TRẦN HOÀI THƯ VÀ NỖI ĐAU CỦA CON NGƯỜI

Một nền văn học cần có một thời gian lâu dài để phát triển. Thế nhưng văn học miền Nam chỉ có hai mươi năm để ra đời và trưởng thành. Điều đáng mừng là nền văn học này đã sinh ra nhiều hoa quả, đã trở nên, trong một thời gian ngắn ngủi, một nền văn học phong phú, đa dạng với nhiều nguồn sáng tạo, nhiều khuynh hướng, như các khuynh hướng : Về Nguồn, Duy Mỹ, Xã Hội, Dấu Ấn Của Tây Phương, Tiếng Nói Người Nữ, Phật Giáo, Chiến Tranh, v.v… Khi miền Nam, dưới thời Đệ Nhị Cộng Hoà, dần dần chìm vào khói lửa thì chiến tranh đã nghiễm nhiên đi vào văn chương và chiếm một vị trí hiển nhiên trong nền văn học. Có những nhà văn đầy ưu tư, trăn trở, trước thời cuộc đen tối, đã không ngần ngại viết về thảm kịch của đất nước. Lại có những nhà văn trẻ trong quân đội đã trực tiếp tham chiến và hăm hở cầm bút để làm nhân chứng, trội nhất là Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam và Trần Hoài Thư.

Cũng như Nguyên Vũ và Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư có những tác phẩm xuất bản trước năm 1975 : Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang (1968), Những Vì Sao Vĩnh Biệt (1970), Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (1971), ba tập truyện này do nhà Ý Thức xuất bản, và Một Nơi Nào Để Nhớ (Nxb Con Đuông, 1974). Cũng vào thời đó, Trần Hoài Thư có rất nhiều truyện ngắn đăng trên các tạp chí nổi tiếng. Nếu chỉ kể ba tạp chí : Bách Khoa, Văn, Vấn Đề, thì Trần Hoài Thư đã có trên 50 truyện mà sau này tác giả tập hợp thành những tập truyện gọi là Trần Hoài Thư, Truyện từ Bách Khoa, Truyện từ Văn, Truyện từ Vấn đề. Nếu kể thêm các tạp chí khác thì số lượng truyện ngắn của ông còn nhiều hơn nữa. Ra hải ngoại, Trần Hoài Thư không ngớt sáng tác truyện, ký và thơ, ông có thêm khoảng 10 đầu sách. Với mục đích tìm hiểu vấn đề sáng tạo trong văn học miền Nam, bài này chỉ bàn về những truyện của Trần Hoài Thư sáng tác trước năm 1975.

Trần Hoài Thư sinh năm 1942, đã từng là một Trung đội trưởng thám kích thuộc Đại đội 405, Sư đoàn 22 bộ binh của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa, về sau ông làm phóng viên chiến trường. Truyện của ông gồm nhiều yếu tố tự truyện, chẳng hạn người đọc thấy thấp thoáng đây đó bóng dáng một người trung đội trưởng trẻ cận thị, vừa lo âu cho trung đội của mình vừa lo lạc mất cái kính cận thị, sợ e không thấy đường những khi tiến quân, đó là hình ảnh của tác giả.

Trần Hoài Thư là một người lính quá quen thuộc với những cảnh tàn bạo của chiến tranh, thế nhưng truyện của ông không kích động lòng căm thù, mà chỉ hướng về trải nghiệm của người lính, một trải nghiệm mở rộng tầm nhìn để thấy nỗi đau của con người trong chiến tranh, và trong nỗi đau đó bỗng nhiên phát sinh lòng nhân ái. Qua tâm trạng của các nhân vật, người đọc cũng thấy được cái không gian đặc thù của Trần Hoài Thư.

I Trải nghiệm của bản thân người lính

Đọc Trần Hoài Thư là theo dõi người lính trong các cuộc hành quân gian khổ, vượt đèo, leo núi, lội sông, đi qua các làng ấp bị thiêu rụi, nghe dân làng khóc lóc thảm thiết và cảm thấy mình bất lực ; rồi cũng có những cảnh đói lạnh, đi dưới mưa dầm liên miên trong lo sợ những cuộc tấn công bất ngờ của đối phương, và nghĩ rằng chiến tranh không bao giờ chấm dứt.

