CHỦ NGHĨA LÃNG MẠN TRONG VĂN HỌC PHÁP

Vào những năm 1820 ở Pháp, Hugo, Delacroix, Balzac, Musset, là những chàng trai 20 tuổi muốn thay đổi thế giới. Họ mơ tưởng cái đẹp, khao khát tự do và tuyệt đối, họ chống lại cái tầm thường. Làm sao định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn nếu không nói đến sự đòi hỏi tuyệt đối ?

Ở Âu châu, từ lãng mạn – tiếng Đức Romantik, tiếng Anh romantic và tiếng Pháp romantique – chỉ định một thứ chủ nghĩa tình cảm của thị hiếu đương thời. Ở Pháp, từ romantique lúc đầu được dùng cho phong cảnh. Từ điển Noël và Chapsal, năm 1845, định nghĩa như sau : lãng mạn nói về những nơi chốn nhắc nhở với trí tưởng tượng những miêu tả của thơ và tiểu thuyết.

Vài năm sau, bà de Staël, do ảnh hưởng của các nhà lý thuyết Đức, cho từ lãng mạn một ý nghĩa có tính văn chương : Danh từ « lãng mạn » vừa được đưa vào nước Đức để chỉ định nền thi ca mà nguồn gốc là những bài hát của các nhà thơ tao nhã, trữ tình ở Pháp thế kỷ 12 và 13 (« troubadour »). Nền thi ca này được thành hình vào thời của tinh thần kỵ sĩ và thời Ki Tô giáo.

Trong một cuộc tranh luận sôi nổi ở Pháp, phái « Cổ điển » tung ra những bài văn đả kích phe theo văn chương mới bằng cách mỉa mai về tính đa nghĩa của từ « lãng mạn » cũng như về sự thiếu vắng một học thuyết cho « trường phái này ».

Các nhà văn lãng mạn cố thoát khỏi những giới hạn của các thể loại, và họ đã xây dựng những tác phẩm độc đáo nhất từ kịch bản Hernani của Victor Hugo đến truyện kể Aurélia của Gérard de Nerval xuyên qua hồi ký Mémoires d’Outre-tombe của Chateaubriand.

Tuy thế, chủ nghĩa lãng mạn vẫn chưa có định nghĩa, và chính những nhà văn của trường phái này đã ý thức điều đó.

Sau khi duyệt qua những định nghĩa được nêu lên trong các cuộc tranh luận, người ta nhận thấy phải tìm bản chất của chủ nghĩa lãng mạn ngoài những bản tuyên ngôn và mọi hình thức phát biểu.

Những biến đổi để đi đến xã hội hiện đại

Victor Hugo và các nhà văn thời đó cho rằng Tây phương vào nửa đầu thế kỷ 19 được ví như một thiếu niên đang cơn khủng hoảng.

Sự thay đổi không chỉ về mặt chính trị, mà cả nước Pháp phải thay đổi để đi đến một xã hội hiện đại, từ xã hội nông nghiệp do giai cấp quý tộc điều khiển của chế độ xưa đến xã hội công nghiệp, thành thị và « tư sản » của thế kỷ 19.

Sự biến hóa kinh tế đã thay đổi hẳn quy chế xã hội của nhà văn, cũng như những điều kiện phổ biến tác phẩm của nhà văn. Với sự lên ngôi của báo chí, văn chương qua các tạp chí, qua truyện theo hình thức feuilleton đến với người đọc một cách dễ dàng.

Các nhà văn, nhà nghệ sĩ lãng mạn, cho dù thái độ của họ thế nào đi nữa – nhập cuộc hay trú ẩn trong sự tôn thờ nghệ thuật – đều gặp nhau ở một điểm : cái ý thức thuộc về một thời đại mới, ý thức thực hiện một nghệ thuật bắt buộc phải thích hợp với thời mình sống, một nghệ thuật của ở đây–bây giờ. Họ đồng ý định nghĩa chủ nghĩa lãng mạn là một nghệ thuật hiện đại. Và như Baudelaie đã khẳng định trong tiểu luận Phòng Triển Lãm 1846 (Salon de 1846) : chủ nghĩa lãng mạn là sự biểu đạt mới nhất, hiện thời nhất của cái đẹp (…) Nói chủ nghĩa lãng mạn là nói hiện đại.

Một cuộc khủng hoảng của tâm thức

Ý thức về thuyết hiện đại, về thuyết tương đối, trở nên nhạy bén vì những đảo lộn của lịch sử, ý thức đó đã thay đổi cái nhìn của con người về chính mình và về thế giới. Chính trong cái nhìn đó mà Baudelaire đặt bản chất của tính hiện đại lãng mạn : Nói đến chủ nghĩa lãng mạn là nói đến nghệ thuật hiện đại, nghĩa là nói đến tâm tư, tính thiêng liêng, màu sắc, khát vọng bất tận (…). Khi bàn về các nhà nghệ sĩ, Baudelaire viết : Chủ nghĩa lãng mạn rõ ràng không ở trong sự lựa chọn đề tài, cũng không ở trong cái sự thật chính xác, mà ở trong cái cách cảm nhận. (Phòng Triển lãm 1846)

Thế cho nên hiện tượng lãng mạn vượt xa phạm vi văn chương và nghệ thuật : cả một tuổi trẻ trở thành lãng mạn. Theo học giả Paul Van Tieghem, tác giả cuốn Le Romantisme dans la littérature européenne, 1948 (Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Âu châu), thì đây là một cuộc khủng hoảng mới của tâm thức Âu châu. Con người cổ điển tự cho mình là bất biến nếu không nói là vĩnh cửu, tự cho mình là trung tâm của thế giới, được lý trí điều khiển ; trong cách nhìn đó mối quan hệ với thế giới bên ngoài, cảm giác của cá nhân, ngay cả thiên nhiên đều không quan trọng ; cách sắp xếp yên ổn một thế giới được tôn giáo giải thích với một Nhà Nước được tổ chức có hệ thống, có thể cho mỗi người cái cảm giác vững vàng về tính liên tục của Lịch sử và về thứ tự của thế giới. Trong trường hợp đó, mục tiêu của văn chương và nghệ thuật là nghiên cứu con người để tìm hiểu con người về phương diện đạo đức. Nhưng những đảo lộn chính trị, kinh tế và xã hội đã làm sụp đổ cái lâu đài tốt đẹp đó.

