã bóp nghẹt cái thú đọc văn bản vì quá uyên bác. Ch. Salomon viết : « Phương pháp của văn học sử (…) sẽ giết cái nghĩa và sở thích về những cái đẹp. » (1911). Còn Thibaudet thì tuyên bố : « … hiểu biết là hiểu biết qua những nguyên do, nhưng người ta không thể giải thích những thực tế sống động bằng những thực tế chết. » Còn nhà văn Valéry thì chỉ trích : « Hễ chúng ta có thể xem lịch sử như môn dạy trực tiếp chúng ta điều gì về văn chương, thì chúng ta sẽ không hiểu gì cả về điều người ta nói đến. » (Cahiers, 1937). Nhưng những lời chỉ trích đó căn cứ trên một quan niệm hẹp hòi về tiểu sử tác giả và về văn học sử do Valéry định nghĩa. Để bù lại, Valéry khẳng định tính thích đáng của một văn học sử khác, văn học sử này phân tích sự tiến hóa bên trong của nghệ thuật của tác giả.

Tóm lại, cũng cần nhìn nhận sự ích lợi của những công trình uyên bác như việc tìm kiếm nguồn gốc thường khi làm sáng tỏ các sự kiện và đôi khi cần thiết để tránh những sai lầm.

Những chặng đường làm mới văn học sử

Trong những năm 1920, các nhà hình thức chủ nghĩa Nga rồi Hội Ngôn Ngữ Học ở Prague đưa ra một quan niệm về văn chương bao hàm việc đổi mới văn học sử. Jakobson, Tynianov và Propp đều chống đối văn học sử truyền thống. Họ quan niệm tác phẩm văn học như một hệ thống, hệ thống này lại ở trong một hệ thống khác rộng lớn hơn và được văn học tạo nên. Do đó khái niệm căn bản về văn học sử trở nên cái ý tưởng thay thế các hệ thống, sự thay thế căn cứ trên sự phân phối lại những hình thức và những chức năng.

Về phía các nhà nghiên cứu Anh-Mỹ, kể từ năm 1930, trường phái New Criticism ưu đãi việc phân tích tác phẩm. Họ quan niệm tác phẩm văn học như một tổng thể được cấu trúc, họ khẳng định tính độc lập của tác phẩm văn học, giải phóng việc đọc tác phẩm khỏi những ràng buộc của văn học sử, của tiểu sử tác giả, của những quan niệm đạo đức, v.v… Nhóm New Criticism muốn đặt ra một phê bình văn học « khách quan » chỉ nhắm những khía cạnh đặc thù của tác phẩm. Tuy nhiên, nền tảng lý thuyết của New Criticism có phần hẹp hòi vì chỉ ưu đãi thơ, gây thiệt thòi cho văn xuôi, và không hề kể đến văn học sử. Ảnh hưởng của New Criticism yếu dần vào những năm 50.

Để đối lập với trường phái này, trường phái Genève gồm những nhà phê bình nổi tiếng : Georges Poulet, Marcel Raymond, Albert Béguin, Jean Rousset, Jean Starobinski ; phương pháp tiến hành của họ hoàn toàn chủ quan, ngược lại với New Criticism. Họ nêu cao sự phong phú của cách diễn giải văn bản theo trực cảm. Trường phái Genève có ảnh hưởng mạnh trong những năm 60.

Ở Pháp, cũng vào thời đó, phần đông trong nhóm Phê Bình Mới chống lại những nghiên cứu theo truyền thống và nhất là chống văn học sử. Các nhà phê bình mới chỉ muốn hiểu biết văn bản, phân tích và diễn giải văn bản.

Tuy nhiên Ferdinand de Saussure và Claude Lévi-Strauss, hai thủ lĩnh của thuyết cấu trúc, không bác bỏ văn học sử, nhưng chỉ bác bỏ tính độc quyền và tính không thích nghi của ngành này.

Về phần hai nhà lý luận văn học Pháp, Roland Barthes và Gérard Genette, họ không đòi hỏi phải bác bỏ văn học sử, nhưng đòi hỏi sự đổi mới.

