PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA BÁO CHÍ TÂY PHƯƠNG

 

Cũng như khối tin tức vô cùng đồ sộ và phức tạp ngày nay trên mạng, các đài phát thanh, đài truyền hình và báo chí giấy thuộc guồng máy truyền thông đại chúng. Riêng báo chí phản ánh đời sống xã hội về mọi khía cạnh, đặc biệt là khía cạnh văn hóa. Và một trong những văn hóa phẩm mà báo chí quan tâm đến là sách.

Thông thường khi một cuốn sách ra mắt độc giả, bất cứ là của tác giả nào – miễn đừng dở lắm – người đã có tên tuổi hàng đầu, người được biết do một vài cuốn sách đã ra trước, hay người vừa mới cầm bút nhưng đã có nhiều hứa hẹn, thì báo chí đều có bài giới thiệu, phê bình. Tùy trường hợp, nhà báo có thể khen ngợi hoặc chê bai hoặc dè dặt, chưa tỏ lập trường rõ ràng. Về phía nhà văn thì hồi hộp chờ đợi, sợ bị chỉ trích, càng sợ hơn nữa là người ta không nói đến mình.

Phê bình văn học của báo chí ở Tây phương đã có từ lâu, và tiếng nói của nhà báo rất có trọng lượng. Những nhà báo phụ trách trang văn học là những người có kiến thức rộng, có khả năng phê phán. Trường hợp của nhà thơ Baudelaire rất đặc biệt ; trước khi là một nhà thơ nổi tiếng với tập thơ Les Fleurs du mal, như mọi người từng biết, Baudelaire đã hoạt động trong lĩnh vực báo chí và dịch thuật. Ngoài những bài phê bình nghệ thuật mang tựa đề Salons (Phòng triển lãm) viết từ năm 1845 đến 1846, Baudelaire đã cộng tác với các báo : Le Corsaire-Satan, L’Esprit public, L’Artiste, La Liberté de penser, La Revue de Paris, v.v… để viết về phê bình văn học ; ông cũng viết về cuộc đời và tác phẩm của Edgar Allan Poe, nhà văn, nhà thơ Mỹ mà ông là dịch giả. Chính những bài báo phê bình mới giúp Baudelaire sống qua ngày, trong khi Les Fleurs du mal về sau chẳng đem lại lợi tức gì cho tác giả.

I Phê bình văn học của báo chí : một phê bình về thời sự

Phê bình văn học của báo chí là một phê bình về thời hiện tại, về thời sự của ngày hôm nay hay đúng hơn của tuần lễ, vì những trang phê bình văn học chỉ ra mắt độc giả mỗi tuần một lần, đó là trường hợp các nhật báo The Times ở Anh, Le Figaro, Le Monde ở Pháp chẳng hạn.

Thời sự là gì ?

Để một biến cố ở xa được cảm thấy như một tin thời sự, biến cố đó phải được tiếp nhận như rất gần do một phổ biến nhanh chóng trên thế giới, chẳng hạn việc cấp giải Nobel.

Thời sự thường khi được quy về cái cụ thể liên quan đến chúng ta, đến đời sống hằng ngày của chúng ta. Ví dụ một bài báo giới thiệu một cuốn sách của một y sĩ nói về cách giảm cân, cách giới thiệu khiến người ta có cảm tưởng cuốn sách sẽ là một best-seller. Hoặc một bài báo nói về một tác phẩm văn học mà người viết bài đoán là sẽ được một giải thưởng đáng kể.

Sau cùng, dù chúng ta có ở đâu chúng ta cũng cảm thấy rằng thời sự nói chung bị thời sự chính trị chi phối. Và phương diện chính trị có thể thắng thế ngay cả trong một bài phê bình văn học. Ví dụ nhà báo Mongo Béti có một bài viết trong tạp chí Présence Africaine (Hiện diện của Phi Châu) về cuốn L’Enfant noir (Đứa bé da đen) của Camara Laye, trong một quan điểm chính trị. Ông nhà báo nhận xét rằng tác giả của cuốn L’Enfant noir không đạt đến đích khi ông tránh miêu tả theo quan điểm của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa hoàn cảnh của xứ ông trong thời thuộc địa.

Người ta thường quan niệm phê bình văn học trong báo chí mang dấu ấn của những biến cố, những lo âu về chính trị. Và người ta mong phê bình đó, cũng như văn chương, không rơi vào chính trị một cách dễ dàng và mong phê bình báo chí được nâng lên đến trình độ cao của thời sự.

II Phê bình văn học của báo chí : một phê bình của tính khí

Ngoài lĩnh vực báo chí, phê bình văn học thường bàn về những tác phẩm đã được thừa nhận, vậy thời gian phê phán đã qua đi, nhà phê bình tôn trọng tác phẩm mình đang nghiên cứu. Trái lại phê bình của báo chí lắm khi là một phê bình của tính khí : người phê bình tỏ bày một phản ứng ngay lập tức về sự hứng thú hay ghê tởm của mình. Phê bình báo chí tự cho mình cái chức năng đầu tiên là phê phán để điều khiển sự chọn lựa của độc giả.

Đáng thích hơn là loại phê bình có cảm tình mà nhà phê bình Georges Poulet gọi là « phê bình đồng nhất hóa », nhưng là một sự đồng nhất hóa để có cái nhìn sâu sắc hơn. Giá trị của người phê bình trước tiên là hiểu, và chức năng thiết yếu của người phê bình là làm cho độc giả hiểu.

Ở Pháp, vào thế kỷ 18, nhà triết học Voltaire trong cuốn Dictionnaire philosophique (Tự điển triết học), khi nói về người phê bình, ông đưa ra định nghĩa như sau : Một người phê bình xuất sắc là một nhà nghệ sĩ rất uyên bác và có nhiều khiếu thưởng thức, không thành kiến và không đố kỵ. Một người như thế khó tìm ra.

Có một trường hợp lạ lùng trong lịch sử của phê bình văn học, đó là trường hợp của nhà phê bình Sainte-Beuve (1804-1869). Trong cuốn Contre Sainte-Beuve (Chống lại Sainte-Beuve), nhà văn Marcel Proust chỉ trích Sainte-Beuve đã đưa ra những phê phán sơ lược. Điều này không hoàn toàn đúng. Chính Sainte-Beuve đã nói ông muốn diễn tả nhiều hơn là phê phán. Nghệ thuật của Sainte-Beuve chủ yếu là nghệ thuật của chân dung văn học, chân dung được diễn tả từ tác phẩm, bằng cách tỏ ra có cảm tình với tác giả qua tác phẩm. Thường thì Sainte-Beuve tỏ ra dè dặt, chừng mực khi ông phê bình những nhà văn cùng thời. Nhưng có lần ông đổi thái độ và chuyển qua phê bình tính khí ; đó là lần ông phê bình gắt gao nhà văn Chateaubriand (1768-1848) nổi tiếng về hồi ký. Trong cuốn Chateaubriand et son groupe littéraire (Chateaubriand và cái nhóm văn học của ông), Sainte-Beuve viết : Cái tính kiêu căng của nhà văn, những sự bực mình của kẻ có tham vọng, những ngạc nhiên gần như của kẻ mới nổi tiếng, tất cả những sự hèn mọn trên trái đất này ; rồi thình lình một óc tưởng tượng lạ lùng, u buồn và rực rỡ vươn lên và giăng ra trong quạnh hiu của bầu trời như con kên kên.

III Phê bình văn học của báo chí : một khởi đầu của phê bình

Đối với các nhà phê bình chuyên môn, thì phê bình là ngôn ngữ nói về ngôn ngữ. Học giả Roland Barthes gọi là « siêu ngôn ngữ » ; trong cuốn Critique et Vérité (Phê bình và Sự thật) (1964) của ông, ông viết : Nhà phê bình tách đôi những cái nghĩa, ông ta làm phất phơ trên cái ngôn ngữ đầu tiên của tác phẩm, một ngôn ngữ thứ hai, nghĩa là một sự liên kết những ký hiệu.

Trái lại nhà báo tránh sự tìm tòi đó mà họ cho là vô ích, nhà báo diễn đạt một cách trực tiếp, điều này không có nghĩa là lối viết của nhà báo không có giá trị tu từ, tu từ của họ là tu từ của hiệu lực.

Điều chắc chắn là một bài báo phê bình văn học được viết trong mục đích để được đọc nhanh, điều này đòi hỏi một số cách thức chuyên biệt của báo chí, chẳng hạn chọn một tựa đề gây tò mò, phần dẫn nhập phải gây ấn tượng mạnh. Nói chung bài phải có tính hấp dẫn, lôi cuốn của báo chí.

Bertrand Poirot-Delpech, nhà văn và cũng là nhà báo đã từng viết : Khi nói về thời sự nóng hổi, cách bàn luận của báo chí có giá trị cao hơn phương pháp (phê bình) của đại học, bởi vì báo chí chấp nhận cái tính diễn ngôn của sự bàn luận, không có tính khoa học, có tính chóng qua và không tìm cách đe dọa.

Sự thật, phê bình văn học của báo chí thường khi có tính đe dọa, gây lo âu cho tác giả, do cái khả năng phê bình và sự vội vàng muốn giải quyết tất cả.

Phê bình văn học của báo chí ngày nay cởi mở hơn, tự nhiên hơn, trực tiếp hơn trong lối diễn đạt. Đây là một hình thức phê bình cần thiết vì chỉ có báo chí mới đem lại cho mọi người những thông tin đầy đủ ; phê bình báo chí có khả năng chọn lọc tác phẩm ở giai đoạn đầu, và nhờ trực giác có thể dẫn đường người đọc, thúc đẩy việc đọc. Những gì phê bình báo chí nói có vẻ thái quá thì về sau sẽ có nhiều bài viết khác cùng một chủ đề điều chỉnh.