THẾ GIỚI NGƯỜI NỮ CỦA TRẦN MỘNG TÚ

 

Trần Mộng Tú là một tên tuổi của văn học hải ngoại. Độc giả còn nhớ những vần thơ của bà đã gây xúc động ngay từ đầu :

Em tặng anh hoa hồng

Chôn trong lòng huyệt mới

Em tặng anh áo cưới

Phủ trên nấm mồ xanh

…………………………

Anh muôn vàn tạ lỗi

Xin hẹn em kiếp sau

Mảnh đạn này em giữ

Làm di vật tìm nhau.      (Quà Tặng Trong Chiến Tranh)

 

Ôi giấc mơ hoà bình

Anh trả bằng sự sống

Em trả bằng tủi hờn

Bằng một đời đơn độc.     (Giấc Mơ Hoà Bình)

Qua thể thơ ngũ ngôn, lời thơ rưng rưng kể lể, độc giả ngỡ như có tiếng nấc và hình dung bóng dáng một thiếu phụ đang ngồi thổn thức bên một ngôi mộ. Trần Mộng Tú không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng ở hải ngoại, bà còn là một nhà văn, tác giả của nhiều truyện ngắn, tùy bút, tạp ghi. Chủ đề tang tóc trong hai bài thơ trích dẫn trên đây trở lại trong một truyện ngắn : Dòng Sông Đứng Lại, đậm đặc tính tự truyện. Tác giả kể khi tuổi xuân vừa chớm nở đã sống một cuộc đời vợ chồng rất ngắn ngủi : chỉ ba tháng. Người chồng lên đường ra chiến trận. Rồi người vợ trẻ bất ngờ nhận được tin chồng tử trận. Cô đi nhận xác chồng mà sao không có được giọt nước mắt, cô quá trẻ, trước tin dữ, hãi hùng, đột ngột, cô ngỡ ngàng, sững sờ. Tôi tự thấy mình bé nhỏ, mỏng manh trong chiếc áo dài màu xanh nhạt, áo nhầu nát, tóc bơ phờ, mặt ngơ ngác đứng nhìn chung quanh mình. Cái sân bay trông sao mênh mông thế mà cái áo quan thì bé tí, tôi đứng bên cạnh trông lại càng bé hơn.

Thế rồi miền Nam sụp đổ. Sau bao vật đổi sao dời, cô từ nơi xa hướng về quê nhà và được biết ngôi mộ của chồng trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi Sài gòn đã bị chuyển dời và thân xác chồng nay còn lại một bình tro đặt ở nhà thờ Tân Định. Nhiều năm sau, khi trở về quê hương, đối diện với bình tro của chồng, bỗng nhiên cô oà khóc, một cơn khóc dữ dội, kéo dài rất lâu, tưởng như bao nhiêu đau đớn bấy lâu dồn dập, tích trữ trong lòng đều tuôn ra như một dòng thác ồ ạt. Lời nói không cần thiết nữa, những giọt nước mắt tuy phải chờ mấy mươi năm sau mới tuôn rơi, nhưng chính những giọt nước mắt đó đủ nói lên nỗi đau của con người.

Khi đọc truyện ngắn và tùy bút của Trần Mộng Tú, độc giả đi vào thế giới tình cảm của người nữ, những người nữ sống xa quê hương và chấp nhận thân phận lưu đày của mình. Nhân vật chính trong truyện hay trong tùy bút là người nữ, người nữ kể chuyện, người nữ tâm tình, người nữ đang ở trong một cảnh sinh hoạt nào đó ; tóm lại, người nữ hiện diện khắp nơi.

Có người nữ muốn đi ngược dòng thời gian để tìm lại tuổi trẻ, sắc đẹp bằng mọi giá, ngõ hầu tìm được một người yêu trẻ trong một chuyến trở về quê nhà, nhưng đó chỉ là một ảo tưởng (Hoa Hồng Nhung Thứ 8).