Đọc Trần Hoài Thư thấy hậu quả chiến tranh rành rành trước mắt, nhưng người đọc như rời khỏi thế giới bên ngoài với tiếng đại bác rền vang khắp nơi, với những chiếc trực thăng đảo qua đảo lại trên trời, để đi vào nội tâm của người lính, để thấy rõ thân phận của người trai thời chiến, vào sinh ra tử nơi trận mạc ; có khi trở về thành phố, thấy người dân sung sướng, an toàn nhờ sự hy sinh xương máu của mình, nhưng ở họ có cái vẻ vô tâm và vô ơn khiến người lính tủi lòng. Khi thả hồn vào dòng suy tư, lắm lúc người lính trở về với tuổi thơ của mình, bất chấp hiện tại với những đòi hỏi thiết thực, với những bất trắc. Trong truyện Trong Đôi Mắt Chúa, người lính tên Sáu trong một cuộc hành quân trở về làng Nho Lâm, qưê hương của anh, lòng đầy xúc động, anh nhớ lại thời thơ ấu cùng mẹ đến nhà thờ cầu nguyện, hay vào thời kháng chiến, những lúc cùng mẹ chạy xuống hầm tránh bom đạn ; rồi cậu bé đứng trên một chiếc cầu đá nhìn xuống mặt nước và mơ một chuyến đi xa. Cũng như người thương binh trong truyện Về Thành nhớ lại khi xưa mình là đứa bé ngồi trên cành đa nhìn xuống con sông cũng mơ ước một chuyến đi xa. Trong bài bút ký chiến trường : Cánh Diều Trên Đồng Cỏ, khi tác giả là một phóng viên chiến trường ngồi trên trực thăng nhìn xuống đồng lúa bao la, thấy một đứa bé thả diều, tác giả nghĩ : Hình ảnh ấy đẩy đưa tôi về những mùa kỷ niệm, và mơ màng nhớ lại mình là đứa bé thả diều ngày xưa.

Nhưng tuổi thơ là thiên đường của quá khứ và hiện tại là địa ngục của chiến tranh. Người lính trải qua bao lo âu, khắc khoải, nhất là khi phải đối diện với cái chết. Trước bao nguy hiểm, người lính biết mạng sống của mình rất mong manh. Trong Nhật Ký Hành Quân II, tác giả ghi : Ngày hôm đó, ngày 9-5 thì phải. Mặt trời thì gay gắt. Chỉ có mặt trời mới thấy bọn tôi. Tôi nằm trong bụi, mặt dầm dề máu và mảnh lựu đạn, đít mông cũng vậy. Tôi, lần đầu tiên, niệm : « Nam mô Quan thế âm Bồ Tát, cứu nạn cứu khổ… » hàng trăm lần. Nhìn mặt trời. Cho con sống. Sống. Sống. Tôi vùng dậy chạy. Đạn bắn dưới chân. Tôi lộn nhào. Chạy. Chạy. Đạn rít trên đầu, tôi nhào xuống bờ suối. Đạn đuổi theo. Nó canh kỹ. Ló đầu ra. Tắc, bùm. Thụt đầu vào. Chạy, lăn. Tội nghiệp thân thể mày chưa, ốm yếu thế kia. Cha mẹ nâng niu thế kia, bây giờ vùng vẫy, bò, chui từng đám bụi, bò hai chân, hai tay. Bò ngửa. Bò sấp. (Văn, tr. 53)

Khi một đồng đội chết : Phòng lạnh. Những ngăn hòm vĩ đại. Số 19. Người lính kéo ngăn. Định đang nằm ngủ. Gương mặt sạm, đầy xương. Đôi mắt khép kín. Thân thể trần. Chỉ có mỗi chiếc quần đùi màu ô liu. Trên ngực 5, 6 vết thủng bầm tím. Miểng mìn. Thằng khóa 24 rơm rớm nước mắt. Thằng khóa 13 đôi mắt đỏ hoe. Chúng đã hiểu là từ đây không còn thằng Định nữa. Nó đã mất, mất hẳn. Dù có phép mầu to tát của Thượng đế, Định vẫn không thể nở lại nụ cười đẹp trên chiếc cằm xương kia nữa. (Người Trở Về, Bách khoa, tr. 166)

Và nếu người lính thoát chết thì cả một sự ngỡ ngàng : Khi nhào xuống vực cạn của con suối, tôi biết mình thoát nạn. Tôi từ từ khép mắt, duỗi thẳng tay chân, thả lỏng cây M16 và kiệt sức nằm bất động. Thú thật tôi chẳng biết mình mừng hay đau đớn. Trạng thái đó quá cực độ bây giờ hạ thấp xuống đến ớn lạnh. Tôi vui mừng quá sao ? Tôi còn sống sao ? Hai chân tôi còn bước đi, tôi còn nói, còn cười, còn trở lại kiếp lưu đày khốn khổ này sao ? (Trưa Địa Ngục, Bách khoa, tr. 99)

