TRUYỆN “LÃO KHỔ” CỦA TẠ DUY ANH : CÁ THỂ HAY TẬP THỂ CHO MỘT TRIẾT LÝ SỐNG ?

 

Văn học Việt Nam vào thời hậu chiến đã dần dần khởi sắc. Đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, các nhà văn thuộc thế hệ trẻ hoàn toàn thoát khỏi sự trói buộc của một hệ tư tưởng nặng nề mà các nhà văn đàn anh trước kia đã phải gánh chịu. Khi tiếp xúc với văn học thế giới, tư duy và nghệ thuật của các nhà văn trẻ càng  phong phú, đa dạng thêm. Mỗi tác giả tìm cho mình một hướng đi, một cách làm mới sự sáng tạo. Làm mới không có nghĩa bứt gốc để đi xa. Nhà văn hóa Nguyễn Đăng Thục đã từng tuyên bố : Chúng ta chỉ có thể hoàn toàn là chúng ta khi thể hiện được nguồn gốc của chính mình. Do đó nếu sáng tạo văn chương khởi đầu từ nguồn gốc của mình để đi đến thế giới thì cuộc hành trình của cái tôi xác thực hơn.

Tạ Duy Anh trong truyện Lão Khổ không đi đâu xa, vẫn ở nơi cội nguồn để làm tái sinh một miền quê. Ông không làm mới hình thức, nhưng có thể nói về tư duy ông đã đưa người đọc vào những trăn trở về con người đối diện với thân phận của mình, với thế giới siêu hình, một vấn đề của nhân loại nói chung. Tác giả cho biết ông bắt đầu viết truyện này năm 1984, năm ông 25 tuổi, truyện bị bỏ dở, được viết lại và ra mắt độc giả năm 1992, rồi bị cấm tái bản trong 10 năm. Tác phẩm Lão Khổ mà chúng ta bàn đến ở đây được tái bản năm 2014. Đây là một tự sự có nhiều lắp ghép, thực và ảo, quá khứ và hiện tại xen kẽ nhau. Tiểu thuyết Lão Khổ vẽ lên một bức tranh xã hội với con người lăn lóc, vật vã trong cơn lốc của lịch sử. Con người với bao thiện chí, bao lòng thành đã lao vào một cuộc chiến đấu, nhưng rồi cảm thấy có cái gì bất ổn, có cái gì lung lay và tự tra vấn mình.

Tạ Duy Anh thường viết về cái ác của con người, nhưng có nên dừng lại ở cái ác do tác giả miêu tả không ? Trong truyện Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, xuất bản năm 2002, có biết bao chuyện đẫm máu : giết người, tự tử, nhưng đằng sau sự tàn bạo là nỗi khắc khoải, ray rứt của con người về lai lịch, về sự hiện hữu của mình trên đời. Tôi là ai ? Tôi có phải là tôi không ? Trong truyện Lão Khổ cũng có những cảnh đấu tố, trả thù, chém giết ghê rợn, và khi nhìn xa hơn cũng có nỗi khắc khoải về cái tôi hiện sinh. Hai Duy, con của lão Khổ, cũng bị ray rứt ngay từ thời thơ ấu bởi những câu hỏi : vì sao mình có trên đời này và khi chết người ta thành cái gì ? Nhưng phải nói cái tôi trong Lão Khổ sâu đậm nhất là cái tôi xã hội. Tôi phải sống như thế nào trong xã hội ?

Truyện Lão Khổ

Ở một miền thôn quê Bắc Việt có hai làng : làng Đồng và làng Vực. Ở làng Đồng có một người nông dân được gọi là lão Khổ. Lão Khổ sống trong cảnh nghèo khốn từ thuở nhỏ, nhưng cũng được ông nội dạy dỗ. Năm 16 tuổi, Khổ đi chăn trâu, rồi lùa vịt trên sông và, sau khi hai đứa em chết vì đói, Khổ làm thợ cày. Tất cả những công việc liên tiếp đó, Khổ làm cho một ông chủ duy nhất : cụ chánh tổng. Về sau lão Khổ vào đội du kích, bí mật liên lạc với công an nội thành, lão đã từng giết một tên lính Ma rốc của đoàn quân viễn chinh Pháp. Khi còn làm việc cho  chánh tổng, lão Khổ đã đưa một nhân vật được gọi là ông Sáu và một nhóm người lén lút vào dinh cơ chánh tổng để đấu tố chủ nhà và đốt cháy khu nhà lá. Trong thời gian lão Khổ ở trong đội du kích, người chỉ huy lão là Vũ Xuân, một người bạn chiến đấu hết mình, mà lão thương mến. Nhưng do một lệnh trên mà lão không thể thấu hiểu, Vũ Xuân bị bắt và bị xử tử, biến cố này làm lão Khổ kinh khiếp, bị chao đảo và thương tiếc bạn. Nhưng rồi lão vẫn giữ vững niềm tin rằng lão tranh đấu cho nhân dân. Có một thời lão Khổ hoạt động tích cực cho đồng bào và lên đến đỉnh cao của quyền lực.

Rồi bỗng nhiên một đội cải cách về làng bắt lão, kết tội lão là Việt gian, theo chân đế quốc, đem lão ra đấu tố. Vườn đất của lão bị tịch thu, lão phải kiện cáo trong bảy năm mới lấy lại được của cải. Cuối cùng lão rút về sống ẩn dật trong vườn đất của mình.

Trong đời lão Khổ, ngoài những chuyện lớn lao làm cho dân làng, lão còn một mối lo âu, căm giận đứa con tên Hai Duy. Lão có sáu người con, chỉ có Hai Duy không giống các anh chị em nó. Nó gầy yếu, đen đủi. Lão Khổ càng bám vào thực tế, càng căm ghét những thứ hảo huyền chừng nào thì Hai Duy càng thích mơ mộng chừng đó, nó thích tưởng tượng một thế giới thần tiên như trong các truyện cổ tích. Hai Duy đâm ra kinh sợ bố và lớn lên nó âm thầm thù ghét bố, chống đối bố. Lão Khổ thì muốn uốn nắn đứa con theo kiểu sắt thép, ông tức giận bèn đốt tất cả những hình vẽ, nhật ký của Hai Duy ; người con trai từ đấy tỏ ra lầm lì, mặc cảm. Khi lớn lên, Hai Duy không còn nhìn mọi người theo quan điểm của bố nữa. Bố đã đấu tố lão Tự trước kia là một lý trưởng bị liệt vào hạng hào lý. Lão Tự sạt nghiệp, rơi vào cảnh nghèo đói, đến ôm chân lão Khổ van lạy, xin tha cho con cái của lão đang đói rách. Nhưng lão Khổ tỏ ra cứng rắn một cách tàn nhẫn, vì cho đó là kẻ thù của nhân dân. Lão Khổ trả lời : Không đời nào tôi quên được mối thù với ông. Phải để con cái ông nó thấu tội ác của bố nó. (…) Chúng tôi để ông sống là phúc lắm đó. Hai Duy chứng kiến cái cảnh đó và bắt đầu có một thái độ nhân hậu hơn đối với cha con lão Tự. Lại nữa Hai Duy có một thứ cảm tình đặc biệt đối với Giang Tâm, đứa con gái của lão Tự. Hai Duy bỏ nhà ra đi, để lại một bức thư cho bố. Lão Khổ lấy làm nhục nhã và căm tức.

Về phía làng Vực, có một nhân vật tiêu biểu cho đám hào lý, đó là chánh tổng, chủ của lão Khổ thời lão còn trẻ và nghèo khổ. Cụ chánh tổng là một người đàn ông khoảng 50 tuồi, có một bề ngoài trưởng giả, cụ đội khăn lượt, mặc áo the, chống gậy trổ đầu rồng bịt bạc. Cận vệ của cụ là Tư Vọc, một người cháu và là người duy nhất cụ tin cậy, ngoài ra cụ còn có một bầy chó dữ để bảo đảm an toàn cho cụ. Cơ ngơi của cụ gồm một ngôi « nhà Tây » đồ sộ, mênh mông, bí hiểm, có nhiều ngõ ngách không dễ cho người lạ lẻn vào, và một khu nhà lá. Cụ chánh tổng càng già yếu chừng nào thì bà vợ thứ ba càng tươi trẻ, nõn nà chừng đó. Cụ lo âu cho tình hình bấp bênh với sự hiện diện của Việt Minh nổi dậy chống Pháp, năm 1942, cụ cho đứa cháu Tư Vọc đi học trường sĩ quan và mong Tây lập một bốt trong vùng để được che chở. Sở dĩ cụ nhận thuê thằng Khổ giữ trâu, rồi lùa vịt, rồi cày bừa là vì cụ không muốn gây sự với ông nội nó là lão Thủ, một nhà thâm nho được dân trong vùng kính nể. Khi thấy thằng bé Khổ lần đầu, cụ chánh bị đôi mắt nó gây ấn tượng : Rõ là cặp mắt con phượng non chẳng qua gặp buổi tao loạn dập vùi đành phải giấu dưới cái bề ngoài hèn mọn. Trong cặp mắt ấy cụ như thấy có một ngọn lửa đến lúc nào đó đốt cháy cả cơ đồ của cụ. Sau ngày bị lão Khổ và ông Sáu đem một nhóm người vào tàn phá cơ ngơi, cụ chánh tổng khôn khéo lo xa, thu xếp mọi việc và đem cả gia đình đến vùng công giáo để đi vào Nam. Trước khi đi, cụ giao phó cơ ngơi cho Năm Cận, em của Tư Vọc.

Về phần Tư Vọc, sau khi tốt nghiệp sĩ quan, trở về tiếp tục phụng sự cụ chánh tổng. Tư Vọc lén lút tằng tịu với bà Ba, có người tôi tớ bắt gặp cảnh dâm ô, Tư Vọc sợ bị lộ tẩy liền giết người này. Tư Vọc vào Nam, mấy chục năm sau trở về nói giọng Nam và có cả một túi vàng. Người em Năm Cận mừng rỡ, lo trùng tu nhà thờ tổ, giữ việc hương khói và mời bà con dòng họ đến để ăn mừng. Rủi cho Tư Vọc trong một cơn ác mộng anh ta đã đâm chết người em Năm Cận vì tưởng đó là lão Khổ.

Một người dân quê trong cơn lốc của lịch sử

Trọng tâm của truyện là nhân vật lão Khổ, xoay quanh nhân vật này có ít nhất 16 nhân vật có tên hẳn hòi, xa hơn có nhóm này nhóm nọ và dân chúng trong làng. Cả một xã hội được dựng lên trong đó có hai giai cấp giàu và nghèo. Ở làng Vực chánh tổng đứng đầu giai cấp hào lý, giai cấp người giàu chuyên bóc lột sức lao động của người nghèo và dựa vào uy quyền của người Pháp. Phía giai cấp nghèo ở làng Đồng có lão Khổ một mực chống lại những người lão gọi là « bọn hào lý » mà lão thù ghét. Có hai kẻ thù không đội trời chung là lão Khổ ở làng Đồng và Tư Vọc ở làng Vực, cả hai khi nhỏ đều được ông nội của lão Khổ dạy dỗ. Về sau Tư Vọc thấy lão Khổ vì quá nghèo phải đến làm thuê cho chánh tổng thì lấy làm vui mừng vì sẽ được dịp sai khiến, chà đạp lão Khổ.

Truyện xảy ra trong một thời lịch sử có nhiều biến động. Có thể nói thời gian trong truyện trải dài từ năm 1942, khi Việt Minh nổi lên đánh Pháp, đến thời đất nước phân chia, có những người rời khỏi làng quê để vào Nam, trong khi ở miền Bắc có chính sách cải cách ruộng đất và những cuộc đấu tố, rồi đến thời hậu chiến.

Lão Khổ đã sống qua những giai đoạn lịch sử đó như thế nào ? Là một nông dân đã từng sống trong cảnh nghèo khốn, bần cùng, lão muốn xã thân hy sinh cho những người cùng cảnh ngộ, vì lão được giáo dục về tinh thần hy sinh, lão nghĩ rằng lão có sứ mệnh lớn lao phải hy sinh trước mọi người. Lão gia nhập đội du kích để chống Pháp, lão dẫn đầu một nhóm người để xâm nhập vào dinh cơ của chánh tổng để tố khổ nhân vật này, người đã từng khai thác sức lao động của lão, và người đã bị đôi mắt lửa của lão khi còn nhỏ gây ấn tượng. Những đặc điểm của lão Khổ là tính ngay thẳng, không biết nói dối, một tấm lòng hy sinh có thể nói là bất tận và niềm tin rằng những gì mình làm cho tập thể đều đúng, dẫu cho cá nhân có bị mất mát điều gì đi nữa ; do đó lão không biết sợ là gì. Lập trường của lão Khổ cũng do ảnh hưởng phần nào của Vũ Xuân, người bạn và là người đã chỉ huy lão. Vũ Xuân đã từng nói : Tôi nguyện hy sinh đời tôi cho những kẻ đang rên xiết khổ đau.  Lão Khổ giàu lòng thương người, như khi thấy một người ăn mày gần chết vì đói khát, lão bèn đem đến cho người này một bát trà sâm, hành động này khiến lão bị đánh dập và bị đuổi khỏi nhà của chủ.

Nói chung, lão Khổ có làm điều gì ác không ? Lão đã giết một tên lính Ma rốc chăng ? Theo lão, đó là vì « đồng bào ». Lão đã đấu tố lão Tự chăng, một lý trưởng có nhà đất nay biến thành một kẻ ăn mày, con cái đói rách. Cũng theo lão, đó là một tên hào lý, kẻ thù của dân. Khi tiếp quản xã Hoàng, lão thẳng tay thi hành lệnh trên : lão tống giam tất cả những kẻ chống đối, xóa sổ các quan lại và bắt họ đi cuốc đất, bắt kẻ tu hành hoàn tục ; tất cả vì ích lợi chung. Bà Khổ thấy chồng mình vĩ đại nhưng nó có cái gì tàn bạo. Từ trên đỉnh cao của quyền lực, Lão Khổ luôn luôn hô hào : Cải cách ruộng đất là cuộc đại thắng lợi của lịch sử đấu tranh cách mạng. Và lão tin chắc những gì lão đã làm là vì đồng bào.

Và rồi xảy ra những điều mà lão Khổ không thể hiểu được : Vũ Xuân, người bạn đã hăng hái chiến đấu với lão, bỗng bị bắt và bị đem ra xử tử ; trong khi lão tận tình phụng sự dân chúng thì một đội cải cách về làng kết tội lão là Việt gian, theo đế quốc, lão bị đấu tố và thấy rõ bộ mặt phản bội của những người thân. Từ đỉnh cao của quyền lực lão Khổ bỗng rơi xuống nấc thang cuối cùng với bao nhục nhã, ê chề. Lại có một nhân vật cho lão thấy rõ sự thất bại của con người lão. Đó là ông Bông, một người biết chữ nghĩa và đã từng tỏ ra khinh bỉ lão Khổ. Lão tức giận, báo cho cấp huyện biết ông Bông cầm đầu quân phiến loạn. Thế là lão Khổ được dịp bắt bỏ tù ông Bông. Ra khỏi tù, ông Bông bán nhà đất, rời bỏ làng quê và thề một ngày kia sẽ trả thù lão Khổ. Vài chục năm sau ông Bông trở về, lão Khổ tưởng kẻ thù sắp hại mình, và lão kinh ngạc khi thấy ông Bông đầy lòng cao thượng, quên hết quá khứ. Lão Khổ tự cảm thấy xấu hổ và thất bại một cách đau đớn. Có nhìều điều vượt quá sự hiểu biết của lão. Cũng như tình yêu của đứa con của lão với con bé Giang Tâm, hai đứa khác giai cấp, khác hoàn cảnh sống và cách xa nhau qua không gian và thời gian, thế mà chúng yêu nhau. Chỉ có những giọt nước mắt của đứa con gái mới đánh thức cái gì thật thiêng liêng trong lão.

Đã nhiều lần, lão ngồi cứng như tượng đá, để ngẫm về thế sự, về số kiếp. Tại sao tất cả những gì lão muốn làm nên điều tốt đẹp đều đem lại cho lão toàn là tai vạ ? Lão tin vào tập thể, bám vào tập thể để sống nhưng chỉ gặp toàn là đớn đau, nhục nhã. Lão cần có niềm tin để sống, nhưng niềm tin của lão bị lung lay. Hai mươi năm sau lão vẫn thấy sự đau khổ của thân phận con người. Lão kêu lên : Số phận là cái cóc gì ? Cuối đời, lão tự cảm thấy cô đơn, tự hỏi ý nghĩa cuộc sống là gì ? Vì không tìm ra ý nghĩa nên cuộc đời lão long đong. Tranh giành để làm gì ? Lão là gì trước vũ trụ ? Không là gì cả.

Nếu lão Khổ đừng căm giận đứa con, đừng gạt bỏ những tư duy mà nó trình bày trong thư, biết đâu lão sẽ có một cái nhìn khác đi về cuộc đời ?

Nền tảng của một triết lý sống 

Lão Khổ và người con Hai Duy tâm tính xung khắc nhau. Người cha càng hăng hái tranh đấu cho cộng đồng thì người con càng thu mình, sống cô lập để mơ mộng. Người cha bám vào thực tế để hoạt động, người con sống trong mộng tưởng và không ngớt suy nghĩ ; nhìn từ bên ngoài thì một bên năng động, một bên thụ động. Người cha căm giận vì đứa con không giống mình, đứa con thì thù ghét cha. Trong một cơn phẫn nộ, lão Khổ đã đốt hết những hình vẽ, những trang nhật ký của đứa con, như thể lão muốn tàn phá, bôi xóa những cái gì không phù hợp với lão. Hành động này vừa tàn bạo vừa nói lên thái độ không khoan dung của lão, một thái độ độc tài. Đứa con thay vì phục tùng cha thì đã nổi loạn và bỏ nhà ra đi. Hai bên đều cứng rắn, không nhân nhượng. Sự ra đi của đứa con là một nhục nhã ê chề đối với lão Khổ, đứa con đã tỏ ra chống lại lão trước mặt dân làng.

Như đã nói trên, từ thời thơ ấu Hai Duy đã băn khoăn về hai vấn đề lớn lao : tại sao mình hiện hữu trên đời ? Con người chết rồi sẽ ra sao ? Đó cũng là những vấn đề chủ yếu làm các nhà triết học xưa nay đã bao phen trăn trở.

Trong thư Hai Duy gửi cho bố, anh nói những sự thật mà bố không ngờ được. Người con ví làng Đồng như một ngục tù mà bố vừa là cai ngục vừa là tù nhân. Người con cảm thấy ngột ngạt trong cái « vương quốc » đó, nơi mà mọi người ăn nói như nhau, phản ứng như nhau, nơi mọi người đều vô cảm, cúi đầu phục tùng quyền lực. Người con muốn sống trong một thế giới khác, một thế giới có tự do, chân lý, và từ chối cái tương lai mà người cha hứa với cộng đồng. Hai Duy buộc cha phải tự xét mình, phải chọn lựa một trong hai động lực của con người : tình yêu hay thù hận. Sức mạnh của người cha là quyền lực, sức mạnh của người con là tình yêu, là sự khao khát tự do, chân lý. Người cha sống cho cộng đồng, cho tập thể, người con sống cho riêng mình, cho cá thể. Thế giới tập thể của người cha làm liên tưởng đến tác phẩm 1984 của George Orwell, liên tưởng đến những chế độ cực quyền, trong đó con người biến thành cái máy, chỉ biết tuân lệnh trên, không còn đời sống tình cảm, không còn biết tư duy. Lão Khổ đã mù quáng thi hành lệnh trên, không còn thì giờ và khả năng suy nghĩ nữa. Và lão nhìn nhận lão đã thất bại. Trong thế giới cá thể của người con, trái lại con người có óc phê phán, có đời sống tình cảm, có tự do lựa chọn.

Sau một thời gian dài vắng mặt, Hai Duy trở về quê tìm lại người yêu và gặp lại người cha. Người đọc có thể tưởng tượng hai bố con có đủ sáng suốt, nghị lực và tình thương để dung hòa hai cách nhìn, hai nhân sinh quan chống đối nhau.

Tác giả Tạ Duy Anh, trong bài tựa gọi là : Lời viết riêng cho độc giả của Nhã Nam, cho biết đã chọn người cha làm mẫu cho nhân vật lão Khổ và sau này bạn bè cũng đồng hóa tác giả với cái tên Khổ. Thông thường tiểu thuyết hoặc truyện ngắn đi từ những sự kiện, những biến cố có thật, rồi được hư cấu thêm, được mỹ hóa để thành một tác phẩm nghệ thuật, điều này là một hiện tượng thường xuyên trong những sáng tác nghệ thuật. Tiểu thuyết Lão Khổ trước tiên được xây dựng từ một nhân vật có thật, và sau nữa nó phảng phất tính tự truyện nếu đứng về phương diện nhân vật người con. Vậy chúng ta có thể nghĩ rằng đây là một tác phẩm tâm huyết của Tạ Duy Anh. Qua sự chống đối giữa hai cha con, hai thế hệ, tác giả có ý muốn đưa ra một vấn đề có tính hệ tư tưởng chăng ? Chọn lựa cái lợi cho cá thể hay cái lợi cho tập thể để làm nền tảng cho một triết lý sống, cho một xã hội ? Vì con người cần có một triết lý, dù lắm khi là vô thức, để hướng dẫn đời sống của mình. Lịch sử, văn hóa của loài người cho thấy cần dung hòa hai quan điểm của hai cha con trên đây để tránh những nguy cơ cực đoan và để đi đến một xã hội nếu không lý tưởng thì cũng giúp con người có đủ điều kiện để sống cho mình và sống chung với kẻ khác.

Từ chuyện một nông dân ở một làng quê nhỏ bé, Tạ Duy Anh đã gợi lên những trăn trở về ý nghĩa cuộc sống của con người trong xã hội, đó là một vấn đề lớn lao thuộc lĩnh vực triết học và xã hội học.

        

 

Advertisements