Là người chứng hay người thừa kế những đảo lộn của Lịch sử, con người lãng mạn tự cảm thấy liên kết mật thiết với thời đại của mình, cắt đứt với quá khứ, con người lãng mạn là con người ở trong hoàn cảnh gần với thực tế. Ngoài ra, con người lãng mạn khi tự phát hiện mình là hiện hữu (existence) chứ không còn là bản chất (essence) thì ý thức được về vai trò của thời gian trong sự hình thành nhân cách của mình.

Vậy sự biểu đạt của cái tôi và sự chú trọng đến lịch sử của cá nhân đã tràn vào văn chương và nghệ thuật. Có điều lạ lùng là hội họa thoát khỏi xu hướng đó, số lượng chân dung tự họa không nhiều hơn cũng không kém hơn so với các thời kỳ trước. Về âm nhạc thì ngược lại : Berlioz, Litz và nhiều nhà soạn nhạc khác đều có phần đóng góp đáng kể. Hơn hết, văn chương là nghệ thuật được ưu đãi để phơi bày tâm tư : có tác giả trẻ nào mà không viết kịch bản trong đó nhân vật chính lại giống mình, mặt khác, tác giả hiện rõ trong các thể loại thơ và tiểu thuyết tự truyện.

Trên đây chúng ta đã thấy sự hình thành của chủ nghĩa lãng mạn, đã đến lúc chúng ta theo dõi những giai đoạn lịch sử của chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Pháp.

Thời tiền Lãng mạn ở Pháp

1/ Dọn đường cho chủ nghĩa lãng mạn ở Pháp

Từ giữa thế kỷ 18, hai nhà triết học của thời Khai Sáng Pháp : Rousseau và Diderot đã có những tác phẩm chuẩn bị cho thời lãng mạn.

Rousseau (1712-1778) với cuốn tiểu thuyết thư tín La Nouvelle Héloïse đã làm cho cả Âu châu cảm thấy sự chua chát nhẹ nhàng của một mối tình không may. Hai tác phẩm Les rêveries du promeneur solitaire (Mơ mộng của kẻ dạo chơi đơn độc) và Les Confessions (Tự Bạch) là tự truyện của Rousseau. Tác giả kể cuộc hành trình tình cảm và xã hội của mình với nhiều phân tích tâm lý, trong đó cái tôi được tiết lộ trong sự đồng cảm với thiên nhiên và tự xây dựng mình bằng cách chịu đựng tình yêu và xã hội.

Diderot (1713-1784), qua những tác phẩm của ông, đã ảnh hưởng đến mỹ học lãng mạn. Trước tiên, ông có những suy nghĩ về kịch nghệ trong Entretiens sur le Fils naturel (Những cuộc nói chuyện về Đứa con hoang), ông kêu gọi phải xét lại những cái mẫu về việc dựng kịch. Sau nữa là những tiểu thuyết của ông, cũng như những đối thoại về triết học đều nêu lên sự chống đối chủ nghĩa theo thời, một chống đối có tính lật đổ về đạo đức và xã hội.

2/ Các chủ nghĩa lãng mạn ở Âu châu

Chủ nghĩa lãng mạn ở Pháp không đứng biệt lập. Những người đi trước và chuẩn bị cho chủ nghĩa lãng mạn Pháp bằng những trải nghiệm của họ là những nhà văn Đức và Anh được các nhà triết học tiếp tay.

Chủ nghĩa lãng mạn Đức

Ở Đức, một số nhà thơ trẻ họp nhau dưới khẩu hiệu Sturm und Drang (Bão táp và Nhiệt tình) ca tụng, từ những năm 1770-1790, một mỹ học phi cổ điển để đẩy mạnh những hình thức văn chương.

Người lỗi lạc nhất trong số họ là Goethe (1749-1832), năm 25 tuổi ông đã nổi tiếng với tác phẩm Les Souffrances du jeune Werther (Những nỗi đau khổ của chàng thanh niên Werther), một tiểu thuyết ngắn về phân tích tâm lý, nhân vật trong truyện bị một tình yêu say đắm thu hút không lối thoát và cuối cùng vì quá đa cảm đã tự sát.

Những kịch bản của Schiller, thơ thần bí của Novalis, những tiểu luận có tính lý thuyết của anh em Schlegel, đều tiếp tục ca tụng những trăn trở của một tâm hồn bị xã hội cứng nhắc kiềm chế, và xây dựng một gương mặt mới của thiên tài.

Dưới mắt của dân tộc Đức và của cả Âu châu, nhà soạn nhạc kỳ diệu Beethoven (1770-1827) là hiện thân của cái huyền thoại của thiên tài đó. Từ những bản nhạc biểu hiện tâm tình riêng tư và trữ tình như bản Sonate à Kreutzer, Beethoven đã đi đến việc sáng tạo những tấu khúc hùng vĩ như bản Concerto thứ 9 (1824).