Có người nữ yêu cây cối, đặc biệt cây hạt dẻ (Hạt Dẻ Mùa Thu). Loại cây này rất gần gũi với đời sống con người : thân cây được dùng để đóng bàn ghế, giường tủ, cánh cửa, nôi trẻ thơ, quan tài. Từ cái nôi đến cái quan tài là đi trọn cuộc đời của con người. Cây hạt dẻ quả thật đồng hành với con người, còn gì quý bằng. Thế nhưng người nữ trong truyện lại yêu nhất hạt dẻ, trong năm chỉ trông đến mùa hạt dẻ. Khi mưa thu, nắng thu thay nhau tới gõ cửa nhà bất ngờ, không báo trước. (…) Lòng chị nôn nao, chị biết mùa đi nhặt hạt dẻ đã tới. Chị đi nhặt hạt dẻ chất đầy nhà. Để làm gì ? Để biếu bạn bè xa gần, để mời bạn bè khi gặp nhau cùng thưởng thức hạt dẻ rang mà chị đã bóc sẵn. Tình bạn thật là ấm cúng. Trong tâm hồn người phụ nữ đầy tình cảm này, có một chỗ nhỏ dành riêng cho quê hương xa vời : vừa nhặt hạt dẻ chị vừa nhớ cảnh hai chị em nhặt lá bàng trong bài Nhặt Lá Bàng của Nhất Linh, hai chị em từ trong quá khứ xa xôi bỗng hiện về, cùng nhặt hạt dẻ với chị chăng ?

Lại có người nữ yêu cái đẹp của đồ cổ (Những Cánh Mai Trong Tách Trà). Hà đi đến đâu cũng không thể bỏ qua được các tiệm bán đồ cổ, mặc dù chẳng có nhu cầu gì. Khi cầm đến một vật cổ, Hà thường tưởng tượng quá khứ của nó thế này thế nọ, khiến cô càng thêm vương vấn. Một hôm, người chồng đang lái xe trên đường phải dừng lại để chiều lòng vợ. Thế là Hà tất tả đi vào một tiệm bán đồ cổ. Cô phát hiện một tách trà có cành mai rất đẹp bên ngoài, và bên trong có hai bông mai, tách trà có vẻ Á đông, nó không còn nguyên bộ. Trong khi cô ngắm nghía cái tách trà, thì có một giọng đàn ông Á đông sau lưng làm cô giật mình. Người đàn ông nhắc lại lịch sử của cái tách trà, sự trôi nổi của nó đến ngày nay. Ông nói đang chờ Hà đến để trao tách trà cho Hà vì cô là người biết thưởng thức vẻ đẹp của cái tách. Khi đến quầy trả tiền, Hà phát hiện không có người đàn ông nào trong tiệm. Cô ngỡ ngàng, cô có tưởng tượng không ? Cô rợn người mà nghĩ rằng người đàn ông đó là một người Việt Nam, đã trải qua khói lửa chiến tranh, tù đầy, đã sống cuộc đời di tản ở Mỹ và đã chết. Cái tách trà là của gia đình ông, ông muốn trao lại cho cô là người biết trân quý nó.

Một người nữ khác không yêu cây cối, không yêu đồ cổ mà yêu… đá (Chuyện Trò Với Đá). Những hòn đá cô nhặt ngoài biển khi đi dạo với chồng, ban đêm cô đem chúng vào giường. Thế là cuộc đối thoại với đá bắt đầu, đề tài rất linh tinh : Thượng đế, tôn giáo, chiến tranh, Sơn Tinh Thủy Tinh, nghệ thuật… đối với con người và đá. Cuộc đối thoại dí dỏm, và lời phát biểu của đá có phần triết lý.

Bên cạnh cái đẹp của thiên nhiên, của đồ cổ còn có một cái đẹp vô giá, đó là cái đẹp của tâm hồn. Trong truyện Sau Đám Tang, người phụ nữ ngắm nhìn, khâm phục tình yêu thầm kín, cao thượng của một người đàn ông.

Ngoài những người nữ biết yêu cái đẹp dưới nhiều hình thức, lại có người nữ biết khẳng định mạnh mẽ vị trí của mình, quan niệm sống của mình. Trong truyện Một Nửa Người Đàn Ông, một người đàn bà có chồng đến gặp tình địch của mình, định ra tay làm to chuyện. Người đàn bà mở đầu cuộc tấn công bằng một lời tuyên bố sắt đá :

Tôi là vợ của ông Minh.

