ROLAND BARTHES VÀ PHÊ BÌNH MỚI

 

Tên tuổi của Roland Barthes (1915-1980) đã để lại dấu ấn trong đời sống văn học ở Pháp vào nửa sau thế kỷ 20.

Khởi đầu là cuộc bút chiến nảy lửa do giáo sư đại học Raymond Picard khai chiến, trước tiên với một bài trên nhật báo Le Monde có tựa đề : Monsieur Barthes et « La critique universitaire » (Ông Barthes và « Phê bình của đại học »), ra ngày 14 tháng 3 năm 1964, rồi qua năm 1965, với một tiểu luận mang tên Nouvelle critique ou nouvelle imposture (Phê bình mới hay bịp bợm mới), trong bộ sách « Libertés » của nhà xuất bản Jacques Pauvert. Báo chí liền bênh vực vị giáo sư đại học. Tạp chí Revue de Paris cho đó là trận Pearl Harbour của Phê bình mới, Pearl Harbour là trận đánh ở Thái bình dương, năm 1941, hạm đội Mỹ bị quân Nhật đánh bại. Còn tạp chí Pariscope thì khen ông giáo sư dũng cảm của đại học Sorbonne đã vặn cổ Phê bình mới và đúng là đã bứng đi một số người bịp bợm, trong đó có ông Roland Barthes.

Lý do là năm 1963, Roland Barthes cho ra cuốn Sur Racine (Bàn về Racine) trình bày một quan niệm phê bình văn học hoàn toàn mới nếu không nói là có tính cách mạng.

Roland Barthes bèn phản kích cuộc tấn công của giới đại học, bất ngờ đối với ông, bằng cuốn Critique et vérité (Phê bình và sự thật) ra năm 1966. Vào đầu cuốn sách, ông nói cái mà người ta gọi là « Phê bình mới » đã có từ trước. Ngay từ thời Giải Phóng, đã có việc xét lại văn học cổ điển của chúng ta khi nó phải đương đầu với những ngành triết học mới, (việc xét lại này) là do các nhà phê bình rất khác nhau đảm nhận (…)

Quả thật ngành Phê bình mới rất đa dạng như các hệ tư tưởng mà nó dựa vào, tính nhất quán của Phê bình mới là ở điểm tiếp xúc của phê bình này với triết học. Do đó có thể phân biệt :

1/ Phê bình mác xít với Antonio Gramsci, Georg Lukács, Lucien Goldmann và Pierre Macherey.

2/ Phê bình phân tâm học với Otto Rank, Marie Bonaparte, Charles Baudoin, rồi phê bình tâm lý với Charles Mauron.

3/ Phê bình chủ đề theo đường lối của Bachelard với những nhà phê bình nổi tiếng như Georges Poulet, Jean-Pierre Richard, Jean Rousset, Jean Starobinski.

4/ Phê bình hình thức mà Barthes là người đã đề xướng.

Sở dĩ người ta gọi Phê bình mới là vì trước đó đã có một Phê bình cũ. Phê bình cũ là một ngành phê bình uyên bác, chú trọng về ngữ văn học trong văn bản, tìm nguồn gốc văn bản và dựa vào tiểu sử tác giả. Phê bình uyên bác được nối dài đến ngày nay bởi phê bình phát sinh văn bản.

Khi Barthes tấn công Phê bình cũ, ông phản đối cái xu hướng lịch sử tính và cái xu hướng độc đoán. Trong phần 3 của cuốn Sur Racine, mang tựa đề  Histoire ou littérature (Sử học hay văn học), Barthes chỉ trích cái ông gọi là « phê bình uyên bác » hay đúng hơn « phê bình đại học », phê bình này vẫn còn trung thành với cái yếu tố nguồn gốc, tin rằng có một quan hệ « nguyên do » và xem tác phẩm như một « sản phẩm ».

Vậy Phê bình mới không hướng về một tri thức hay về một sự phê phán, mà hướng về diễn giải. Phê bình mới là một phê bình diễn giải. Phê bình tiếng Pháp gọi là critique do gốc la tinh là cernerer có nghĩa là hiểu. Để làm cho người ta hiểu tác phẩm thì phải miêu tả. Không phải là tóm tắt hoặc giải thích lòng vòng, mà là đề nghị một cách đọc hoặc nhiều cách đọc. Barthes nói khi một nước lấy lại những đồ vật của quá khứ của mình và miêu tả chúng trở lại là để biết sẽ dùng chúng ra sao. Đó là cách giải thích đúng tính từ « mới ». Phê bình mới là nhìn lại tác phẩm đúng hơn là xét lại tác phẩm, mà việc nhìn lại tác phẩm vẫn bao gồm tri thức và phê phán. Cái mới là những quy tắc về cái đẹp không được đặt ra theo tiên nghiệm. Tzvetan Todorov đã viết : Sự phê phán giá trị của một tác phẩm tùy thuộc cấu trúc của tác phẩm. Và chính cấu trúc đó mà Phê bình mới muốn miêu tả, dù Phê bình mới có dùng thuyết cấu trúc hay không.

Cuộc bút chiến với giới đại học là một cơ hội để Barthes bày tỏ quan niệm của mình về phê bình văn học vào thời đương đại. Barthes có cái nhìn mới như thế nào về tác phẩm văn học ? Phê bình của ông không khỏi gây ngạc nhiên vì cách nhìn tác phẩm, cách diễn giải tác phẩm. Có thể xem những chặng đường phê bình văn học của ông qua những tác phẩm sau đây : Sur Racine, Critique et vérité, Essais critiques S/Z. Nhưng trước khi đi vào những chặng đường phê bình đó, thiết tưởng cũng cần quay lại từ đầu để tìm hiểu Roland Barthes là ai, ông đã đề xướng những gì và đã dùng những lý thuyết gì để minh họa tư duy của ông.