Những đóng góp của nước Anh

Tư tưởng của người Anh được nuôi dưỡng bởi khái niệm cao siêu (sublime) mà Burke đã nói đến trong khảo luận của ông : Recherche philosophique sur l’origine de nos idées du sublime et du beau (1757) (Nghiên cứu triết học về nguồn gốc những ý tưởng của chúng ta về sự cao siêu và cái đẹp). Thơ của Wordsworth và của Coleridge đều có cái giọng cao siêu đó. Còn những nhà thơ như Keats, Shelley và Lord Byron nổi tiếng nhờ những cuộc phiêu lưu của họ hơn là nhờ làm thơ, họ đã góp phần vào việc xây dựng hình ảnh của thiên tài lãng mạn vừa vẻ vang vừa bị nguyền rủa.

Tiểu thuyết Anh cũng đạt đến mức phong phú đặc biệt : Ann Radcliffe cho ra 5 tiểu thuyết đen, Lewis có tác phẩm Le Moine (Người tu sĩ) gây sợ hãi, về phần Mary Shelley, bà cho ra cuốn Frankenstein trong đó tình cảm đi kèm với kỳ ảo. Mặt khác, tiểu thuyết lịch sử trở nên một thể loại được yêu chuộng trong khắp Âu châu nhờ những tiểu thuyết của Walter Scott.

3/ Những người đưa đường cho chủ nghĩa lãng mạn ở Pháp

Bà Germaine de Staël (1766-1817) và Benjamin Constant (1767-1830), do cuộc sống của họ ở nhiều nước và do những khảo luận có tính lý thuyết và những tiểu thuyết của họ, họ đã góp phần vào việc tạo nên một tổng hợp giữa tinh thần khoa học của thời Khai Sáng và cái « chủ nghĩa duy linh tự do mới ».

Trong cuốn De la littérature (1800), bà de Staël ca ngợi văn hóa Đức ; qua cuốn sách này nước Pháp phát hiện chủ nghĩa lãng mạn Đức.

Về phần Benjamin Constant, ông đã cải biên những kịch bản của Schiller và ông là tác giả của cuốn tiểu thuyết tự truyện : Alphonse nói về những mâu thuẫn của nhân vật bị bệnh u buồn.

Chateaubriand (1768-1848), trong tác phẩm nổi tiếng Le génie du christianisme, đã khôi phục uy tín của Kitô giáo và đặc biệt cho thấy vai trò của Kitô giáo trong nền văn minh, để đáp lại những tố cáo của các nhà triết học thời Khai Sáng cho rằng Kitô giáo đem lại sự đàn áp và chính sách ngu dân. Tác phẩm Le génie du christianisme chú tâm đến tinh thần tôn giáo hơn là đến Thượng đế. Chateaubriand muốn đưa Kitô giáo đến gần với đạo đa thần trong một tinh thần thi vị, đưa Kinh thánh đến gần sử thi của Homère. Ông đi theo phong trào trở về với thiêng liêng, phong trào này tìm thấy trong niềm tin dào dạt đối với tôn giáo nguồn gốc của thi ca và sẽ có xu hướng đặt thi ca ở hàng đầu của tất cả các nghệ thuật. Bằng những con đường khác, Chateaubriand cũng đến với nhà văn lãng mạn Đức Wilhem von Schlegel, như thế nguồn gốc thiêng liêng của thi ca và nguồn gốc Kitô giáo của chủ nghĩa lãng mạn sẽ thúc đẩy sự tuyên truyền chống tinh thần cách mạng của thời đó.

Alphonse de Lamartine (1790-1869) : nhân một chuyến du hành qua nước Ý, tâm hồn Lamartine bừng dậy với tình yêu và cái đẹp. Ông yêu say đắm một phụ nữ đã có chồng và chết vài tháng sau cuộc gặp gỡ của hai người. Biến cố này khiến thơ của Lamartine – Les Premières Méditations (1820) – có giọng bi thương. Sau đó ông lập gia đình với một phụ nữ người Anh giàu có và ông làm việc trong ngành ngoại giao. Năm 1830, ông cho xuất bản thêm các tập thơ Nouvelles MéditationsHarmonies poétiques et religieuses. Cũng năm 1830, Lamartine được đắc cử vào Hàn Lâm Viện Pháp.

Thời Lãng mạn ở Pháp 

I Tuyên ngôn của chủ nghĩa lãng mạn Pháp

Sự nổi dậy của các nhà văn lãng mạn Pháp, đòi hỏi tự do trong nghệ thuật, mở đầu với nhà văn Victor Hugo qua bài Tựa kịch bản Cromwell (1827). Kịch bản này gồm 6.400 câu thơ. Bài Tựa là một bản tuyên ngôn quan trọng nhất về chủ nghĩa lãng mạn ở Pháp, do những cuộc tranh luận mà bài Tựa gây nên, và cũng do những cách nhìn táo bạo của tác giả mặc dù có những vay mượn các nhà lý thuyết Đức và bà de Staël. Dù là một bài tựa cho một kịch bản, bài Tựa này đã ra khỏi cái khung của kịch nghệ để bàn về chủ nghĩa lãng mạn nói chung và về lịch sử các nền văn học trong quan hệ với lịch sử của loài người. Schlegel thấy trong Kitô giáo nguồn gốc của chủ nghĩa lãng mạn, Hugo đi xa hơn bằng cách nối liền những tác phẩm lớn của văn học toàn cầu với những thời đại của nhân loại, bằng cách kết hợp lịch sử văn học với một triết học của lịch sử.