Bà đưa mắt quan sát. Tình địch của bà là một cô gái rất trẻ, chỉ hơn con bà vài tuổi, tóc ngắn, một chút son thoa trên môi, áo sơ mi, quần jean, vẻ thông minh, bướng bỉnh. Người đàn bà tự hỏi cái gì nơi cô ta đã quyến rũ chồng mình. Cô gái làm biên tập viên cho một nhà xuất bản. Trước khi có sự gặp gỡ bất ngờ với người vợ của Minh, cô có hẹn đi ăn trưa với anh ta. Cô ngồi đối diện với người đàn bà và bình tĩnh nói :

Chắc bà đến đây để cho tôi biết là anh Minh đã có gia đình. Thưa bà, tôi biết điều này đã lâu. Và không bao giờ tôi có ý định kéo anh Minh ra khỏi gia đình của anh ấy.

Người đàn bà đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác, khi cô gái nói tiếp :

Tôi không hiểu được tại sao phần đông những người đàn bà trên mặt đất này lại có thể đặt mình lệ thuộc vào một người đàn ông nguyên một ngày, rồi những ngày đó kéo ra cả suốt đời mình.

Và cô thẳng thắng tuyên bố triết lý sống của cô :

Không, không bao giờ tôi cần nguyên một người đàn ông cả, tôi chỉ cần một nửa thôi. Có nhiều người phải uống nguyên một ly trà mới thấy vị ngon, phải ăn nguyên một trái táo mới hài lòng, phải đến được chân núi, hay trèo lên đỉnh núi để thưởng thức thì mới mãn nguyện, sông thì phải đi hết dòng mới thỏa chí, phải được lấy nguyên một ông chồng và được gọi là vợ thì mới cho là sung sướng. Tôi thì trà uống một ngụm, táo cắn một miếng, núi nhìn một góc, sông yêu một khúc, đàn ông hưởng một nửa. Suốt đời chỉ là người tình thì cũng đã thấy mình dư thừa hạnh phúc. Bà cứ an lòng ra về.

Cô gái trở về văn phòng và hủy bỏ cái hẹn đi ăn với người đàn ông. Người đàn bà ra về với tâm trạng hoang mang, và gần như bị quan niệm sống của cô gái thu hút.

Người phụ nữ Việt Nam lâu ngày tiếp xúc với văn hóa Tây phương, dù muốn dù không cách suy nghĩ cũng đã chịu ít nhiều biến đổi. Vả chăng người nữ trong truyện này có một bản lĩnh quá vững vàng, lại triệt để hướng về cái tôi, với một triết lý hưởng thụ cắt đứt mọi ràng buộc, tự cho mình một vai trò chủ động và xem nam giới như một sở hữu lưng chừng, tạm thời. Tóm lại một triết lý sống bất chấp những quy tắc luân lý cổ truyền Việt Nam. Đây là một hình thức của nữ quyền vào thời hiện đại ở Tây phương. Nhưng cô quên rằng về mặt tâm lý cô cũng cần thương yêu và được thương yêu trọn vẹn chứ không lưng chừng, không nửa vời.

Trong cuộc sống lưu đày, Trần Mộng Tú, cũng như những nhân vật của bà, cố tạo cho mình một đời sống ổn định, bình thường. Nhưng trong lòng vẫn còn một nỗi buồn không bao giờ nguôi, mất mát quê hương là một nỗi đau quá lớn, và cứ mỗi năm, tháng tư khơi lại nỗi đau buồn đó. Trong bài tùy bút Ngụm Cà Phê Tháng Tư, tác giả đang ngồi trong một quán cà phê ở Mỹ, ba mươi tám năm sau ngày 30 tháng tư 1975, ngậm ngùi nhớ lại bao kỷ niệm xót xa :

Tháng tư, tháng tư, tháng tư năm đó ! Đứt ra từng đoạn : đoạn cha, đoạn mẹ, đoạn vợ, đoạn chồng, đoạn con, đoạn anh, chị, em, đoạn bạn hữu… Mỗi đoạn đứt một chỗ, rơi một nơi, đoạn mất đi ngút ngàn biệt tích, không để lại dấu vết, đoạn còn sót lại ngơ ngẩn, mù lòa.