I Những tác phẩm đầu tiên báo hiệu một quan niệm mới về văn học

Roland Barthes được xem như một nhà phê bình, một nhà ký hiệu học, một nhà văn, một nhà triết học, nhưng trước tiên ông là một nhà nghiên cứu. Không bao giờ người ta tìm được trong tác phẩm của ông những lời đáp có sẵn, những lời khẳng định không cãi lại được, đúng hơn người ta tìm ra ở đấy những dấu vết của một công trình nghiên cứu xuất sắc, nhưng không tránh được những lần mò, những hoài nghi, những vấn đề đặt lại. Người được xem là đứng đầu ngành phê bình mới đã để lại cho hậu thế một tác phẩm rất hiện đại, rất mới. Trong suốt 25 năm, Roland Barthes đã tạo nên cho mình một vị trí độc đáo trong lĩnh vực văn học, ông là phát ngôn viên, nếu không nói là người khởi xướng phong trào tiền phong về tư duy phê bình và ngôn ngữ học của Pháp. Tác phẩm đa dạng của Barthes và những con đường khác nhau ông đã đi qua là chứng cớ của một ý muốn đòi hỏi tự do cho một người đối diện với văn bản.

Roland Barthes sinh ngày 12 tháng 11 năm 1915, tại Cherbourg. Ông mồ côi cha khi mới được 11 tháng. Ông sống tuổi thơ bên cạnh người mẹ ở Bayonne, thuộc miền Tây Nam nước Pháp. Bệnh lao phổi đã làm cho việc học hành của ông bị gián đoạn. Ông không thể thi vào trường Sư phạm École Normale Supérieure, nơi đào tạo những thành phần tinh hoa, ưu tú của xã hội Pháp. Barthes chỉ đỗ được bằng cử nhân văn khoa cổ điển năm 1943. Vì bệnh lao hay nhờ bệnh lao mà Barthes có một văn nghiệp không giống ai, văn nghiệp đó được xây dựng ngoài phạm vi đại học. Chỉ vào năm 1960 ông mới giảng dạy ở trường École Pratique des Hautes Études. Và chỉ vào năm 1976, 4 năm trước khi ông mất, Barthes mới được bầu vào trường Collège de France, nơi quy tụ những học giả lỗi lạc ở Pháp và từ các nước trên thế giới. Qua bệnh lao, ông đã trải nghiệm sự đau khổ và cái chết. Trong thời gian ở nhà điều dưỡng bệnh lao, ông có viết hai bài, một bài về Nhật ký của André Gide và một bài về truyện L’Étranger của Albert Camus. Cũng vào thời kỳ này, Barthes chịu ảnh hưởng thuyết hiện sinh của Sartre.

Cuốn Le degré zéro de l’écriture (Độ không của sự viết) của Barthes ra năm 1953 (1), được độc giả hào hứng đón nhận. Trong cuốn sách này, Barthes muốn khẳng định có một hiện thực về hình thức viết không lệ thuộc vào ngôn ngữ và bút pháp. Đáp lại câu hỏi của Sartre : Văn chương là gì ? kể từ nay có câu hỏi của Barthes : Viết là gì ? Sự viết ở lưng chừng giữa ngôn ngữ và bút pháp, sự viết được nhào nặn bởi sự tự do của nhà văn. Nghiên cứu về sự viết cũng là nghiên cứu ngôn ngữ.

Vậy ngay từ cuốn Le degré zéro de l’écriture, người ta đã nhận thấy sự tiếp cận văn bản rất mới của Barthes. Ngôn ngữ và việc dùng ngôn ngữ của nhà văn được đặt ngay ở trung tâm của việc sáng tạo văn chương. Barthes dùng lại chủ đề của Sartre về sự tự do của hành động viết, nhưng Barthes làm mới chủ đề bằng cách đặt hành động viết trong hình thức viết chứ không ở trong nội dung viết. Ngôn ngữ đi từ quy chế của phương tiện đến quy chế của cứu cánh, và được đồng hóa với sự tự do đã được chinh phục. Thế nhưng cần chinh phục văn chương ở cái điểm không giữa hai hình thức nặng nề, một bên là sự phân tán trong ngôn ngữ hằng ngày với những thói quen, những quy định, và một bên là bút pháp đưa về một hệ tư tưởng cho thấy tác giả như bị cắt đứt với xã hội.

Năm 1953, năm cuốn Le degré zéro de l’écriture ra mắt độc giả, Barthes chưa có đủ hành lý về thuyết cấu trúc, cái ý muốn của Barthes lúc đó là truy tìm những cái mặt nạ của hệ tư tưởng dưới hình thức văn chương. Ông duyệt lại tất cả những lối viết bị tha hóa, như diễn ngôn chính trị « chỉ khẳng định một vũ trụ truy lùng, bắt bớ », lối viết trí thức bị xem như một lối viết « bên cạnh văn chương », tức thiếu văn chương tính, còn tiểu thuyết thì biểu đạt cho cái hệ tư tưởng của giới tư sản với tham vọng có tính phổ cập, nhưng rồi bị sụp đổ giữa thế kỷ 19, để nhường chỗ cho một lối viết đa dạng. Nhưng lối viết đa dạng đó không có lối thoát. Nếu người sáng tạo không muốn viết theo một thứ tự đã được đặt ra, không muốn chung tiếng nói với một tổ chức đã có sẵn, thì để cắt đứt, người sáng tạo chỉ còn cách là viết từ sự im lặng, xung quanh sự im lặng. Tạo nên một lối viết trắng (tr. 45). Barthes không đi tìm thời gian đã mất như Proust, mà đi tìm một cái không gian không từ đâu cả của văn chương : Văn chương trở thành cái không tưởng của ngôn ngữ (tr. 65). Từ sự nghiên cứu đó một mỹ học mới được hình thành.