Cái chết luôn rình rập, đe dọa, tuy nhiên người lính vẫn còn một tình yêu lãng mạn để bám víu : Trong khi anh sống lên chết xuống cũng gọi tên em. Trong khi anh nằm trên gò mả, trong mương, trong bụi, trên võng trận, trong giao thông hào, cũng nhớ đến em (…). Anh mới hiểu không gì mạnh mẽ, cuồng nộ, si dại, như tình yêu đầu đời. Anh mới biết rằng trong một đời, có một người để mình mang theo vĩnh cửu. (Tình Nhớ, Bách khoa, tr. 51, 53)

Điều mà người lính thiết tha mong ước là được vô sự : Từ tuyến xuất phát, chúng tôi được lệnh cùng một đơn vị bạn, tiếp tục lục soát một chiều dài non hai chục cây số. Chúng tôi phải chiếm lần lượt những ngôi làng bỏ hoang, và có thể di tản một số dân còn lại về vùng an ninh. Chúng tôi đã vô sự (…). Vô sự, hai chữ ấy như một sức hấp dẫn mãnh liệt. Đời chiến binh chỉ mong bao nhiêu đó. Nhưng mấy ai thoát được trên trăm ngàn cuộc ra quân ? Vì thế, lần dừng quân chiều nay, có lẽ chúng tôi là những kẻ sung sướng nhất. (Đêm Chiêm Thành, Bách khoa, tr. 106)

Nỗi niềm của người lính khiến anh nhạy cảm với những hoàn cảnh đau khổ xung quanh.

II Nỗi đau của con người

Chiến tranh do ý thức hệ gây nên và nạn nhân là những con người vô tội. Nỗi đau của con người xảy đến trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, dưới nhiều hình thức. Nó đi từ một nỗi buồn da diết đến những đau xót không có từ ngữ để diễn tả.

Truyện Ga Đêm Quạnh Quẽ kể một người lính bị thương, trốn khỏi quân y viện để tìm về xóm ga xưa, nơi người cha làm nghề xếp tàu, ngày ngày xách chiếc đèn lồng đưa đón những chuyến tàu. Nhưng người lính không tìm lại được cảnh sống khi xưa, chiến tranh đã làm tê liệt mọi sinh hoạt, các đầu tàu, toa tàu đều ngủ yên trong bóng tối, không tìm lại được gia đình thân yêu của mình : người mẹ suốt đời chịu đựng bao gian khổ nay đã bỏ đi, người cha đã làm lại cuộc đời. Người lính trở về xóm cũ mà lòng đau xót vì người mẹ đã vắng bóng.

Trong truyện Những Thẻ Nhang Cho Hoàng Hôn, một người cha mất đứa con trai duy nhất, chỉ vì đứa con không muốn xa cha già để lên tỉnh sống an toàn một mình. Đứa con chưa đến tuổi đi quân dịch, bị xã bắt làm thanh niên chiến đấu giữ ấp. Một đêm, quân giải phóng về chiếm ấp, đôi bên nổ súng, đứa con của ông già tử trận. Ông quá thương con, xây một ngôi mộ đẹp cho con, rồi đào một cái huyệt bên cạnh để khi chết sẽ được nằm bên con.

Nỗi đau của con người có khi vượt sức chịu đựng, nó làm người nghe đau xót lây. Trong Nhật Ký Hành Quân II, làm sao không xúc động trước nỗi đau khổ của một bà già :

Buổi tối đại đội đóng quân đêm tại một ngôi làng cách núi không bao xa. Trung đội tôi phòng thủ mặt Bắc, đối diện với cánh đồng rộng. Tôi bảo lính đào hầm và chia vị trí cho mỗi tổ. Khi về ngôi chùa làng, tôi sửng sốt nhận ra vợ ông già ấp trưởng quấn trên đầu khăn tang. Bà bảo chồng bà bị nẫu chặt đầu tháng trước. Bà vừa nói vừa khóc. Đêm đó nẫu về gọi cửa, tôi mở. Nẫu hỏi ổng. (…) Nẫu bảo nếu ông là ấp trưởng, nói thật nẫu tha. (…) Tôi chạy ra, lạy từng người : « Lạy ông tôi lạy, ổng không có tội. Người ta bắt ổng làm, ổng phải làm. » Nẫu xách báng súng đánh vào màng tang tôi rồi bắn một phát trúng đùi. Tôi ngã xuống. (…)

