TRUYỆN “YÊU” CỦA CHU TỬ NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÂN TÂM HỌC

 

Với sự phát triển của các ngành khoa học nhân văn, chân trời phê bình văn học được mở rộng. Ngày nay một tác phẩm văn học, nếu là một tác phẩm phong phú, có thể được tiếp cận nhiều cách, được giải thích theo nhiều hướng. Bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học cho thấy xã hội miền Nam, vào những năm 60 của thế kỷ trước, đã tiến hóa như thế nào trong một bối cảnh lịch sử mới. Truyện Yêu cũng có thể được tiếp cận từ góc độ phân tâm học, vì độc giả có thể tự đặt câu hỏi về đời sống tâm lý, tình cảm ngoại lệ của nhân vật Đạt. Đọc một tác phẩm văn học qua lưới phân tâm học là tra vấn tác phẩm để cố tìm một phần nào vô thức của tác giả qua nhân vật, qua cốt truyện, v.v… dù biết rằng vô thức ở trong chiều sâu của con người, khó nắm bắt được.

Nói đến phân tâm học là nói đến vô thức, vì vô thức làm nền tảng cho học thuyết của Freud. Nhưng Freud nhìn nhận ông không phải là người đã phát hiện vô thức. Ông viết : Các nhà thơ và các nhà triết học đã phát hiện vô thức trước tôi : điều mà tôi đã phát hiện, chính là cái phương pháp khoa học cho phép nghiên cứu vô thức (1).

Khi một nhà văn xây dựng một truyện hư cấu, ông (hay bà) cho rằng mình hoàn toàn chủ động trong việc tưởng tượng cốt truyện, miêu tả nhân vật, chủ động trong lối viết, lối chọn từ ngữ, v.v… Tóm lại nhà văn tin chắc mình sáng tạo hoàn toàn theo ý muốn của mình. Có điều nhà văn không nghĩ đến là quyền chủ động của nhà văn thật ra bị vô thức điều khiển. Vai trò của phân tâm học là giải thích rằng đời sống tâm lý con người tùy thuộc vô thức, con người không hoàn toàn tự làm chủ mình được. Chính tác giả Chu Tử trong truyện cũng nhìn nhận sự hiện diện của vô thức mà nhân vật Tuyết của ông gọi là « tiềm thức », khi cô quả quyết chị Diễm của cô yêu thầy Đạt. Khi Diễm cho rằng lời nói : Nhớn lên cháu lấy chú Đạt thốt ra khi nhỏ lúc đi tắm suối với thầy Đạt là chuyện con nít, thì Tuyết nói : Quan hệ lắm chứ ! Câu đó chứng tỏ là chị đã yêu ông ta từ lâu, yêu trong tiềm thức, mà tiềm thức là cái bất trị lắm, không thể coi thường được. Cũng như khi đi dạo phố với Khải, người chồng chưa cưới, Diễm vô tình mặc cái áo dài do Đạt tặng. Vô thức của Diễm qua sự chọn lựa cái áo đã tiết lộ tình yêu âm thầm của Diễm đối với Đạt.

Nội dung truyện Yêu đã được trình bày trong bài Truyện « Yêu » của Chu Tử nhìn từ góc độ xã hội học, nay chỉ xin nhắc lại các nhân vật chính trong truyện. Thúc, một giáo sư triết học, có vợ là Hoà và bốn cô con gái đã lớn, đến tuổi lấy chồng : Uyển là sinh viên luật khoa, Diễm sắp vào đại học dược khoa, Huyền dọn thi tú tài và Tuyết học trường Tây, bốn cô gái mỗi người đẹp mỗi vẻ và tính tình khác hẳn nhau. Đạt là bạn của Thúc, cũng là nhà giáo, thường đến dạy thêm cho bốn cô con gái của Thúc. Ngoài các nhân vật này còn có Tuấn, họa sĩ và là học trò cũ của Thúc, Trang, em gái của Tuấn, làm nghề vũ nữ, học trò cũ của Đạt. Khải, một sinh viên y khoa, sắp ra trường, chồng tương lai của Diễm. Vậy trong truyện Yêu có nhiều nhân vật, nhân vật nào cũng có những nét đặc thù, nhưng chỉ có một nhân vật nổi bật, có sức lôi cuốn sự chú ý của độc giả, vì nhân vật này có một đời sống tâm lý lạ lùng, đó là nhân vật Đạt. Tuy sống trong thực tế như mọi người, tham gia vào những sự kiện, những biến cố xảy ra chung quanh mình, nhưng con người Đạt tách rời cái đời sống thực tế đó, để âm thầm sống một cuộc đời khác. Những nhân vật nữ như Hội, bạn của Diễm, như Trang đều cho rằng Đạt ngây thơ, nhút nhát, thiếu tính quyết định, thật ra những tính từ đó được gán cho Đạt là cái bề ngoài che đậy một đời sống nội tâm đang đeo đuổi một ám ảnh, một chủ đích. Đạt sống trong một tâm trạng căng thẳng, chờ đợi, một tâm trạng không bao giờ được giải quyết. Vấn đề hệ trọng của Đạt là một tình yêu ngoại lệ, hay nói theo phân tâm học, một ham muốn, ham muốn một người con gái mãi mãi ở ngoài tầm tay của mình, tức một ham muốn không được thỏa mãn, toại nguyện.