Điểm quan trọng trong bài Tựa của kịch bản Cromwell lý thuyết về cái nghịch dị (grotesque) : khi cái cao siêu tiếp xúc với cái dị hình, cái bi kịch với cái hài kịch, tác dụng của chúng càng tăng thêm. Lý thuyết này là sự biện hộ cho cái trái ngược, phản ánh cái tính hai mặt của con người (thể xác và linh hồn).

Năm 1830, xảy ra cuộc đụng độ được gọi là trận đánh Hernani giữa những người chống đối lập trường của Victor Hugo và những người bênh vực ông. Tuy nhiên sự trình diễn vở kịch Hernani không gây nhiều sôi nổi, Hernani ít có tính cách mạng về phương diện kịch hơn là về phương diện nghệ thuật thơ. Nhưng các nhà lãng mạn chủ nghĩa xem vở kịch Hernani như một biểu tượng của sự chiến thắng của trường phái mới đối với trường phái cũ.

Những khẳng định của chủ nghĩa lãng mạn

Đi tìm những cái mẫu mới

Vì chống đối những quy tắc cổ điển cứng nhắc, các nhà văn lãng mạn tìm thấy trong văn học ngoài nước Pháp, nơi các nhà văn, nhà thơ Anh, Đức, Ý : Byron, Walter Scott, Goethe, Schiller và Dante, những nguồn sáng tạo mới. Kịch của Shakespeare có một ảnh hưởng đặc biệt đối với họ. Phép tam nhất của kịch cổ điển Pháp bị chỉ trích và bác bỏ. Sự tôn trọng những tính chất hợp lề thói không còn là một ưu tiên. Các nhà lãng mạn bác bỏ sự phân biệt giữa các thể loại và hướng về một mỹ học của sự hỗn hợp. Nhà phê bình Sainte–Beuve khôi phục nền thi ca của đất nước thời Phục Hưng. Thế giới kỳ dị và huyền diệu của thời Trung cổ lại được ưa thích.

Văn chương thời hiện đại

Như đã nói trên, Baudelaire, trong tiểu luận Phòng triển lãm 1846, khẳng định : chủ nghĩa lãng mạn là sự biểu đạt mới nhất, hiện thời nhất của cái đẹp. Nói chủ nghĩa lãng mạn là nói nghệ thuật hiện đại. Người ta cảm thấy nơi các nhà lãng mạn trẻ cái ý muốn thuộc về thời đại của mình, chứ không chịu làm những kẻ canh gác cho một truyền thống bất di bất dịch.

Trong bài Tựa kịch bản Cromwell, V. Hugo chỉ định kịch như thể loại tiêu biểu nhất của thời hiện đại, chính kịch có thể giải thích hiện thực trong cái mâu thuẫn của nó, ở tình trạng cô đặc.

Để phản ánh hiện thực, các nhà lãng mạn không nhắm cái đẹp mà nhắm cái đặc tính dẫu cho có phải gợi lên cái kỳ dị và cái xấu xí. Để có sự sáng tạo đặc biệt thì cần chọn những đề tài rút từ lịch sử. Các nhà lãng mạn chịu ảnh hưởng của Walter Scott ứng dụng nguyên lý đó vào tiểu thuyết.

Cuối cùng, hiện đại có nghĩa là làm cho ngôn ngữ văn chương được phong phú với những từ tầm thường, những ẩn dụ cụ thể và những câu văn thân mật.

Ưu đãi tình cảm

Đối với Baudelaire, chủ nghĩa lãng mạn rõ ràng là không phải ở trong sự lựa chọn đề tài cũng không ở trong sự thật xác thực, mà ở trong cách cảm nhận. (Phòng triển lãm 1946) Các nhà lãng mạn không muốn giải thích thế giới bằng cách đặt trên thế giới một cái nhìn tri thức. Họ trông nhờ vào tâm hồn đa cảm để nhận thức những điều bí ẩn của thế giới. Do ảnh hưởng ít nhiều của nền văn minh Kitô giáo, họ tỏ ra trăn trở bởi vấn đề thiện và ác, và bởi cái vô tận. Tâm hồn lãng mạn bị ray rứt giữa hai xu hướng mâu thuẫn : vừa rút lui vào sự thầm kín của tâm hồn vừa tìm cách vươn mình lên hay mở rộng ra.

Cái tôi u buồn và có thiên tài

Sự biểu đạt tính chủ quan chiếm địa vị ưu tiên. Lối viết thi vị được dành cho tình cảm chứ không dành cho tư duy.

Thơ của Alphonse de Lamartine là lối trữ tình mới, mở đường cho những hình thức đơn giản và du dương để phụng sự một quả tim u buồn.

Alfred de Vigny thì chú tâm vào những « Định mệnh » mà những thử thách đưa đến những vấn đề đạo đức hay triết lý do nỗi bi quan đương thời đặt ra.

Thơ của Victor Hugo hòa hợp với thiên nhiên, nhiệt tình trong tình yêu hay trong phẫn nộ, đều nhắm cường độ cao đến cái mức dữ dội, như trong tác phẩm Les Châtiments (Trừng phạt) (1853) là tiếng hét trả thù của kẻ bị lưu đày chống lại đế vương. Đối với Hugo, thế giới tìm lại tính nhất quán của mình trong sự nhận thức của cái tôi về thế giới : dưới dấu hiệu của bóng tối và ánh sáng, của cái tồi tệ và cái cao siêu, thơ của Hugo thăm dò chiều sâu của vực thẳm và chiều cao của bầu trời.

Thoát khỏi những quy tắc chung, lạnh lùng và buồn bã, các nhà lãng mạn đưa ra trong những tác phẩm của họ một lý thuyết của nguồn hứng. Gương mặt của thiên tài đầy hứng khởi, dễ có những giây phút xuất thần, hài hòa với thiên nhiên và vượt khỏi những giới hạn của chính mình, gương mặt đó luôn luôn hiện diện trong văn chương lãng mạn.