Barthes chỉ trích môn văn học sử không bao giờ « có tính lịch sử thật sự », bởi vì nó tin vào « một bản chất phi thời gian của văn chương » và nó chỉ hạn chế vào cái tính biến cố. « Văn học sử chỉ có thể có được nếu nó có tính xã hội học, nếu nó hướng về những hoạt động và những thể chế, chứ không hướng về những cá thể là những con người tham gia vào một hoạt động của thể chế vượt xa họ, và nếu nó tự đặt ở mức độ của những chức năng của văn chương. »

Genette thì chỉ trích một văn học sử vẫn còn giữ cái tính giai thoại hoặc lẫn lộn với lịch sử các tư tưởng. Genette viết : « Những mục tiêu duy nhất của một văn hoc sử chính là những hình thức : ví dụ những cái mã của phép tu từ, những kỹ thuật tự sự, những cấu trúc thi vị, chứ không phải những tác giả, cũng không phải những văn bản. Bởi vì những tác phẩm văn chương được xem xét qua văn bản, chứ không được xem xét trong quá trình hình thành hay trong sự phổ biến của chúng, người ta không thể nói gì về phương diện lịch đại nếu không là những tác phẩm văn chương đều kế tiếp nhau. » (Figures III, 1972)

Ở Đức, nhà lý thuyết văn học Hans Robert Jauss, trong bài diễn từ khai mạc ở đại học Constance mang tựa đề : « Văn học sử : một thách thức cho lý thuyết văn học », năm 1967, đã bàn về môn văn học sử. Ông là người lập nên lý thuyết về sự tiếp nhận tác phẩm văn học. « Biện luận cho một mỹ học của sự tiếp nhận » của ông xuất hiện ở Pháp vào đầu những năm 1970, đi từ ý muốn xét lại văn học sử. Jauss nhận xét rằng tác phẩm văn học – và tác phẩm nghệ thuật nói chung – chỉ tự khẳng định mình và chỉ tồn tại xuyên qua một công chúng. Vậy văn học sử là lịch sử của những độc giả kế tiếp nhau hơn là lịch sử của tác phẩm văn chương, là hoạt động về truyền thông, văn chương phải được phân tích xuyên qua tác động của nó theo những quy phạm của xã hội.

Ở Mỹ, tạp chí New Literary History ra mắt độc giả năm 1969.

Ở Pháp văn học sử tồn tại, mặc dù có nhiều phản đối, đó là nhờ công trình của các nhà nghiên cứu như R. Picard, P. Bénichou, R. Mauzi và nhờ các nhà mác xít như L. Goldmann, P. Barbéris.

Khắp nơi, ở Âu châu và ở Mỹ, người ta trở lại việc xây dựng văn học sử. Dần dần trong những năm 1980, người ta tìm lại được sự cần thiết một văn học sử trong quan điểm của xã hội học, dưới ảnh hưởng của thuyết cấu trúc.

Tính thích đáng và những giới hạn của văn học sử

Văn chương luôn luôn liên kết với lịch sử qua sự trường cửu hóa, qua những vốn kiến thức và sự chế ngự những cái mới. Lý do tồn tại của văn chương là xác định nguồn gốc và truyền thống của một cộng đồng, và xác định những nền tảng văn hóa. Đó là phần chủ yếu của di sản của mỗi quốc gia, và là một quá khứ sống động.

Sự hiện diện của nhà sử học cần thiết khi chúng ta tìm cách giải thích một tác phẩm, bởi vì tác phẩm là một phản ứng lịch sử trước một tình trạng lịch sử và trong ngôn ngữ lịch sử.

Đối tượng của văn học sử không phải là những hoàn cảnh bên ngoài tác phẩm mà là động cơ, tính mục đích, những phương tiện thể thức của những hành động làm cho tác phẩm tồn tại. Tất cả những yếu tố đó đều có trong văn bản, đến nỗi văn học sử cũng là một chiều kích cần thiết cho việc nghiên cứu văn bản, tức nghiên cứu về thể loại, chủ đề, cấu trúc, bút pháp. Những phương pháp nghiên cứu đó không thuộc về lịch sử, nhưng chúng không có khả năng đánh giá cũng không có khả năng giải thích đối tượng của chúng, nếu không đặt đối tượng vào truyền thống và vào một bối cảnh. Cuối cùng, tất cả những công việc diễn giải lại, dù cho hồn nhiên hay uyên bác, đều cần được lịch sử quyết định. Tóm lại, « người ta không thể tránh làm sử gia khi người ta nói về văn chương. » (R. Escarpit)