I Con đường quanh co của ham muốn

Trong truyện Yêu, có điều lạ là một lời nói của trẻ con bỗng nhiên có khả năng quyết định cuộc đời tình cảm của một người đàn ông. Cô bé Diễm khi lên bảy tuổi, có lần đi tắm suối với chú Đạt đã nói : Nhớn lên, cháu lấy chú Đạt. Câu nói vô tình và vô tội làm nảy sinh một xung năng, một ham muốn nơi Đạt. Về sau, trong thư gửi cho Diễm, Đạt nói nhớ đến lời của Diễm năm xưa : Tôi nhớ và tôi đợi Diễm nhớn lên !… Và Đạt khẳng định : … sẽ không có ai yêu Diễm như tôi yêu Diễm, từ mười năm nay, từ cái buổi bên dòng suối, tôi bế cái thân hình bé bỏng, trong trắng của Diễm trong lòng và tự nhủ : « Cái kho tàng này là thuộc về phần ta » (tr. 48-49).

Vậy truyện Yêu là truyện của một ham muốn. Ham muốn là tính đặc thù của con người, chỉ có con người mới biết ham muốn, thú vật chỉ có nhu cầu và chỉ tìm cách thỏa mãn nhu cầu. Theo Freud, trong con người có vô số xung năng vô thức. Những xung năng này bị sự kiểm duyệt kìm nén trong vô thức, nhưng một khi được trá hình, chúng có thể được thực hiện qua những giấc mơ, những hành động hụt, những triệu chứng loạn thần kinh. Phân tâm học cho bản năng dục tính một nghĩa rộng, một tầm quan trọng lớn trong đời sống con người. Với khái niệm libido (dục năng), Freud đưa ra một quan niệm mới về ham muốn, về mục tiêu và mục đích của ham muốn.

Đối với mọi người, ham muốn chủ yếu được thực hiện dưới hình thức của bản năng dục tính với tình dục khác giới và nhằm đi đến cực khoái.

Đối với Freud, bản năng dục tính có một nghĩa rộng lớn hơn, nó chỉ định một tổng hợp xung năng, tiếng Đức Trieb có nghĩa là xung năng do động từ treiben có nghĩa là đẩy, vậy xung năng là cái đẩy (thúc đẩy) chúng ta làm điều gì, là cái mà Freud chỉ định bằng từ la tinh libido có nghĩa là ham muốn. Libido là toàn thể những xung năng có dục tính. Libido có đặc tính là có khả năng biến hóa, thay đổi mục tiêu và mục đích của ham muốn. Theo nguyên lý thích thú (Lustprinzip / Principe de plaisir) chi phối đời sống tâm lý con người, thì ham muốn bắt nguồn trong một tâm trạng căng thẳng, và mục đích của nó là làm giảm bớt tâm trạng căng thẳng đó.

Trở lại ham muốn của Đạt. Khi dạy học bốn cô con gái của bạn mình, Đạt có cơ hội theo dõi sự khôn lớn của Diễm, và Đạt không cầm lòng được trước một thiếu nữ có một vẻ đẹp kín đáo, đài các, tính tình lại dịu dàng, thùy mị. Ham muốn của Đạt là một ham muốn chiếm hữu, nhưng nó không đơn giản chỉ là ham muốn dục tình, nó vói cao hơn : Đạt vừa ham muốn Diễm vừa biến Diễm thành một thần tượng để tôn thờ. Trong bức thư thứ hai gửi cho Diễm, Đạt viết : Anh vẫn tôn trọng em như một thần tượng cao xa vòi vọi, mà anh không vói tới (tr. 182). Nhà phân tâm học Jacques Lacan nhấn mạnh rằng mối liên hệ của ham muốn chủ yếu là mối liên hệ với người kia, với tính cách là người kia. Người được ham muốn là một chủ thể, không phải là một vật thể. Liên hệ giữa người ham muốn và người được ham muốn có tính liên chủ thể.