II  Các nhà lãng mạn chủ nghĩa Pháp

Alfred de Vigny (1797-1863). Thuở thiếu thời, Alfred de Vigny được gia đình khuyến khích vào binh nghiệp ; trở thành sĩ quan, ông nuôi mộng vinh quang nhưng chẳng bao lâu ông thất vọng vì cuộc sống tầm thường, nhàm chán trong quân đội. Vigny gặp Hugo năm 1820, lui tới Hội văn của Hugo, và bắt đầu cho đăng những bài thơ, những bài viết về văn chương Anh. Năm 1826, Vigny trở nên nổi tiếng với một tiểu thuyết lịch sử : Cinq-Mars và một tập thơ : Poèmes antiques et modernes. Vigny từ giã quân đội. Ông say mê kịch của Shakespeare và dịch các kịch bản Roméo et JulietteOthello, mà ông cho trình diễn năm 1829. Tình yêu với một nữ diễn viên, Marie Dorval, khiến Vigny bày tỏ trong tiểu thuyết Stello (1832) (tiểu thuyết này về sau được dựng thành kịch : Chatterton) cái quan niệm của ông về nhà thơ, kẻ bị nguyền rủa, tan nát vì xã hội. Trong tác phẩm tự truyện Servitude et grandeur militaires Vigny nói đến bệnh thời đại. Nói chung, tác phẩm của Vigny bi quan và có cái nhìn không ảo tưởng đối với xã hội. Vigny được vào Hàn Lâm Viện Pháp năm 1845.

Victor Hugo (1802-1885) : người có biệt danh Con người của thế kỷ vì với tuổi thọ, cuộc đời của ông trải dài gần hết thế kỷ 19, và vì ông có một thiên tài thay hình đổi dạng. Thuở mới lớn, Hugo đã gặp những nhà văn mà ông khâm phục : Chateaubriand, Lamartine, và được họ khuyến khích sáng tạo. Là một người chồng hạnh phúc, một người cha mãn nguyện, Hugo lại là một nhà thơ được chú ý với những tập thơ : Odes, Nouvelles Odes (1822-1824). Hugo thành lập một Hội văn tại nhà và làm cho không khí sôi nổi, như đã nói. Năm 1827, Hugo cầm đầu cuộc nổi dậy của phái lãng mạn với bài Tựa kịch bản Cromwell chuẩn bị khí giới cho trận đánh Hernani (1830).

Từ năm này qua năm nọ, Hugo sáng tác không ngừng những kịch bản, tiểu thuyết, thơ, và cứ mỗi lần như thế tác giả đều gây nên những đụng độ. Các kịch bản : Marion Delorme (1829) và Le roi s’amuse (1832) bị cấm trình diễn, khiến hai tác phẩm được nổi tiếng vì gây tai tiếng. Truyện Notre-Dame de Paris (1831) là một thành tựu lớn nhưng bị Tòa Thánh Vatican cấm, vì trong truyện nhân vật Claude Frollo là một linh mục không mấy là người công giáo gương mẫu. Claude Gueux (1834), một tiểu thuyết xã hội được ra mắt độc giả cùng lúc với Le Dernier jour d’un condamné, cuốn truyện này được tái bản và có thêm một bài tựa gây tranh cãi, trong đó tác giả Hugo nhấn mạnh về sự bất bình đẳng của pháp luật giữa người giàu và người nghèo. Còn tập thơ Les Voix intérieures (1830) xen kẽ những suy nghĩ riêng tư với những suy nghĩ về thời sự nóng bỏng của cuộc tranh đấu của nhân dân. Những quan điểm chính trị của Hugo, do cuộc cách mạng 1830 gây nên, dần dần trượt về tả phái, việc diễn biến này không ngừng ngay cả sau năm 1843, khi người con gái Léopoldine và người con rể chết đuối trên sông Seine, và khi vở kịch Les Bugraves thất bại, những sự rủi ro này khiến Hugo bớt lạc quan, sức mạnh của ý chí giảm đi.

Năm 1841, Hugo vào Hàn Lâm Viện, và năm 1845, ông được phong chức Công khanh (Pair de France), ông dùng những vinh quang đó để tự mình làm phát ngôn viên cho những lý tưởng cải cách và nhân đạo. Khi xảy ra cuộc đảo chính của Napoléon III, Hugo cố tổ chức cuộc kháng cự ở Paris, nhưng rồi ông phải từ giã Paris và ẩn lánh ở Bruxelles. Năm 1852, Hugo sống ở Jersey, rồi ở Guernesey, năm 1855. Với tư cách là một nhà thơ lưu đày, ông cho đăng những bài thơ đượm màu sắc triết lý : Les Châtiments (1853), Les Contemplations (1856). Hugo được tiếng tăm trên thế giới với tiểu thuyết đồ sộ Les Misérables (1862) tiếp theo là Les Travailleurs de la mer (1866) và L’homme qui rit (1868). Sự sụp đổ của Đệ nhị Thế chế cho phép Hugo trở về Pháp trong vinh quang, và tiếp tục hoạt động chính trị, ông được bầu vào Thượng nghị viện. Ông vẫn còn năng lực để viết một tiểu thuyết lớn về cuộc Cách mạng Pháp, cuốn : Quatre-vingt treize (1874), và một cuốn sách được yêu chuộng : L’Art d’être grand-père, và sau cùng, tác phẩm La légende des siècles (1859) tổng hợp lịch sử thế giới thành một sử thi lớn cho thấy Con người từ đêm tối vươn đến lý tưởng (L’homme montant des ténèbres à l’idéal), có nghĩa sự vươn lên chậm rãi và đau đớn của nhân loại đến sự Tiến bộ và Ánh sáng.