Tuy nhiên, văn học sử có những giới hạn. Văn học sử không phù hợp để phân tích tác phẩm, vì tác phẩm thuộc về thi pháp, văn phong học, thuộc về phân tích cấu trúc và chủ đề. Văn học sử cũng không phù hợp để đánh giá về mỹ học của tác phẩm, vì mỹ học thuộc về phê bình văn học, tâm lý học và phân tâm học. Chỉ sau khi các ngành học đó được dùng để xem xét tác phẩm và đặt ra sự kiện văn chương, thì nhà sử học mới có thể can thiệp vào. Vai trò của nhà sử văn học là giải thích tại sao người ta tìm thấy, vào lúc đó, những nét đặc thù đã được nhà thi pháp học, nhà văn phong học, v. v… nhận xét.

Văn học sử có xu hướng tự biểu lộ như một miêu tả khách quan, một tái tạo những dữ liệu có thể được quan sát. Sự thật, văn học sử tuyển chọn những dữ liệu, xây dựng những sự kiện và bối cảnh, sắp đặt chúng, diễn giải chúng mà không giải thích hay xem xét những giả thuyết đã đưa ra. Và văn học sử đặt những tác phẩm vào một « bối cảnh » lắm khi chỉ là sự đặt kề nhau những tình huống mà không xây dựng một hệ thống những quan hệ tương hỗ.

Có thể nào làm một lịch sử những tác phẩm kỳ lạ ?

Gérard Genette viết : « Một tác phẩm (…) là một đối tượng kỳ lạ, quá đúng mực để thật sự thành một đối tượng lịch sử, bởi vì đối tượng của lịch sử chỉ có thể là những thực tế đáp lại một đòi hỏi đôi về tính thường tồn và tính biến đổi », và Genette muốn có một lịch sử những hình thức chứ không một lịch sử những tác phẩm. Nhưng có thể nào làm một lịch sử những hình thức mà không kể đến những tác phẩm là nơi chứa đựng những hình thức ?

Đương nhiên mỗi tác phẩm là duy nhất và độc đáo. Tuy nhiên một tác phẩm không bao giờ lạ thường một cách triệt để, nếu không tác phẩm sẽ khó hiểu. Tính độc đáo của tác phẩm không do một sự sáng tạo đến từ cái không, mà là sự biến đổi của một thể loại, một văn phong do sự phối hợp những chủ đề và những năng biểu và thêm vào vài thể thức mới. Vậy tác phẩm ở trong một truyền thống lịch sử. Tính độc đáo của một tác phẩm không hoàn toàn thuộc văn chương ; những lý do của tính độc đáo thuộc về lịch sử. Tác phẩm độc đáo đối với truyền thống bởi vì thực tế, cách nhìn, những khát vọng, những ngôn ngữ đã thay đổi : như thế các nhà văn lệ thuộc lịch sử. Tác phẩm độc đáo đối với thời đại của tác phẩm vì tác phẩm phản ứng bằng một lập trường đặc biệt, do đó các nhà văn góp công vào việc làm nên lịch sử.

Một văn học sử tập trung vào chức năng của tác phẩm

Tác phẩm văn học được xem như một tác phẩm nghệ thuật, kết quả của một công trình do óc tưởg tượng, kết quả của sáng tác và của văn phong. Đối tượng của văn học sử là sự tiến hóa những chủ đề và những hình thức của tính văn chương (littérarité). Một lịch sử căn cứ vào những chức năng của tác phẩm có nghĩa là một lịch sử không quy cái văn chương vào cái xã hội, cũng không quy tác phẩm vào một tài liệu hay một phản ánh, trong khi đó tác phẩm là biểu hiện, là phản ứng và sáng tạo, là cách nhìn thế giới, là hư cấu và công việc nghệ thuật. Tác phẩm không nói lên hiện thực : nó biến đổi hiện thực ở mức độ ngôn từ và tưởng tượng. Điều này có nghĩa là một lịch sử nhìn nhận sự tự do của nhà văn và vai trò của óc tưởng tượng của nhà văn, cùng tính đặc thù của tác phẩm. Để trở thành một hiên thực về ngôn từ, để hư cấu gây được sự tin tưởng, tác phẩm phải được cấu trúc như một tổng thể có tổ chức, nghĩa là một tổng thể độc lập mà những yếu tố như : chủ đề, biến cố, nhân vật, v.v… có liên hệ mật thiết với nhau. Cho nên ngay cả khi tác phẩm mượn những yếu tố của hiện thực, tác phẩm cho những yếu tố đó một vai trò, một ý nghĩa khác, bởi vì tác phẩm đặt những yếu tố đó trong một quan điểm khác, trong một bối cảnh khác và về một phương diện khác, phương diện hư cấu.