Với cuốn Mythologies (Huyền thoại) ra năm 1957, Barthes vẫn tấn công cái hệ tư tưởng của giới tư sản ; đây là một tác phẩm nhằm triệt để tháo gỡ, giải ngộ những huyền thoại trong xã hội. Dựa vào những trường hợp cụ thể của đời sống hằng ngày, Barthes cho thấy một huyền thoại vào thời đương đại vận hành như thế nào.

Nhưng quan trọng nhất là phần 2 của cuốn Mythologies có tựa đề Le mythe aujourd’hui (Huyền thoại ngày nay). Trong phần này bắt đầu cuộc mạo hiểm về ký hiệu học kéo dài 10 năm, cho phép một sự sắp xếp chặt chẽ những khái niệm mượn từ hai nhà ngôn ngữ học Ferdinand de Saussure và Louis Hjelmslev. Barthes vừa khám phá ngôn ngữ học của Saussure, người được nhìn nhận là đã báo trước thuyết cấu trúc về ngôn ngữ học, vì đối với Saussure, ngôn ngữ là một cấu trúc có tính mạch lạc bên trong. Barthes mượn của Saussure những khái niệm như năng biểu (signifiant) / sở biểu (signifié). Năng biểu là sự biểu lộ vật chất của ký hiệu, là chuỗi âm vị tạo nên cái giàn cho cái nghĩa. Sở biểu là nội dung của ký hiệu. Barthes cũng khám phá Louis Hjelmslev, người tiếp nối công trình của Saussure và đã cho Barthes biết phân biệt cái nghĩa rõ ràng (dénotation) với cái nghĩa mở rộng (connotation), ngôn ngữ đóng kín với siêu ngôn ngữ. Vậy với Le mythe aujourd’hui, Barthes đã rõ ràng ngả về ngôn ngữ học vào năm 1957, một khúc quanh chủ yếu trong việc nghiên cứu của ông. Tuy nhiên ông lại muốn đi xa hơn nữa. Năm 1964, trong tạp chí Communication số 4, Barthes cho đăng bài Les éléments de sémiologie (Những yếu tố của ký hiệu học). Bài này trở thành tuyên ngôn của một ngành khoa học mới : ngành ký hiệu học ; vì Barthes muốn xây dựng một ký hiệu học như một khoa học khác biệt với ngôn ngữ học, bằng cách cho ký hiệu học những lý luận vững chắc.

Phải nói, Barthes là một nhà trí thức nhạy cảm, ông có một thái độ tự do, mềm dẽo khi đến với những lý thuyết đương đại, ông nhanh chóng đoạt lấy những lý thuyết đó và cũng nhanh chóng rời khỏi. Nhà ngôn ngữ học Georges Mounin cho rằng ký hiệu học của Barthes là một ký hiệu học bị lệch đi so với ký hiệu học của Saussure. Saussure đặt ra những quy tắc của một ký hiệu học về sự trao đổi, sự truyền đạt, còn Barthes chỉ đặt ra một ký hiệu học về ý nghĩa.

Về thuyết cấu trúc mà ngay từ đầu Barthes đã viện ra, nó bắt nguồn từ ngành nhân loại học. Năm 1955, nhà nhân loại học Claude Lévi-Strauss cho đăng một bài nói về phân tích cấu trúc truyện kể, mặt khác cũng nhờ công trình nghiên cứu của Lévi-Strauss mà khi áp dụng những cái mẫu của ngôn ngữ học cho cách đọc huyền thoại, người ta mở ra con đường đi đến việc phân tích cấu trúc văn bản. Quả vậy, Lévi Strauss đã dựa vào những công trình của Vladimir Propp để cho thấy rằng huyền thoại của người da đỏ Mỹ được sắp đặt và có cấu trúc như một truyện kể. Sự khám phá này có tính cơ bản, vì nó cho thấy kể từ nay không còn có thể đọc các văn bản mà không trông nhờ vào những ngành khoa học như ngôn ngữ học, phân tâm học, xã hội học, mà cho tới nay các ngành khoa học đó không có trong lĩnh vực văn học. Vấn đề mà thuyết cấu trúc đặt ra định hướng lại vấn đề phê bình. Do đó ngôn ngữ học cấu trúc so sánh truyện kể với một câu văn dài, bằng cách đặt ra cái định đề là sự sắp xếp của truyện và của câu văn tương đồng với nhau. Vậy ngôn ngữ học cấu trúc có nhiệm vụ cắt truyện kể thành những đơn vị tối thiểu, rồi miêu tả toàn thể những cơ chế cho phép nối khớp những đơn vị đó với nhau để cấu trúc một truyện. Trào lưu của ngôn ngữ học cấu trúc với Brémond, Greimas và Barthes dự định lập ra một hệ thống miêu tả những cấu trúc tự sự có khả năng trình bày toàn thể những diễn ngôn. Về sau, Barthes nhìn nhận ngôn ngữ học cấu trúc đã đem lại những điều ích lợi, cho phép mở ra những con đường mới.

Nói chung, trong cái ý muốn làm mới sự tiếp cận văn bản, Barthes đã từ bỏ triết lý của Sartre để trở thành một nhà cấu trúc học, một nhà ngôn ngữ học, một nhà ký hiệu học. Những lập trường, những phương pháp phân tích của Barthes như cái kính vạn hoa với nhiều màu sắc mà màu sắc nào cũng có tính lôi cuốn, hấp dẫn.