Hugo có một chỗ đứng riêng biệt trong thế kỷ của ông, ông có mặt trong tất cả các mặt trận và trong mọi thể loại. Ông đã làm cho những người cùng thời xúc động, làm cho những kẻ quyền thế phẫn nộ và truyền cảm cho những nhà thơ lớn nhất. Hugo được xem là một nhà thơ lớn, nhà văn lớn của văn học Pháp. Cả nước Pháp hãnh diện về văn hào Victor Hugo và dành cho ông một tang lễ vĩ đại.

Gérard de Nerval (1808-1855). Năm 18 tuổi ông dịch sang Pháp ngữ kịch bản Faust của Goethe. Gérard de Nerval là tác giả một tập gồm truyện ngắn và thơ : Les filles du Feu, một tập thơ sonnet : Les Chimères và một truyện còn dang dở viết vào cuối đời : Aurélia, trong truyện này tác giả muốn khôi phục giá trị của giấc mơ mà xã hội thường xem như cơn điên loạn.

Alfred de Musset (1810-1857). Ông lui tới các nhà thơ trong Hội Văn của Chales Nodier. Lúc đầu ông có một đời sống của một chàng trai phong nhã, chơi bời trác táng, dang díu với nhà văn George Sand. Ông gặp Victor Hugo năm 1828, khi ông cãi biên và cho đăng kịch bản của Thomas de Quincey : L’Anglais mangeur d’opium. Musset gây sôi nổi trong Hội Văn của Hugo. Ông cho xuất bản tập truyện Contes d’Espagne et d’Italie với những đối thoại dưới hình thức thơ. Sự thất bại của vở kịch La nuit vénitienne, trình diễn năm 1830, sự xích mích với Hugo và cái chết của người cha khiến Musset trở nên một con người chua chát. Lần lượt Musset cho ra những kịch bản : À quoi rêvent les jeunes filles ? Les Caprices de Marianne, Fantasio, On ne badine pas avec l’amour. Riêng kịch bản lãng mạn : Lorenzacio (1834) là một tác phẩm có giá trị.

Mối tình giông tố của ông với George Sand cho ông nguồn hứng để viết cuốn tiểu thuyết tự truyện Confession d’un enfant du siècle, năm 1836, tác phẩm này miêu tả tâm trạng của một thế hệ. Les Nuits (1835-1837) là những bài thơ đầy trăn trở và hay nhất của ông.

Ở Thế kỷ 20, Alfred de Musset đươc xem như một trong những nhà văn lãng mạn lớn nhất của Pháp.

Théophile Gautier (1811-1872). Gautier được Nerval giới thiệu với Hugo năm 1829. Cũng năm 1829, Gautier cho in một tập thơ. Khi xảy ra trận đánh Hernani, Gautier là người hăng hái bênh vực Hugo, nhưng từ năm 1835 ông rời xa các nhà văn lãng mạn, ông tách rời mỹ học lãng mạn với cuốn tiểu thuyết Mademoiselle de Maupin, bài tựa của tác phẩm này đặt nền móng cho quan niệm « nghệ thuật vị nghệ thuật ».

Từ năm 1831 cho đến cuối đời, Gautier nổi tiếng với tư cách là nhà phê bình văn học và phê bình nghệ thuật. Ông được công chúng hưởng ứng với tập thơ Émaux et camée và hai cuốn tiểu thuyết phiêu lưu Le Roman de la momieLe Capitaine Fracasse.

Théophile Gautier là người báo trước trường phái Thi Sơn (Parnasse), trường phái này được Leconte de Lisle và Heredia thành lập năm 1866, xung quanh tạp chí Le Parnasse contemporain, bênh vực một lý tưởng đẹp về tạo hình.

III  Những đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn

1/ Nguồn thi hứng

Các nhà thơ lãng mạn đều giữ gìn cái huyền thoại cho rằng nhà thơ có thi hứng trong giây phút xuất thần vượt khỏi những giới hạn của mình. Họ bênh vực một quan niệm viết tự do và hồn nhiên. Thơ của họ mới nhờ tính nhạy cảm.

Một cảm hứng trữ tình mới

Theo gót Lamartine, các nhà thơ lãng mạn nêu ra một cảm hứng trữ tình mới. Với tập thơ Les Méditations, Lamartine không làm mới thơ bằng những hình thức, nhưng ông đã mở đầu cho chủ nghĩa lãng mạn bằng cái chất riêng tư của thơ, bằng cái cách diễn đạt trực tiếp tình cảm. Nhà thơ nhạy cảm với thế giới mà ông nhận thức đến nỗi có cảm tưởng như mình hợp nhất với thế giới.

Ngôn ngữ thơ phải là một ngôn ngữ tự do. Victor Hugo khẳng định sự thành công rực rỡ của từ ngữ thích đáng và của hình tượng cụ thể. Hugo muốn tìm lại cái quan hệ mật thiết liên kết từ ngữ với đồ vật mà từ ngữ chỉ định. Thoát khỏi những ràng buộc khô khan của lề thói, ngôn ngữ được Hugo trao cho một sức mạnh nguyên thủy. Từ đó sinh ra một quan niệm thiêng liêng về việc làm thơ. Nhà thơ có thiên tài tạo ra những thế giới.