Bà khóc rống. Tôi nghe quặn đau. Thế này thì quá lắm. Chiến tranh là cái giống gì mà bẩn thỉu quá vậy. (…) Mới đây bọn tôi còn về, ông ấp trưởng còn ngồi hàn huyên bên tách trà nóng, còn kể chuyện sự tình. Khổ lắm ông ơi. Người ta bắt mình phải làm. Đêm nào nó cũng mò về vác loa gọi tên tôi đích danh, đòi chặt đầu. Đêm nào bọn tôi cũng nằm bờ mương bờ ruộng (…) Nghe ông ta nói, tôi bùi ngùi. (VĂN, tr. 46-47)

Truyện Ngày Tháng Xa kể nỗi đau xót của một người sĩ quan tên Hoài, khi những người lính dưới quyền anh đã nổ súng lầm trong đêm tối giết phải một người đàn bà và gây thương tích cho đứa con. Về sau vì chán nản, Hoài bỏ về cô nhi viện nơi anh đã sống tuổi thơ trong tình thương của các nữ tu. Anh xin dạy học cho các em bé cô nhi, nhưng khi gặp lại bé Danh, con của ngưòi đàn bà bị giết lầm, nay bé Danh cụt chân sống trong cô nhi viện, thì Hoài quá đau lòng lại bỏ đi.

Chiến tranh gây chia rẻ giữa những người ruột thịt, biến họ thành những kẻ thù. Trở lại truyện Trong Đôi Mắt Chúa, khi Sáu đi thơ thẩn xung quanh ngôi nhà thờ, anh gặp lại ông Tám, người trông giữ nhà thờ, và được ông cho biết anh Hai của Sáu hoạt động cho bên kia. Người anh đội mũ cối, mang dép Bình Trị Thiên, về Nho Lâm dò hỏi ông Tám về Sáu, vì Sáu là lính Quốc gia, không còn tình anh em ruột thịt nữa.

Trong truyện Về Thành, một gia đình, một dòng họ, cũng bị chia rẽ, trở nên thù nghịch nhau. Người thương binh với một cánh tay cụt trở về quê bên kia bờ sông Tranh. Anh nghĩ anh không còn khả năng cầm súng ra trận nữa, vậy chiến tranh đã chấm dứt đối với anh. Anh nôn nao mong gặp lại những người thân trong làng, nhớ nhất là chị Hai, người chị nhút nhát, gì cũng sợ. Nhưng khi gặp lại người ông, anh được biết trong làng chỉ có anh và một người trong gia đình đi lính Quốc gia, còn tất cả đều theo bên kia, chị Hai, chú Ba, dượng Tư đều lên chiến khu. Chị Hai đã trở nên một người gan dạ, chị đã tổ chức những vụ ám sát, ném lựu đạn. Nhưng một đêm, chị bị lính Quốc gia phục kích bắn chết. Ông nội khuyên anh thương binh đừng ra mắt người dân trong làng, vì anh đã bị mọi người li khai. Người thương binh lủi thủi ra về, anh lội qua sông để trở về thành, nhưng một chiếc trực thăng bay trên đầu nổ súng, anh đưa cánh tay cụt lên chới với kêu : Tôi là thương binh đừng bắn tôi. Liệu những người lính trên trực thăng có nghe anh nói gì không, hay họ cho anh là kẻ thù cần tiêu diệt ?

Nhưng có nỗi đau nào thảm thiết, hãi hùng đến nỗi không có từ ngữ nào diễn tả nổi như trong truyện Quán Biên Thùy ? Truyện bắt đầu trong một bầu không khí vui vẻ. Một đại đội đóng quân trên ngọn đồi 101 được gọi là « Quán Biên Thùy ». Khi đại đội sắp sửa mừng đón giao thừa thì có tin cô em của người đại đội trưởng tên Hải sắp đến từ Sài gòn thăm anh, vì nghe anh thường nói đến « Quán Biên Thùy ». Người anh lo âu vì tình hình không mấy yên ổn mà đứa em của mình lại quen sống cảnh an bình ở Sài gòn, nhưng cô em bướng bỉnh đặt người anh trước một chuyện đã rồi. Vậy người đại đội trưởng cùng với một người trung đội trưởng rất thân thiết tên Trọng đến phi trường đón Mỵ, tên cô em. Trên đường trở về, chiếc xe jeep do Hải lái chạy qua một cánh rừng thưa, Hải bèn tăng tốc độ, còn Trọng lên súng trước sự ngạc nhiên của Mỵ, thì ra nơi đó có tiếng nguy hiểm, Việt Cộng thường ra chận đường xe cộ. Ở « Quán Biên Thùy », trong đêm giao thừa không khí vui nhộn nhờ sự hiện diện của một thiếu nữ xinh đẹp, khả ái, từ Sài gòn đến, đem lại cho đám lính một cái gì thật tươi mát. Mọi người đều đòi cô Mỵ hát. Người anh thì tìm thấy qua đứa em gái hình ảnh của gia đình thân yêu. Còn Trọng và Mỵ khi gặp nhau thì giữa hai người có một mối giao cảm đã nhanh chóng trở thành tình yêu. Một chân trời hạnh phúc dường như bừng sáng trước mắt họ.

