ĐỂ VẼ CHÂN DUNG MỘT CON CHIM

 

Jacques Prévert (1900-1977) là một nhà thơ Pháp nổi tiếng, được quần chúng mến mộ, vì ông có một ngôn ngữ bình dị, thân mật và những trò chơi chữ thâm thúy. Ngoài thơ, Jacques Prévert còn viết cho kịch nghệ và điện ảnh.

Thơ của Prévert viết theo thể thơ tự do. Nhiều bài thơ đã được nhạc sĩ tài hoa Joseph Kosma phổ nhạc. Đặc biệt bài thơ – bản nhạc Les feuilles mortes qua giọng ca trầm ấm, truyền cảm của Yves Montand đã đi vòng quanh thế giới và được dùng cho cuốn phim Les Portes de la nuit.

Thơ của Prévert có tính bông đùa, hóm hỉnh, có khi tác giả dùng tiếng lóng, nói lái. Thơ ông bắt nguồn từ thơ truyền khẩu khi xưa, tuy bình dị nhưng rất tinh tế với những từ lặp lại, đảo ngược, liệt kê. Với Prévert một ngôn ngữ mới được thành hình, ông coi thường cú pháp, vần luật và diễn ngôn truyền thống. Ngôn từ đến với ông một cách hồn nhiên, không trau chuốt và mãnh liệt khi ông nói lên những cơn phẫn nộ, sự khinh bỉ hay lòng yêu thương.

Cũng như các nhà thơ siêu thực, Prévert dùng giấc mơ để thoát khỏi những ràng buộc của thực tế, của cái có thể thực, ví dụ trong bài Page d’écriture (Trang viết), có câu : Những bức tường của lớp học bình thản sụp đổ. Giấc mơ thường kết hợp với sự hóm hỉnh.

Thơ của Prévert có vô số chủ đề : Đời người (sự sinh ra đời và cái chết, trẻ con và học đường, đời sống gia đình, sự nhàm chán, tình yêu), những đối tượng khó chấp nhận (giới tư sản và tư bản, nhà văn và nhà báo, kẻ làm chính trị và kẻ độc tài), sự bác bỏ tôn giáo, sự kinh tởm chiến tranh, những kẻ khốn cùng và những kẻ vô sản, loài chim,v.v…

Thơ của Prévert nói nhiều về thú vật, đặc biệt loài chim hiện diện trong 20 bài trong tập thơ Paroles. Chim có thể là chim của lo âu, vì tác giả chuyển qua loài chim nỗi tuyệt vọng của loài người, hay chim là tấm lòng của người phụ nữ không dám yêu hoặc không muốn yêu trong bài Chanson de l’oiseleur (Bài hát của người bẫy chim). Lắm khi chim là biểu tượng của tự do, gieo những ý nghĩ tự do trong tâm hồn đứa trẻ bị giam trong một trại giáo huấn, trên một hòn đảo. Chim cũng thúc đẩy trí tưởng tượng của người học trò trong lớp học. Trong bài thơ Salut l’oiseau (Chào chim), mỗi con chim là biểu tượng của tự do, bình đẳng, tình huynh đệ, tình âu yếm, tính hóm hỉnh, v.v…

Bài thơ Để Vẽ Chân Dung Một Con Chim (nguyên tác : Pour faire le portrait d’un oiseau) sau đây đưa người đọc vào thế giới thơ của Jacques Prévert.

Để vẽ chân dung một con chim

Trước hết vẽ một cái lồng

với một cánh cửa mở

rồi vẽ

cái gì xinh xinh

cái gì đơn giản

cái gì đẹp

cái gì hữu ích

cho con chim

rồi đặt bức tranh vào một thân cây

trong một khu vườn

trong một khu rừng

hay trong rừng rậm

núp sau thân cây

không nói gì

không cử động…

Đôi khi con chim vụt bay đến

Nhưng cũng có thể nhiều năm sau

trước khi nó quyết định đến

Không nên nản chí

Hãy chờ đợi

chờ đợi nếu cần trong nhiều năm

cách đến nhanh chóng hay chậm chạp của con chim

không liên quan gì

với sự thành tựu của bức tranh

Khi con chim bay đến

nếu nó bay đến

tuyệt đối lặng im

chờ con chim vào lồng

và khi nó đã vào

nhẹ nhàng đóng cửa với cây cọ

rồi

xóa những chấn song từng cái một

cẩn thận không động chạm đến một cái lông nào của con chim

Vẽ tiếp chân dung cái cây

chọn cái cành đẹp nhất của cây

cho con chim

cũng vẽ màu xanh của lá và nét tươi mát của gió

vẽ bụi nắng

và tiếng động côn trùng trong cỏ giữa cái nóng hè

và rồi chờ cho con chim quyết định hót

Nếu con chim không hót

đó là dấu hiệu xấu

dấu hiệu rằng bức tranh xấu

nhưng nếu nó hót đó là dấu hiệu tốt

dấu hiệu bạn có thể ký tên vào

Thế thì bạn rứt nhẹ nhàng

một cái lông con chim

và viết tên bạn ở góc bức tranh. (1)

 

Bài thơ trên đây cho thấy những hình ảnh tưởng tượng độc đáo của Jacques Prévert, và cũng là một ẩn dụ về công việc của người nghệ sĩ nói chung, của người họa sĩ nói riêng. Phải tìm nguồn hứng trong thiên nhiên, cần kiên nhẫn chờ đợi và không chắc đạt đến thành công, vì con chim có thể không thích bức tranh.

Jacques Prévert được xem như một nhà thơ bênh vực những người nghèo, những người bị áp bức, với một tấm lòng hào hiệp. Cách sáng tạo những hình ảnh lạ thường và cách chế giễu kiểu bình dân của ông khiến thơ ông chinh phục một công chúng đông đảo. Thơ của Prévert mời gọi  độc giả hãy tin vào khả năng của ngôn từ để đạt đến hạnh phúc của cá nhân hay tập thể. Những tập thơ của Prévert như : Paroles (1946), Histoires (1946, 1949), Spectacles (1951), La Pluie et le Beau temps (1955) là những tác phẩm nói về tình yêu, tự do và tưởng tượng.

 

  • Jacques Prévert, Pour faire le portrait d’un oiseau, Paroles, Nxb Gallimard, 2004.