VÕ PHIẾN NHỚ LÀNG

 

Tác phẩm văn chương thường được xây dựng với ít nhiều trải nghiệm của tác giả trong một thế giới hiện thực ; do đó tác phẩm phản ánh đời sống hằng ngày, phản ánh xã hội. Ngòi bút của nhà văn khi dừng lại ở những chuyện linh tinh của cuộc đời, ở những kỷ niệm, khi chăm chú theo dõi những biến cố liên quan đến đời sống trong xã hội, lại càng chăm chú hơn đến một biến cố lịch sử lớn lao như chiến tranh, làm khuynh đảo cả một xã hội, cả đất nước. Cho nên ở miền Nam, trước năm 1975, chiến tranh đã tràn vào văn học, đọc truyện dài, truyện ngắn, tiểu luận, tùy bút, thơ, nơi đâu cũng có khói lửa chiến tranh.

Về phần Võ Phiến, ông không nhìn chiến tranh qua thảm họa Tết Mậu thân chẳng hạn, hoặc qua cái chết của người lính, qua những trận đánh lớn ; Võ Phiến nhìn chiến tranh qua hình ảnh một làng quê, và ông vẽ lên chân dung một người dân quê chất phác bị dồn vào tận cùng nỗi tuyệt vọng.

Tên tuổi của Võ Phiến tưởng không cần thiết phải giới thiệu dài dòng, vì ông được xem như một trong những nhà văn trụ cột của miền Nam thời 54-75. Ông viết nhiều thể loại : truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tiểu luận, ông cũng là tác giả của một tập thơ. Một trong những đặc điểm của Võ Phiến là sự gắn bó với làng quê. Qua những truyện và tùy bút, người đọc được đưa về cảnh đồng quê để biết rõ người ông, người bà của tác giả, để làm quen với những nhân vật trong làng như anh Bốn Thôi với sáu người vợ của anh, như ông tú Từ Lâm suốt đời đi lang thang,  ông Tam Khoang với phong cách uống chè Huế của ông, v.v… Rồi chẳng bao lâu làng quê trở nên một chiến địa. Bài tùy bút Nhớ làng của Võ Phiến dựng lên một khung cảnh loạn lạc, đảo điên, đe dọa mạng sống con người.

Năm 1992, nhà Văn Nghệ ở California xuất bản tập tùy bút Quê của Võ Phiến gồm ba bài : Nhớ làng, Khách xá qui tâm và Cái lạnh nửa người. Tác giả viết bài tùy bút Nhớ làng trước đó hai mươi năm, tức năm 1972, khi ông còn ở quê nhà, và chiến tranh đang đến mức độ tàn khốc.

Trong văn học Việt Nam, thể loại tùy bút rất được nhiều nhà văn ưa chuộng. Nhưng tùy bút là gì ? Theo Trương Chính, trong bài tựa cuốn Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, tùy bút là bài viết theo ngọn bút gặp đâu nói đó, không có hệ thống, rất linh động và cũng rất linh tinh. Còn học giả Nguyễn Hiến Lê, khi đề tựa một cuốn tùy bút của Võ Phiến, năm 1973, thì định nghĩa như sau : Tùy bút – tùy hứng mà phóng bút – là một thể rất tự do, gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Nhưng ông nói thêm rằng tính nghệ thuật rất cần thiết, đó là một thể văn khó viết, cho nên một bài tùy bút hoặc thành công hoặc thất bại, không có sự lưng chừng. Đúng là phải có nghệ thuật để viết một bài tùy bút hay, vì khi tác giả được tự do tản mạn, đi từ ý tưởng này sang ý tường khác, đôi khi thiếu mạch lạc, và nếu không có chủ ý thuyết phục người đọc về một điều gì rõ ràng, thì tác giả dễ rơi vào sự tầm thường, sự nhàm chán.

Vậy thử xem Võ Phiến nhớ làng như thế nào. Ông có gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy không ?

Nhân đọc những câu thơ của Yến Lan, người cùng quê Bình Định với ông, Võ Phiến bỗng ngậm ngùi nhớ đến làng mình. Câu hỏi đầu tiên của tác giả : Làng đâu ? kéo theo nhiều tin tức chiến sự do báo chí và đài phát thanh không ngớt truyền đi khắp nơi, vào thời điểm tháng 6 năm 1972. Năm 1972 là cái năm có nhiều trận đánh khốc liệt trên toàn lãnh thổ miền Nam, cái năm có mùa hè đỏ lửa. Thời gian báo hiệu thảm trạng của làng : làng đang ngập chìm trong khói lửa, đang trở nên một vị trí nổi tiếng. Trong làng ngày đêm sư đoàn 3 Sao Vàng của bên kia không ngớt đánh nhau với trung đoàn 41 bên này. Rồi một chiếc phi cơ Mỹ rớt ngay xuống làng, tác giả tự hỏi nó rơi đúng vào chỗ nào. Một dịp để nhắc đến những nhân vật trong làng mà tác giả đã cho xuất hiện trong các truyện và tùy bút trước đây, đó là những người dân quê mộc mạc mà những hành động khi xưa đã trở thành những kỷ niệm bất hủ của làng : nào là chị vợ bé anh Bốn Thôi với người đàn ông câu ếch trong bài tùy bút Lại thư nhà, nào là chị Bốn Chìa Vôi, anh Năm Cán Vá trong truyện Chim và rắn, nào là ông Bái Công trong truyện Về một xóm quê.

Làng quê trở thành nơi chốn quyết liệt của sự sống chết. Hai chiến thuật đối đầu nhau : một bên là biển người và một bên là vũ khí tối tân, kết quả : có vô số người chết : xác địch, xác ta. Ai nấy đều rõ một khi Sao Vàng đến thì sự tai ương ra sao.

Nói đến xác địch xác ta, tác giả liên tưởng đến sự gặp gỡ anh Ấm Sứt năm trước, anh là một người dân làng đã ra sống ở tỉnh, làm nghề thợ vịn cho Mỹ, lương khá, thợ vịn là để giúp việc lặt vặt cho thợ chính cống. Tác giả theo anh Ấm về nhà, được biết lý do anh bỏ làng ra đi. Số là một hôm lực lượng bên kia cho người về bắt tất cả trai tráng trong làng dẫn đi. Anh Ấm có nhiệm vụ tải thương. Đêm hôm đó một trận chiến xảy ra, lực lượng bị tấn công tứ phía, mạnh ai nấy chạy. Anh Ấm Sứt chạy trốn, sau đó anh đem gia đình lên sống ở tỉnh. Trong buổi họp mặt ở nhà anh Ấm, tác giả được quen biết với một người đàn ông có lòng tốt đã giúp anh Ấm có việc làm. Người này vừa mất hai người con trai, người con cả đi lính bị súng cối bắn vào đồn, gọi là cối vào, chết ngay, người con thứ hai đang ở ngoài vườn, hai bên đánh nhau, trong đồn bắn ra, gọi là câu ra, thế là chết. Tác giả ngẫm nghĩ về trường hợp anh Ấm Sứt, nếu trước đó anh đang tham gia công cuộc giải phóng mà rủi ro chết ngoài ruộng, hoặc bây giờ anh làm công việc xây cất cho Mỹ mà chết vì một quả mìn của đặc công, vậy xác của anh tùy nơi chết được xem khi thì xác địch khi thì xác ta. Lập trường của anh ra sao ? Hai người con ông bạn tốt bụng, người bị bên kia cối, người bị bên này câu. Đâu là địch đâu là ta, và có gì thay đổi trong tư tưởng của họ ?

Chuyện chém giết lạị được báo chí loan tin : ở xã nọ gần làng tác giả, một viên xã phó đã xử tử nhiều dân làng, hung thần bị bắt và sắp bị đưa ra tòa xử. Thì ra hung thần không ai xa lạ mà chính là anh Năm Hà. Trước kia anh ta là một nông dân, một người đàn ông xấu xí, gầy đét, giọng nói khó nghe. Anh lấy một người phụ nữ không đẹp, nhưng có một thân hình khêu gợi. Từ ngày anh Năm Hà lấy vợ anh bỗng thay đổi nhiều, anh ăn mặc khá hơn, phát âm khá hơn, anh bắt đầu có một đời sống xã hội : anh làm cán bộ, tham dự những buổi hội họp, ngôn ngữ của anh cũng thay đổi, anh thích ăn nói kiểu cách. Lúc đó vào thời kháng chiến, anh có dịp tiếp đón những cán bộ cao cấp tại nhà. Có lần một đại đội trưởng ở trọ nhà anh. Một hôm ở ngoài đồng về, anh Năm Hà bắt gặp qua khe cửa cảnh chị vợ ngoại tình, anh không trông thấy gì nhiều, chỉ thấy một bàn chân rướn cong lên. Nhưng cũng đủ cho anh thấy thế giới quanh anh sụp đổ. Từ đó cuộc đời của anh đã thay đổi. Mười năm sau, anh là một người nông dân sống vất vả, cực nhọc. Đến những năm 60, tình hình an ninh ở miền quê không mấy sáng sủa. Anh Năm Hà được bầu làm ấp trưởng, anh sống trong tình trạng trên đe dưới búa. Anh bị cộng sản tìm cách hại anh nhiều lần, có lần anh bị bắn gãy một cánh tay. Anh phải chống trả quyết liệt, chém giết lung tung để tự bảo vệ mạng sống. Khi an ninh được vãn hồi, anh Năm Hà bị tình nghi có hành động mập mờ : vào thời kháng chiến anh phục vụ cho bên kia, về sau anh phục vụ cho bên này, chẳng những anh bị tình nghi mà anh còn bị xem là hung thần. Hung thần Năm Hà quê mùa, xấu xí, tàn phế, vì không chịu rời bỏ làng quê nên mới phải chém giết theo luật rừng. Hung thần sắp ra trước pháp đình để các ông quan tòa học cao hiểu rộng, sống cuộc đời sung sướng, an bình nơi đô thị, xét xử.

Bài tùy bút gợi lên một không gian là cái làng. Dân làng khốn đốn vì cộng sản chiếm làng ban đêm, Quốc gia làm chủ ban ngày. Chiến tranh xuất hiện với « Sao Vàng », với chiến thuật biển người, và chiến tranh cũng có bộ mặt dữ tợn của một chiếc phi cơ Mỹ : nó đã gầm thét dữ dằn rồi nó đã rơi xuống

Qua cảnh chiến tranh có hai nhân vật nổi bật : anh Ấm Sứt và anh Năm Hà. Chuyện anh Ấm Sứt bỏ làng lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, đôi lúc có phần khôi hài làm người đọc tạm quên trong chốc lát cái hoàn cảnh mất gốc của anh. Khi còn ở trong làng và bị bên kia bắt lùa đi để làm cái công việc tải thương ban đêm, anh phải học tập về những khúc tre chẻ ra và lật ngửa, trong đêm tối màu trắng của tre là dấu chỉ đường. Việc chạy trốn của anh tuy rất hồi hộp, nhưng lối kể chuyện của tác giả có phần dí dỏm : Anh Ấm Sứt hôm đó chạy trối chết. Anh chạy đến đâu, tưởng như phi cơ rít chận đầu đến đó. Dĩ nhiên, anh không chạy theo dấu thẻ tre. Với bên kia anh Ấm Sứt học tập về thẻ tre, với Mỹ anh làm thợ vịn. Ở tỉnh anh có vẻ hài lòng vì có công ăn việc làm, anh lại mở tiệc mừng đứa con thi đậu vào trường công. Nhưng anh chưa ý thức được sự mất mát lớn lao của anh : anh đã mất làng. Làng là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi cha ông của anh đã sống trong truyền thống địa phương và là nơi anh được dân làng biết đến và nể nang. Giờ đây anh là kẻ mất gốc, anh chỉ là một tay thợ vịn không ra gì, sống lạc loài ở thành thị.

Nhân vật thứ hai là anh Năm Hà. Anh hành động ngược lại, anh không chịu rời làng. Trong cuộc đời của anh Năm Hà có hai thời kỳ : thời kỳ xây dựng và thời kỳ sụp đổ. Vào thời kỳ xây dựng, anh Năm Hà vốn là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng. Nhưng từ ngày anh cưới được người vợ trẻ, có một thân hình hấp dẫn, anh bỗng đổi khác : anh trau chuốt cách ăn mặc, cách ăn nói. Lúc bấy giờ vào thời kháng chiến, anh Năm xông xáo tham gia vào những hoạt động xã hội, chính trị trong làng xã. Phải nói những cố gắng để ra khỏi tình trạng một nông dân tầm thường đã gây cho anh Năm Hà nhiều vất vả. Anh muốn chứng tỏ anh không phải là người tầm thường. Nhưng rồi anh bị tình phụ. Đến thời kỳ thứ hai là thời kỳ sụp đổ, cuộc đời anh Năm Hà xuống dốc. Chiến tranh lan tràn ở thôn quê, anh Năm Hà bị áp lực của đôi bên, một mình anh phải tả xung hữu đột, anh chém giết lung tung để tự cứu mạng sống, anh không còn biết đâu là thiện đâu là ác. Và trước mắt thiên hạ anh đã trở nên một hung thần.

Có sự chênh lệch trong cách miêu tả hai nhân vật. Mặc dù Võ Phiến tạo nên một anh Ấm Sứt khôi hài, anh ta chạy thục mạng, lên tỉnh làm thợ vịn cho Mỹ, nhưng người đọc không biết gì về nét mặt, hình dung của anh Ấm Sứt. Còn anh Năm Hà thì rất đậm nét : … anh ta trông khổ não. Người gầy choắt và đen, khuôn mặt hóp lại (…) anh ta lạc giọng, tắt tiếng : nói khàn khàn, gần như không phát ra âm. Và sau khi xảy ra nhiều vụ chém giết trong làng khiến anh Năm bị xem là hung thần,  anh xấu xí, khù khờ, người quắt queo, má hóp, tay cụt, kỳ hình dị dạng…  Sở dĩ anh Năm Hà được tô đậm nét là vì anh là trọng tâm của bài tùy bút, là biểu tượng của sự thống khổ của người dân quê trong cuộc chiến. Nếu không có chiến tranh, anh Năm Hà sẽ là một người nông dân cần cù với công việc đồng áng, được dân trong làng nể nang. Nhưng chiến tranh đã biến anh thành một quái vật, một hung thần. Chiến tranh đã tha hóa con người, đã hủy diệt cái phần cao đẹp của con người.

Nếu phải tìm cho hai nhân vật Năm Hà và Ấm Sứt một hình tượng, thì Năm Hà là người đứng thẳng, người đối đầu với chiến tranh và hứng chịu mọi hậu quả, Ấm sứt là người cúi xuống, người tránh né chiến tranh.

Có hai sự kiện cho thấy thân phận của người dân quê bị rơi vào một tình trạng chông chênh : thứ nhất là sự phân biệt xác địch, xác ta, phải dựa vào tiêu chuẩn nào ? Dựa vào lý do của cái chết, tức bị pháo vào hay bị câu ra ? Hay dựa vào nơi chết, tức vùng của địch hay vùng của ta ? Cách phân biệt như thế hoàn toàn vô lý, không phản ánh tư tuởng, lập trường của người chết. Vấn đề khó phân biệt « xác ta, xác địch » nói lên tình trạng bi thảm và sự vô lý của cuộc chiến tranh tương tàn, của huynh đệ tương tàn. Thứ hai là sự chênh lệch giữa thế giới của người dân quê nghèo, mộc mạc, thất học, nạn nhân của chiến tranh và thế giới của những ông quan tòa có học, quen cảnh sống sung sướng, an toàn ở thành thị. Hai hạng người trong xã hội xa lạ đối với nhau, hạng người được đời ưu đãi có quyền xét xử hạng người khốn đốn, trơ trụi, không có khả năng giải bày những uẩn khúc của mình. Anh Năm Hà sẽ câm nín trước một xã hội khắt nghiệt, nhưng hình hài quắt queo, tàn phế của anh có khả năng biện hộ cho anh không ? Hậu vận của anh rồi đây sẽ ra sao ?

Võ Phiến nhớ làng, ông nhắc đến những nhân vật của làng khi xưa như muốn làm tái sinh những nhân vật đó, làm tái sinh làng quê. Nhưng ông phải nhìn nhận rằng chiến tranh không những đã tàn phá thôn làng mà còn tha hóa con người.

Bài tùy bút được cấu trúc mạch lạc, nội dung gần với truyện ngắn, vì có một cốt truyện. Hình ảnh làng quê làm nên tính nhất quán của bài tùy bút. Võ Phiến vượt xa cái định nghĩa của tùy bút là gặp gì chép nấy, nghĩ sao nói vậy. Ông có một nghệ thuật tinh tế để xây dựng tùy bút. Trong bài Nhớ làng, ông phóng bút với một ý tưởng chủ đạo, rồi ý tưởng dần dần được tán rộng theo cách liên tưởng.

Người đọc Võ Phiến đã quen với từ rất Võ Phiến : Nhưng còn Ngô Xuân H… là ai vậy cà ? Và rồi có những trạng từ rất bình dân như : còn lâu, sức mấy, tạo nên một sự gần gũi với người dân quê :

có những số thiệt hại còn lâu mới kiểm điểm được.

Sức mấy ! Anh mong gì ngo ngoe nổi trước pháp luật ?

Văn phong của Võ Phiến tuôn chảy tự nhiên khi dí dỏm kể chuyện anh Ấm Sứt chạy trốn, khi chua xót nhận xét thân phận anh Năm Hà : Trong khi anh Năm Hà lặn ngụp trong sắt máu, trong cảnh giết chóc dã man, thì những vị đó lớn lên ở những đô thị an lành, học ở những trường đại học… nghiên cứu về luật pháp…

Võ Phiến đã biến anh Năm Hà thành một biểu tượng của người dân quê nạn nhân của chiến tranh. Bao nhiêu năm đã trôi qua, nhưng hình hài quắt quéo của anh Năm Hà vẫn sừng sững trước lịch sử, như một nỗi oán hận.

 

 

 

 

Advertisements