Nhưng rồi cuộc vui chấm dứt. Khi Mỵ sửa soạn trở về Sài gòn thì có lệnh đại đội phải di chuyển khẩn cấp, vì có tin địch đã chiếm một quận lỵ gần đó và người quận trưởng đã bị giết. Một đoàn xe GMC lên đỉnh đồi để đưa đại đội đi gấp. Người anh từ giã cô em, Trọng cũng chia tay với người yêu. Mỵ nhìn đăm đăm Trọng : Dáng Trọng gầy, chiếc mũ rừng chụp xuống, mái tóc dài, những ngón tay khẳng khiu. Chiếc quần trận màu xanh đã bạc, thấy có chỗ tươm rách. Mỵ thương chàng đến độ muốn ôm chầm chàng để khóc oà như con nít. (Bách Khoa, tr. 93)

Rồi Mỵ cũng chờ một chuyến xe đò chạy thẳng về thành phố. Trên xe đò, mọi người xung quanh Mỵ đều vô tư, bình thản. Hôm nay là ngày mồng một Tết, ngày thiêng liêng, ngày hưu chiến. Mỵ ăn mặc như những cô gái Sài gòn : quần jean, áo pull, đeo kính mát. Khi chiếc xe đò chạy qua cánh rừng thưa, nơi anh của Mỵ đã tăng tốc độ chiếc xe jeep, thì một nhóm người mặc bà ba đen, đeo khí giới đứng chận xe đò. Mọi người trên xe bước xuống, có bốn người thanh niên bị bắt trói. Một kẻ chỉ huy nhìn Mỵ chăm chăm quát : Con này trước Cách Mạng mà còn mang kính đen của tư bản đế quốc đĩ điếm phản động. Vì quá sợ hãi Mỵ quên gỡ kính mát. Mỵ bị bắt với bốn người thanh niên. Sau khi nghe bài học tuyên truyền, bốn người thanh niên bị buộc tội là lính đánh thuê, họ bị bắn tại chỗ. Còn Mỵ bị dẫn vào một ngôi nhà đổ nát, tên chỉ huy nói với người dưới quyền mình : Đồng chí ở ngoài canh chừng. Tôi phải làm việc với con bé này. Nó chắc là tay sai gián điệp Sài gòn không chừng.

Trong khi đó đoàn xe đưa đại đội lên đèo An Khê. Trọng còn đang say đắm trong niềm hạnh phúc, nhưng sao có đàn chim bỗng sà xuống đoàn xe, Trọng nghe một tiếng rú như xé dội cả trùng trùng điệp điệp núi đèo, đẩy bật cả mấy tầng trời, gốc cây đại thụ, bạt cả bờ vách đá… Trọng bủn rủn cả người, hối hả bảo tài xế ngừng xe, rồi tin cho Đại bàng (cấp chỉ huy) biết, Đại bàng ra lệnh cho đại đội xuống xe, bố trí hai bên đường. Sau đó một đoàn xe chở đạn của Đồng Minh chạy qua, trong chốc lát bị mìn nổ tung, lửa bốc cháy ngợp trời.

Phải chăng tiếng rú ghê rợn của Mỵ khi cô chết đã cứu sống được người yêu ? Chỉ một tiếng rú hãi hùng trong linh cảm của Trọng.

Nỗi đau của con người không bao giờ hết. Nhưng đã có tình thương bù đắp. Tình thương giữa người và người. Và cái tình người đó đã được một người lính ở tù, làm lao công đào binh lo chăm sóc sân cỏ của một biệt điện, trong truyện Cõi Mù Tăm, nói lên : Tôi không thể can đảm nhìn những nỗi đau khổ của kẻ khác. Chính điều đó đã khiến tôi trở nên một kẻ tù tội như thế này. Những nỗi đau khổ của tha nhân mà tôi đã gặp, có phải chăng ở trên những quảng đường tôi vác súng đi qua, trong những ngôi làng chúng tôi xung phong vào chiếm, ở những người tôi bắt trong một chuyến lục soát. (Vấn Đề, tr. 80)

Truyện của Trần Hoài Thư tràn đầy lòng nhân ái của đủ hạng người. Trước hết tình đồng đội của một người chỉ huy. Trong Đỉnh Xuân Buồn, lính của trung đội Hạo phải đi canh gác trong đêm giao thừa, Hạo thân mật nói với họ : Lệnh bắt mình phải làm vậy, chứ tôi nào có muốn làm khổ anh em đâu. Trong khi Hạo lo canh gác, anh nghĩ đến những người lính của mình : Còn những người lính kia nữa. Chúng bắt chàng phải sa nước mắt. Cứ chửi thề. Cứ than thở. Rồi sau đó, cuối cùng là rủ nhau lao vào cõi chết. Để cho thiên hạ được sống. (…) Bỗng nhiên chàng ước kêu cả trung đội về ngồi trên sân gạch này, để cùng chuyển nhau cốc rượu. (…) Đêm giao thừa mà. Đêm linh thiêng mà. Phải siết chặt tay từng thằng, mừng thêm một năm thoát chết, thoát đạp mìn, thoát bị bắn trả, thoát bị phục kích, thoát bị pháo kích, thoát biển người, thoát chốt… Nhưng chàng không dám. Rồi giao thừa đến, bỗng nhiên chàng la lên cuồng nhiệt : Anh em ơi, giao thừa rồi ! Ngồi dậy chúc mừng nhau đi, anh em ơi ! (Bách Khoa, tr. 125-126)

Tình người nảy sinh trước một người nông dân rơi vào cảnh trên đe dưới búa. Trong Những Kẻ Trốn Chạy, một người trung đội trưởng kể trong một cuộc tảo thanh một ngôi làng, lính bắt được một người đàn ông mặc bà ba đen quần đùi. Lính chĩa súng vào hông hắn giục : « Mày Việt Cộng hả, nói đi ! » Tôi thấy hắn run run :

– Dạ, tại tôi sợ.

– Mày sợ ai ? Lính Cộng hòa chớ phải Việt Cộng đâu !

– Dạ, sợ mấy ông bắt tôi đi lính. Tôi có cha mẹ già và bốn đứa con.

Tôi bâng khuâng trong giây phút. Tôi nghĩ đến một gia đình khi kẻ rường cột ra đi. Tội nghiệp ! Nhưng nếu không bắt, bên kia sẽ bắt hắn lên núi. Hắn là một con bù nhìn đáng thương, đang sửa soạn lao vào giòng cuồng lưu tàn bạo. (…) Những con người vô tội ở nông thôn, bị giành giựt xâu xé. (…) Tôi trả lại thẻ cho hắn, nói : « Mày về đi ! ». (Bách Khoa, tr. 31)

Trong truyện Người Thầy Trẻ, tình thầy trò trở nên tình thương binh. Minh, một giáo sư cầm súng đi tác chiến như mọi người, và bị thương đang điều trị ở quân y viện. Một hôm, anh thấy một người thương binh cụt chân rất trẻ, khoảng 21-22 tuổi, đi đến phía anh và hỏi :

– Có phải ông là thầy Minh, dạy TCV ngày trước ?

Minh gật đầu. Hắn cười hớn hở :

– Em là Lê Văn Dự. Thầy biết không ?

Minh nhớ ra rồi. Hai thầy trò cảm động ôm nhau. Minh nhìn : Người học trò của ngày xưa, trẻ trung và trong sáng, dệt bao nhiêu mộng mơ êm đềm nhất, bây giờ trở nên một tên thương binh già trước tuổi, với đôi mắt buồn bã, như đã thấy cái tương lai đen tối ở trước cuộc đời : nhất là cái ống quần phất phơ trong gió. Hai thầy trò kể cho nhau hoạn nạn của mình. Minh bị những mảnh lựu đạn ghim ở đùi. Dự thì xui xẻo hơn, anh bị trúng mìn trong trận Phú Nhơn, và nằm ở quân y viện này đã nửa năm. Minh nhìn người học trò cũ của mình, lòng bỗng dưng xúc động. Thế hệ chàng thì xem như bỏ đi. Nhưng bây giờ đám học trò của chàng lại tiếp nối. Minh nói : « Dự cần gì tôi giúp cho (…) Chẳng hạn xách một chai nước, cầm một khay cơm. Ở chốn này chúng ta là bạn, là thương binh… » (Bách Khoa, tr. 150, 153)

Truyện Bến Sông, Người Về cho thấy một hình thức khác của lòng nhân ái : tình thương người ở phía bên kia. Sau khi hiệp định Paris được ký kết, một số đông tù Cộng sản được phóng thích, ai nấy vội vàng tìm xe cộ, hay chen nhau chờ lên phà qua sông để mau về đoàn tụ với gia đình. Riêng chỉ có một người đàn ông bơ vơ, không biết đi về đâu. Anh ta đi thất thểu ngoài đường, thấy nhà nhà đang rộn ràng chuẩn bị đón giao thừa. Anh ta quá buồn tạt bừa vào một ngôi nhà. Chủ nhà là một thương binh, cùng với gia đình sắp sửa cúng giao thừa. Người thương binh thấy người đàn ông bèn hỏi :

– Xin lỗi, anh muốn tìm ai ?

Anh ta lắp bắp :

– Không. Xin lỗi. Xin lỗi… Tôi lầm nhà.

Rồi anh quay lưng tính bước đi. Nhưng người thương binh đã cầm ngay lấy tay anh, nói thật tha thiết :

– Nhìn bộ quần áo của anh, tôi biết anh vừa được phóng thích. Đêm nay là đêm giao thừa, trời lại tối, xe không còn nữa. Tôi mong anh ở lại ăn Tết cùng chúng tôi nhé. Hòa bình ngưng bắn rồi, bọn mình đều là anh em… (Bách Khoa, tr. 118)

II Không gian trong truyện của Trần Hoài Thư

Trần Hoài Thư viết theo cảm xúc, truyện của ông là những mảnh đời được ông soi rọi bằng tình cảm, bằng vẻ đẹp của thiên nhiên. Cách miêu tả không gian không phải để khỏa lấp những khoảng trống trong truyện, hoặc để dùng làm một yếu tố trang hoàng. Ở đây không gian mở rộng để tiếp đón con người đáng thương : … anh mang ba-lô súng đạn cùng đơn vị, hết di chuyển từ hướng Bắc về hướng Đông tỉnh lỵ rồi lại được tăng phái lên cao nguyên, trèo những ngọn núi cao hơn một ngàn thước, rồi vượt qua biên giới vào những mật khu xa xăm. Đi, đi mãi. Đi, gạo, lương khô và những bi-đông nước lủng củng bên mình. Đi phờ cả râu, cả tóc. Đi, như sinh ra để mà đi, mà lội, mà trèo. Đi trong khi ngủ, trong khi tiếng đại bác mở đường, những chiếc B52 dọn sạch mục tiêu trước, để lại những khu rừng tàn rụi. (Điếu thuốc cho tình si, Bách Khoa, tr. 65) Động từ « Đi » được lặp lại nhiều lần cho thấy sự mênh mông của không gian và sức nhỏ nhoi của người lính.

Trong không gian có thiên nhiên hoà hợp với tâm trạng con người. Trong một cảnh ráng chiều, thiên nhiên đem lại cho con người bình an và hạnh phúc : Hoàng hôn đã về rất chậm (…) Phía xa, nền trời đỏ ửng, và một mặt trời hiện sau các nhánh phượng khẳng khiu. Thật là một hoàng hôn kỳ diệu. Những cơn gió mát đầu tiên của một ngày mùa hạ đã bắt đầu trở lại, lung lay những khóm lá giáng hương. Ở chóp những cây trâm đang độ nở hoa, bướm vàng từng đàn dập dìu bay lượn. Tôi chết ngất trong thiên nhiên tuyệt vời ấy (…). Thế giới của riêng tư đã đột nhiên trở về cùng tôi trong buổi chiều sắp chết. Dưới mắt tôi, bầu trời vẫn còn sót lại bởi những đám mây trắng lẻ loi, và ở phương Tây, ráng đỏ vẫn còn in một màu hấp hối… (…) Những nỗi nhọc mệt trong ngày coi như đã thành mây khói và cả cái dĩ vảng khổ nhục của một kiếp lao công thì cũng coi như là một giấc mơ mà thôi để một buổi chiều như chiều nay, tôi bỗng trở nên thấy mình là một kẻ hạnh phúc nhất. (…) Tôi mới nhận ra thiên nhiên quả thật bao dung. Thiên nhiên đã sáng tạo bao nhiêu vẻ đẹp cho những đứa con của Thượng Đế. Thiên nhiên âu yếm và trìu mến đối với những kẻ biết hưởng thụ thiên nhiên. (Cõi Mù Tăm, Vấn đề, tr. 78-79-80). Trong cách miêu tả của một tác giả, bao giờ cũng có một sự lựa chọn về thẩm mỹ hoặc về tư duy. Trong cảnh ráng chiều trên đây, Trần Hoài Thư gợi lên hình ảnh tàn tạ của một ngày đẹp : trong buổi chiều chết… ráng đỏ vẫn còn in một màu hấp hối, để đưa đến ý niệm về thời gian trôi mau : ta hãy mau mau tận hưởng vẻ đẹp của cuối ngày vì nó chóng tàn. Còn tôi chết ngất trong thiên nhiên tuyệt vời ấy, vì tôi quá hạnh phúc trong cái đẹp của thiên nhiên.