Sự mất mát như một cắt đứt vĩnh viễn, vì giờ đây nếu có trở về quê hương thì cũng tự cảm thấy mình lạc lõng giữa mọi người. Nơi đây cuộc sống bình an, nhưng sao người phụ nữ di tản không thoát được những kỷ niệm khói lửa của quá khứ, những giọt nước mắt thầm lặng rơi trước ly cà phê. Đứng dậy, trở về một nơi tôi gọi là nhà, tiếp tục sống với trái tim di tản.

Dù sao cuộc sống vẫn còn đó, và con người cần sống, cần xây dựng. Người phụ nữ di tản có cả một kho tàng tình thương để trao cho đời.

Trong truyện Trong Bóng Tối, Phượng làm việc thiện nguyện cho một họ đạo và thường vào một bệnh viện để đem Mình Thánh Chúa cho những bệnh nhân theo đạo Công giáo. Có lần cô để ý trong phòng có một bệnh nhân thứ hai, một thanh niên tên David. Cô gặp David hai lần. Lần kế tiếp cô không còn thấy David nữa, và được biết người thanh niên đã đổi phòng, phòng mới ở trong một dãy nhà xa hơn. Phượng cũng được biết David bị bệnh AIDS mà không chịu chữa trị. Cô liền đến thăm David, anh còn nhớ cô và tử tế chào hỏi, nhưng anh ít nói và thường nhìn ra cửa sổ. Phượng kiên nhẫn, chậm rãi khơi chuyện, dần dà David thổ lộ về đời mình. David có một tuổi thơ bất hạnh, người mẹ thường thay đổi tình nhân, nhưng không có người nào thương yêu David, khi không có tình nhân người mẹ đem David về ở chung để được hưởng trợ cấp xã hội, nhưng khi có được một người đàn ông thì bà bỏ rơi đứa con. Người bố dượng sau cùng say rượu thường đánh đập David, một hôm đang mùa đông giá buốt, người bố dượng lại đánh đập David và đuổi ra khỏi nhà. Cậu bé đành lủi thủi đi ngoài tuyết, khi ra đến đường cậu bé được một chiếc xe ngừng lại, đó là xe của Jason, một thanh niên 19 tuổi. Jason ghiền ma túy và là người đồng tính luyến ái, Jason cho David về ở chung và để David tự do sống, anh cũng giúp David bằng cách đưa cậu bé đến ghi tên ở nhà trưởng, nhưng David bỏ học sớm, David cảm thấy được Jason che chở và xem Jason như một người cha. Chẳng bao lâu Jason lôi cuốn David vào con đường đồng tính luyến ái. Jason chết vì bệnh AIDS đã hai năm, giờ đây David bị nhiễm căn bệnh ngặt nghèo đó. Phượng nghe vậy thì lấy làm thương David, cô muốn khuyên người thanh niên chịu để cho bệnh viện chữa trị, nhưng David không tha thiết về chuyện này, từ ngày Jason chết. Phượng cảm thấy đau lòng, cô tôn trọng lối sống của David và không hề có ý phê phán về chuyện đồng tính luyến ái của David. Khi Phượng trở lại thăm David thì được biết người thanh niên đã trốn đi được hai ngày rồi.

Công việc thiện nguyện được tiếp tục với truyện Mầu Đỏ Trong Sân, tác giả cùng vài người phụ nữ làm việc thiện nguyện cho một họ đạo, họ lo dọn một bữa ăn cho 80 người già nhân ngày Lễ Tình Yêu (Valentine). Vào dịp này những cụ già đều mặt áo màu đỏ ; có người còn mạnh khỏe, đầu óc sáng suốt, có người đã già yếu. Họ kể lại cho nhau những kỷ niệm về Lễ Tình yêu của thời trẻ. Tác giả để ý trong đám người già một ông cụ người Việt Nam và thân mật trò chuyện với ông cụ. Lạc lõng giữa những người khác chủng tộc, khác văn hóa, ông cụ vẫn giữ những suy nghĩ của một người Việt Nam, ông cụ nói : Bên mình trước đây làm gì có Lễ Tình Yêu, bây giờ nghe đâu Việt Nam cũng ăn mừng ngày này đấy (…). Càng vinh danh tình yêu rầm rộ, càng ly dị nhanh. Những ồn ào của ngày Lễ Tình Yêu không làm ông cụ quên một tình cảm cao quý của người Việt Nam : Người mình coi nặng cái « nghĩa » hơn « tình ». Một lời nhắn nhủ từ quê nhà, từ quá khứ xa xôi đến với người phụ nữ di tản.

Truyện Ánh Trăng Và Nhà tù đưa độc giả đến với một thanh niên tên Năm, Năm có khiếu về nghệ thuật, vẽ đẹp, đàn hay, yêu thơ, nhưng Năm khó dạy, 17 tuổi đã bỏ học. Năm nay anh 22 tuổi, thỉnh thoảng bị bắt vì những tội phạm như lái xe quá nhanh, không tuân lệnh cảnh sát dừng lại, hoặc có cần sa trong xe. Lần này Năm bị bắt vì đã bạt tai cô bạn gái. Mẹ Năm thối chí giao cho người bạn là cô Rơm ra vào nhà tù thăm viếng Năm. Một dịp để Rơm phát hiện nơi đứa con trai một tâm hồn phong phú, độc đáo.

Trong truyện Đời Anh Làm Vườn, nhân vật chính là một người đàn ông qua lời kể của 4 người phụ nữ : người mẹ, người em gái, người vợ chưa cưới và người kể truyện. Người kể truyện là một phụ nữ thường thuê người đàn ông đến làm vườn. Vào đầu truyện, người phụ nữ nhường lời cho các nhân vật kia để họ lần lượt nói về người làm vườn. Người mẹ cho biết bà sinh đứa con trai ở Bình Long vào lúc Mùa Hè Đỏ Lửa, năm 1972. Bom đạn rơi ồ ạt khiến con trai bà rách màng nhĩ và bị điếc. Ở Mỹ, các bác sĩ đành bó tay trước bệnh điếc của người con trai, anh đành làm nghề làm vườn. Khi quá bốn mươi tuổi anh có ý định lập gia đình với một người con gái bên nhà. Khi cô gái được bảo lãnh và sang đến Mỹ, và khi việc cưới hỏi đã xong thì người làm vườn mới vỡ lẽ là đã bị gia đình cô này toa rập lừa gạt, và cô gái là một người hung dữ, không có ý định làm vợ anh, chuyện đổ vỡ. Người làm vườn đi tìm một người vợ khác, cô này hiền hơn, anh báo cho người kể truyện biết cô sắp qua Mỹ để cùng anh lập gia đình. Người lên tiếng kế tiếp là cô em gái người làm vườn. Cô báo tin anh cô đã chết vì thở hơi độc trong nhà chứa xe, và người chị dâu thứ hai của cô sang đến Mỹ chỉ vừa kịp để bấm nút máy hỏa thiêu anh. Đến lượt cô dâu thứ hai nói với người kể truyện, cô kể rằng anh làm vườn mỗi năm về thăm cô, hai người sống với nhau như vợ chồng, và như thế đã bốn năm. Cuối cùng người phụ nữ kể truyện an ủi cô dâu thứ hai và nói rằng với thời gian mọi chuyện sẽ nguôi ngoai, cô sẽ xây dựng cuộc đời với một người khác, cô sẽ không còn là một cô dâu không bao giờ cưới mà là một cô dâu được cưới hỏi.

Người làm vườn quả thật là một người đàn ông không may mắn dưới cái nhìn của những người phụ nữ thương anh. Khi vào đời anh đã mang thương tích của chiến tranh, nếu không có thương tích đó cuộc đời của anh chắc chắn sẽ khác đi.

 

Trong thế giới của Trần Mộng Tú chỉ có những người nữ sống xa quê hương, những người nữ mất gốc. Mất gốc đưa đến một tình trạng bất ổn, đầy lo lắng trước tương lai. Người nữ không còn cảm thấy mình thuộc về một quê hương, một đất nước, phải tự đặt lại vấn đề về con người của mình. Trong hoàn cảnh bất an về tâm lý, mỗi người nữ phản ứng mỗi cách, có người sợ già, có người bầu bạn với thiên nhiên hoặc đi tìm quá khứ qua những đồ cổ, có người chỉ biết sống cho mình, lại có người biết thương yêu kẻ khác và cùng lúc mang trong lòng nỗi đau của đất nước. Qua cái thế giới đa dạng đó, độc giả dường như nghe được một tiếng nói dịu dàng, đầy nhân ái.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements