MIKHAÏL BAKHTINE, NHÀ LÝ THUYẾT VĂN HỌC

 

Trong bài tựa mở đầu cuốn Esthétique de la création verbale (Mỹ học của sáng tạo ngôn từ) của Bakhtine, Tzvetan Todorov nhận xét trong văn hóa Âu châu giữa thế kỷ 20, Mikhaïl Bakhtine là một trong những khuôn mặt làm người ta mê hoặc nhất, và là một trong những khuôn mặt bí ẩn nhất. Người ta bị mê hoặc vì tác phẩm của ông đồ sộ và độc đáo, ngay cả những nghiên cứu về khoa học nhân văn trong thời kỳ Xô Viết cũng không sánh kịp. Thêm vào sự thán phục, có một điều làm người ta lúng túng không biết rõ những nét đặc thù của tư tưởng Bakhtine như thế nào. Vì tư tưởng này có nhiều bộ mặt khiến người ta tự hỏi có phải những bộ mặt đó chỉ thuộc về một người duy nhất không ?

Mikhaïl Bakhtine sinh năm1895, tại thành phố Orel thuộc nước Nga, trong một gia đình vọng tộc trở nên nghèo. Ông theo học ngành sử học và ngữ văn học tại Đại học Novorossiisk, ngày nay là Đại học Odessa, rồi ông học tiếp ở Đại học Saint-Pétersbourg. Sự thật Bakhtine tự học nhiều hơn, chính nhờ ông miệt mài các môn triết học, mỹ học, ngữ văn học, mà về sau ông có được những tư tưởng độc đáo và những phương pháp để nghiên cứu văn học.

Bakhtine được xem như một nhà lý thuyết và nhà sử văn học. Lúc đầu ông chỉ cho xuất bản vài phần của một khối lượng biên khảo đồ sộ của ông. Về sau ông soạn lại, tu chỉnh những công trình nghiên cứu đã cho in trước đó 50 năm. Việc này đã gây nhiều khó khăn cho các nhà nghiên cứu, phê bình, khi họ tìm cách xác định những nguyên bản. Đó cũng là lý do khiến Bakhtine nổi danh rất muộn màng. Chính khi cuốn Problème de la poétique de Dostoïevski (Vấn đề thi pháp của Dostoïevski) được tái bản năm 1963 – cuốn này lần đầu tiên được xuất bản năm 1929 – thì tác phẩm của Bakhtine mới được nhìn nhận là có tính cơ bản. Cuốn sách được dịch sang Pháp ngữ năm 1970 với tựa đề : La Poétique de Dostoïevski (Thi pháp của Dostoïevski)

I Lập trường về mỹ học của Bakhtine

Vào thời Bakhtine bước vào lĩnh vực văn học thì tiếng tăm của chủ nghĩa hình thức đã lẫy lừng. Các nhà hình thức chủ nghĩa có những quan hệ mập mờ với chủ nghĩa mác xít, và họ không được trọng đãi, nhưng cái lợi của họ là tài năng, uy tín của họ rất hiển nhiên. Vậy để có một tiếng nói trong cuộc tranh luận về văn học và mỹ học vào thời bấy giờ, Bakhtine phải tự tạo cho mình một vị trí đối với các nhà hình thức chủ nghĩa.