Tác phẩm văn học là một sự sáng tạo có tính lịch sử, chứ không phải là một sản phẩm của lịch sử. Đặc điểm của tác phẩm không do một bản chất riêng, mà do một chức năng, và tác phẩm chỉ tồn tại khi người đọc khơi dậy cái chức năng của tác phẩm. Công việc của nhà sử văn học là tạo lại tác phẩm với chức năng của nó.

Một lịch sử có tính lịch đại và đồng đại : vấn đề thời kỳ hóa

Tôn trọng niên đại là tự cho mình những cái lợi của tính lịch đại, theo đó một tác phẩm được đặt vào sự tiến hóa của thể loại tác phẩm, và cũng tự cho mình những cái lợi của tính đồng đại là hiểu tác phẩm hơn qua tính giống nhau và tính đối lập với những tác phẩm cùng thời.

Việc sáng tạo văn chương tiến triển theo một phương pháp tư duy ở bên trong của truyền thống văn chương. Mỗi tác phẩm mới là một xác định vị trí đối với truyền thống đó mà tác phẩm buộc phải biến đổi đôi chút để tồn tại, tác phẩm cũng có thể từ chối truyền thống đó vì nó đã xơ cứng hay nó đã làm vơi hết những lối biểu đạt. Nhưng việc sáng tạo văn chương cũng tiến triển bởi vì, trong một tình thế mới, việc sáng tạo văn chương phải đảm nhận một chức năng hơi khác đi, và phải chịu những ảnh hưởng mới ngoài văn chương. Viết lịch sử là phục hồi những quan hệ lịch đại và những quan hệ đồng đại và cho đôi bên khớp với nhau.

Genette viết : « Văn học sử được hiểu như thế trở thành lịch sử của một hệ thống : chính sự tiến triển của những chức năng là có ý nghĩa, chứ không phải sự tiến triển của những yếu tố, và sự hiểu biết về những quan hệ đồng đại cần thiết đi trước sự hiểu biết những quá trình. » Nói một cách khác, xã hội học về văn chương và phê bình theo xã hội học là một chiều kích chính yếu của văn học sử.

Công việc của nhà sử học không phải là tạo lại cái dòng lịch sử mênh mông, điều không thể làm được, nhưng là xây dựng lại những thời kỳ. Việc thời kỳ hóa cho phép giảm bớt cái luồng của lịch đại và giữ lại vài đơn vị trên đó người ta có thể nghiên cứu và cho khớp với tính đồng đại ; việc thời kỳ hóa cho phép xây dựng lĩnh vực văn chương trong lĩnh vực xã hội.

Một thời kỳ của văn học sử là một sự tiếp nối những năm dài, trong thời gian đó hình thế của lĩnh vực văn chương, quan hệ của nó với tổng hợp của hệ thống xã hội, sự diễn giải về di sản, quan niệm về các thể loại và mức độ văn chương, những chủ đề, những cơ cấu và văn phong, những điều kiện sản xuất, sự phổ biến và tiếp nhận, tất cả đều tương đối như nhau. Chính sự biến đổi những hình thức của tính văn chương đánh dấu sự bước qua một thời kỳ mới, do một biến đổi của chức năng văn chương.

Việc thời kỳ hóa có thể cho chúng ta biết nhiều về tính giống nhau của các tác giả cùng thời mà người ta tách rời vì những lý do hệ tư tưởng hay những lý do mỹ học.

Về văn chương cũng như về những lĩnh vực khác, có những thời kỳ rất dài như thời kỳ của văn chương truyền khẩu, văn chương viết, văn chương in, v.v… ; lại có những thời kỳ trung bình chừng một trăm năm và những thời kỳ ngắn hai hoặc ba mươi năm.

Tài liệu tham khảo :

Moisan C. , Qu’est-ce que l’histoire littéraire ? P.U.F. , 1987.

Moisan C. , L’Histoire littéraire, Que sais-je ? , P.U.F. , 1990.