Giải phóng câu thơ, câu thơ ba nhịp của thời lãng mạn

Nói đến cảm hứng trữ tình là nói đến nhạc tính. Các nhà lãng mạn cho rằng nhịp điệu thơ cổ điển đơn điệu, họ muốn đưa vào thơ tính đa dạng và những kết quả bất ngờ. Họ rời xa câu thơ alexandrin gồm 12 âm tiết và đều đều được cắt ra 2 phần, mỗi phần 6 âm tiết, họ thích những câu thơ ba nhịp (trimètre), còn gọi là thơ lãng mạn. Dù trong bối cảnh nào, các nhà lãng mạn cũng dùng câu thơ ba nhịp :

Je regarde toujours / ce moment de ma vie

Où je l’ai vue / ouvrir son aile / et s’envoler.

(Victor Hugo, Les Contemplations)

(Tôi luôn nhìn cái khoảnh khắc đó của đời tôi

Tôi thấy đời tôi tung cánh và bay lên.)

Như thế các nhà lãng mạn đã trở lại cách làm thơ của nhóm Bảy Nhà Thơ (La Pléiade) của thời Phục Hưng, thế kỷ 16, thơ của nhóm này tự do hơn thơ cổ điển thế kỷ 17. Nhịp ba của câu thơ tăng thêm tốc độ câu thơ và tạo nên cảm giác tăng nhanh, gây sự chú ý của người đọc về hình tượng hay ý tưởng được biểu đạt.

Thử nghiệm về những câu thơ tự do và không ăn nhịp

Các nhà lãng mạn đã thử nghiệm câu thơ gọi là « tự do », nghĩa là câu thơ gồm nhiều nhịp điệu. Họ làm tan rã câu thơ alexandrin. Họ dùng những tác dụng của tính không ăn nhịp giữa cú pháp và câu thơ : một yếu tố được gắn với một câu thơ về phương diện ngữ nghĩa học hay về phương diện cú pháp bị « ném » trở lại câu thơ đến sau (gọi là « rejet » sự ném lại) hoặc ném tới trước với câu thơ đi trước. Kết quả là gây tác động mạnh mẽ làm nổi bật ý của tác giả.

2/ Môn kịch, một thể loại hàng đầu

Vở kịch Hernani của Victor Hugo mở màn ngày 25-2-1830, kết hợp cái đẹp ý nhị với nghệ thuật làm thơ táo bạo.

Các nhà lãng mạn muốn rút từ những đề tài lịch sử sức mạnh và sự thật. Kịch của Shakespeare là một cái mẫu để họ noí theo.

Các nhà lãng mạn trẻ chỉ trích trước hết phép tam nhất của kịch cổ điển thế kỷ 17 : tính nhất quán về thời gian, không gian và cốt truyện là những trở ngại cho cái có vẻ y như thật của cốt truyện. Họ cũng chỉ trích sự bó buộc tôn trọng những lề thói. Để nắm lấy hiện thực trong những mâu thuẫn của nó, và tạo nên một vở kịch giống như ở ngoài đời, thì sự pha lẫn những giọng nói, những thể loại là cần thiết : kết hợp « cái nghịch dị với cái cao siêu, cái kinh khủng với cái hài hước, bi kịch với hài kịch ». Kịch, theo Hugo « là thơ trọn vẹn » (Bài Tựa kịch bản Cromwell). Hugo đã triển khai lý thuyết của cái nghịch dị.

Từ ba hạng khán giả (đám đông, phụ nữ và nhà tư tưởng), Hugo phân biệt ba thứ thú vui do kịch đem lại : Tất cả mọi người đều muốn có thú vui ; nhưng những người này thì thích thú vui về thị giác, những người phụ nữ kia thì thích thú vui của con tim, những người thuộc hạng thứ ba thì thích thú vui tinh thần. Nói một cách khác, cốt truyện, tình yêu say mê và sự miêu tả tính tình phải đáp lại sự chờ đợi của khán giả về cảm giác, cảm xúc và chiêm nghiệm. Chỉ với điều kiện đó kịch mới có thể là một nghệ thuật toàn vẹn.

3/ Sùng bái cái tôi và bệnh thời đại

Khóc một tình yêu dang dở, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên hay tỏ bày nỗi trăn trở siêu hình, nhà thơ lãng mạn thích dùng đại từ ngôi thứ nhất : tôi. Cái tôi của nhà thơ chi phối những diễn từ cũng như những quan niệm của mình về thế giới. Thơ của Lamartine cho thấy cái tôi là trung tâm của vũ trụ. Từ sự sùng bái cái tôi dễ đi đến bệnh hoang tưởng tự đại khó chửa.

Nhà thơ lãng mạn lại yêu thích cô đơn. Alfred de Musset, tác giả những bài thơ Les Nuits, chỉ được nàng thơ thăm viếng trong nỗi cô đơn. Còn Lamartine, trong tập thơ Les Nouvelles Méditations thì biểu dương sự cô đơn như một nấm mồ. Nhưng đối với các nhà thơ khác cô đơn không có nghĩa là chết, trái lại cô đơn khích lệ tính tự si, tự phân tích hay tự chiêm ngưỡng con người mình.

Ngoài ra, nỗi u buồn là căn bệnh thời đại. Căn bệnh này ăn mòn tâm hồn khiến con người trở nên trâng tráo. Musset viết trong Confession d’un enfant du siècle (Lời tự thú của một đứa con của thế kỷ) (1836) : Giới thanh niên tìm ra một cách dùng cái sức mạnh vô dụng vào việc phô trương nỗi tuyệt vọng. Khinh thường danh vọng, tôn giáo, tình yêu, tất cả trên đời, là một an ủi lớn, đối với những người không biết làm gì ; do đó họ tự chế nhạo mình và tự cho mình có lý đồng thời tự chỉ dẫn mình. Và rồi cảm thấy êm dịu khi tưởng mình đau khổ, khi mà mình chỉ là kẻ có tâm hồn trống không và bất mãn.

Tuy nhiên, nỗi u buồn là nguồn sáng tạo. Bởi vì từ Chateaubriand đến Musset, đau khổ là dấu hiệu của chọn lựa, là dấu ấn của thiên tài.

Quan niệm về cái tôi và về sự đau khổ đưa đến sáng tạo được biểu đạt qua một ngôn ngữ trần trụi có tác dụng phổ biến sự tôn thờ tính độc đáo. Các nhà lãng mạn cuối cùng thắng được cái lý thuyết cổ điển chủ trương bắt chước trong nghệ thuật.

4/ Thiên nhiên được tấn phong

Các nhà lãng mạn đi khắp trong thiên nhiên với sự say đắm và tò mò, họ thích lạc vào những phong cảnh ít có dấu vết của con người. Khi thiên nhiên không có dấu vết của con người thì thiên nhiên đưa những con người đang yêu hay trong tâm trạng u buồn trở về với chính họ. Thế là thiên nhiên được xem như một sự nối dài hay một sự bành trướng của cái tôi. Trong Les rêveries d’un promeneur solitaire (1782), Rousseau đã cho thấy việc thường đi vào thiên nhiên khiến con người ở trong tình trạng phát hiện chính mình. Kẻ đi dạo trong thiên nhiên tìm thấy sự êm dịu của tâm hồn và sự tự do cần thiết cho cuộc đời riêng tư của mình.

Lamartine thì bị thời gian trôi mau ám ảnh, thời gian trôi mau khiến cho đời người và những xúc động chóng tàn, nhất là ông bị tính vĩnh cửu của thiên nhiên gây ấn tượng. Trong bài thơ nổi tiếng Le Lac của ông, đôi tình nhân xem thiên nhiên là nơi họ ký thác tình yêu của họ, nếu không, tình yêu sẽ bị biến mất và chìm vào quên lãng :

Que le vent qui gémit, le roseau qui soupire,

Que les parfums légers de ton air embaumé,

Que tout ce qu’on entend, l’on voit ou l’on respire,

Tout dise : « Ils ont aimé ! »

(Ngọn gió đang rên rỉ, cây sậy đang thở dài / Mùi hương nhẹ nhàng của không khí đang thơm ngát / Những gì nghe được, thấy được hay thở được / Ước gì tất cả đều nói lên : « Họ đã yêu ! »)

Thiên nhiên vĩnh cửu nhưng thiên nhiên biến hóa theo bốn mùa, tạo nên những đổi mới bất ngờ. Mùa thu được ưa thích vì nỗi buồn nhẹ nhàng của mùa này dường như hòa hợp với bệnh thời đại của các nhà lãng mạn. Mùa đông báo hiệu cái chết đem lại cảm hứng cho Lamartine :

Salut, derniers beaux jours ! Le deuil de la nature

Convient à la douleur et plaît à mes regards.

(Xin chào, những ngày đẹp cuối cùng ! Tang tóc của thiên nhiên

Thích hợp với nỗi đau và thú vị dưới mắt tôi.)

Thiên nhiên được ca tụng, ngay cả khi lòng đau buồn vì những mất mát to lớn, thiên nhiên cũng hiện diện trong thơ, như trường hợp của Victor Hugo. Trong bài thơ nổi tiếng của ông tặng người con gái Léopoldine chết đuối năm 1856, ông nói với con :

Demain, dès l’aube, à l’heure où blanchit la campagne

Je partirai. Vois-tu, je sais que tu m’attends…

(Ngày mai, từ bình minh, vào giờ đồng quê trắng xóa / Cha sẽ ra đi. Con thấy không, cha biết con đang chờ cha…) Người cha vừa mất đứa con dường như đi qua phong cảnh của làng Harfleur như một người mù :

Je ne regarderai ni l’or du soir qui tombe,

Ni les voiles au loin descendant vers Harfleur,

Et quand j’arriverai, je mettrai sur ta tombe

Un bouquet de houx vert et de bruyère en fleur.

(Cha sẽ không nhìn nắng vàng của hoàng hôn đang rơi / Cũng không nhìn màn đêm đằng xa đang buông xuống Harfleur / Và khi cha đến, cha sẽ đặt trên ngôi mộ của con / Một bó giả diệp xanh và thạch thảo đơm hoa.)

Dù tác giả vì buồn không muốn nói đến vẻ đẹp của ngôi làng, nhưng ông đã làm độc giả chú ý đến cảnh mặt trời lặn.

Khi tiếp xúc với thiên nhiên, các nhà lãng mạn muốn tin vào một thời hoàng kim, thời con người sống trong tính tự nhiên và vô tội. Trở về với thiên nhiên là trở về với cội nguồn : khi thiên nhiên được nhân cách hóa, thiên nhiên che chở như người mẹ. Tuy nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trí tưởng tượng của các nhà lãng mạn cũng bị những cái không đẹp của thiên nhiên lôi cuốn. Trong truyện Notre-Dame de Paris, nhân vật gù Quasimodo được xem như một quái vật cao cả vì quá dị hình, điều này đúng với cái thuyết nghịch dị của Victor Hugo.

Tài liệu tham khảo :

– Jacques Bony, Lire le romantisme, Nathan, 2001.

– Florence Ferran, Sophie Schvalberg, Le romantisme, Nathan, 2001.

– L’esthétique romantique en France. Une anthologie, Collection dirigée par Olivier Amiel, Pocket, 1994.