Trong khi ham muốn của Thúc đối với Hằng xảy ra đột ngột, bốc cháy và được thỏa mãn nhanh chóng, thì ham muốn của Đạt xuất hiện từ lâu, lớn dần, mạnh dần qua nhiều giai đoạn, và ham muốn đó tự vạch một con đường bất chấp mọi trở ngại, như sự chênh lệch tuổi tác hay kỷ cương của lễ giáo trong một xã hội vẫn còn tôn ti trật tự, bất chấp những biến cố có tính đe dọa sắp xảy ra, bất chấp thời gian.

Giai đoạn một : bước đầu táo bạo. Xung năng ham muốn của Đạt quá mạnh mẽ khiến Đạt vượt khỏi những định kiến nặng nề của xã hội truyền thống để tỏ ý muốn hỏi Diễm làm vợ, và Đạt gặp ngay sự chống đối quyết liệt của Hoà, mẹ của Diễm. Một mặt Hoà sắp đặt để Diễm thành hôn với Khải, người thanh niên đồng trang lứa với Diễm, có một tương lai đầy hứa hẹn. Mặt khác Hoà cho Diễm về nghỉ hè ở Vĩnh Bình để xa lánh Đạt.

Giai đoạn hai : đỉnh cao của ham muốn. Đạt không sờn lòng. Khi hay tin Diễm đi Vĩnh Bình, Đạt vội vàng về Vĩnh Bình. Phải nói từ ngày biết Đạt có ý định xin được hứa hôn với Diễm, Diễm bàng hoàng nhớ lại kỷ niệm năm xưa và cảm thấy như bị tình yêu của Đạt lôi cuốn, cảm thấy có cái gì ràng buộc cô với thầy Đạt. Nhưng Diễm vẫn còn đủ lý trí để vâng lời mẹ, về Vĩnh Bình để bình tâm suy nghĩ. Không ngờ Đạt xuất hiện. Thắng cảnh ao Bà Om, nơi hai người đến viếng, đánh dấu cao điểm của mối tình ngoại lệ này. Trước cảnh tượng những đứa bé tắm ao, cả hai đều xúc động nhớ đến kỷ niệm xưa. Trong tâm trạng đó, những bước đi của Diễm trở nên lảo đảo, và có một lúc Diễm vấp vào một rể cây, Đạt dang tay đón Diễm, cô ôm chầm lấy Đạt và thốt lên tiếng « Anh ». Đạt sung sướng muốn đặt một nụ hôn lên trán người yêu, nhưng Đạt vụng về, không làm được cử chỉ đó. Dù sao tiếng « Anh » và nỗi sung sướng của Đạt cũng đủ đánh dấu giây phút thần tiên của hai người.

Giai đoạn ba : tình yêu của Diễm vừa làm tăng ham muốn của Đạt vừa gieo sầu muộn. Trước khi đi lấy chồng, Diễm gửi cho Đạt một bức thư tình đầu tiên và cũng là cuối cùng, không còn gọi Đạt là thầy nữa. Diễm thú nhận tình yêu của mình đối với Đạt : … em lại khám phá ra rằng em đã nghĩ tới anh, từ bao nhiêu năm nay, trước khi Ba em cho biết ý của anh, trước khi nhận được thư anh (tr. 163). Còn đối với mẹ thì Diễm nói : … nếu con được làm theo ý riêng con thì con sẽ lấy ông Đạt (tr. 168-169).

Cũng trong thư đó Diễm tỏ ý, trước khi vĩnh biệt Đạt để đi lấy chồng, tặng Đạt một món quà, cô hứa sẽ làm bất cứ điều gì theo ý muốn của Đạt, nhưng với điều kiện Đạt đừng hôn cô để tình yêu đó mãi mãi trong trắng.

Giai đoạn bốn : bức chân dung của vĩnh biệt. Món quà vĩnh biệt Diễm tặng Đạt là ngồi cho Đạt vẽ. Ham muốn của người đang yêu trở thành, trong chốc lát, ham muốn của người nghệ sĩ, cái đẹp thắng cái khổ : Nhưng khi ngồi trước giá vẽ, nhìn vào đôi mắt cố mở to để nước mắt khỏi trào ra của Diễm, nhìn vào đôi mắt não nùng như muốn tan ra thành lệ của Diễm, trong giây phút đó, con người si tình của Đạt hầu như bị con người nghệ sĩ lấn át, khiến Đạt chưa kịp cảm thấy đau xót tuyệt vọng mà chỉ nhìn thấy cái đẹp mông lung, phù du của đôi mắt. Đạt cảm thấy cần phải ghi ngay lên khung vải, cái ánh biệt ly đang dâng lên khoé mắt người yêu ! (tr. 201) Những cố gắng của Diễm chỉ đến chừng đó, cô từ chối, không cho Đạt vẽ vai và ngực trần của mình. Đạt bỗng nảy ra cái ý vẽ một bức tranh khác theo tưởng tượng, một bức tranh vẽ Diễm ngửa mặt đón nước mưa đang chảy ròng trên mặt, trên vai, trên ngực. Diễm nhìn bức tranh thứ hai mà rùng mình : Đạt vẽ Diễm giống quá. Khi nhìn đôi mắt mình trong tranh Diễm hiểu tất cả tình cảm sâu xa của mình đối với Đạt và không dễ gì mà nàng có thể dứt tình được (tr. 203). Trước khi ra về, Diễm xin Đạt bức tranh thứ nhất. Diễm không còn tin vào sự cứng rắn của mình nữa, cô lo sợ và vội vàng từ biệt Đạt. Nghi thức vĩnh biệt không che lấp được ham muốn. Đạt nói : Nhưng em đừng tưởng là anh sẽ mất em, em sẽ quên nổi anh đâu ! Anh nhất định sẽ không để mất em, em nhớ lấy ! … (tr. 206) Khi Diễm ra về, Đạt tự giận mình không có can đảm để tiến thêm một bước trong tình yêu. Đạt nhìn bức tranh Diễm và hét to : « Tôi chỉ muốn ngủ với người tôi yêu », lặp lại câu nói của một nhân vật tiểu thuyết. Ham muốn của Đạt đã đến một mức độ nồng nhiệt quá lớn.

Giai đoạn năm : Ham muốn bị xúc phạm. Trang đến nhà Đạt, thấy Đạt bơ phờ bên cạnh bức tranh vẽ Diễm, Trang đâm ghen tức và hung hăng xé toạt bức tranh. Một xúc phạm quá lớn đối với tình yêu ham muốn của Đạt.

Giai đoạn sáu : Ham muốn chẳng những bị đe dọa, mà còn bị đẩy vào quên lãng với hai cuộc hôn nhân : hôn nhân của Diễm với Khải và hôn nhân của Đạt với Trang. Đạt không cưới được Diễm thì cưới Trang như một người thay thế. Nhưng  người thay thế sẽ không bao giờ là người được thay thế. Hôn nhân Đạt-Trang bề ngoài như một dứt khoát cuối cùng. Nhưng ham muốn của Đạt vẫn còn đấy, Đạt sống trong tâm trạng hững hờ, để mặc cho chị em Diễm tổ chức lễ cưới của mình với Trang, Đạt có cảm tưởng hình như tất cả các việc đứng đắn, quan trọng, đánh dấu một khúc ngoẹo trong đời chàng (…) là việc của ai chứ không phải của chàng. Bởi vì chàng chưa thấy mình sống một cách thật đầy đủ, trọn vẹn cái tâm trạng của một người « đi lấy vợ ». Chàng thấy mình vẫn là mình, chưa có gì thay đổi. Ngay cả khi đứng bên cạnh cô dâu Trang, Đạt càng có cảm tưởng mình chưa có tâm hồn một chú rể, chàng tự nhủ : « Lấy vợ có thế này thôi à ? » (tr. 337).

Giai đoạn bảy : Ham muốn nhanh chóng trổi dậy với một biến cố bất ngờ : tin Khải tử nạn. Kể từ nay cuộc đời của Diễm đã trở lại tự do. Ham muốn của Đạt không còn gặp trở ngại, mặc dù Trang vẫn là vợ Đạt. Sở dĩ ham muốn của Đạt trở nên một ám ảnh kiên trì là vì ham muốn đó có hai mặt : dục tình và thanh cao. Đạt ham muốn thân xác của người yêu : … anh muốn bức chân dung đó là bức chân dung em để trần hở vai và ngực (tr. 182)… khuôn mặt em, làn tóc em, vành môi em (…), từng nét, từng đường của thân hình em… (tr. 183). Nhưng sự ham muốn nồng nhiệt bị tê liệt. Tại sao Đạt không dám hôn Diễm ? Vì Diễm được thanh cao hóa và trở nên một thần tượng mà Đạt tôn thờ. Đạt có thể hôn Trang một cách xác thịt, bừa bãi, nhưng Diễm thì không, Diễm là cái gì sáng chói, cùng lắm Đạt có thể đưa tay đỡ Diễm khi cô vấp ngã ở ao Bà Om. Thần tượng Diễm quá mong manh, trong trắng và quý hóa, đòi hỏi một cách cư xử đầy trân trọng. Cho nên ham muốn dục tình bị thất bại, một lần ở ao Bà Om, lần khác khi hai người vĩnh biệt nhau. Đạt bứt rứt và tự giận mình một cách thê thảm. Hai bức tranh Đạt vẽ chân dung của Diễm là biểu tượng cho hai khía cạnh của ham muốn đó : một bức chân dung u buồn của thần tượng cao xa và bức chân dung để hở một phần thân xác của người yêu. Trong con người Đạt có sự xung đột giữa ham muốn dục tình và ham muốn được thanh cao hóa.

II Viết theo vô thức

Vô thức đưa đẩy ngòi bút của tác giả để vẽ lên một nhân vật giống tác giả ít nhiều, Đạt là nhà giáo giống Chu Tử ; trước khi trở thành nhà báo, nhà văn, Chu Tử đã từng là nhà giáo. Vô tình tác giả đã tự đưa mình vào truyện chăng ? Biến cố sau đây có thể được xem như lời đáp phần nào của tác giả.

Truyện Yêu ra mắt độc giả năm 1963, ba năm sau, một biến cố trầm trọng đã xảy ra khi Chu Tử làm chủ nhiệm nhật báo Sống. Ngày 16-4-1966, Chu Tử bị mưu sát và bị trọng thương. Cả giới trí thức Sài gòn : văn hữu, nghiệp đoàn ký giả, các hội đoàn sinh viên, các nhân vật tôn giáo, chính trị, đều lên tiếng phẫn nộ và bênh vực nhà báo Chu Tử – Chu Văn Bình. Các bài viết, quyết nghị, thư từ, v. v… đều được Chu Tử gom lại thành một cuốn sách mang tựa đề : Không hận thù. Đặc biệt trong chương III : Những suy nghiệm của bản thân, tác giả tâm sự : bốn viên đạn bắn vào người ông đã làm thay đổi cách nhìn đời của ông. Chương này được xem là một tự truyện của tác giả : ông nói về sự sống chết của con người, về con người làm văn nghệ, và về tuổi thơ của ông ; ông là một học sinh xuất sắc, tuy nghèo, quê mùa, nhưng học hành vượt xa những người sống trong những hoàn cảnh thuận lợi hơn ông, ông đậu tú tài thủ khoa với hạng bình. Tuổi thơ của tác giả được trình bày trong một đoạn văn có cái tựa đề nhỏ : Một kỷ niệm tắm truồng. Chu Tử kể ông sinh ra trong một làng rất quê, rất man rợ, trung cổ, cho nên đàn bà có thói quen tắm truồng mà không ai lấy điều đó làm hổ thẹn (…) Khi tôi lên năm, lên sáu tuổi, mẹ tôi thường đưa tôi ra giếng tắm, tắm chung cùng mọi người đàn bà khác. Tôi thấy điều đó rất tự nhiên, không có gì là xấu hổ nên tôi không biết ngạc nhiên vì tôi vẫn đinh ninh ở mọi nơi khác, đàn bà cũng đều tắm truồng như thế cả (tr. 91). Về sau, khi lên tỉnh học, có vài người bạn biết được chuyện này bèn chế nhạo cậu bé Chu Tử, và cậu bé trở nên một trò cười cho mọi người. Từ đó tôi không ngớt mang tâm trạng đầy mặc cảm, đầy chống đối ngấm ngầm của một đứa nông dân khờ khạo, lạc lõng giữa cái gọi là văn minh đô thị. Trong thâm tâm, tôi vẫn coi rẻ, coi khinh cái bề ngoài hào nhoáng, đạo đức giả của người đô thị… (tr. 92) Điều này giải thích cái « tếu » của  Chu Tử trong mục Ao Thả Vịt của tờ báo. Và nhà báo Chu Tử không quên đề cao sự thực, một cách bất ngờ ông đưa chúng ta trở về với nhân vật Đạt trong truyện Yêu : Rồi sau này, khi tôi viết văn, viết báo, tôi vẫn chỉ tả sự thực. Sự thực trần truồng, trắng trợn, trong tâm hồn con người. Sự thực trần truồng trong xã hội. Để chứng tỏ cho mọi người thấy là sự thực trần truồng tự nó không có gì xấu, rất đẹp là đằng khác. Chỉ có những kẻ đạo đức giả nuôi những ý nghĩ đen tối, nhìn trộm sự trần truồng mới là xấu. Chẳng hạn nhân vật Đạt trong truyện « Yêu » của tôi, trước khi người yêu là Diễm lấy chồng, Đạt chỉ có một ao ước là vẽ một bức tranh Diễm để hở ngực, mặc dầu trong suốt thời gian yêu Diễm, Đạt vẫn tôn thờ Diễm, chưa bao giờ dám hôn Diễm và khi Đạt giải thích tại sao Đạt lại có ý định như trên, Đạt chỉ là phát ngôn nhân của tác giả vẫn sắt đá tin tưởng ngay từ hồi thơ ấu rằng, tắm truồng không có gì là xấu xa ! (tr. 93)

Đọc kỹ đoạn văn trên, có những yếu tố làm rõ thêm nhân vật Đạt. Trước khi Chu Tử bị mưu sát và cho ra cuốn Không hận thù thì Chu Tử đã có ba tiểu thuyết : Sống, Yêu, Loạn, nhưng sao ông chỉ nhắc đến truyện Yêu mà thôi ? Tác giả đã đặc biệt gửi gắm trong truyện này nhiều điều mật thiết của mình chăng ? Tác giả khẳng định Đạt là phát ngôn nhân của mình. Với việc làm của vô thức, chúng ta có thể nghi ngờ và đi xa hơn bằng cách cho rằng Đạt là một hình ảnh của Chu Tử, và chuyện đàn bà tắm trần truồng đương nhiên dẫn đến kỷ niệm cô bé Diễm tắm suối khi xưa với chú Đạt.

Trong truyện Yêu có hai nhân vật sống với tâm trạng ham muốn : Đạt và Thúc. Cả hai đều là nhà giáo, đều ham muốn một người phụ nữ. Nhưng tâm trạng ham muốn của họ không giống nhau. Thúc ham muốn Hằng, một ham muốn xảy đến bất ngờ, cháy ngùn ngụt, biến thành hỏa diệm sơn, và nhất quyết đi đến cùng, tức đi đến xung năng chết mà Freud gọi là Thanatos, do tên thần chết trong thần thoại Hy lạp. Thanatos chỉ định toàn thể những xung năng chết, đối lập với Eros – thần tình yêu – xung năng sống. Ham muốn của Đạt không được thỏa mãn, vẫn trong tình trạng chờ đợi, thuộc về xung năng sống. Đạt và Thúc, hai người bạn cùng đi tìm tình yêu, Thúc gặp Thanatos, Đạt gặp Eros.

Trong cuốn Không hận thù, Chu Tử tuyên bố Đạt là phát ngôn nhân của ông. Thật ra, cả Đạt và Thúc đều là phát ngôn nhân của ông. Cả hai đều phát biểu về ham muốn, và sống dùm tác giả trạng thái đa dạng của ham muốn.

 

Chú thích :

  1. Lionel Trilling, Freud and literature, The liberal imagination, London, 1951. Do Jean Starobinski dẫn.

Tác phẩm và tài liệu tham khảo :

Chu Tử, Yêu, tái bản ở Hoa kỳ

Chu Tử, Không hận thù, Toà soạn Sống, Sài Gòn, trình bày, 1966, Xuân Thu in lại ở Hoa Kỳ

Philippe Cabestan, Le désir, Ellipses, 2005.

 

Advertisements