NGUYỄN THỊ THỤY VŨ VÀ THÂN PHẬN NGƯỜI PHỤ NỮ QUA NHỮNG BIẾN ĐỘNG CỦA LỊCH SỬ

 

Vào năm 1942, khi Vũ Ngọc Phan, tác giả bộ sách Nhà văn hiện đại, giới thiệu cuốn truyện Một linh hồn của Thụy An, ông nhận xét văn học đang ở trong tình trạng chờ đợi nữ giới cầm bút để viết tiểu thuyết, vì lúc bấy giờ việc người nữ sáng tác tiểu thuyết là một sự kiện hiếm hoi. Do đó cuốn Một linh hồn của Thụy An phải được xem như một biến cố văn học.

Nếu vào những năm 60-70 nhà phê bình Vũ Ngọc Phan mục kích được hàng loạt tác phẩm của nữ giới xuất hiện ở miền Nam thì sự mong đợi của ông đã được toại nguyện. Nối gót các bậc đàn chị như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Minh Đức Hoài Trinh, có Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng…, cả một đội ngũ ra tay viết, không mệt mỏi.

Trong khi Nhã Ca, Túy Hồng, quê miền Trung, đem xứ Huế vào tác phẩm của mình thì Nguyễn Thị Thụy Vũ, sinh trưởng ở miền sông nước Cửu Long, vẽ lên trong các truyện của bà cái không gian chằng chịt những sông rạch và con người sống ở đấy.

Năm 1966, Nguyễn Thị Thụy Vũ bước vào làng văn với tập truyện đầu tay Mèo Đêm, mở đầu cho một loạt truyện ra mắt đều đều cho đến năm 1973. Cả thảy mười tác phẩm, ba tập truyện ngắn : Mèo Đêm, Lao Vào Lửa, Chiều Mênh Mông và bảy truyện dài : Thú Hoang, Ngọn Pháo Bông, Khung Rêu (Giải thưởng Văn Học Toàn Quốc, 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm và Cho Trận Gió Kinh Thiên (1).

Chủ đề lớn nhất làm nên tính nhất quán của mười tác phẩm là người phụ nữ. Hiếm hoi lắm mới có truyện về đàn ông như hai truyện ngắn : Trôi SôngChiều Mênh Mông (tập truyện Chiều Mênh Mông). Nguyễn Thị Thụy Vũ trước sau cầm bút cũng chỉ để viết về người phụ nữ, nhưng không phải bất cứ người phụ nữ nào mà chủ yếu là những người phụ nữ chào đời và lớn lên ở miền đất Tiền giang, vào lúc xã hội dần dần đi vào thời hiện đại. Để theo dõi thân phận của những người phụ nữ đó qua những thời biến động của đất nước, thiết tưởng cần đọc các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ qua lưới đọc của phê bình xã hội (sociocritique).

Claude Duchet định nghĩa phê bình của xã hội học là cách phê bình nhằm chính văn bản như cái nơi mà tính xã hội nào đó được diễn ra.

Phê bình xã hội đọc trong văn bản những khía cạnh, những hiện tượng có tính lịch sử, xã hội, hệ tư tưởng và văn hóa, phản ánh của hiện thực : văn bản không thể có được nếu không có hiện thực. Và cách đọc của phê bình xã hội không cứ phải dựa vào những lý thuyết như của Karl Max, Georg Lukács, Lucien Goldmann, vì các lý thuyết đó trở nên xưa, không thích hợp với một hiện thực phong phú, phức tạp của ngày nay. Mọi cách đọc văn bản ngày nay là phát minh và tìm tòi, nó góp phần vào việc phong phú hóa, vào sự tiến bộ của tâm thức về xã hội và lịch sử.

Vậy chúng ta thử đi vào thế giới truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ theo cách đọc của phê bình xã hội.

I  Một thời suy tàn

Dù muốn dù không, nhà văn bao giờ cũng đưa ít nhiều trải nghiệm của mình vào tác phẩm. Vĩnh Long là nơi Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh ra và lớn lên. Trước mắt tác giả : cảnh sông nước, tuổi mới lớn, thời học sinh, nếp sống ở tỉnh lẻ, các bậc cha mẹ với những phong tục, tập quán lỗi thời, sự chờ đợi tương lai… tất cả được lồng vào một xã hội xưa cũ, tàn dư của thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Một xã hội được cấu trúc bởi hai giai cấp giàu, nghèo, và sự phân chia giai cấp rất rõ rệt.

Ở giai cấp người giàu, chủ nhà là bậc phú hộ có uy quyền, được trọng vọng, nể nang. Họ gìn giữ thanh danh và cái bề ngoài. Trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya, ông Đốc phủ sứ nói với con trai và con dâu : Gia đình mình là một thế gia vọng tộc, nhứt nhứt mọi thứ đều phải vượt những thứ thiên hạ thường tình. (tr. 104) Còn bà Phủ trong truyện Khung Rêu, khi cảnh nhà sa sút, thường nói với chồng : Phải gói ghém sự xuống dốc. Giàu thì thiên hạ ganh tị, còn nghèo thì bị họ khinh khi. Thà bị ganh tị hơn. (tr.120)

Ruộng lúa là cái gạch nối giữa hai giai cấp. Người giàu khai thác sức lao động của người nghèo để có lúa mà bán. Hàng năm tá điền đi ghe chở lúa đến nhà chủ điền và tỏ vẻ khúm núm. Họ đem theo bộ quần áo tốt nhất để mặc khi đong lúa với chủ điền. Thức ăn đi đường của họ là « một hũ mắm đồng, vài con khô sặc, một chai nước mắm », nếu khát thì đã có nước sông.

Phần chủ điền, hàng năm cũng đi ghe quan sát ruộng lúa của mình và thu lúa. Nhưng đến thời tinh thần tranh đấu của nhân dân bừng dậy, giới tá điền bắt đầu phẫn nộ trước sự bất công. Trong truyện Khung Rêu, ông Phủ đi ghe thăm ruộng đất, ông có nghe đâu đó ở vùng Cà Mau, Rạch Giá, dân tá điền chống lại chủ điền, nhưng ở vùng ông tá điền vẫn còn khúm núm chào ông lớn, vẫn còn run sợ khi thấy bóng chủ điền, nên ông yên tâm ; thêm nữa Pháp đã trở lại trong vùng. Ngờ đâu tá điền thuê đất của ông nay đã thay đổi thái độ. Đặc biệt một người tá điền tên Đực đã bị ông Phủ phá hoại cuộc đời con gái của người yêu, anh ta càng tỏ ra xấc xược, hung dữ, khiến ông Phủ vội trở về. Chẳng những ông không còn hy vọng thu được lúa mà còn bị tá điền đoạt ruộng đất. Trong truyện Thú Hoang, ông nội của Liễu xưa kia có ruộng cò bay thẳng cánh, ông thường đi ghe từ Vĩnh Long về miệt Hóc Hỏa để thu lúa. Rồi thời thế không yên, ruộng ông bị tịch thu. Lần cuối cùng ông đi thu lúa, hai tháng sau ghe của ông trở về mà không có ông, ông bị tá điền đâm trọng thương, rồi chết.

Bức tường ngăn chia giàu nghèo có khi gây nên cảnh éo le về tình cảm. Nhân vật cô Ba Ngoạn trong truyện Nhang Tàn Thắp Khuya bị người cha gọi về Cần Thơ để gã chồng, nhưng cô đã yêu con trai của một người tá điền. Cô dư biết cha cô sẽ không bao giờ chấp nhận làm thông gia với một tá điền. Cô tâm sự với những chị em trong nhà : … tôi đã lỡ yêu một người đàn ông không cùng một giai cấp với tụi mình. Ảnh là con người tá điền của má tôi. (tr. 98) Cô Ba Ngoạn tự tử hụt khi hay tin người yêu đi lấy vợ vì vâng lời cha mẹ và hay tin cha của cô đã đuổi gia đình người tá điền ra khỏi ruộng đất của ông.

Giai cấp giàu khinh rẻ giai cấp nghèo ; người nghèo thì thủ phận, họ bị dồn vào cái thế của người nô lệ phải phục tùng giới phú hộ có quyền thế. Có những trường hợp người nghèo lại sung sướng, hãnh diện được công khai gần gũi với người giàu, như trong truyện ngắn Trôi Sông (tập truyện Chiều Mênh Mông), lão Tự là một phu lục lộ, lão sung sướng, hãnh diện vì một quan tri phủ về hưu lấy con gái độc nhất của lão làm vợ thứ tám. Mỗi lần quan tri phủ cho gọi lão đến thì lão lật đật giở cái tráp bằng cây thông lôi bộ đồ bà ba vải xe lửa trắng đổi màu ngà còn ngát mùi lông não (…). Chùi vội đôi guốc cây (…). Lão soi mặt vào miếng kiếng bể (…). Lão sửa lại chiếc khăn vải Tây đỏ chít trên đầu. Nỗi vui mừng lẫn lo lắng cồn cào tâm hồn lão (…). Đi đến đâu lão không quên khoe lão là cha vợ quan tri phủ. (tr. 14)

Quan niệm giai cấp đã ăn sâu vào tư tưởng của lớp người có uy thế. Trong Nhang tàn thắp khuya, Thục Nghi về làm dâu một nhà quyền quý đông con gái : Thục Nghi bắt đầu cảm thấy bọn con gái thuộc nơi quyền quý thật khó mà gột rửa thành kiến nặng nề về giai cấp. (tr. 188)

Trong các truyện của Nguyễn Thị Thụy Vũ, ngôi nhà tổ phụ, ngôi nhà hương hỏa thường xuất hiện như nhắc nhở một thời đã qua. Ngôi nhà thường được xây cất bên bờ sông, có nhà thủy tạ để chủ nhà ra hóng mát và để đoàn ghe của tá điền cập bến nộp lúa, trong nhà lại có lẫm lúa, dấu hiệu giàu có của chủ nhà, một khu vườn rộng với cây cối rậm rạp bao quanh nhà. Ngôi nhà hương hỏa là một biểu tượng của dòng dõi người phú hộ. Trung đường trải dài ba gian, là cái nơi có những bàn thờ, lư hương, bình hoa mà đến ngày giỗ được con cháu và tôi tớ trong nhà lau chùi bóng loáng, hoa quả được long trọng chưng lên. Mặc dù ngôi nhà đã đến thời mục nát, nhưng nó vẫn là cái nơi tụ họp của gia đình họ hàng, cái nơi mà gia đình có thể che đậy sự suy sụp của mình bằng cách dọn những mâm cỗ linh đình vào những ngày cúng ông bà tổ tiên, ngày giỗ những người quá cố hoặc vào dịp Tết, cúng đưa ông Táo về Trời, cúng giao thừa ; gia đình lo việc thờ phụng, cúng bái một cách long trọng.

2/ Người phụ nữ trong một xã hội bảo thủ

Cuối thời phong kiến, tinh thần trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại trong xã hội. Sự bất bình đẳng lại càng mạnh hơn nếu người đàn ông có tiền của và quyền thế. Người phú hộ có quyền có năm thê bảy thiếp, ông Đốc Phủ sứ trong Nhang tàn thắp khuya có ba người vợ, trong Thú Hoang, ông nội của Liễu có sáu người vợ và trong truyện Trôi Sông ông quan tri phủ có tám người vợ. Chỉ có người phụ nữ phải chịu thiệt thòi.

Trong truyện Khung Rêu, tuy ông Phủ không có nhiều vợ, nhưng ông cũng đã dùng uy quyền để làm cho một cô gái nhà nghèo mang thai, Ngà, tên cô gái, đến ở thuê trong nhà để trả nợ cho cha là một tá điền.

Về phần bà Phủ, vì tinh thần trọng nam, bà ao ước cho ông Phủ một đứa con trai, mặc dù ông đã có ba người con trai với người vợ trước đã khuất bóng. Nhưng định mệnh đã mỉa mai cho bà Phủ một đứa con nửa trai nửa gái, điều làm bà rất đau khổ.

Nhân vật cụ bà trong truyện Chiều xuống êm đềm thì có mặc cảm tội lỗi đối với chồng vì bà chỉ sinh được hai người con gái.

Tuy con gái không được quý bằng con trai, nhưng cũng phải được dạy dỗ để có nết na và giỏi giang việc nhà. Bà Phủ nuôi hai đứa cháu gái trong nhà, bà đem những thành ngữ chữ Hán, pho kinh Phật ra răn dạy, bà nghiêm khắc theo dõi hai cô cháu và không muốn họ gần con trai : Nam nữ thọ thọ bất thân. Con gái như rơm khô dễ bắt lửa. Con trai là thứ lửa nguy hiểm. Lửa để gần rơm nếu không cháy cũng tròn trèm. (tr. 35) Bà xem việc nuôi con gái như một nỗi lo âu, một việc quá vất vả mà bà phải gánh lấy : Nuôi con gái khác nào đem giặc về nhà. Bà Phủ là người dựa vào đạo đức thời xưa để cản trở tình yêu của các cô gái.

Trong một xã hội bảo thủ, người ta khó chấp nhận cái mới. Nhất là khi cái mới được phụ nữ yêu chuộng. Vào thời Pháp đô hộ, người tỉnh lẻ không quen thấy những cái mới lạ, trong truyện Chiều Xuống Êm Đềm, cụ bà tuy hãnh diện có con gái lấy chồng dân Tây, nhưng cụ phật ý : Tao coi bộ con Thông nó làm nhiều chuyện không được… thuận nhãn cho lắm. Ai đời nó bận áo tân thời, tô son trét phấn như đào hát bội, lại còn liều mạng lái xe nữa… Rủi có bề gì thì sao đây ? (…) Ai đời, cái chuyện học tiếng Tây mà cũng đem ra khoe. (tr. 47, 49)

Người phú hộ khi tiếp xúc với người Pháp, thì bị lóa mắt bởi cái uy quyền của nước bảo hộ, bị óc nô lệ ru ngủ ; họ xem sự hiện diện của người Pháp như một bảo đảm cho đời sống của họ, họ không cần hiểu biết sâu xa về tình trạng của đất nước và thiếu tinh thần yêu nước. Trong Khung Rêu, ông Phủ nói : Tôi thích Tây cai trị, Tây mà đi rồi, mình chết đói cả đám (…). Tôi nói thiệt đa, nếu con cháu tôi chộn rộn bắt chước tụi học sinh bỏ học, bỏ nhà đi theo bọn phản loạn đó, lập tức tôi đi báo cho Tây nó biết liền và nếu cần tôi đem đóng trăn tụi nó, rồi đem nộp gấp. (tr. 315)

Trong khi ông Phủ hăm dọa con cháu, thì có một phong trào lên đường tranh đấu. Hoàng, một thanh niên ở trọ nhà ông Phủ đã bí mật biến mất. Rồi hai người con của ông Phủ, Thụ và Chiêu, cũng lên đường.

3/ Nỗi niềm của người phụ nữ trong một bối cảnh lịch sử sôi động

Giữa lúc thanh niên, học sinh nghe theo tiếng gọi của cuộc đấu tranh thì đời sống của người phụ nữ ở tỉnh lẻ ra sao ?

Hậu quả đầu tiên là tình yêu của đôi lứa tan vỡ. Trong truyện Thú Hoang, một nhóm bạn gái cùng lớn lên trong niềm vô tư, vui sướng dưới mái học đường : Đức, Liễu, Oanh, Kim, Sáo. Mỗi người có một đời sống tình cảm riêng.

Liễu thầm yêu Nam, người trưởng lớp đệ tứ thời còn học sinh. Nam dáng người cao, đạo mạo, có tài ngâm thơ, điều khiển hùng hồn bản nhạc quốc thiều vào những buổi chào cờ, tình yêu của Liễu vừa chớm nở thì Nam đi tập kết.

Đức có tài viết bích báo với cái tên Hiệp Đức, là một cô gái trâng tráo, sẵn sàng chọc tức, gây chuyện với mọi người. Đức yêu Lập, mang thai, uống thuốc phá thai trong khi Lập bỏ lên Sài Gòn hoạt động trong giới cải lương.

Oanh là người bạn tốt, vui vẻ với mọi người. Oanh có một cuộc đời phẳng lặng : Oanh lấy chồng và sống trọn đời ở tỉnh lẻ. Sáo cũng lấy chồng ở tỉnh lẻ.