Trong truyện Về Thành, không gian mang dấu vết của lịch sử và có một giá trị biểu tượng. Làng quê của anh thương binh ở giữa núi và sông, bên kia núi là biển. Chính dãy núi đã che chở dân làng khi xưa, khi Pháp đổ bộ ngoài biển. Chính núi cho người dân làng những thứ gỗ quý, còn sông làm cho ruộng lúa thêm mầu mỡ và những con thuyền đầy cá tươi. Ngày nay núi quyến rũ bà con hàng xóm cùng với chị Hai, chú Ba, dượng Tư của anh thương binh đi lên chiến khu, và sông đưa những kẻ như anh, dì Quít, chị T về bên kia thành, anh đi lính, dì Quít bán bar, chị T có chồng tử trận. Ngày nay núi sông đã chia cách lòng người. Lại nữa cuối cùng con sông gây hiểu lầm khiến anh thương binh bị xem là người của bên kia và bị nã súng. Con sông biến người bên này thành người bên kia. Phải chăng con sông muốn dung hoà đôi bên ?

Truyện Khu Chiến cũng có con sông được dùng làm trận tuyến khiến ông Tư chèo đò không còn làm ăn sinh sống được nữa.

Trong không gian, nước là một yếu tố không thể rời khỏi đời sống con người, nước nuôi dưỡng con người. Có khi nước đem lại niềm vui, hạnh phúc : Nước. Nước lên quá háng. Nước mân mê cơ thể một cách kỳ cục. Nước làm đôi mắt nhắm lại và sững sờ trong giây phút. Nước lấp lửng lên tới ngực. Đôi gót chân nhón lên. Thân người rẽ nước, cuống quít hướng về bên kia sông. Hai tay nâng súng lên trời. Giây nịt đạn choàng quanh cổ. Tôi lội và bỗng nhiên rộn ràng với nỗi sung sướng không đâu. Tiếng nói cười rộn rã của đám lính, tiếng khoát nước, tiếng chửi thề, tiếng pha khôi hài, khuấy động cả lòng sông. Và tôi chẳng khác đứa trẻ đang hăm hở vượt sông cùng đám bạn. (Sông sâu cũng lội, Bách khoa, tr. 33)

Nước sông thì thế, nó làm người lính quên đi trong chốc lát những hiểm nguy, gian khổ, còn nước mưa có tính tiêu cực, mưa đe dọa, mưa cản trở, mưa bất lợi cho người lính. Khi lính đào hầm phòng thủ : Họ đào gấp rút, hối hả, dưới cơn mưa triền miên của một ngày tháng chạp (…). Nước mưa chảy theo từng nhát xẻng ; nước mưa theo những luống đất, tuôn vào hố hầm (…). Chỉ có mưa, mưa trắng xóa, mưa phủ cả đỉnh núi mờ một màu trắng giải (…). Họ đến ấp vào buổi chiều khi mưa đuổi theo sau lưng và gào thét trước mặt. (Vì sao của đêm Giáng sinh, Vấn đề, tr. 7, 10)

Tiếng súng đại bác lại rền vang từ căn cứ bên kia sông. (…) Mưa vẫn gào thét, như thể đổ xuống bao nhiêu lời hờn giận, trong tiếng rít của những hàng tre xung quanh vườn. (Điếu thuốc cho tình si, Bách khoa, tr. 63)

Trần Hoài Thư xây dựng một không gian đầy cảm tính, thích hợp với tâm trạng của các nhân vật.

Qua những truyện của Trần Hoài Thư, chân dung của người lính miền Nam được vẽ lên, đó là chân dung của một chứng nhân của lịch sử, của nỗi thống khổ của người dân trong một thời khói lửa điêu linh.