Những công trình nghiên cứu của Bakhtine cho thấy ông xa cách với mỹ học của các nhà hình thức chủ nghĩa là những nhà phê bình, những nhà ngôn ngữ học, những nhà văn lúc bấy giờ rất được tín nhiệm ở Nga. Các nhà hình thức chủ nghĩa khẳng định rằng nghệ thuật và văn chương là những thực thể độc lập với thế giới bên ngoài, độc lập với đời sống và tính nhạy cảm của tác giả, cũng như của độc giả. Đối với họ, việc xây dựng tác phẩm, như thủ pháp kể truyện, sự tạo nên cốt truyện, quan trọng hơn nội dung tác phẩm, hơn những liên hệ của tác phẩm với những tác phẩm khác. Bakhtine bác bỏ cái ý nghĩ rằng tác phẩm chỉ là một chất liệu. Ông chỉ trích các nhà hình thức chủ nghĩa rằng họ không suy nghĩ về những căn bản lý thuyết và triết lý của học thuyết của họ. Các nhà hình thức chủ nghĩa, cũng như các nhà thực chứng chủ nghĩa, tin tưởng họ tạo nên một khoa học và đi tìm sự thật trong khi họ quên rằng họ đang dựa vào những cái giả định trước có tính tùy tiện, võ đoán. Theo Bakhtine, học thuyết của chủ nghĩa hình thức là một mỹ học của chất liệu, vì học thuyết đó quy các vấn đề sáng tạo thơ về những vấn đề ngôn ngữ : do đó mới có vấn đề vật hóa khái niệm « ngôn ngữ thơ », mới có sự tha thiết với những thủ pháp. Trong khi đó các nhà hình thức chủ nghĩa lơ là những khía cạnh khác của hành động sáng tạo như nội dung, hay quan hệ với thế giới, và hình thức được hiểu như sự can thiệp của tác giả, là một người có biệt tính biết chọn lựa trong những yếu tố thiếu đặc sắc, có tính chung chung của ngôn ngữ. Bakhtine nhận xét trọng tâm của nghiên cứu về mỹ học không phải là chất liệu, tức ngôn ngữ, mà là sự xây dựng hay cấu trúc của tác phẩm như là một nơi gặp gỡ và tác động qua lại giữa chất liệu, hình thức và nội dung. Sự gặp gỡ giữa ngôn ngữ, hình thức và nội dung được tổ chức bởi một người, đó là tác giả. Bakhtine muốn trả lại cho văn chương tất cả tầm quan trọng của nó, văn chương như là cách thức biểu đạt độc đáo, được quyết định bởi một chủ thể đã từng có một tiểu sử, một hệ tư tưởng, một thế giới tưởng tượng. Điều Bakhtine trách các nhà hình thức chủ nghĩa không phải học thuyết về hình thức của họ, mà chính là học thuyết về chất liệu.

II Quá trình tiến hóa của một tư tưởng

Suy nghĩ của Bakhtine trải qua ba thời kỳ : thời kỳ xã hội học và mác xít, thời kỳ ngôn ngữ học và thời kỳ sử học – văn học.

Trong thời kỳ xã hội học và mác xít, có hai cuốn sách ký tên V. N. Volochinov, đó là cuốn Le Marxisme et la Philosophie du langage (Thuyết Mác xít và Triết học ngôn ngữ) xuất bản năm 1929, bản Pháp ngữ ra năm 1977, và cuốn Le Freudisme (Học thuyết của Freud) xuất bản năm 1927, bản Pháp ngữ : năm 1980. Hai cuốn sách này có sự đóng góp của nhiều người, nhưng do chính Bakhtine viết. Hai tác phẩm chống lại một tâm lý học và một ngôn ngữ học chủ quan, và khẳng định vị trí hàng đầu của xã hội : ngôn ngữ và tư tưởng cấu tạo nên « con người », cần thiết phải có tính liên chủ thể. Con người chỉ được thấy nguyên vẹn bởi người khác, và Người khác tối cao là Thượng đế. Quan niệm này tiết lộ tính sùng đạo của Bakhtine.

Qua thời kỳ thứ hai, trong những năm 1930, Bakhtine tạo ra một ngôn ngữ học hướng về hành động phát biểu hơn là điều được phát biểu. Bakhtine chống ngôn ngữ học cấu trúc và thi pháp của chủ nghĩa hình thức. Ông xem ngôn ngữ như một tác động qua lại giữa hai người, chứ không chỉ là một cái mã. Quan niệm này được trình bày trong hai cuốn La Poétique de Dostoïevski (Mỹ học của Dostoïevski) và Esthétique et théorie du roman (Mỹ học và lý thuyết về tiểu thuyết), cuốn thứ hai này gồm sáu biên khảo viết giữa năm 1924 và năm 1941, xuất bản ở Nga năm 1975, bản Pháp ngữ ra năm 1978.