Roland Barthes đã đem cái mới, cái độc đáo vào lĩnh vực lý luận văn học như thế, giờ đây chúng ta trở lại cuộc bút chiến do giới đại học khởi hấn.

II Tác phẩm Sur Racine đưa đến cuộc bút chiến

Khi bàn về công trình phê bình văn học của Roland Barthes, cuốn sách được nhắc đến nhiều nhất là cuốn Sur Racine. Racine là một kịch tác gia trứ danh vào thời văn học cổ điển Pháp, thế kỷ 17. Trong cuốn Sur Racine, Barthes miêu tả và diễn giải con người trong thế giới bi đát của Racine và phân tích nghệ thuật dựng kịch của tác giả, qua 10 tác phẩm : La Thébaïde, Alexandre, Andromaque, Britannicus, Bérénice, Mithridate, Iphigénie, Phèdre, Esther, Athalie.

Cuốn Sur Racine có một giá trị biểu tượng, nó đánh dấu một thời phê bình văn học rất hiện đại và đồng thời cắt đứt với dòng phê bình truyền thống. Sur Racine đặt nền móng cho một phương pháp hoàn toàn mới để đọc tác phẩm văn chương, một phương pháp chú trọng đến hình thức và cấu trúc hơn là cái sự thật được giả định của tác phẩm. Sur Racine mở ra một chương trình về thuyết cấu trúc trong văn chương mà Barthes là một tác giả hàng đầu.

Trong bài tựa, Barthes trình bày trường hợp hình thành cuốn sách và sau đó đưa ra những suy nghĩ sâu xa về văn chương. Ông muốn viết một tiểu luận về Racine để đề nghị một chương trình phê bình triệt để mới thay thế một lối phê bình cũ đã chôn vùi Racine trong một thời gian quá lâu, dưới một bề ngoài có tính tư liệu (cuộc đời của Racine, nguồn tài liệu về Racine, những cái mẫu của Racine). Picard nói có một sự thật về Racine. Barthes nói vấn đề không phải là nói sự thật về Racine, mà cho thấy có nhiều cách đọc tác phẩm của Racine.

Một trong những chỉ trích của Barthes đối với phê bình đại học là phê bình này làm cho tác phẩm xưa cũ đi, biến tác phẩm thành một tượng đài bất động. Thế nhưng mọi văn bản vừa ở thời quá khứ, vừa ở thời hiện tại, mọi văn bản là trường cửu. Mọi văn bản sống lâu hơn tác giả của nó, và số mệnh của văn bản là được đọc và diễn giải bởi những độc giả thuộc những thời kỳ khác nhau. Điều này có nghĩa là không có một sự thật về Racine như phê bình đại học khẳng định, mà có nhiều cách đọc, nhiều cách diễn giải Racine với những lập luận chặt chẽ. Barthes cho rằng tác phẩm càng thành tựu hơn nếu nó luôn luôn gây nhiều cách đọc, nhiều tranh luận.

Barthes muốn để nguyên Racine cho các nhà phê bình tự do diễn giải bằng cách làm cho Racine trở thành cái mẫu tối ưu của một nhà văn mãi mãi sẵn sàng nhận lãnh những ý nghĩa mới chứ không bất động, cứng nhắc như trong những ý kiến sáo mòn của lối phê bình cũ. Do đó Racine là một tác giả được giới phê bình đương đại thuộc mọi hệ tư tưởng nghiên cứu : phê bình xã hội học với Lucien Goldmann, phê bình phân tâm học với Charles Mauron, phê bình tiểu sử với Jean Pommier và Raymond Picard, phê bình hiện tượng luận, theo đường lối Bachelard, với Georges Poulet và Jean Starobinski. Vậy có một thời sự về Racine không chỉ do sự quy tụ của một số công trình nghiên cứu, mà nhất là do cái tính mở của tác phẩm Racine, tác phẩm có khả năng mãi mãi ở trong lĩnh vực của bất cứ ngôn ngữ phê bình nào.

1/ Tác phẩm mở

Khi Barthes nhấn mạnh về cái tính mở bất tận của sự diễn giải, ông muốn trả lại cho văn chương cái khả năng ngôn từ của văn chương : điều Barthes bênh vực là một định nghĩa triệt để xuyên lịch sử (transhistorique) của văn bản. Văn bản không bao giờ đóng lại hoặc đóng lại trên một sự thật thuộc về cái thời mà văn bản được in ra ; văn bản gồm nhiều nghĩa mà mỗi thời đại cập nhật hóa theo những quy định của thời đại và theo những sự thật mà thời đại tìm ra trong văn bản. Nếu ngày nay chúng ta còn đọc được tác phẩm của Racine hay của Proust là vì những tác phẩm đó chứa đựng, ngoài cái bối cảnh lịch sử hay ngữ văn học trong đó tác phẩm thành hình và ngoài cái ngôn ngữ mà tác phẩm được viết, tác phẩm chứa đựng một chiều kích tượng trưng mà thời gian không làm vơi được. Tính trường cửu của một tác phẩm không được đo lường theo ý nghĩa duy nhất của nó, mà đo lường theo nhiều ý nghĩa tiềm tàng của nó.

Đối với những ý nghĩa lơ lửng đó, đối với sự tra vấn gián tiếp mà tác phẩm gởi đến hậu thế, Barthes đòi hỏi nhà phê bình một lời đáp hoàn toàn có tính xác nhận, một lời đáp đề nghị một cái nghĩa vững vàng qua sự lựa chọn phương pháp được nhà phê bình đảm nhận. Không phải vì tính kiêu căng, tự phụ, mà trái lại vì sự trong sáng, nó đòi hỏi nhà phê bình không được giấu giếm cái hệ tư tưởng của mình (thuyết mác xít, thuyết hiện sinh, phân tâm học), hệ tư tưởng này đem lại cho nhà phê bình một ngôn ngữ và phương pháp phân tích. Cái « sự thật » mà phê bình cũ thường nói đến, nó không còn được dựa vào sự tiết lộ cái nghĩa ẩn trong văn bản, mà dựa vào giá trị một phương pháp cho phép đưa ra một hệ thống ký hiệu có tính mạch lạc.

Một chương trình phê bình như thế hoàn toàn mới. Đúng vậy, nếu  một số lớn luận chứng của Barthes ngày nay đã đi vào phê bình của đại học, thì những luận chứng đó, vào năm 1963, có vẻ lạc lõng giữa cách phê bình truyền thống. Trong cuốn Sur Racine, Barthes có ý muốn mạnh mẽ làm rung chuyển cái nền tảng của phê bình truyền thống, ý muốn lật đổ những khái niệm chi phối lĩnh vực văn học của thời trước. Barthes muốn « mở » tác phẩm chứ không « đóng », muốn một phương pháp có hiệu lực tức có giá trị chứ không muốn cái « sự thật » của phê bình cũ, muốn « diễn giải » chứ không « phát biểu » cái nghĩa, muốn nêu lên tính « phi thời gian » của nhà văn chứ không là tính « trường cửu », và tính « trách nhiệm » của nhà phê bình chứ không là tính « vô trách nhiệm ». Barthes muốn giải phóng Racine, và xuyên qua Racine, giải phóng toàn thể văn chương. Ông nói : Racine là một đối tượng văn chương, và về đối tượng này cần phải thử nghiệm tất cả những ngôn ngữ mà thế kỷ chúng ta gợi lên.

2/ Một lối phê bình theo cấu trúc

Barthes xem Racine như một cái cớ để lập nên một diễn giải mới, chứ không xem Racine như một sự thật đã có trước khi người phê bình bàn đến. Trong cuốn Sur Racine, ông phân tích cấu trúc kịch của Racine ; không gian, nơi chốn được mã hóa một cách tượng trưng ; các nhân vật không còn là những cá nhân có một tâm lý riêng, mà là những gương mặt có những chức năng có thể được nhận ra ; tình tiết được kết nối xung quanh một cấu trúc căn bản mà Barthes gọi là « quan hệ quyền lực » mà các nhân vật tuần phục hay chống đối. Barthes tìm những yếu tố bất biến, những yếu tố này cuối cùng vẽ lên cái thế giới của Racine : có những hình ảnh có tính ám ảnh như bóng tối, ban ngày, máu, nước mắt, có những hoàn cảnh điển hình như nạn nhân của tình yêu nhớ lại cái cảnh yêu đương, sự cấm đoán lên tiếng cho thấy sự lúng túng của đôi tình nhân, và cách dùng đặc biệt các đại danh từ : ngôi thứ nhất (tôi) có tính tự si, ngôi thứ hai (ngươi, ông…) có tính tấn công, xung đột, ngôi thứ ba số nhiều (họ, chúng nó, « người ta ») thể hiện sự hăm dọa không rõ ràng. Có những phạm trù được Barthes sắp xếp theo ngôn ngữ của phân tâm học.

Vậy Barthes dùng cả thuyết cấu trúc và phân tâm học để diễn giải những kịch bản của Racine, thuyết cấu trúc được áp dụng cho nội dung vì bi kịch được xem như một hệ thống đơn vị và chức năng, phân tâm học được dùng để phân tích hình thức. Về thuyết cấu trúc, Barthes dựa vào cái mẫu nhân loại học cấu trúc của Claude Lévi-Strauss. Nhưng lắm khi nơi Barthes sự đòi hỏi một cái mẫu chỉ là sự vay mượn hệ thống thuật ngữ hơn là tuân theo khoa học. Và sự kiện ghép thuyết cấu trúc với sự phân tích theo kiểu phân tâm học cho thấy ngay cái tính đôi của phương pháp của Barthes.

Nếu ảnh hưởng của Barthes không thuần nhất và khó quy về một cái mẫu duy nhất, thì những ảnh hưởng đó nêu lên ý muốn của Barthes  dùng nhiều ngôn ngữ lý thuyết của thời đại.

III Tác phẩm Critique et vérité tiếp tục cuộc bút chiến

Phe phê bình đại học do giáo sư R. Picard cầm đầu tiếp tục đối đầu với Barthes, nhưng không còn vì cuốn Sur Racine nữa, mà vì Barthes đã lên tiếng nhiều lần để vạch ranh giới giữa hai lối phê bình : một bên là phê bình theo chủ nghĩa thực chứng, gắn bó với lịch sử, kế thừa công trình của Gustave Lanson, và một bên là phê bình cấu trúc phỏng theo ngôn ngữ học do Jakobson đại diện, và phỏng theo Lévi-Strauss hay nhà phân tâm học Jacques Lacan, Barthes đứng về phía phê bình này.

Trong phần 3 của cuốn Sur Racine, Barthes đòi phải phân biệt sử học và văn học. Ông cho rằng việc dạy văn chương lắm khi bị tóm tắt vào một văn học sử trong đó người ta giải thích sự sáng tạo một tác phẩm bằng những sự kiện trong đời sống của tác giả và trong thời đại của tác giả. Định kiến đó làm hỏng vừa lịch sử vừa văn chương. Phê bình truyền thống không có tính lịch sử cũng không có tính văn chương, thành thử không có những khả năng đặc thù.

Nhưng chính trong hai bài có tựa đề : Hai cách phê bìnhPhê bình là gì ? trong cuốn Essais critiques (Tiểu luận phê bình) (1964), Barthes đã phân biệt rõ ràng hai phe : một bên là « phê bình đại học » gắn bó với quá khứ và thế kỷ 19, và một bên là « phê bình diễn giải » có tính hiện đại và đi sâu vào những triết học của thời đại. Kể từ đó Raymond Picard tự cảm thấy bị xuống cấp, ông ý thức tầm quan trọng của cuốn Essais critiques đối với số đông sinh viên.

Nếu Barthes bàn đến các tác giả đương đại như Michel Butor, Alain Robbe–Grillet, Georges Bataille, bằng ngôn ngữ của thuyết cấu trúc thì còn có thể chấp nhận được, chứ động chạm đến Racine là một tháp ngà của đại học (lúc đó đại học chưa nghiên cứu các nhà văn còn sống) thì cuộc tấn công của Barthes có giá trị tượng trưng, và khiến cho đôi bên cứng rắn thêm lập trường của mình. Nếu Barthes vờ không hiểu thái độ dữ dội và muộn màng của Picard (tiểu luận của Picard ra hai năm sau Sur Racine) và tiếc cuộc tranh luận trở nên một cuộc đả kích, thì trái lại ông cảm thấy buồn phiền vì cái danh từ « bịp bợm » đầy tính miệt thị.

Barthes trả lời Picard bằng cách viết cuốn Critique et vérité (Phê bình và sự thật) (1966), trình bày rõ phương pháp của ông và cái chương trình tri thức mà phương pháp đó bao gồm. Barthes nói nếu người ta còn có thể dùng một diễn ngôn về văn chương là bởi vì người ta dám nói về văn chương từ một « nơi khác ». Thế nhưng Barthes nhận thấy cái diễn ngôn đến từ bên ngoài và nhắm cái bên trong riêng biệt của văn chương, cái diễn ngôn đó không được phê bình cũ hoàn toàn đảm nhận : một mặt, phê bình này cầu mong một phương pháp dựa vào sử học bằng cách xem tác phẩm văn chương như một tài liệu mà chỉ việc lập ra nguồn gốc để giải thích theo những yếu tố bên ngoài tác phẩm như tiểu sử tác giả, hoàn cảnh xã hội-lịch sử … ; mặt khác, phê bình cũ gắn bó với một quan niệm vốn sẵn có về văn chương, bằng cách quy sự tiếp cận tác phẩm về những khái niệm chủ quan, hoàn toàn phi lịch sử như : sở thích (sở thích là cái cấm kỵ ngôn từ), tính rõ ràng của văn bản, bút pháp, tính trong sáng. Nói một cách khác, văn chương khi thì phụ thuộc những khoa học xã hội, khi thì phụ thuộc chính nó.

Ngược lại, Barthes khẳng định rằng phê bình văn chương chỉ có thể thực hiện được với một ngôn ngữ hoàn toàn đến từ bên ngoài, từ nơi khác, mà nhà phê bình phải đảm nhận. Nhưng cái « nơi khác » mà từ nay Barthes đòi hỏi là cái nơi của những diễn ngôn phân tâm học, nhân loại học, ngôn ngữ học, v.v… cái nơi khác đó cho phép tìm lại được trong ngôn ngữ riêng biệt của văn chương những giây chuyền ý nghĩa cấu trúc trí tưởng tượng của loài người. Nói tóm lại, đối với Barthes, phê bình của đại học ra khỏi văn chương để không bao giờ hoàn toàn trở lại văn chương, trong khi đó phê bình mới đảm nhận việc ra khỏi văn chương để lập nên mộc cách đọc trong văn chương.

Barthes mời gọi đọc một văn bản theo nhiều cách tượng trưng : Ngay từ lúc người ta quả quyết bàn đến tác phẩm cho riêng nó, theo quan điểm của sự tạo thành nó, thì không thể không đặt ra những đòi hỏi lớn nhất về một cách đọc tượng trưng. Đó là điều mà phê bình mới đã làm (…). Nhà phê bình phân đôi cái nghĩa, nhà phê bình làm phất phới trên cái ngôn ngữ thứ nhất của tác phẩm, một ngôn ngữ thứ hai, nghĩa là một sự mạch lạc của các ký hiệu.  (Critique et vérité, tr. 41, 64)

IV Tác phẩm Essais critiques, một cuộc hành trình mười năm

Cuốn Essais critiques gồm những bài viết trong 10 năm, từ 1953 đến 1963, mà Barthes cho đăng trên những tạp chí nổi tiếng, hoặc  những bài tựa trong các sách để giới thiệu tác giả. Mười năm là cả một cuộc hành trình đi từ phê bình chủ đề đến những phân tích hình thức dựa vào thuyết cấu trúc, xuyên qua sự bênh vực kịch chính trị của Bertolt Brecht, đó là những bài viết nhất quyết có tính tiên phong.

Barthes quan niệm : văn chương chỉ là một ngôn ngữ, nghĩa là một hệ thống ký hiệu : bản chất của văn chương không ở trong thông điệp của nó, mà ở trong cái « hệ thống » đó. Và do đó, người phê bình không phải tạo lại cái thông điệp của tác phẩm, mà chỉ tạo lại cái hệ thống của nó, cũng như nhà ngôn ngữ học không phải tìm hiểu cái nghĩa của một câu văn, nhưng lập ra cái cấu trúc hình thức cho phép cái nghĩa đó được truyền đi. (Essais critiques, tr. 257)

Nếu văn chương là một ngôn ngữ theo đó nhà văn nói với chúng ta về thế giới, thì phê bình là « diễn ngôn về một diễn ngôn », là « siêu ngôn ngữ ». Từ đó Barthes rút ra hai hệ quả :

1/ Hoạt động của phê bình phải có hai thứ quan hệ : quan hệ của ngôn ngữ phê bình với ngôn ngữ của tác giả và quan hệ của ngôn ngữ tác giả với thế giới. Chính sự « cọ xát » giữa hai ngôn ngữ đó định nghĩa môn phê bình.

2/ Nếu phê bình chỉ là một siêu ngôn ngữ, điều này có nghĩa là công việc của phê bình hoàn toàn không là khám phá những « sự thật » mà chỉ khám phá những giá trị… (tr. 255)

Barthes có nhiều ngôn ngữ phê bình đôi khi va chạm nhau, nhưng luôn luôn thuộc về một tính nhất quán mà Barthes gọi là « sự lên cao của ký hiệu học ». Trong cái khoa ký hiệu học đó, ông không quên văn chương là mục đích nghiên cứu của mình, và không quên rằng việc giải thích tác phẩm liên kết với một chương trình rộng lớn hơn, là làm sáng tỏ những sáng tạo có tính tượng trưng. Ký hiệu học cũng cho Barthes một phương pháp mạch lạc để nghiên cứu văn chương như một hệ thống hình thức mà toàn thể những yếu tố có thể được phân tích theo ý nghĩa, điều mà Barthes chú trọng không còn là cái nghĩa của một tác phẩm và nội dung rõ ràng của nó, mà là cái quá trình kết hợp một nghĩa với một hình thức, một sở biểu (signifié) với một năng biểu (signifiant). Cái hướng đi này làm mới ngành phê bình và càng đẩy lùi cái lối chú giải cổ văn của truyền thống.

Nếu cuốn Essais critiques quan trọng đối với cả một thế hệ độc giả, là vì cuốn sách kêu gọi đọc văn chương một cách khác, phải hiểu văn chương không có chuyển tải một sự thật nào ; cuốn sách khuyên đọc văn chương từ « bề mặt » bằng cách suy diễn dần dần ra một cái nghĩa có khả năng là đúng, nhưng cái nghĩa không bao giờ có tính quyết định.

Cuốn Essais critiques nói đến những nhà văn biết làm cho ngôn ngữ trở thành gián tiếp, do những kỹ thuật mà lối phê bình về hình thức sẽ có khả năng nêu lên. Đó là lối viết ám chỉ, bóng gió của Kafka chẳng hạn. Kafka không bao giờ phát biểu thật sự cái nghĩa của mọi chuyện, và để người đọc ở trong sự lờ mờ. Đó cũng là cách viết của Alain Robbe–Grillet, thủ lĩnh của Tiểu Thuyết Mới, làm cho người đọc thất vọng, bằng cách buộc người đọc phải từ bỏ những thói quen đã thừa hưởng từ cách đọc những tiểu thuyết cổ điển. Còn Bertolt Brecht đã tìm ra cách tiết lộ với khoảng cách cái vô thức của nhân vật trong kịch cho ý thức của khán giả, bằng cách không bao giờ « nói ra » cái vô thức đó, nhưng chỉ tỏ bằng cảnh trí sân khấu, bằng áo quần, đồ vật và vị trí đèn chiếu.

Barthes khâm phục khả năng của văn chương không bao giờ áp đặt một cái nghĩa và treo lơ lửng mọi ý muốn khẳng định, dưới hình thức một tra vấn để lại cho thế giới.

Vấn đề là kể từ nay không thử nghiệm cái ngôn ngữ của ký hiệu học cho một tác giả duy nhất như Racine, mà kể từ nay đưa một số lớn nhà văn vào cái khung phân tích của ký hiệu học. Từ tác giả thời thượng cổ như Tacite đến các tác giả tiên phong : Alain Robbe–Grillet, Michel Butor xuyên qua các tác giả thời đương đại : Kafka, Bertolt Brecht, Barthes vẽ lên một sử văn học đứt khúc như một hệ thống có ý nghĩa. Barthes không quan tâm đến một sử văn học về thể loại, trào lưu, tư tưởng, ông chỉ có ý muốn dừng lại ở những điểm mà văn chương tự cho mình là một đối tượng, văn chương trở thành sự tra vấn về hình thức của mình để chứng minh một cách gián tiếp về một tâm thức trong lịch sử bị bứt rứt.

Nhìn lại mười năm phê bình văn học của Barthes, người ta nhận thấy ông gắn bó với trực cảm của ông, xuyên qua một tư duy có mạch lạc. Mặc dù có những khái niệm, những chọn lựa lý thuyết có phần thay đổi, nhưng những hướng đi của Barthes về văn học tương đối không thay đổi.

V Thêm một bước với S/Z

Cuốn S/Z ra năm 1970, là một phê bình, theo thuyết cấu trúc, một truyện ngắn của Balzac tựa đề là Sarrasine. Truyện Sarrasine là một truyện có hình thức đôi gồm : một truyện làm khung và một truyện được lồng vào truyện khung. Đại khái, truyện kể một nhà điêu khắc Pháp trẻ tuổi, tên Sarrasine, sang Ý sống. Một hôm Sarrasine đến hí viện để thưởng thức tài nghệ của một nữ ca sĩ bậc nhất tên Zambinella, một người phụ nữ có giọng hát hay tuyệt. Vẻ đẹp của nàng Zambinella khiến Sarrasine sững sờ. Đối với Sarrasine, nàng còn hơn một phụ nữ, nàng là một tuyệt tác. Sarrazine quá say mê người nữ ca sĩ, chàng thổ lộ tình yêu với Zambinella một cách quá nồng nhiệt khiến Zambinella đâm hoảng sợ và muốn nói sự thật với Sarrasine, nhưng vô hiệu. Một buổi tối, Sarrasine được đại sứ Pháp mời đến nghe Zambinella hát. Vào dịp này Sarrasine được biết cái bí mật ghê gớm : Zambinella không phải là một phụ nữ mà là một nam ca sĩ bị hoạn để giữ được giọng hát cao vút của thời thơ ấu, ngõ hầu có thể hát trong các vai nữ. Nhưng Sarrasine không tin, anh bắt cóc Zambinella và buộc Zambinella nói sự thật. Zambinella thú thật là đã có ý muốn chế nhạo anh. Sarrasine dọa giết Zambinella đã làm anh mất lòng tin và làm sụp đổ thế giới phụ nữ mà anh mơ ước. Nhưng khi Sarrasine vung kiếm để giết Zambinella thì chính Sarrasine bị giết.

Truyện Sarrasine có dáng dấp một truyện trinh thám, đã được nhiều nhà phê bình, kể cả phê bình phân tâm học, diễn giải.

Về phần Roland Barthes, ông trình bày cuốn Sarrasine như một phương pháp đọc truyện cho phép tăng thêm cách phê bình, cách phân tích cấu trúc truyện, cách phân chia sự thông hiểu văn bản. Ông muốn cho thấy một quan niệm về văn chương, về lối viết phân đoạn. Ông phân tích truyện rất tỉ mỉ, đi từng hàng một, cắt văn bản thành 561 đơn vị đọc, và bình luận của ông xen kẽ giữa các đơn vị đó.

Từ phân tích của Barthes có thể nêu lên 5 mã :

1/ Mã chú giải văn bản

2/ Mã ngữ nghĩa học

3/ Mã tượng trưng

4/ Mã hành động

5/ Mã luận ngữ

Đối với Barthes, các mã đó họp thành một thứ hệ thống mà văn bản xuyên qua. Nguyên lý của Barthes là : không tìm cách đặt ra một cấu trúc sâu xa và cuối cùng của văn bản, cũng không tăng thêm hệ biến hóa của mỗi mã ; nhắm nhiều cấu trúc thoáng qua ; chọn sự cấu trúc hóa hơn là cấu trúc ; tìm trò chơi của các mã chứ không tìm bố cục của tác phẩm. (S/Z tr. 266)

Độc giả của cuốn S/Z đứng trước 3 cách đọc : một cách đọc theo tuyến tính, tiến dần theo thời gian trong truyện, một cách đọc có hình lưới, cách đọc này tập hợp 5 cái mã phân tích ; và cách đọc toàn cảnh gồm tất cả những bình luận của tác giả.

S/Z là cách phân tích chi li truyện Sarrasine của Balzac, nói lên khả năng của Barthes trừu tượng hóa, mã hóa nội dung một văn bản. S/Z được xem như « một cục bướu kinh dị » trong tác phẩm phê bình của Barthes, khó cho độc giả tiếp nhận. Lối phân tích này dù rất uyên bác, không giúp độc giả thưởng thức được truyện, trái lại làm sao lãng sự chú ý của độc giả về truyện ngắn của Balzac, và làm cho bình luận của Barthes được chú ý nhiều hơn. Nói như nhà nghiên cứu văn học Eric Bordas : Cuốn sách của Barthes, S/Z, phân tích cấu trúc truyện Sarrasine, lắm khi gây nên nhiều bình luận về chính Barthes và « phê bình mới » hơn là về Balzac.

Cho đến cuốn S/Z, Barthes là một nhà phê bình, một nhà ngôn ngữ học và nhà cấu trúc học. Tuy nhiên không thể đóng khung Barthes trong những tác phẩm phê bình của ông, vì ông là một nhà trí thức luôn luôn đi tìm cái mới và không ngừng tiến hóa, ông rời thế giới phê bình để hướng về thế giới viết văn.

Nhưng chúng ta dừng lại ở thế giới phê bình, vì đề tài chúng ta theo dõi ở đây là Phê bình mới. Cuộc hành trình của Roland Barthes cho thấy ông đã mở nhiều con đường cho môn phê bình. Ngày nay biết bao nhiêu người đọc văn chương, thưởng thức văn chương và bình luận văn chương đã chịu ảnh hưởng của ông.

Để kết thúc, có thể mượn lời nhận xét của nhà phê bình Ý C. Segre, năm 1969 : Roland Barthes đã tự tạo cho mình một không gian trong đó ông đi lại như một nhà quý phái với vẻ thanh lịch, tính sáng tạo và tinh tế là những đặc tính của ông.

 

Liễu Trương

 

  • (1) Cuốn Le degré zéro de l’écriture mở đầu một loạt tác phẩm của Roland Barthes viết từ năm 1953 đến cuối đời, năm 1980. Trong khuôn khổ bài này, tôi chỉ bàn đến những tác phẩm được xem như những dấu mốc trong quan niệm của Barthes về văn bản đưa đến một phê bình mới.

 

Tài liệu tham khảo :

Roland Barthes, Sur Racine, Editions du Seuil, 1963.

Roland Barthes, Critique et vérité, Editions du Seuil, 1966.

Roland Barthes, Essais critiques, Editions du Seuil, 1964.

Roland Barthes, S/Z, Editions du Seuil, 1970.

Pierre Brunel, La critique littéraire, PUF, 2001, Que sais-je ?

Mathieu Messager, Roland Barthes, PUF, 2019, Que sais-je ?

Franck Evrard, Eric Tenet, Roland Barthes, Editions Bertrand Lacoste, 1994.

François Dosse, Histoire du structuralisme, Tome I, Tome II, Editions de la Découverte, 1992.