Bên cạnh những người bạn đó, Kim có một đời sống tình cảm bi thảm. Kim tính trầm lặng, lãng mạn, thích màu tím, yêu văn thơ. Kim ở trọ để đi học, bị hai người con trai chủ nhà hiếp. Kim buồn khổ, nhưng Kim và Huấn yêu nhau, Huấn thông cảm nỗi bất hạnh của người yêu và tìm cách nâng đỡ tinh thần người yêu. Chính Huấn cũng đã có một thời thơ ấu bất hạnh, cha Huấn bị Tây chém, hai người anh đi bộ đội chống Pháp, tử trận năm 1946. Huấn có tài ăn nói, dễ chinh phục bạn bè. Huấn hoạt động chống Pháp trong phạm vi học đường, bằng cách phổ biến truyền đơn, báo chí, cờ xí, biểu ngữ. Rồi Huấn bị tình nghi, lo trốn tránh lưới công an, cuối cùng phải trốn thoát. Trước khi xa nhau, Huấn và Kim đã sống qua những giây phút ái ân say đắm mà kết quả là Kim mang thai. Kim cảm thấy sung sướng được mang cái mầm sống của người yêu và hết sức nâng niu cái thai. Nhưng rủi ro Kim bị tình nghi, bị bắt và bị tra tấn đến trụy thai. Từ đó con người của Kim đã đổi khác. Kim trở về sống với gia đình, làm thư ký hành chánh và bày ra chới búp bê, nâng niu con búp bê như đứa con thật của mình và âu yếm nhắc đến « Ba Huấn ». Kim và Đức ở trong hai hoàn cảnh khác nhau. Kim trở về quê sống cuộc đời của một người phụ nữ độc thân, chỉ yêu có một lần trong đời. Kim đau đớn vì mất đứa con với người yêu. Còn Đức thì muốn mau mau tống khứ cái bào thai của kẻ bạc tình để làm lại một cuộc đời mới.

Trong truyện Khung Rêu cũng có một mối tình tan vỡ vì thời cuộc, mối tình đi đến một kết thúc thê thảm. Tịnh, cháu gái của ông Phủ đã đỗ bằng thành chung và làm nghề dạy học. Tịnh yêu Hoàng, người con trai ở trọ trong nhà, tiếng vĩ cầm của Hoàng đưa Tịnh vào những mộng mơ lãng mạn, Tịnh lén bà Phủ đi chơi với Hoàng. Cô có nghề nghiệp, một ít ruộng đất và tư trang, cô quan niệm hạnh phúc rất đơn giản và thổ lộ với người yêu : Em chỉ thấy tình yêu trong khung cảnh một tỉnh lẻ mới đằm thắm nhiệm mầu. Ở đây gần thiên nhiên, có sông sau nhà, có vườn cây tràn ngập bóng mát. (tr. 290) Tình yêu đang ở giai đoạn say đắm thì Hoàng bỗng bí mật đi chiến khu. Tịnh nhớ nhung chờ đợi, rồi tuyệt vọng và dần dần chìm vào cơn điên. Bà Phủ đưa Tịnh lên Sài Gòn chửa trị, sau đó Tịnh vào dưỡng trí viện Biên Hòa và năm năm sau Tịnh chết.

4/ Người phụ nữ ở tỉnh lẻ trước sự lựa chọn : thoát ly hay chịu đựng

Trong cảnh suy tàn của giai cấp phú hộ, bà Phủ trong truyện Khung Rêu tiêu biểu cho người phụ nữ gương mẫu của thời xưa, một người phụ nữ chính chuyên, lo việc tề gia nội trợ, một mình chống đỡ cảnh nhà sa sút. Khi bà hay tin ông Phủ có quan hệ chùng lén với một người tớ gái khiến người này mang thai, bà nghiêm khắc trừng trị ông Phủ bằng cách bỏ bê việc nhà, dọn ra nhà sàn để ở riêng, bà cạo đầu và suốt ngày tụng kinh, niệm Phật ; đối với ông Phủ bà giữ thái độ im lặng, lạnh lùng. Bà có ý định tự tử khi nghĩ đến sự phụ bạc của chồng và nghĩ đến Chiêu, đứa con tật nguyền của bà, nhưng bà lại thôi vì nghĩ đứa con sẽ cần bà. Khi Tịnh, cháu của ông Phủ, bị mất trí, chính bà đã thân hành đưa Tịnh đi chửa bệnh. Và khi ông Phủ mất, bà đã bán tư trang để lo việc an táng ông Phủ một cách long trọng. Bà cao thượng tha thứ cho chồng : Bà nhìn xác chồng (…), bà nói như rên rỉ : « Mình sướng hơn tôi nhiều. Mình bỏ đi đúng lúc lắm. Nếu sống khôn thác thiên, mình hãy giúp tôi theo mình với (…). Tôi hứa kể từ đây tôi sẽ không còn hờn giận mình nữa. (tr. 347)

Đòi hỏi lớp người phụ nữ trẻ tuổi thời đó, có ít nhiều học vấn, phải noi gương bà Phủ là một điều không thể có được. Bánh xe lịch sử không bao giờ quay lùi.  Đời sống ở tỉnh lẻ vẫn còn tinh thần thủ cựu, hẹp hòi, dư luận thường phê phán khắc khe những người phụ nữ đã lầm lỡ, cảnh sống trở nên nặng nề, nhàm chán. Trong bối cảnh đó, người phụ nữ ý thức mình đứng trước một sự lựa chọn : hoặc chấp nhận một cuộc sống quá ràng buộc của truyền thống, tập tục, hoặc ra đi để xây dựng một cuộc đời tự do, tốt đẹp hơn.

Có những người phụ nữ chấp nhận ở lại. Truyện Nhang Tàn Thắp Khuya cho thấy một loạt chân dung phụ nữ trong một gia đình quyền quý : bà Đốc Phủ sứ, bà Chợ Lớn, bà Út, là ba bà vợ của ông Đốc Phủ sứ, và các phụ nữ khác : Thục Nghi, Tư Kiên, Sáu Niệm, hai chị em Hai Diệm và Ba Ngoạn, Quế Hương. Trong số các cô gái trẻ có những cô có trình độ học vấn : cô Sáu Niệm học trường Tây, cô Hai Diệm và cô Ba Ngoạn đều có bằng thành chung, họ yêu thích văn thơ. Trong khi cô Ba Ngoạn sẽ chọn một con đường táo bạo để tự giải phóng mình thì cô Quế Hương và Thục Nghi an phận với nếp sống cổ truyền. Cô Quế Hương là chủ một tiệm may, cô làm ăn phát đạt. Một ông Hội đồng Quản hạt góa vợ, hai con, hơn cô 13 tuổi, có ý định hỏi cô làm vợ. Khi hay tin, trong nhà đều kinh ngạc, nhưng cô Quế Hương tuyên bố thẳng thừng : Đối với tôi, luôn luôn chỉ cần môn đăng hộ đối. Ông ta há không phải là người có danh giá, có ăn học hay sao ? (tr. 201) Vậy là cô Quế Hương chấp nhận một cuộc hôn nhân theo lý trí. Thục Nghi là người giàu tình cảm, không hết kinh ngạc trước một người con gái như cô Quế Hương xem nặng lý trí đến mức hy sinh đời sống tình cảm. Phần Thục Nghi, cô mới 20 tuổi, sắp làm mẹ. Thục Nghi là một cô dâu được bên nhà chồng quý trọng : cô vừa đảm đang việc nhà vừa khôn khéo đối xử với mọi người. Đức, chồng của cô, yêu thương cô với một tình yêu trang nghiêm, chừng mực, Đức có xu hướng trọng nghĩa trước tình. Mà Thục Nghi thì trẻ trung, lãng mạn, khao khát một tình yêu say đắm, cho nên cô cảm thấy yếu đuối trước mối tình tha thiết của một người con trai tên Duy đồng trang lứa với cô. Cuối cùng Thục Nghi lòng buồn xao xuyến chấp nhận cuộc đời do định mệnh an bài. Thục Nghi nhìn bức tường bằng bê tông có gắn phía trên những miểng chai, bức tường biểu tượng cho sự ngăn cản, đóng kín cuộc đời của Thục Nghi từ đây. Và thành phố Vĩnh Long hiện lên qua cái nhìn buồn bã của Thục Nghi : Thành phố già nua, trầm lặng với sông rạch vây quanh, in dấu tháng ngày trống rỗng trôi qua. Buổi trưa, nắng trải lên trên các con đường tráng nhựa, cái hè phố, các dãy tiệm. Nơi đây sẽ giam hãm nàng suốt đời trong nỗi buồn duyên tủi phận, bên cạnh người chồng sớm cằn cỗi trong tâm hồn. (tr. 246)

Trong khi Thục Nghi ngoan ngoãn cúi đầu trước một xã hội bảo thủ, thì những người con gái khác nuôi mộng thoát ly. Trong một cuộc sống vẫn giữ lề thói xưa, cảm giác chung của những người con gái ở tỉnh lẻ là cái không khí ngột ngạt, khó thở, thiếu một chân trời mới lạ. Ý muốn thoát ly ám ảnh họ. Trong truyện ngắn Một Buổi Chiều (tập truyện Mèo Đêm), người con gái tên Linh sống một mình ở Long Xuyên, trong một ngôi nhà cổ, thổ lộ : Đêm nào tôi cũng nghe tiếng sông róc rách sau nhà, tiếng tàu xà lan chạy xình xịch. Đêm nào tôi cũng chìm trong những tiếng động đó. Tôi phải ra đi. Ra khỏi cái nhà này, cuộc đời tôi sẽ thay đổi (…). Cuộc đời ở đây đè nặng làm tôi nghẹt thở. (tr. 17-18)

Liễu, cô gái kể truyện trong Thú Hoang, làm nghề giảng tập viên, cũng cùng một tâm trạng, cô nói : Tôi đã từng nuôi dưỡng ý tưởng thoát ly khỏi tỉnh này, để tìm một không khí mới. Tôi sẽ rời bỏ ngôi nhà cổ âm thầm với tiếng cắc kè trên đầu kèo, như lời nguyền rủa tương lai từng đêm, với đàn chuột lắt chí chóe dưới đáy tủ nghe nhức nhối, rờn rợn trong tâm não và tôi sẽ đi trốn mùi ngan ngát của hoa hoàng lan, lẫn hoa dạ lý thơm suốt đêm làm tôi muốn chết ngộp. Tôi ngại nghe tiếng chim heo hét lên buốt óc vào lúc tảng sáng và tiếng xà lan xình xịch bên kia sông. Tôi muốn chạy trốn bối cảnh nhàm chán đó cùng những âm thanh rã rời buồn nản như cuộc sống tôi hiện tại. (tr. 23-24)

Đức, bạn của Liễu, càng quyết liệt hơn trong ý muốn rời bỏ cuộc sống ở tỉnh lẻ. Đức đã từng lầm lỡ và ý thức về những lời phê bình nghiêm khắc của người dân Vĩnh Long. Đức xem Sài Gòn như một vùng đất mênh mông hay một con sông lớn, nơi có thể bôi xóa tông tích và quá khứ của mình để xây dựng lại cuộc đời. Đức thúc giục Liễu lên Sài Gòn học Anh văn, đi làm cho Mỹ. Cô viết trong thơ cho bạn : Hãy làm thứ chim bói cá, gặp mồi là chớp liền. Sài Gòn là một con sông rộng có nhiều mồi… (tr. 22)

Nhân vật Nguyệt trong truyện Cho Trận Gió Kinh Thiên cũng có những mơ ước như thế. Nguyệt quê ở Vĩnh Long, cô là con của một người trọc phú nhiều vợ, nhiều con, ông từ bỏ mẹ của Nguyệt trước khi cô sinh ra. Nguyệt lên Sài Gòn, mang mặc cảm về tông tích của mình, cô quyết sẽ có một cuộc đời khác.

5/ Sài Gòn : một chân trời mới hay một thế giới ảo ?

Sài Gòn hoa lệ đã trở nên một huyền thoại đối với các cô gái tỉnh lẻ. Tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ không cho người đọc biết tiếp chuyện của Đức và Liễu ra sao trong cái dòng sông mênh mông có nhiều mồi. Chỉ thấy trong tuyện Một buổi chiều có cô Linh đã từng là một giảng tập viên ở Long Xuyên, trong Nắng chiều vàng có một cô giáo đến dạy học cho một cô điếm tên Mi-sen, và trong truyện dài Ngọn Pháo Bông, một cô giáo tên Lan dạy Anh văn cho các cô gái điếm. Các cô giáo trên đây có thể làm liên tưởng đến nhân vật Liễu vốn là một giảng tập viên ở quê nhà, và nếu nhìn xa hơn, người đọc sẽ thấy thấp thoáng bóng dáng của tác giả… Dù sao trong số các phụ nữ ở tỉnh lẻ lên Sài Gòn, đã có hai nhân vật được miêu tả rõ ràng, đó là cô Ba Ngoạn trong Nhang Tàn Thắp Khuya và Nguyệt trong Cho Trận Gió Kinh Thiên, còn lại là nhóm phụ nữ hoặc từ thôn quê bị lường gạt để lên Sài Gòn làm nghề buôn hương bán phấn hoặc những thiếu nữ vì hoàn cảnh gia đình mà bị sa vào cạm bẫy.

Cô Ba Ngoạn, như chúng ta đã thấy, sau mối tình tan vỡ vì vấn đề giai cấp, cô có những dự định to lớn. Cô là người thông minh có học, có óc tự lập và có bản lĩnh. Cô muốn thoát ly và cô sáng suốt nhận định : Tại sao một người con gái muốn sống tự lập, muốn thoát ly khỏi cái không khí nặng nề và cái lề thói cổ hủ của gia đình, thì thiên hạ trút lên đầu bao nhiêu là tội lỗi ? Nên hư gì thì cũng do mình… Cô nói với người anh của cô : Anh quên một điều là gia đình ta là gia đình có giáo dục, lại dòng dõi trâm anh thế phiệt nữa. Em không dại gì làm cho gia phong mình bại hoại đâu. (tr. 220) Cô làm thơ, viết văn, đăng trên các báo ở Sài Gòn và cô thật sự vào nghề. Cô nói : Thế nào tôi cũng phải đi. Văn đàn rất cần nữ giới đóng góp. (tr. 211) Các bậc cha mẹ : bà Hội đồng Hạc, mẹ của cô Quế Hương, ông Đốc Phủ sứ, ông Năm, cha của cô Ba Ngoạn, đều phản đối. Ông Năm lúc đầu đăng bài trên báo tìm con, rồi đăng bài từ con. Ở Sài Gòn cô Ba Ngoạn giao thiệp rộng, cô mở phòng tiếp khách để bàn luận về văn thơ gọi là salon littéraire, cô uốn tóc, học nhảy đầm, lái xe hơi, chơi quần vợt. Cuối cùng cô lấy một người Pháp, chủ nhiệm một tờ báo Pháp ngữ. Tóm lại, nơi cô Ba Ngoạn có một hiện tượng hoá thân mà gia đình ở quê nhà khó lòng theo kịp.

Nhân vật thứ hai là Nguyệt, cũng ở Vĩnh Long lên Sài Gòn. Nguyệt là một người con gái sống theo lý trí, có óc tính toán. Nguyệt thuê nhà trong một khu lao động để sống với người tình là Đồng. Một dịp để tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ đưa người đọc vào cái thế giới ồn ào, náo nhiệt của lớp phụ nữ bình dân, mà những đặc điểm là : ngồi lê đôi mách, cãi lộn và chửi bới. Những môn giải trí mà họ yêu thích là đánh bài và xem tuồng cải lương. Ngày giỗ của Đức Cửu Thiên Huyền Nữ là một biến cố trong xóm, mọi người háo hức ra vào sân miễu, nơi tiếng trống vang lên trong khói hương, đèn đuốc. Nguyệt mới dọn đến đã sớm biết chuyện của mỗi người trong xóm. Nguyệt có cảm tưởng ở đây bày ra một sân khấu chật hẹp mà mọi người trong xóm lần lượt diễn tuồng bừa bãi trước mắt nàng. (tr. 52) Từ xa đến, cô khám phá đời sống, cách ăn ở của lớp người bình dân nơi đây. Nhất là ngôn ngữ của đàn bà, một thứ ngôn ngữ thô tục, hung tợn. Đối với họ, chửi là tỏ ra có uy quyền. Họ chửi có vần có điệu, từ vựng phong phú, đem phơi bày những phần kín của thân thể, những bài tiết của thân thể. Nổi bật nhất là nhân vật bà Tư : Khuôn mặt bà nhiều thịt hum húp như bị chứng phù thủng không thể làm giảm ánh mắt sắc sảo và cặp mày xếch ngược, đầy uy quyền. Năm Út, bà Xành, bà Bảy Sánh chửi dồi dào, dai dẳng, nhưng vẫn thua bà Tư : Bà sáng tác câu chửi, bà lựa chữ thật mau lẹ, thật thú vị, thật thấm vào cơn đau xót người nghe. (tr.277) Nguyệt nhận thấy đàn bà trong xóm can thiệp vào đời sống của nhau quá nhiều, nhưng có cái hay là họ tương trợ nhau những lúc khó khăn, hoạn nạn.

Vào thời đó, chiến cuộc xảy ra trên đất nước, làm xuất hiện trong xã hội miền Nam một hạng người xa lạ, nhiều tiền : người Mỹ. Riêng đối với người trong xóm, sự kiện này làm thay đổi những toan tính của họ về đời sống vật chất. Những người phụ nữ bình dân, thất học, không cần biết vì sao có người Mỹ đến đây, chỉ cần biết họ nhiều tiền và đó là một nguồn lợi đáng kể. Bà Tư Búp thường chửi bới, rẻ rúng chồng và đi làm điếm cho Mỹ, bà ta ăn mặc đẹp đẽ, đeo vàng. Còn bà Ngộ và bà Ba Xành khi xưa đi làm bếp cho Tây và còn mần việc khác nữa, nay bà Ngộ muốn giới thiệu cho bà Ba Xành một người Mỹ để nấu ăn. Bà Ngộ còn muốn cho bà bạn của mình mượn cuốn sách để học tiếng Mỹ. Hồi mới đi làm cho Mẽo, cũng nhờ nó mà tôi nói một vài tiếng Mẽo. Khổ cho bà Ba Xành là bà mù chữ. Nhưng lời đề nghị của bà Ngộ cũng đủ làm cho bà Ba Xành sung sướng khi bà nghĩ bà sẽ có tiền sửa sang nhà cửa, trong nhà bà sẽ có đủ tiện nghi : quạt máy, tủ lạnh, ti vi, bếp ga, bàn phấn, giường nệm mousse…

Nguyệt cũng đi làm cho Mỹ, nhưng ở mức độ cao hơn : cô làm thư ký cho một sở Mỹ. Nguyệt bị Hưng, người tình thứ nhất phụ bạc, vả chăng cô cho đó là một mối tình quá tinh khiết, cô muốn tình yêu phải đi kèm với những rạo rực của thể xác. Đối với Đồng, một thanh niên đẹp trai nhưng bị chột mắt, thì cô không có tình yêu, chỉ lạm dụng tình yêu và lòng tốt của Đồng, cô quan niệm Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ xài, mặc dù Nguyệt chỉ muốn Đồng là người tình, không là chồng. Nguyệt luôn luôn tính toán, vụ lợi. Trước kia, tuy bị người cha trọc phú bỏ rơi, nhưng Nguyệt vẫn mơ được hưởng gia tài, nên cô theo đạo Thiên Chúa, đi nhà thờ. Vì cha của cô tuy nhiều vợ nhưng vẫn theo tôn giáo này. Khi thấy việc đi nhà thờ không làm lung lay người cha, cô không giữ đạo nữa. Với đàn ông cô còn tính toán xa hơn : sau Hưng và Đồng, cô nhắm người Mỹ. Cô muốn lăn vào một cuộc phiêu lưu với nhiều người đàn ông. Trong thời gian sống với Đồng, Nguyệt đi chơi với mấy người Mỹ trong sở. Bob Granger, viên trưởng phòng, đưa cô đi ăn ở nhà hàng, cầu hôn với cô và hứa sẽ đưa cô về sống ở Philadelphia, nhưng Nguyệt không mấy ham thích đời sống ở Mỹ vì khác văn hóa, cô chỉ nuôi mộng giàu sang, trở về quê nhà làm lóa mắt mọi người. Thế là Nguyệt bỏ Đồng, rời xa xóm lao động. Cô trở thành chiêu đãi viên hàng không, buôn lậu và trở nên giàu có.

Ở Sài Gòn, Ba Ngoạn và Nguyệt là hai mẫu người phụ nữ leo thang trong xã hội, người hoan hỉ chọn lựa con đường văn hóa, kẻ tìm hạnh phúc trong thế giới tiền bạc. Đối với họ, Sài Gòn là một chân trời mới. Nhưng đối với giới phụ nữ sống về đêm thì Sài Gòn là một thế giới ảo khiến họ trượt chân rơi xuống vực thẳm của sa đọa. Tập truyện ngắn Lao Vào Lửa và truyện dài Ngọn Pháo Bông là những truyện về chủ đề gái điếm. Có những cô gái vì hoàn cảnh gia đình sa sút, vì rủi ro nên sa vào con đường phải bán thân như cô Tú, trong truyện ngắn Lao Vào Lửa ; cô là con một ông phu xích lô bị bại liệt, không còn khả năng nuôi một bầy con tám đứa, cô Tú đành trở thành cô Tina rước khách ở bar Honeymoon.

Truyện Ngọn Pháo Bông kể cuộc đời của một cô gái điếm tên Thắm. Từ một cô gái quê mùa thất học, bị hiếp năm 18 tuổi, Thắm bị một người đàn bà dụ dỗ đưa lên Sài Gòn và lần lần trở thành một cô điếm hạng sang, có nhiều khách Mỹ, được đàn em kính nể. Vào tuổi 40, Thắm bâng khuâng nghĩ vể cuộc đời sa đọa của mình, ao ước bỏ nghề và tạo một gia đình bình thường, đôi khi Thắm nhớ về quê nhà có cảnh ruộng đồng. Ngọn Pháo Bông có dáng dấp một tiểu thuyết trinh thám. Vào truyện có cảnh Thắm bị giết ngay trong phòng của cô, và Cường, người đàn ông sống nhờ vào cô, đã biến mất, tiền bạc và tư trang của cô không còn nữa.

Đối với hạng phụ nữ bị bắt buộc hay tự do chọn lựa lối sống phóng đãng sa đọa, vào một lúc nào đó họ phải đối đầu với một vấn đề hệ trọng : vấn đề làm mẹ.  Trong truyện ngắn Gái Độc Không Trái (tập truyện Chiều Mênh Mông), người kể truyện là một cô gái điếm gần 40 tuổi, cô này đã phá thai nhiều lần, lần này cô lại mang thai, người bạn tên Thành giới thiệu với cô một y tá có tiếng phá thai không làm đau đớn. Cô ta nghĩ : …tôi đâu phải là hạng đàn bà nặng tình mẫu tử (…). Thế giới của tôi là quán rượu chìm lờ mờ trong cảnh đèn đỏ, trong khói thuốc như sa mù buổi sáng. Cuộc đời của tôi thu gọn trên chiếc giường… Cũng có lúc cô ta nghĩ đến cuộc đời làm mẹ, nghĩ đến tình mẫu tử, nhưng rồi cô ta bị cuộc sống quen thuộc cuốn đi.

Người gái điếm ý thức thân phận thấp hèn của mình trong xã hội : Đi đâu ai mà chẳng biết danh tụi tui là me Tây me Mỹ. Người ta lúc nào cũng kêu mình là « con đĩ » chớ có ai tôn làm « bà đĩ » bao giờ đâu… (Nắng chiều vàng, tr. 70, Mèo Đêm)

Qua những cuộc biến thiên của đất nước, từ thời Pháp đô hộ đến thời kháng chiến, thời đất nước phân chia đưa đến cuộc chiến tranh Nam Bắc, xã hội miền Nam đã biến đổi nhiều, và thân phận người phụ nữ cũng nổi trôi theo những biến đổi đó. Sống trong một xã hội bảo thủ với những kỷ cương xưa cũ, người phụ nữ có ý muốn thoát ly để tự giải phóng mình. Mặt khác, một hiện tượng xã hội đã xảy ra trong thời chiến : sự hiện diện của người Mỹ làm nảy sinh lòng tham lam tiền bạc nơi một số người phụ nữ khiến họ mất phẩm giá, mất đạo đức. Đây là mặt trái của xã hội miền Nam. Khi phơi bày mặt trái này, tác giả Nguyễn Thị Thụy Vũ có quá bi quan chăng ? Dù sao xã hội miền Nam cũng có một bộ mặt tích cực với những người phụ nữ đã có những bước tiến khá dài trên con đường văn hóa để tự giải phóng mình và để tiến dần đến vấn đề nữ quyền. Nhưng nếu cho rằng Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ miêu tả mặt trái của xã hội thời đó thì hoàn toàn không đúng. Đọc tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ, chúng ta sẽ thấy cái nhìn của bà bao quát cả nữ giới, đặc biệt nữ giới ở tỉnh lẻ đồng bằng sông Cửu Long. Với trải nghiệm của bản thân, tác giả thấu rõ đời sống tâm lý phong phú, đa dạng của người phụ nữ. Bà miêu tả sự khắc khoải, những ray rứt âm thầm của tâm hồn người nữ, những vùng vẫy, chờ đợi, khát khao, mong ước, và khi gặp nỗi thống khổ thì chỉ biết chịu đựng cho đến lúc tâm thần suy sụp, có khi lại mạnh dạn ra đi.

Điều đáng chú ý là Nguyễn Thị Thụy Vũ tự tạo cho mình một nghệ thuật miêu tả hướng về thị giác ; truyện của bà mang nhiều màu sắc, màu sắc áo quần người phụ nữ, màu sắc của đồ vật trong không gian, của thảo mộc trong thiên nhiên, đôi khi quá nhiều màu sắc làm choáng ngợp ; sau thị giác là khứu giác, đặc biệt trong  Khung Rêu : mùi bồ kết, mùi hoa nguyệt quế và mùi dạ lý, mùi hoa bưởi lẫn hoa cau, mùi trái cây chín, v.v…. Mùi thơm của các loài hoa trong vườn, đôi lúc quá ngào ngạt, quá dai dẳng khiến người con gái muốn rời bỏ nơi chốn để đi xa, có lúc mùi thơm lại làm người con gái càng thêm lưu luyến với cái nơi sống của mình. Tác giả cũng thường nhân cách hóa thiên nhiên : Mặt trời đang dãy chết bên kia sông… Sự vắng ngắt của buổi chiều ôm chầm lấy tôi và dìm tôi như muốn ngộp thở…

Với một nghệ thuật miêu tả rất riêng biệt như thế và với một ngôn ngữ rặt miền Nam, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã vẽ lên một bức tranh của nữ giới theo sự thăng trầm của đất nước và trong một xã hội có lắm đổi thay.

 

(1) Tất cả các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đều được Hội Nhà Văn tái bản năm 2017.

 

Paris, tháng 11 – 2018

 

 

 

 

Advertisements