Thời kỳ thứ ba (1936-1938), thời kỳ sử học – văn học, có hai chuyên khảo : một về nhà văn Đức Goethe và một về nhà văn Pháp Rabelais. Chuyên khảo thứ hai mang tựa đề : François Rabelais et la culture populaire au Moyen Âge et sous la Renaissance (François Rabelais và văn hóa dân gian vào thời Trung Đại và thời Phục Hưng), là một chuyên khảo rất nổi tiếng.

III Những chuyên khảo lập thuyết

Nhắc đến tên tuổi của Bakhtine người ta liên tưởng trước tiên đến hai chuyên khảo có tính lý thuyết, đứng đầu các công trình nghiên cứu đồ sộ của ông, đó là : La Poétique de DostoïevskiFrançois Rabelais et la culture populaire au Moyen Âge et sous la Renaissance. Lúc đầu độc giả lúng túng, khó lòng hiểu được mối liên hệ giữa hai chuyên khảo. Nhưng cuốn Questions de littérature et d’esthétique (Các vấn đề văn học và mỹ học) ra năm 1975, năm Bakhtine mất, gồm những nghiên cứu nối dài về phong cách của Dostoïevski, và nghiên cứu chủ đề trong tác phẩm của Rabelais, đã nêu rõ mối liên hệ giữa hai chuyên khảo về Dostoïevski và Rabelais.

1/ Chuyên khảo François Rabelais và khái niệm carnavalcarnavalesque

Trong bài tựa cuốn Esthétique et théorie du roman, giáo sư Michel Aucouturier, một học giả chuyên về văn học Nga, cho biết François Rabelais nguyên là một luận án tiến sĩ của Bakhtine. Luận án này đã gây tiếng tăm cho Bakhtine năm 1946, tại viện Văn Học Thế giới ở Moscow, thế mà Bakhtine chỉ được phong cho cái chức « thí sinh khoa học ». Thời gian cho thấy « thí sinh khoa học » Mikhaïl Bakhtine sự thật là một nhà lý thuyết văn học tên tuổi lẫy lừng.

Chuyên khảo François Rabelais của Bakhtine là một chìa khóa để giải mã tác phẩm của nhà văn Pháp François Rabelais ở thế kỷ 16.

Từ carnaval của Pháp có nghĩa lễ hội hóa trang ngoài trời. Theo truyền thống của Thiên Chúa giáo, lễ hội này mỗi năm diễn ra từ ngày lễ Ba Vua đến đầu Mùa Chay. Tính từ của carnaval là carnavalesqueCarnavalesque được dùng trong lĩnh vực khoa học nhân văn như một khái niệm phân tích một số hiện tượng xã hội. Từ năm 1920, Bakhtine cho từ carnavalesque một nghĩa rộng hơn và sâu hơn : carnavalesque chỉ định một sự lật đổ tạm thời những thứ bậc tôn ti, những giá trị của xã hội, lễ hội hóa trang ngoài trời là một ví dụ của sự lật đổ đó. Theo Bakhtine, lễ hội carnaval là một trong những biểu lộ mạnh nhất của văn hóa dân gian trong chiều kích lật đổ của nó. Đó là một cơ hội để dân chúng lật đổ một cách biểu tượng và trong một thời gian giới hạn, tất cả những thứ bậc được thiết lập giữa quyền lực và kẻ bị thống trị, giữa người quý tộc và người phàm phu, giữa cái trên và cái dưới, giữa cái thiêng liêng và cái phàm tục. Đỉnh điểm của sự lật đổ là việc bầu một ông vua trong lễ hội carnaval để thay thế một cách biểu tượng và ngắn hạn ông vua thật đang có quyền lực.

Vậy có hai thế giới : thế giới chính thức ngoài đời và thế giới không chính thức trong lễ hội carnaval. Sự liên kết giữa hai thế giới chính thức – phi chính thức có tính biện chứng : hai thế giới họp lại với nhau và loại trừ nhau.

Theo Bakhtine từ carnavalesque dùng trong nghĩa rộng chỉ định cuộc sống phong phú, đa dạng của lễ hội dân gian qua nhiều thế kỷ. Bakhtine viết : Nguyên lý cười và cảm giác về tính lễ hội carnaval của thế giới làm nền tảng cho sự quái dị, phá hủy tính nghiêm túc độc chiều và tất cả những tham vọng muốn có một ý nghĩa và một tính tuyệt đối ở ngoài thời gian. Trong cái thế giới đôi, chính thức – phi chính thức, phải có một nơi để cười. Cười là một động lực tạo nên tinh thần carnavalesque. Cười bắt nguồn từ thế giới phi chính thức để chống lại thế giới chính thức. Nhưng cười như thế nào ?

Cười có mục đích chế nhạo, làm mất phẩm giá và trở nên đe dọa : những người tham gia lễ hội carnaval vui mừng vì chế nhạo được các thứ bậc chính thức. Thế giới phi chính thức trở nên có thế lực. Cười cũng có thể hướng về cái bất lịch sự, cái không hợp lề thói giữa quan niệm của chúng ta và sự nhận thức về một hoàn cảnh nào đó. Động lực của hai loại cười trên đây là sự thay thế. Chẳng hạn thay thế ông vua có thật bằng một con lừa hoặc bằng một tên hề, cũng có thể sự thay thế phần trên của thân thể bằng phần dưới. Một loại cười khác nữa là khi trở về thế giới của chuẩn mực, của hiện thực, người ta thất vọng, khi đó cái cười nảy sinh từ ý thức rằng cái ảo không bao giờ là thực.

Theo Bakhtine, lễ hội carnaval đưa ra một hình thức giải phóng, là cơ hội để dân chúng vui mừng về một sự đổi mới. Một cơ hội để đưa ra ánh sáng một cuộc sống tự do hơn. Bakhtine nhận thấy cười là một hiện tượng chủ yếu cho việc tiết lộ sự tự do đó. Vậy cười luôn luôn có tính tích cực.

Từ truyền thống lễ hội carnaval thời Trung Đại và thời Phục Hưng, Bakhtine đặt ra một định đề rằng văn chương có thể là cái nơi của sự lật đổ tư tưởng đối với xã hội. Việc đi từ truyền thống truyền khẩu của những cuộc biểu diễn trong lễ hội carnaval đến truyền thống viết về tính carnavalesque đưa đến việc carnaval hóa người đọc. Lễ hội carnaval, với những hình thức và biểu tượng của nó, và nhất là với sự nhận thức một thế giới đặc thù, đã len lỏi vào nhiều thể loại văn chương trong nhiều thế kỷ, đã tan vào những thể loại đó và nhào nặn chúng. Lễ hội carnaval đã biến hóa trong văn chương. Bakhtine tìm ra trong tác phẩm của Dostoïevski hiện tượng carnaval hóa. Vậy hình thức của lễ hội carnaval được chuyển vào ngôn ngữ văn chương, trở thành những phương tiện nghệ thuật.

Có thể nói tác phẩm văn chương của François Rabelais bị vượt xa bởi cái nhãn quan chính trị và cách mạng, khiến văn chương diễn đạt và tổ chức đời sống xã hội. Với khái niệm carnavalesque, Bakhtine miêu tả sự tương tự giữa văn hóa dân gian và tác phẩm của François Rabelais. Nhưng có nhiều điểm chưa được rõ ràng. Trước hết nhà văn François Rabelais không hướng về một công chúng bình dân, công chúng này, vào thời đó, phần đông mù chữ, nhưng ông hướng về độc giả có văn hóa. Vậy làm sao hiểu được rằng tác phẩm của Rabelais phản ánh văn hóa dân gian ? Ngoài ra cần đặt lại bối cảnh xã hội của lễ hội carnaval thời Trung Đại. Cuối cùng cần nghiên cứu địa vị xã hội của François Rabelais trong lĩnh vực văn học thời của ông. Những điểm trên đây nếu được nghiên cứu rộng rãi có thể bổ sung cho tác phẩm của Bakhtine.

2/ Khái niệm chronotope

Trong cuốn Esthétique et théorie du roman, Bakhtine muốn vượt khỏi sự gián đoạn giữa một « chủ nghĩa hình thức » trừu tượng và một « chủ nghĩa hệ tư tưởng » cũng không kém trừu tượng. Ông cho rằng những hệ tư tưởng cũng như ngôn ngữ là những hệ thống ký hiệu ở trong một cộng đồng xã hội, ông khẳng định « ưu thế của xã hội trên cá nhân » ; tác phẩm văn học là tác phẩm về ngôn ngữ, nhưng không thể chỉ được nghiên cứu về phương diện hẹp hòi của ngôn ngữ học. Và cũng vô ích nếu biệt lập khỏi tác phẩm cái nội dung, vì « hình thức và nội dung chỉ là một trong cái diễn ngôn được hiểu như một hiện tượng xã hội ». « Hình thức nghệ thuật, chính là hình thức của một nội dung, nhưng hoàn toàn được thực hiện trong một chất liệu, và như là dính liền với chất liệu ». Khi cho ngôn ngữ học và xã hội học ăn khớp với nhau, Bakhtine định nghĩa tiểu thuyết như « một trò chơi đúng là văn chương với những ngôn ngữ của xã hội ».

Chronotope cũng là một « phạm trù của hình thức và nội dung ». Chronotope do tiếng Hy lạp : khronos là thời gian và topos là nơi chốn. Chronotope « quyết định đơn vị nghệ thuật của một tác phẩm văn chương trong những liên hệ của nó với hiện thực ». Bakhtine viết : « Chúng tôi gọi chronotope, dịch đúng từng chữ là  thời gian – không gian, là sự tương quan chủ yếu của những liên hệ không gian – thời gian như đã được thu nhận trong văn chương. Trong không gian – thời gian của nghệ thuật văn chương có sự dung hợp của những dấu hiệu không gian và thời gian tạo thành một tổng thể dễ hiểu và cụ thể. Ở đây thời gian cô đọng lại, trở thành chắc nịch (…), trong khi đó không gian tăng cường lên, ùa vào sự vận hành của thời gian, của chủ thể, của Lịch sử. » Tính đặc thù của một tác phẩm hay một thể loại là do cái cách tác phẩm hay thể loại đó làm nổi bật và sắp xếp thế giới trong những phạm trù của thời gian và không gian.

Bakhtine nghiên cứu chronotope trong tác phẩm của François Rabelais. Ông nhận thấy trước tiên rằng Rabelais thiết lập một « tỷ lệ trực tiếp » giữa phẩm chất và số lượng : tất cả những gì có giá trị đều có xu hướng chiếm không gian và thời gian, đặt ra một thứ tự mới cho thế giới. Thế giới lập nên « những liên hệ hợp lý bất ngờ » giữa các vật thể và ý tưởng dưới hình thức của bảy loại : thân thể, áo quần, thức ăn, đồ uống, dục tính, cái chết, phân người.

Cái nhãn quan mới đó về thế giới cắt đứt với quan niệm của thuyết hậu thế về sự tận thế, sự sống lại và sự phán xét con người, của thời Trung Đại, và đưa ra định đề về việc đánh giá lại đời sống trên trần thế có tính lạc quan của thời Phục Hưng. Như thế tác phẩm của François Rabelais đã sáng tạo một nhận thức mới về thời gian và không gian đúng với nhãn quan của thời Phục Hưng.

Sở dĩ Bakhtine quan tâm đến vấn đề lễ hội carnaval, có lẽ vì lễ hội này không phân biệt tác giả với khán giả, cũng có lẽ vì lễ hội carnaval nhại đời sống ngoài đời và kịch trên sân khấu mà không quyết định đâu là nghệ thuật, đâu là phi nghệ thuật. Vì đó là cái ý chính trong tất cả những nghiên cứu của Bakhtine, cái ý muốn giải thích nguyên lý đối thoại, nguyên lý này làm nền tảng cho mọi tác phẩm văn học.

3/ Từ chuyên khảo Thi pháp của Dostoïevski đến lý thuyết về tiểu thuyết

Một trong những biên khảo đầu tiên của Bakhtine tên là L’auteur et le héros (Tác giả và nhân vật) về sau mang tựa đề Esthétique de la création verbale (Mỹ học về sáng tạo ngôn từ), xuất bản năm 1984. Trong cuốn sách này, Bakhtine triển khai cái luận đề cơ bản của tư tưởng ông, đó là người sáng tạo và những nhân vật của người này ở trong một hoàn cảnh như nhau đối diện với ngôn ngữ. Bakhtine bắt đầu thấy trong tiểu thuyết của Dostoïevski những phát biểu đa âm trong đó tiếng nói của tác giả không có uy quyền hơn tiếng nói của các nhân vật. Ông viết : « Tác giả chỉ là người tham gia vào đối thoại ».

Sau thời kỳ đó, Bakhtine nhận thấy trong tác phẩm của Dostoïevski một thứ nhất quán tên là « con người », nhưng thật ra nhất quán đó thuộc số nhiều, có tính hay thay đổi và hoàn toàn tùy thuộc kẻ khác.

Bakhtine quan tâm đến vị trí của văn bản ở giữa ngôn ngữ và lịch sử. Ông muốn tìm ra một phương pháp phân tích xuyên ngôn ngữ (translinguistique), và ông nhấn mạnh về thuyết đối thoại. Đối với Bakhtine « đối tượng chính yếu của thể loại tiểu thuyết làm cho tiểu thuyết có tính đặc thù và tạo nên phong cách độc đáo của nó, chính là « con người nói và lời nói của con người », diễn ngôn của người nói luôn luôn là một ngôn ngữ của xã hội, trong ngôn ngữ đó những yếu tố thuộc nhiều ngôn ngữ khác hoà hợp nhau. Do đó tiểu thuyết có tính đa âm, là đối thoại giữa những ngôn ngữ linh tinh thuộc những diễn ngôn làm nên một văn hóa.

Chuyên khảo về thi pháp của Dostoïevski cho thấy tác phẩm của Dostoïevski là trọng tâm của sự suy nghĩ của Bakhtine. Dostoïevski là người sáng tạo tiểu thuyết đa âm, với nhiều tiếng nói và nhiều tâm thức khác nhau. Điều hiện ra trong tác phẩm của Dostoïevski không phải là vô số cá tính và định mệnh ở trong một thế giới duy nhất và khách quan, chỉ được soi sáng bởi tâm thức của tác giả, mà là vô số những tâm thức và những vũ trụ của những tâm thức đó phối hợp với nhau mà không nhập làm một, trong sự nhất quán của một biến cố nào đó. Trong cuốn Mikhaïl Bakhtine, Le principe dialogique (Mikhaïl Bakhtine, Nguyên lý đối thoại), Todorov viết : « Tiếng nói của một người, theo Bakhtine, chỉ khi nào nó sáp nhập vào sự đồng thanh phức tạp của những tiếng nói khác, nó mới được nghe thấy. »

Trong chuyên khảo về thi pháp của Dostoïevski, Bakhtine khẳng định lập trường của ông : « Nếu, trong cái nhãn quan và trong việc giải thích cái thế giới được thể hiện, người ta tự đặt mình ở góc độ của quan hệ nhân quả và của những quy chuẩn độc thoại, thì thế giới của Dostoïevski có vẻ như là hỗn độn và sự cấu tạo tiểu thuyết của ông như là một khối chất liệu không đồng nhất, và những nguyên lý khó lòng liệt kê. Chỉ khi nào xem xét mục đích nghệ thuật do Dostoïevski chọn lựa, người ta mới có thể hiểu thi pháp của ông thật ra rất là có tổ chức, hợp lý và thuần nhất. »

Đối với Bakhtine, nếu mọi lời phát biểu đều có tính đa âm, thì chỉ có tiểu thuyết trau dồi tính đa âm đó nhằm những mục đích thẩm mỹ.

Lý thuyết của Bakhtine về tiểu thuyết được trình bày trong cuốn Esthétique et théorie du roman. Tiểu thuyết được xem như một tổng thể, là một hiện tượng đa phong cách, đa ngôn ngữ, đa âm. Tiểu thuyết là sự đa dạng của ngôn ngữ về mặt xã hội, đôi khi là sự đa dạng của những ngôn ngữ và tiếng nói của cá nhân, sự đa dạng được tổ chức trên bình diện văn chương. Bakhtine mở rộng viễn ảnh của tiểu thuyết. Theo ông, tiểu thuyết không thể được xếp vào bất cứ loại nào, bởi vì tiểu thuyết là thể loại duy nhất đã ra đời ngay sau khi có chữ viết và sách đọc, là thể loại duy nhất luôn luôn tự đặt lại vấn đề, đặt lại vấn đề cấu trúc, nguyên lý và ngay cả bản chất nguyên lai của chính tiểu thuyết. Những hình thức khác được định hình, được mã hóa, còn tiểu thuyết xô đẩy những cái khung, những giới hạn, tiểu thuyết thay hình đổi dạng, tiểu thuyết có thể đưa vào những đoạn của kịch bản hay thi ca. Nội dung đặc thù của diễn ngôn tiểu thuyết là sự chưa hoàn thành, là sự tiến triển.

Tiểu thuyết lại khác với sử thi ở ba điểm :

1/ Truyện của người anh hùng trong sử thi thuộc về một quá khứ không liên quan gì với thời gian của người kể truyện hay của dân chúng.

2/ Quá khứ tuyệt đối đó được xây dựng trên nền tảng của những giá trị vững chắc, bất biến.

3/ Các nhân vật và thế giới của sử thi xa cách với thế giới hằng ngày.

Trong tiểu thuyết, sự xa cách đó bị phá hủy. Vậy tiểu thuyết rất xa sử thi dù cho tiểu thuyết « bao gồm những yếu tố không tưởng và biểu tượng », nhưng bản chất và chức năng của những yếu tố này không còn như ở trong sử thi.

Ngay từ lúc khởi đầu các công trình nghiên cứu, Bakhtine đã rất tha thiết với nguyên lý đối thoại, ông muốn tra vấn thế giới của tiểu thuyết theo tiêu chí của sự thật, của liên hệ của tiểu thuyết với đời sống hằng ngày, tra vấn liên hệ của tiểu thuyết với những văn bản đã có trước, điều này rất mới vì nó đưa đến hiện tượng mà về sau Julia Kristeva gọi là intertextualité (tính liên văn bản). Tác giả tiểu thuyết theo đuổi những người đi trước ; tại sao người phê bình bàn về một tác phẩm văn học lại không đối thoại với tác phẩm ? Đối với giới phê bình hiện đại, khía cạnh này thật là chủ yếu và vô cùng hấp dẫn.

Từ những chuyên khảo có tính lập thuyết, Bakhtine đã mở rộng tầm nhìn về lịch sử văn học, về thể loại tiểu thuyết. Và như đã nói, một trong những suy nghĩ của ông đã đưa đến thuyết liên văn bản, khiến công việc nghiên cứu và phê bình văn học có thêm chiều kích tiến hóa. Phần đóng góp của Bakhtine vào lĩnh vực văn học quả rất lớn lao.

Tài liệu tham khảo :

Bakhtine, La Poétique de Dostoïevski, Seuil, 1970.

Bakhtine, Esthétique et théorie du roman, Gallimard, 1978.

N. Toursel, J. Vassevière, Littérature : textes théoriques et critiques, Nathan, 1994.

T. Todorov, Critique de la critique, Seuil, 1984.

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements