CON BÉ ROQUE

 

                                                                                                     Nguyên tác : La petite Roque

                                                                                                     của Guy de Maupassant

                                                                                                     Nxb Robert Laffont, 1988

                                                                                                     Dịch giả : Liễu Trương

 

I

 

Ông lính bộ binh Médéric Rompel, mà dân trong vùng gọi một cách thân mật “Médéric”, từ nhà bưu điện Rouy-le-Tors ra đi vào giờ thường lệ. Sau khi đi qua cái thành phố nhỏ với những bước chân dài của một người lính già, ông cắt ngang những đồng cỏ Villaumes để đến bờ suối Brindille, con suối đưa ông đến làng Carvelin, nơi ông bắt đầu phát thơ.

Ông đi nhanh, dọc theo con suối có nước nổi bọt, chảy lào xào, sùng sục, giữa hai bờ cỏ xanh, dưới vòm cây liễu. Những hòn đá to giữa dòng có một khoanh nước vây quanh, một thứ cà vạt được chấm dứt bằng một cái nơ bọt. Có nơi có những thác nước lắm khi vô hình, tạo nên một tiếng động lớn và êm ả dưới những lá cây, dây leo, như một mái nhà bằng thảo mộc ; xa hơn, hai bờ suối tách rộng ra, làm thành một cái hồ nhỏ, yên tĩnh, với những con cá hồi bơi trong đám rong nhấp nhô dưới đáy nước.

Médéric vẫn đi tới, mà không để ý gì, ông chỉ nghĩ rằng : “Cái thơ đầu tiên là của gia đình Poivron, rồi có một cái thơ cho ông Renardet ; vậy ta phải đi ngang qua cái rừng cây.”

Cái áo bờ lu xanh của ông được siết ở bụng với một cái giây nịt bằng da đen, cái áo đó lướt nhanh, đều đều trên hàng cây liễu xanh ; và cây gậy của ông, bằng thứ cây nhựa ruồi, đi bên cạnh ông, cùng một nhịp với đôi chân ông.

Ông đi qua con suối Brindille, trên một cái cầu làm bằng thân cây nối liền bờ này với bờ kia, chỉ có mỗi một tay vịn làm bằng một sợi giây thừng đóng vào hai cái cọc được chôn ở hai bờ.

Rừng cây thuộc sở hữu của ông Renardet, xã trưởng làng Carvelin và là một địa chủ quan trọng nhất trong vùng. Đó là một thứ rừng có cây cổ thụ to lớn, thẳng như những cái cột ; chiều dài của rừng trải rộng trên nửa dặm, đến tận bờ suối, suối dùng làm ranh giới cho rừng cây. Ven dòng nước, cây cối mọc tốt vì có nắng ấm ; nhưng trong rừng chỉ có rêu, thứ rêu dày lớp, êm và mềm, tỏa ra trong không khí tù hãm một mùi mốc thoang thoảng và mùi cây khô.

Médéric chậm bước, dỡ cái mũ kêpi đen được tô điểm bằng một cái dải đỏ, ông lau trán, vì trời đã nóng trong đồng cỏ, mặc dù chưa đầy tám giờ sáng.

Vừa đội mũ trở lại và vừa tiếp tục bước nhanh, thì ông thấy ở một gốc cây một con dao, thứ dao của trẻ con. Khi ông lượm con dao, ông lại thấy một cái đê dùng để may vá, rồi một ống đựng kim may, cách đó hai bước.

Khi lượm các thứ đó, ông nghĩ : “Ta sẽ đem đưa hết cho ông xã trưởng” ; và ông lại bước đi ; nhưng bây giờ ông bắt đầu chú ý đến xung quanh, ông vẫn chờ lượm được cái gì khác.

Bỗng nhiên ông khựng lại, làm như ông bị chạm vào một cây chắn bằng gỗ ; bởi vì cách mười bước trước mắt ông, xác một đứa trẻ nằm ngửa, trần truồng trên lớp rêu. Đó là một đứa bé gái, chừng mười hai tuổi. Tay chân nó dang ra, một chiếc khăn tay che mặt nó. Một ít máu vấy bẩn hai đùi nó.

Médéric đi nhón gót, tưởng như ông sợ làm ồn, hay sợ một mối nguy nào ; và ông mở to mắt.

Cái gì vậy ? Chắc con bé ngủ ? Rồi ông nghĩ rằng người ta không ngủ trần truồng như thế, vào bảy giờ rưỡi sáng, dưới cây cối lạnh mát. Vậy là con bé đã chết, và ông đang đứng trước một tội ác. Khi nghĩ như thế, ông cảm thấy ớn lạnh sau lưng, mặc dù ông là một người lính già. Và rồi đó là một chuyện quá hiếm trong vùng, một vụ giết người, thêm nữa một vụ giết một đứa trẻ gái mà ông không thể tin được. Nhưng đứa trẻ không có một vết thương nào, chỉ có vết máu đã đặc lại trên chân nó. Vậy thì nó đã bị giết như thế nào ?

Ông dừng lại gần nó và nhìn nó, tay tì vào cây gậy. Hẳn ông phải biết nó, bởi vì ông biết tất cả người dân ở vùng này ; nhưng vì không thấy mặt nó, ông không thể đoán được tên. Ông cúi xuống để kéo cái khăn tay đang che mặt nó ; nhưng rồi ông ngừng lại, bàn tay đang chìa ra phía trước, một ý nghĩ ngăn cản ông.

Ông có quyền xê dịch một cái gì trên xác chết, trước khi đại diện của pháp luật làm biên bản không ? Ông tưởng tượng pháp luật như một thứ tướng lĩnh thấy suốt tất cả ; một hạt nút thất lạc cũng quan trọng như một nhát dao trong bụng. Dưới chiếc khăn tay đó, người ta có thể tìm ra cái bằng chứng chủ yếu ; đó là một tang vật, à mà nó có thể bị mất giá trị nếu có một bàn tay vụng về sờ đến.

Vậy là ông đứng dậy để chạy đến nhà ông xã trưởng ; nhưng một ý nghĩ khác lại cầm chân ông. Nếu bất ngờ đứa bé gái còn sống, ông không thể bỏ rơi nó như thế. Ông quỳ xuống từ từ, cẩn thận, hơi xa nó, và ông đưa tay sờ chân nó. Chân nó buốt lạnh, cái lạnh ghê rợn khiến da thịt người chết đáng sợ, và không cho ta chút nghi ngờ về sự thật của cái chết. Khi chạm vào chân nó, người phát thơ cảm thấy xao động trong lòng, như về sau ông sẽ kể, và miệng ông thì khô lại. Thình lình ông đứng dậy, chạy băng qua rừng, về hướng nhà ông Renardet.

Ông đi nhanh, bước đi đều đặn, cây gậy cặp dưới nách, hai bàn tay nắm lại, đầu cúi về phía trước ; và cái bị da đầy thơ và báo nhịp nhàng đập vào lưng ông.

Nhà ông xã trưởng ở đầu cánh rừng, một góc tường ngâm mình trong hồ nước do con suối Brindille tạo thành nơi đó. Ngôi nhà khá lớn, bằng đá, vuông vức, một ngôi nhà rất cổ, xưa kia đã từng chịu vây hãm nhiều lần, nhà có cái tháp to lớn, cao hai mươi thước, được xây trong nước.

Thuở xưa người ta quan sát khắp vùng từ trên cái tháp đó. Người ta gọi nó là tháp Renard mà không hiểu một cách chính xác vì sao ; và có thể là từ cái tên đó mà nảy ra cái tên Renardet, là tên của những người địa chủ vùng này. Nhà đất là sở hữu của một gia đình duy nhất, từ hơn hai trăm năm nay, thiên hạ nói thế. Gia đình Renardet thuộc giai cấp tư sản, gần với  giai cấp quý tộc mà người ta thường thấy ở tỉnh nhỏ trước Cách Mạng.

Ông phát thơ xông ngay vào bếp, nơi những người đầy tớ đang ăn, và ông la lên : “Ông xã trưởng đã dậy chưa ? Tôi phải thưa chuyện với ông ngay lập tức.” Những người giúp việc biết Médéric vốn là một người có ảnh hưởng và uy tín, và họ hiểu ngay rằng một chuyện trầm trọng đã xảy ra.

Ông Renardet được người nhà báo cho biết, liền ra lệnh đưa người phát thơ vào. Ông lính bộ binh mặt tái, thở hổn hển, tay cầm cái mũ kêpi, thấy ông xã trưởng ngồi trước một cái bàn dài đầy giấy tờ.

Ông Renardet là một người đàn ông to, cao, nặng nề, mặt đỏ, với một sức mạnh phi thường, ông rất được dân khắp vùng cảm mến, mặc dù tính ông quá hung bạo. Ông khoảng bốn mươi tuổi, góa vợ từ sáu tháng nay ; ông sống trên đất ông như một người quý tộc sống nơi thôn dã. Lắm khi khí chất hăng của ông đã gây ra nhiều vụ kiện thưa khó xử mà các ông quan toà của Rouy-le-Tors, với tư cách là những người bạn khoan dung, độ lượng, kín đáo, luôn luôn gỡ khó khăn cho ông. Chẳng phải ông đã xô một người đánh xe ngựa từ trên xe xuống, vì anh ta suýt cán con chó Micmac chuyên tìm thú săn của ông đó sao ? Chẳng phải ông đã đập gãy xương sườn người lính tuần trong khu vực săn bắn, khi anh này lập biên bản, vì ông mang súng vượt qua đất của người láng giềng đó sao ? Chẳng phải ông đã xách cổ áo ông phó thị trưởng khi ông này dừng chân trong làng, trong một công tác hành chánh mà ông Renardet cho là một vòng tranh cử đó sao ? Bởi vì theo truyền thống, gia đình ông thuộc phe đối lập với chính phủ.

Ông xã trưởng hỏi :

– Gì đấy Médéric ?

– Tôi thấy một đứa bé gái chết trong rừng cây của ông.

Ông Renardet thẳng người, mặt đỏ gắt :

– Ông nói… một đứa bé gái ?

– Vâng, thưa ông, một đứa bé gái trần truồng, nằm ngửa, máu me, đã chết, chết thật !

Ông xã trưởng nguyền rủa :

– Mẹ kiếp, chắc là con nhỏ Roque chứ gì ? Người ta vừa mới báo cho tôi rằng nó không về nhà mẹ nó đêm qua. Ông thấy nó ở chỗ nào ?

Người phát thơ tả nơi chốn, cho nhiều chi tiết và đề nghị đưa ông xã trưởng đến đấy.

Nhưng ông Renardet trở nên sỗ sàng :

– Không, tôi không cần ông. Hãy bảo người lính tuần phiên, người thư ký của xã và ông y sĩ đến gặp tôi ngay, và hãy tiếp tục đi phát thơ đi. Nhanh lên, đi đi, và nói với họ đến tìm tôi trong rừng cây.

Ông lính bộ binh, vốn là người tôn trọng quân lệnh, liền vâng lời và quay đi, ông tức giận và tiếc không có mặt lúc người ta lập biên bản.

Đến lượt ông xã trưởng ra khỏi nhà, ông đội nón, thứ nón lớn, mềm, bằng nỉ màu xám, vành rộng, ông ngừng vài giây trước cửa nhà. Trước mặt ông là bãi cỏ lớn có điểm ba chấm đỏ, xanh, trắng, ba cái lẵng hoa đang nở, một cái ngay trước mặt nhà, hai cái kia hai bên nhà. Xa hơn, cây cối của khu rừng chĩa lên trời, bên trái, suối Brindille mở rộng thành hồ, xa hơn nữa, những đồng cỏ dài, cả một vùng xanh tươi, bằng phẳng bị cắt ngang bởi những cái rãnh và những hàng cây liễu, thứ cây này giống những con quái vật béo, lùn, luôn luôn bị tỉa cành, trên mỗi thân cây to, thấp, một chùm nhánh cây nhỏ rung rinh chĩa lên như một cây chổi lông.

Bên phải, sau chuồng ngựa, sau cái lán và dãy nhà thuộc sở hữu ông xã trưởng, là cái làng trù phú, nơi sinh sống của những người nuôi bò.

Ông Renardet chậm rãi bước xuống bậc thềm, và khi rẽ về phía trái, ông đến bên bờ suối, đi theo dòng nước bằng những bước đi chậm, hai tay chắp sau lưng. Ông bước đi, đầu cúi xuống ; đôi khi ông nhìn chung quanh để xem có những người mà ông cho gọi đến không.

Khi ông đến dưới những lùm cây, ông dừng lại, cởi nón và lau trán như Médéric đã làm ; vì cái nắng nung đốt của tháng bảy rơi xuống đất thành lửa. Rồi ông xã trưởng lại tiếp tục đi, dừng lại lần nữa, trở lại phía sau. Bỗng ông cúi xuống, ngâm khăn tay trong con suối đang chảy dưới chân ông, ông trải cái khăn lên đầu, dưới cái nón. Nước nhỏ giọt hai bên thái dương, trên đôi vành tai luôn tím ngắt, trên cái cổ to, khỏe và đỏ, những giọt nước nối đuôi nhau dưới cổ áo sơ mi trắng của ông.

Vì chưa có ai đến, ông giậm chân, rồi gọi : “Ê này ! Ê này !”

Một giọng nói trả lời bên phải : “Ê này ! Ê này !”

Và ông y sĩ hiện ra dưới lùm cây. Ông ta là một người đàn ông thấp, gầy, cựu y sĩ chuyên về phẫu thuật trong quân đội, ông được xem như một y sĩ rất có khả năng trong vùng. Vì bị thương khi tại ngũ, nên ông đi khập khiễng và dùng gậy để đi.

Rồi anh lính tuần phiên và người thư ký của xã xuất hiện, hai người này được báo tin cùng một lúc, đến cùng một lúc. Họ có vẻ hoảng hốt, thở hổn hển, vừa đi vừa chạy lon ton để đến nhanh, họ quơ tay lia lịa, đến nỗi họ có vẻ làm việc với tay nhiều hơn với chân.

Ông Renardet nói với ông y sĩ :

– Ông có biết chuyện như thế nào không ?

– Có, Médéric tìm thấy một đứa trẻ chết trong rừng.

– Tốt. Vậy chúng ta hãy đi.

Họ bắt đầu đi bên cạnh nhau, hai người đàn ông kia theo sau. Bước chân của họ trên rêu không gây nên tiếng động ; mắt họ tìm đằng xa, trước mặt họ.

Bỗng nhiên ông y sĩ Labarbe đưa tay chỉ :

– Nó kia kìa !

Rất xa, dưới lùm cây, họ thấy một cái gì màu trắng. Nếu họ không biết là gì thì khó mà đoán được. Cái đó có vẻ sáng loáng và trắng quá, đến nỗi người ta tưởng là một cái khăn vải rơi xuống đất ; vì một tia nắng xuyên qua các cành cây chiếu một đường xiên trên da thịt trắng của bụng. Khi đến gần, họ từ từ nhận ra cái thi thể, đầu bị che, nghiêng về phía suối, và hai cánh tay dang ra như bị đóng đinh vào cây chữ thập.

– Tôi nóng quá ! ông xã trưởng nói.

Và cúi xuống con suối, ông lại ngâm cái khăn tay mà ông đặt lại trên trán.

Ông y sĩ đi nhanh, rất chú tâm đến sự việc vừa được khám phá. Ngay khi ông đến gần xác chết, ông cúi xuống để xem xét, nhưng không sờ tới. Ông mang đôi kính cặp mũi, như khi người ta nhìn một vật lạ, và ông nhẹ nhàng đi chung quanh. Ông nói :

– Hiếp dâm và giết người, hai điều mà chúng ta sắp ghi nhận chốc nữa đây. Vả lại, đứa bé gái này gần thành đàn bà, hãy nhìn ngực nó.

Đôi vú khá rõ rệt, đã lún xuống ngực vì bị cái chết làm mềm nhũn đi.

Ông y sĩ dỡ nhẹ cái khăn che mặt. Mặt cô bé đen, trông đáng ghê sợ, cái lưỡi lòi ra ngoài, đôi mắt lồi ra. Ông lại nói :

– Tất nhiên, người ta bóp cổ nó sau khi đã thỏa mãn nhục dục.

Ông sờ nắn cái cổ :

– Bị bóp cổ mà không có một dấu vết đặc biệt gì cả, không có dấu móng tay cũng không có dấu tay. Tốt lắm. Quả thật chính là con bé Roque.

Ông nhẹ nhàng để lại cái khăn trên mặt :

– Tôi không cần phải làm gì ; con bé chết ít nhất đã mười hai tiếng đồng hồ. Phải báo cho viện Công tố.

Ông Renardet đang đứng hai tay chắp sau lưng, nhìn sững cái thân hình nhỏ bé nằm sóng sượt trên cỏ. Ông thì thầm :

– Thằng khốn nạn ! Phải tìm cho ra áo quần của nó.

Ông y sĩ sờ bàn tay, cánh tay và chân. Ông nói :

– Chắc là nó vừa mới tắm. Áo quần nó có lẽ ở bên bờ suối.

Ông xã trưởng ra lệnh :

– Mày, Principe (người thư ký của xã), mày đi tìm cho tao ba cái áo quần của nó, dọc theo bờ suối. Mày, Maxime (người lính tuần phiên), mày chạy tới Rouy-le-Tors và rước về cho tao ông dự thẩm và đội hiến binh. Họ phải có mặt ở đây trong một tiếng đồng hồ. Mày nghe chưa ?

Lập tức hai người đàn ông đi thi hành lệnh. Ông Renardet nói với ông y sĩ :

– Thằng vô lại nào mà dám làm một chuyện như thế, trong xứ này ?

Ông y sĩ thì thầm :

– Nào ai biết được ? Ai cũng có thể làm điều đó. Tất cả mọi người nói riêng, và không ai cả nói chung. Điều đó không quan trọng, chắc là một kẻ đi lảng vảng, một người thợ thất nghiệp nào đó. Từ khi chúng ta sống dưới nền Cộng hòa, chỉ gặp toàn những chuyện như thế.

Cả hai đều là những người trung thành với chính thể Bonaparte.

Ông xã trưởng lại nói :

– Phải, chỉ có thể là một kẻ xa lạ, một kẻ qua đường, một tên lang thang không nhà không cửa…

Ông y sĩ có vẻ mỉm cười, nói tiếp :

– Và không vợ. Vì không có ăn, không nhà ở, hắn ta đi kiếm cái thứ còn lại. Người ta không ngờ có biết bao nhiêu người trên trái đất này có thể phạm tội ác vào một lúc nào đó. Ông có biết là con bé đó đã mất tích không ?

Và với cái đầu gậy, ông ta sờ những ngón tay cứng ngắc của cô bé đã chết, ngón này đến ngón kia, ông đè lên trên như người ta nhấn trên phím đàn dương cầm.

– Có. Mẹ nó đến tìm tôi tối hôm qua, vào khoảng chín giờ ; đứa bé không về nhà vào lúc bảy giờ để ăn tối. Chúng tôi đã đi tìm, gọi nó trên khắp các con đường đến nửa đêm ; nhưng không hề nghĩ đến cánh rừng. Vả lại, phải chờ trời sáng cuộc tìm kiếm mới có hiệu quả.

– Ông hút một điếu xì gà nhé ? Ông y sĩ nói.

– Cám ơn, tôi không thấy thèm hút. Trước một cảnh tượng như thế, tôi bị choáng váng.

Cả hai đứng trước cái thi thể mảnh khảnh của một đứa bé gái, trắng hếu, nằm trên lớp rêu sẫm. Một con ruồi to, bụng xanh, đi dạo trên đùi, dừng lại ở những vết máu, lại tiếp tục đi, đi lên mãi, đi khắp cạnh sườn với dáng đi nhanh nhẹn và giật giật của nó, nó trèo lên một cái vú, rồi trở xuống để thăm dò cái vú kia, nó tìm cái gì để uống trên thân thể người chết. Hai người đàn ông nhìn cái chấm đen đang đi lang thang đó.

Ông y sĩ nói :

– Một con ruồi trên làn da đẹp làm sao ! Các bà ở thế kỷ trước có lý khi dán nốt ruồi trên mặt. Tại sao người ta bỏ tục lệ đó ?

Ông xã trưởng có vẻ không nghe ông ta nói, ông trầm ngâm trong suy tưởng.

Nhưng thình lình ông quay lại, vì một tiếng động làm ông ngạc nhiên. Một người đàn bà đội mũ vải, mặc tạp dề xanh, chạy đến dưới lùm cây. Đó là người mẹ, mụ Roque. Khi thấy ông Renardet mụ hét lên :

– Con tui, đứa con tui đâu ?

Mụ quá hoảng hốt nên không nhìn xuống đất. Đột nhiên mụ thấy xác đứa con, mụ đứng sững lại, chắp hai tay đưa lên trời và hét lên một tiếng chát chúa, xé ruột, một tiếng thét của con vật bị thương.

Rồi mụ xông lại phía tử thi, quỳ sụp xuống và dỡ cái khăn che mặt như rứt nó đi. Khi thấy cái mặt khủng khiếp, đen thui và co quắp đó, mụ đứng phắt dậy, rồi sấp mặt xuống đất, mụ la những tiếng la ghê gớm và liên tục trong lớp rêu dày.

Cái thân hình cao và gầy của mụ mà áo quần dán vào đang giật giật, bập bùng. Mắt cá xương xẩu và bắp chân khô đét của mụ, ẩn trong đôi bít tất thô, màu xanh, run lên kinh khủng, và những ngón tay quắm của mụ cào đất như để đào lỗ mà ẩn nấp.

Ông y sĩ bị xúc động thì thầm :

– Tội nghiệp bà già !

Ông Renardet có một tiếng động lạ lùng trong bụng, rồi như một tiếng hắt hơi ồn ào thoát ra từ mũi và miệng ông cùng một lúc ; và khi rút cái khăn tay trong túi ra, ông khóc trong khăn, vừa ho vừa khóc nức nở và vừa hỉ mũi ồn ào. Ông ấp úng :

– Thằng khốn nạn nào đã làm chuyện đó… Tôi… tôi muốn thấy nó lên máy chém…

Nhưng Principe đã trở lại, với hai tay không, vẻ mặt sầu não. Anh ta nói nhỏ :

– Thưa ông xã trưởng, con không tìm thấy gì cả, không có gì ở đâu cả.

Ông xã trưởng hốt hoảng, trả lời giọng đầy nước mắt :

– Mày không tìm ra được cái gì ?

– Áo quần của con bé.

– Vậy thì… vậy thì… tìm nữa đi… và… và… phải tìm cho ra… không thì mày sẽ biết tay tao.

Người đàn ông biết là không thể cưỡng lời ông xã trưởng, bèn đi trở lại, vẻ nản chí, vừa đi vừa sợ sệt liếc mắt nhìn cái thi hài.

Có tiếng người xa xa vang lên dưới lùm cây, một tiếng ì ầm không rõ rệt, tiếng một đám đông đang đến gần ; vì Médéric, khi đi phát thơ, đã loan cái tin từ nhà này sang nhà khác. Dân trong vùng lúc đầu sửng sốt, sau họ tụ họp nhau ngoài đường, họ bàn tán xôn xao, bình luận về biến cố trong một lúc ; và bây giờ họ đến xem.

Họ đến từng nhóm, hơi ngập ngừng và lo lắng, vì sợ bị xúc động. Khi đã thấy cái thi hài, họ dừng lại, không dám đi tới nữa và hạ giọng. Rồi họ đánh bạo, bước vài bước nữa, dừng lại, lại tiến tới, và chẳng bao lâu họ làm thành một vòng tròn dày đặt, náo động, chung quanh kẻ chết, bà mẹ, ông y sĩ và ông Renardet, vì những người đến sau chen lấn đột ngột, nên cái vòng tròn càng siết lại. Chẳng bao lâu họ sờ được cái xác chết. Thậm chí có người cúi xuống để sờ nắn. Ông y sĩ xua đuổi họ. Nhưng ông xã trưởng thình lình hết đờ đẫn, trở nên giận dữ, ông chụp cây gậy của ông y sĩ Labarbe, nhào tới đám dân làng thuộc dưới quyền ông, vừa ấp úng :

– Cút đi… cút đi… lũ người thô lỗ… cút đi…

Trong khoảnh khắc, vòng người tò mò vây quanh dang ra, cách xa hai trăm thước.

Mụ Roque nhổm dậy và ngồi xuống, bây giờ mụ che mặt khóc.

Trong đám đông, người ta bàn tán về việc đó ; và những cặp mắt tò mò của bọn con trai lục lọi cái xác trẻ trung đang nằm tênh hênh. Thấy vậy, ông Renardet thình lình cởi áo vét ném lên mình đứa bé gái giờ đây biến hẳn dưới cái áo rộng lớn.

Những người tò mò lại từ từ đến gần, đám đông choán đầy cánh rừng ; tiếng xì xào liên tục vang lên dưới cây cối rậm rạp.

Ông xã trưởng mặc sơ mi, cầm gậy trong một tư thế đánh trận. Ông có vẻ bực tức vì sự tò mò của dân chúng và ông lặp đi lặp lại : “Nếu đứa nào đến gần, tao sẽ đập vỡ đầu nó như người ta đập vỡ đầu một con chó.”

Người nông dân rất sợ ông ; họ đứng xa ra. Ông y sĩ Labarbe đang hút thuốc, ông ngồi bên cạnh mụ Roque và ông nói chuyện với mụ, tìm cách làm mụ khuây khỏa. Mụ liền cất tay khỏi mặt, nói huyên thuyên, giọng sụt sùi, cho vơi bớt nỗi đau đớn. Mụ kể hết cuộc đời mình, nào việc mụ lấy chồng, nào cái chết của chồng, ông chồng hồi đó giữ chuồng bò, bị sừng bò húc chết, nào tuổi thơ của đứa con gái, nào cuộc đời cực khổ của một người đàn bà góa nghèo với đứa con thơ. Mụ chỉ có mỗi một đứa con, con bé Louise ; và người ta đã giết nó, người ta đã giết nó trong cái rừng này. Bỗng nhiên mụ muốn nhìn nó lại, mụ lê mình trên đầu gối, đến bên thi thể đứa con, dỡ một góc áo lên, rồi thả xuống và la hét trở lại. Đám đông im lặng, tò mò nhìn theo những cử chỉ của người mẹ.

Nhưng thình lình có sự đi lại xôn xao, người ta la lên : “Hiến binh đến, hiến binh đến !”

Hai người hiến binh hiện ra đằng xa, họ đi nhanh, đi với ông đại úy và một người đàn ông, dáng người thấp, có hai chòm râu má đỏ hoe, ông ta nhảy tưng tưng như khỉ, trên lưng một con ngựa trắng.

Người lính tuần phiên đã tìm ra đúng ông Putoin, ông dự thẩm, vào lúc ông ta cưỡi ngựa đi dạo như thường ngày, vì ông ta muốn ra cái vẻ người cưỡi ngựa đẹp trai, ông ta làm trò vui cho các kỵ binh.

Ông đặt chân xuống đất với ông đại úy, vừa siết tay ông xã trưởng và ông y sĩ, ông vừa có cái nhìn lục lọi trên cái áo vét được cái tử thi phía dưới làm phồng lên.

Khi ông đã biết rõ mọi việc, ông xua đám đông mà các ông hiến binh đuổi ra khỏi cánh rừng, nhưng chẳng bao lâu đám đông trở lại trong đồng cỏ và làm thành một hàng rào, một hàng rào lớn, bằng những cái đầu lố nhố, dọc theo phía bên kia con suối Brindille.

Đến lượt ông y sĩ giải thích, và ông Renardet ghi bằng bút chì trên cuốn sổ tay. Những điều nhận thấy đã được ghi chép, bình luận, mà không khám phá ra được gì. Principe cũng đã trở về, anh ta không tìm ra được dấu vết áo quần.

Việc áo quần biến mất làm mọi người ngạc nhiên, chỉ có thể giải thích bằng một sự ăn cắp, nhưng vì những áo quần nghèo nàn đó không đáng hai mươi xu, nên chuyện ăn cắp không thể chấp nhận được.

Ông dự thẩm, ông xã trưởng, ông đại úy và ông y sĩ thân hành đi tìm áo quần, từng nhóm hai người, họ tỉ mỉ vạch những cành cây nhỏ nhất dọc con suối.

Ông Renardet nói với ông dự thẩm :

– Làm sao cái thằng khốn nạn đó giấu được hoặc đem đi mấy cái áo quần cũ mèm và để lại cái xác chết giữa thanh thiên bạch nhật như thế ?

Ông dự thẩm, tinh ý và vờ vĩnh, trả lời :

– À ! À ! Một cái mưu chăng ? Một kẻ tàn ác hay một tên vô lại xảo trá đã phạm tội ác này. Dù sao đi nữa chúng ta cũng sẽ tìm ra nó.

Có tiếng xe chạy rầm rầm làm họ quay đầu lại. Đó là ông phó biện lý với ông y sĩ và ông thư ký của tòa án đang đi đến. Họ lại tìm kiếm và chuyện trò sôi nổi.

Thình lình ông Renardet nói :

– Các ngài có biết là tôi mời các ngài ở lại ăn trưa không ?

Mọi người đều mỉm cười nhận lời. Ông dự thẩm nhận thấy ngày hôm đó người ta lo chuyện con bé Roque đã khá nhiều rồi, nên ông quay lại ông xã trưởng và nói :

– Tôi có thể bảo người ta khiêng cái xác đặt ở nhà ông được chứ ? Chắc chắn ông có phòng để giữ cái xác đến chiều nay.

Ông Renardet luống cuống, ấp úng :

– Vâng, không… không… Thật ra tôi không thích cái xác đó vào nhà tôi… tại vì mấy đứa ở của tôi… chúng… chúng đã nói đến chuyện ma trong… trong cái tháp nhà tôi, trong cái tháp Renard… Ông biết không… Nếu làm như thế thì tôi sẽ không giữ được đứa nào… Không… Tôi không muốn có cái xác chết trong nhà tôi.

Ông dự thẩm mỉm cười :

– Thôi… Tôi sẽ bảo họ đưa xác về Rouy ngay, để khám nghiệm.

Và xoay qua ông phó biện lý, ông nói :

– Tôi có thể dùng xe của ông được chứ ?

– Vâng, xin ông cứ tự tiện.

Tất cả mọi người đều trở lại phía xác chết. Bây giờ mụ Roque ngồi bên cạnh con gái, mụ cầm tay nó và nhìn thẳng phía trước với cặp mắt lờ đờ, đần độn.

Hai ông y sĩ tìm cách dẫn mụ đi nơi khác, để mụ đừng thấy người ta đem xác đứa con đi ; nhưng mụ hiểu ngay việc người ta sắp làm, và mụ nhào tới xác chết, ôm lấy nó. Vừa nằm lên trên mụ vừa la :

– Mấy ông không lấy nó được đâu, nó là của tui, của tui bây giờ. Người ta đã giết nó ; tui muốn giữ nó lại, mấy ông sẽ không có nó đâu !

Tất cả những người đàn ông đứng chung quanh mụ Roque đều bối rối, do dự. Ông Renardet quỳ xuống để nói với mụ :

– Mụ Roque, hãy nghe tôi, phải đem xác đi để biết đứa nào đã giết nó ; nếu không thì sẽ không biết được ; phải tìm cho ra thủ phạm để trừng phạt nó. Người ta sẽ trả đứa con cho mụ khi nào tìm ra được tên đó, tôi hứa với mụ.

Lời nói đó làm lay chuyển mụ ta, và lòng căm thù bừng dậy trong cái nhìn hoảng hốt :

– Vậy thì người ta sẽ bắt nó ? mụ hỏi.

– Đúng, tôi hứa với mụ.

Mụ ta đứng dậy, quyết để cho những người đó làm việc ; nhưng vì ông đại úy nói nhỏ : “Lạ thật ! không tìm ra được áo quần của nó”, một ý nghĩ mới mẻ loé lên trong đầu óc người đàn bà quê mùa của mụ và mụ hỏi :

– Áo quần nó đâu ? Những thứ đó là của tui. Phải đưa cho tui. Người ta để áo quần nó đâu ?

Người ta giải thích cho mụ rằng áo quần tìm không ra ; thế rồi mụ khăng khăng đòi một cách tuyệt vọng, vừa khóc vừa rên rỉ :

– Áo quần đó là của tui, tui muốn mấy ông trả lại cho tui, đồ của nó ở đâu ? Trả cho tui.

Người ta càng cố an ủi mụ, mụ càng khóc nức nở, cứ khăng khăng đòi. Mụ không còn đòi xác chết, mà đòi áo quần, áo quần của con mụ, có lẽ vì một sự tham lam vô ý thức của người nghèo xem một đồng tiền bằng một tài sản, hơn là vì tình mẫu tử.

Và khi cái thi hài nhỏ bé đã được lăn trong những tấm chăn lấy ở nhà ông Renardet, mất hút trong xe, mụ Roque đứng dưới lùm cây, có ông Renardet và ông đại úy đỡ hai bên, mụ la :

– Tui không còn gì nữa, không còn gì nữa, không còn gì nữa trên đời này, không còn gì nữa, kể cả cái mũ con con của nó, cái mũ con con của nó ; tui không còn gì hết, không còn gì hết, kể cả cái mũ con con của nó.

Ông cha xứ vừa mới đến ; một vị linh mục rất trẻ mà đã mập béo. Ông nhận cái việc đưa mụ Roque về nhà, và hai người cùng đi về phía làng. Nỗi đau đớn của người mẹ bớt dần với lời nói thiêng liêng của vị giáo sĩ, ông hứa trăm nghìn bù đắp cho sự mất mát đó. Nhưng mụ vẫn lặp đi lặp lại không ngừng : “Ước gì tui được cái mũ con con của nó…”. Mụ cứ khăng khăng bám vào cái ý nghĩ đó giờ đây vượt lên trên tất cả những ý nghĩ khác.

Từ xa ông Renardet la lớn :

– Mời cha ăn trưa với chúng tôi. Trong một tiếng đồng hồ nữa.

Vị linh mục quay đầu lại và trả lời :

– Xin sẵn lòng, thưa ông xã trưởng. Tôi sẽ đến nhà ông vào lúc mười hai giờ trưa.

Tất cả mọi người đi về phía ngôi nhà, xuyên qua những cành cây người ta thấy mặt tiền của ngôi nhà màu xám và cái tháp lớn sừng sững bên bờ suối.

Bữa ăn kéo dài rất lâu, người ta bàn về vụ ám sát. Tất cả đều đồng ý mà cho rằng một tên nào đó đi lảng vảng, đã phạm tội ác, khi hắn tình cờ đi qua nơi đó, trong lúc con bé tắm.

Rồi các ông quan tòa trở về Rouy, họ cho biết sẽ trở lại ngày hôm sau, sớm, ông y sĩ và ông cha xứ trở về nhà họ, trong khi đó ông Renardet, sau khi đi dạo lâu ngoài đồng cỏ, trở lại trong rừng để đi dạo cho đến tối, ông đi những bước chậm rãi, hai tay chắp sau lưng.

Ông đi ngủ rất sớm và sáng hôm sau ông vẫn còn ngủ, khi ông dự thẩm bước vào phòng ông. Ông dự thẩm xoa tay vẻ hài lòng và nói :

– Chà, chà, ông vẫn còn ngủ à ? Này, ông bạn, sáng nay chúng tôi có thêm tin tức đấy !

Ông xã trưởng ngồi dậy trên giường :

– Tin tức gì thế ?

– Ồ ! Một chuyện lạ lùng. Ông còn nhớ rõ hôm qua người mẹ đòi cho được một kỷ niệm của đứa con, nhất là cái mũ nhỏ của nó không ? Vậy thì sáng nay, khi mở cửa, người mẹ thấy nơi ngưỡng cửa đôi guốc của con mình. Điều đó chứng tỏ vụ giết người là do một kẻ ở trong vùng này, một kẻ đã tỏ ra thương hại người mẹ. Thêm nữa ông phát thơ Médéric có trao cho tôi cái đê dùng để may vá, con dao và ống kim may của đứa bé. Vậy thì tên sát nhân trong khi đem áo quần đi giấu, đã đánh rơi những đồ vật đó nằm trong túi. Đối với tôi quan trọng là đôi guốc, cho thấy một văn hóa đạo đức nào đó và một khả năng dễ động lòng của tên sát nhân. Vậy nếu ông muốn, chúng ta sẽ cùng nhau kiểm tra những người dân quan trọng trong làng ông.

Ông xã trưởng đã đứng dậy. Ông bấm chuông để người nhà mang nước nóng lên cho ông cạo râu. Ông nói :

– Tôi sẵn sàng, nhưng mà việc đó sẽ kéo dài khá lâu, và chúng ta có thể bắt đầu ngay bây giờ.

Ông dự thẩm Putoin ngồi xuống ghế, bỏ hai chân hai bên, như thế, ngay ở trong nhà, ông có thể tiếp tục cái tật đi ngựa của ông.

Bây giờ ông Renardet thoa đầy bọt trắng ở cằm, vừa nhìn vào gương, rồi ông mài con dao cạo trên miếng da và nói tiếp :

– Người dân quan trọng của Carvelin tên là Joseph Renardet, xã trưởng, địa chủ giàu có, người tính cục cằn, hay đánh đập lính tuần và dân đánh xe ngựa…

Ông dự thẩm bật cười :

– Đủ rồi, cho qua người sau…

– Người quan trọng thứ nhì là ông Pelledent, phó xã trưởng, làm nghề nuôi bò, cũng là địa chủ giàu có, một nông dân điêu ngoa, rất xảo trá, quỷ quyệt về mọi vấn đề tiền bạc, nhưng theo ý tôi không thể phạm một tội ác như thế.

Ông Putoin nói :

– Cho qua.

Vậy là vừa cạo râu vừa rửa mặt, ông Renardet tiếp tục kiểm tra về mặt đạo đức tất cả dân làng Carvelin. Sau hai tiếng đồng hồ bàn cãi, mối nghi ngờ của họ hướng về ba tên khả nghi : một người săn bắn trái phép tên Cavalle, một người câu tôm cá tên Paquet và một người giữ chuồng bò tên Clovis.

 

II

 

Sự tìm kiếm kéo dài suốt mùa hè ; người ta không tìm ra tên sát nhân. Những người bị tình nghi và bị bắt đã dễ dàng đưa ra bằng chứng là họ vô tội, và viện Công tố phải bỏ việc truy lùng thủ phạm.

Nhưng vụ giết người đó dường như đã kích động mạnh mẽ người dân khắp vùng. Trong lòng mọi người có một sự lo lắng, một sợ hãi vu vơ, một cảm giác hãi hùng, huyền bí, chẳng những do việc không tìm ra được một dấu vết nào mà còn do cái chuyện lạ lùng là đôi guốc ở trước cửa nhà mụ Roque, ngày hôm sau.

Ý nghĩ rằng chắc chắn tên sát nhân đã dự vào việc lập biên bản, rằng hắn vẫn còn ở trong làng, ý nghĩ đó ám ảnh mọi người và cứ chờn vờn trong vùng như một mối đe dọa không ngừng.

Vả chăng cánh rừng đã trở thành cái nơi làm người ta sợ hãi và tránh đi qua, tưởng chừng nơi đó có ma. Trước kia, dân làng đến đấy đi dạo mỗi chiều chủ nhật. Họ ngồi trên rêu, dưới gốc cây, hay đi ven dòng nước và rình những con cá hồi đang bơi nhanh dưới lớp rong rêu. Bọn con trai có những trò chơi ném hòn, chơi ky, chơi đánh đáo, chơi ném quả bóng ở vài nơi mà chúng tìm ra và sang bằng đất để chơi. Và bọn con gái thì từng hàng bốn, năm đứa, quàng tay nhau đi dạo, hát eo éo những bài tình ca làm người ta ngứa tai và bực mình, vì những nốt nhạc hát sai làm khuấy động không khí yên tĩnh. Bây giờ không còn ai đến dưới vòm cây cao, um tùm nữa, làm như người ta sợ thấy một xác chết nào đang nằm đó.

Mùa thu đến, lá vàng rơi. Ngày đêm lá rơi dọc các thân cây lớn, xoay tròn, nhẹ nhàng ; bầu trời bắt đầu hiện rõ qua các cành cây trụi lá. Đôi khi một làn gió thổi qua trên các ngọn cây, rồi thì cơn mưa đang rơi chậm chạp và liên tục, bỗng nhiên nặng hạt, trở thành cơn mưa rào, xào xạc, mưa trải trên lớp rêu một tấm thảm màu vàng, gây thành tiếng động dưới chân. Và tiếng thì thầm gần như không nghe được, tiếng thì thầm di động không ngừng, êm dịu và buồn bã của lá rơi hình như là một tiếng than, và những chiếc lá rơi liên miên có vẻ như những giọt nước mắt, những giọt nước mắt của cây cối buồn đang khóc ngày đêm về cái chết của năm tháng, của những bình minh ấm áp, những hoàng hôn êm dịu, cái chết của những làn gió nhẹ, ấm, của nắng sáng, và có lẽ cây cối cũng khóc về tội ác mà chúng đã thấy xảy ra dưới bóng mát của chúng, khóc cho đứa trẻ bị hiếp và bị giết dưới chân chúng. Cây cối khóc trong sự im lặng của cánh rừng hoang vắng và trống trải, cánh rừng bị bỏ hoang, khiến dân làng khiếp sợ, nơi đó có lẽ linh hồn của đứa trẻ đã chết đang lảng vảng.

Con suối Brindille được nước mưa giông thổi phồng lên, nước vàng chảy cuồn cuộn giữa hai bờ, giữa hai hàng cây liễu trơ trụi.

Ông Renardet bỗng nhiên trở lại đi dạo trong rừng. Mỗi ngày, khi trời tối, ông ra khỏi nhà, chậm rãi xuống bậc thềm và đi tới lùm cây, vẻ tư lự, hai tay cho vào túi. Ông đi rất lâu trên lớp rêu ướt và mềm, trong khi một đàn quạ từ các vùng lân cận bay đến để ngủ trên ngọn cây, chúng dàn ra trên không trung, như một chiếc khăn tang rất lớn phấp phới trước gió, và kêu những tiếng la ó dữ dội, thê thảm.

Đôi khi chúng đậu lại, khiến những cành cây bị lấm chấm đen chằng chịt trên nền trời đỏ, nền trời đỏ máu của những hoàng hôn mùa thu. Rồi thình lình chúng lại bay đi, vừa kêu những tiếng khủng khiếp vừa giăng ra trên rừng cây một hàng cánh đen lô nhô của chúng.

Cuối cùng, chúng sà xuống những ngọn cây cao nhất, và dần dần ngừng kêu, trong khi màn đêm từ từ buông xuống, khiến lông đen của chúng lẫn lộn với màu đen của không gian.

Ông Renardet còn đi lang thang qua các gốc cây, đi chầm chậm ; rồi khi đêm tối trở nên dày đặc, ông không còn đi được nữa thì ông quay về nhà, để rơi mình trên chiếc ghế bành, trước lò sưởi, hơ đôi giày ướt trước lửa, làm hơi bốc lên rất lâu.

Thế mà một buổi sáng, cái tin lớn ông xã trưởng cho chặt rừng cây được loan đi khắp vùng.

Hai mươi người thợ đốn cây đã bắt tay vào việc. Họ bắt đầu bằng cái góc rừng gần nhà nhất, và họ làm việc nhanh, trước sự hiện diện của ông chủ.

Trước hết, người tỉa cành leo lên thân cây. Anh ta được cột vào cây bằng một vòng giây thừng, anh ta ôm thân cây, rồi đưa cao chân lên để đập mạnh vào cây một mũi sắc nhọn đã được gắn dưới đế giày. Mũi sắt được ghim sâu vào cây, và người tỉa cành đặt chân lên đấy như trên một bậc cầu thang để leo cao hơn và đập mạnh vào cây với mũi sắt gắn ở chân kia, một lần nữa anh ta lại leo lên và cứ thế tiếp tục lên cao.

Mỗi lần lên một bậc, người tỉa cành nâng cao hơn một chút cái vòng giây thừng cột anh ta vào thân cây ; anh ta đeo sau lưng một cái rìu sáng loáng. Anh ta vẫn leo từ từ như một con vật ký sinh tìm cách khắc phục một con vật khổng lồ, anh ta leo nặng nề trên thân cây như một cái cột cao ngất, ôm ghì lấy nó và húc nó bằng những mũi nhọn để lên đến đỉnh mà chặt cái ngọn.

Ngay khi anh ta lên đến những cành cây gần ngọn, anh ta ngừng lại, lấy cái rìu sau lưng và chặt. Anh ta chặt chậm rãi, có phương pháp, khía cành cây, chỗ sát thân cây ; và thình lình cành cây gẫy răng rắc, khuỵu xuống, xiêu, đứt hẳn và ngã xuống ; khi ngã, cành cây chạm nhẹ vào các cây bên cạnh, rồi nằm bẹp trên đất với một tiếng động lớn của cây gẫy, và những nhánh cây bé nhỏ rung rinh rất lâu.

Trên mặt đất rơi nhiều khúc cây mà những người khác, đến lượt họ, chặt ra và cột thành bó, chất thành đống ; trong khi đó những thân cây chưa bị đốn có vẻ như những cột trụ quá lớn, những cây cọc khổng lồ bị lưỡi rìu sắc bén cắt cụt và làm trụi lá.

Khi người tỉa cành đã xong công việc, anh ta để lại trên ngọn cây thẳng đuột và mảnh khảnh cái vòng giây thừng mà anh ta đã mang theo, sau đó, anh ta leo trở xuống bằng cách dùng những mũi sắt nhọn đã ghim trên thân cây. Thế là những người đốn cây bắt đầu chặt mạnh vào gốc cây, làm chấn động cả cánh rừng.

Khi gốc cây đã bị chặt khá sâu, họ kéo cái giây thừng để lại trên ngọn, vừa kéo vừa hô nhịp nhàng, bỗng nhiên cái thân cây to sụ gẫy răng rắc và rơi xuống đất với một tiếng động đục và với sức rung chuyển của một phát đại bác bắn ở xa.

Rồi mỗi ngày cánh rừng thưa dần đi, nó mất cây cối như một đội quân bị mất binh lính.

Ông Renardet không rời khỏi rừng ; ông ở đấy từ sáng đến chiều, hai tay chắp sau lưng, im lìm ngắm cái chết lần mòn của cánh rừng. Khi một thân cây ngã xuống, ông đặt chân lên cây, như trên một xác chết. Rồi ông ngước mắt lên cái cây sắp bị đốn với một vẻ nóng lòng âm thầm và bình tĩnh, làm như ông chờ đợi một cái gì khi việc tàn sát cây cối chấm dứt.

Nhưng rồi thợ đốn cây đã đến gần nơi người ta tìm ra xác con bé Roque. Cuối cùng, một buổi chiều, vào lúc hoàng hôn, họ đã đạt đến chỗ đó.

Vì trời đã tối, bầu trời đầy mây, đám thợ muốn ngừng công việc, để qua ngày hôm sau mới đốn cái cây sồi rừng to tướng, nhưng ông chủ không chịu, ông bắt họ phải tỉa cành và chặt ngay cái cây khổng lồ đó đã che tội ác.

Khi người tỉa cành đã trụi lá cây sồi rừng, đã xong công việc tắm rửa cho kẻ bị kết án tử hình, và khi cái gốc cây đã bị chặt sâu, năm người đàn ông bắt đầu giật cái giây thừng cột trên ngọn cây.

Cây sồi rừng cưỡng lại, mặc dù bị khía ở phía giữa, cái thân khỏe mạnh của nó vẫn cứng như sắt. Tất cả thợ đốn cây cùng nhau kéo giây thừng bằng cách nằm sát xuống đất, và họ la những tiếng hổn hển, để đánh nhịp sự cố gắng của họ.

Hai người đốn cây đứng sát cái cây khổng lồ, cầm rìu trong tay như hai tên đao phủ sẵn sàng chém thêm, và ông Renardet đứng yên, tay đặt lên vỏ cây, ông chờ cái cây ngã với một xúc động bồn chồn, lo lắng.

Một trong những người đốn cây nói với ông :

– Thưa ông xã trưởng, ông đứng gần quá ; khi cây ngã có thể làm ông bị thương.

Ông không trả lời, cũng không thụt lùi ; ông có vẻ sẵn sàng chụp lấy cây sồi rừng để quật ngã nó như một lực sĩ.

Bỗng nhiên, trong gốc cây, một tiếng xâu xé dường như chạy lên đến ngọn, như một chấn động đau đớn ; và thân cây hơi xiêu, gần ngã, nhưng còn cưỡng lại. Các người thợ hăng hái, căng cánh tay, cố sức hơn. Khi thân cây bị gẫy và ngã xuống, ông Renardet thình lình bước tới một bước, rồi dừng lại, hai vai đưa lên để hứng cái cây chắc chắn sẽ ngã, cái cây nguy hiểm sẽ đè bẹp ông xuống đất.

Nhưng cây sồi rừng hơi bị lệch, chỉ chạm vào lưng ông, làm người ông bị bắn lên cách xa năm thước, mặt úp đất.

Mấy người thợ lao tới để đỡ ông dậy ; ông đã nhổm dậy trên đầu gối, choáng váng, mắt đờ đẫn, tay đặt lên trán, làm như ông vừa ra khỏi một cơn điên.

Khi ông đã đứng vững, đám thợ ngạc nhiên hỏi ông, vì họ không hiểu hành động của ông. Ông ấp úng trả lời rằng có một lúc tâm thần ông bị lung lay, hay đúng hơn, trong một khoảnh khắc, ông đã trở về với tuổi ấu thơ, rằng ông tưởng có đủ thì giờ để lòn qua dưới cây, như tụi trẻ con chạy ngang qua trước đầu xe ngựa đang chạy, rằng ông đã chơi với sự nguy hiểm, rằng từ tám ngày nay ông cảm thấy càng lúc càng thèm chơi như thế, vừa tự hỏi mỗi lần một cái cây gẫy và ngã xuống, có thể nào lòn qua dưới cây mà không bị cây đụng không. Đó là một điều bậy, ông công nhận thế ; nhưng ai cũng có những lúc điên rồ, những cám dỗ ngu ngốc, trẻ con.

Ông giải thích chậm rãi, tìm lời để nói, giọng đục ; rồi ông bỏ đi và nói :

– Hẹn các bạn ngày mai nhé !

Ngay khi bước vào phòng, ông ngồi trước bàn có cây đèn chụp chiếu sáng, và tay ôm lấy mặt, ông bắt đầu khóc.

Ông khóc rất lâu, rồi ông lau nước mắt, ngẩng đầu lên nhìn đồng hồ. Chưa đầy sáu giờ. Ông nghĩ : “Ta còn thì giờ trước bữa ăn”, và ông đi khóa cửa phòng. Ông trở lại, ngồi vào bàn, kéo ngăn bàn giữa, lôi ra một khẩu súng lục và đặt nó trên chồng giấy, dưới ánh sáng. Khẩu súng sáng loáng có những ánh phản chiếu như những ngọn lửa. Ông Renardet nhìn nó vài giây với đôi mắt đờ đẫn của một người say rượu ; rồi ông đứng dậy, đi qua đi lại.

Ông đi từ đầu này đến đầu kia căn phòng, đôi khi dừng lại để rồi lại tiếp tục đi. Bỗng ông mở cửa phòng tắm, nhúng một cái khăn vào bình nước và thấm ướt trán, như ông đã làm cái buổi sáng người ta khám phá ra vụ giết người. Rồi ông lại đi qua đi lại. Mỗi lần ông đi ngang qua cái bàn, khẩu súng sáng loáng như thu hút mắt ông, mời mọc tay ông ; nhưng ông nhìn đồng hồ và nghĩ : “Ta còn thì giờ.”

Đồng hồ điểm sáu giờ rưỡi. Thế là ông lấy khẩu súng, há miệng to, mặt nhăn khủng khiếp, và ấn vào miệng cái nòng súng giống như ông muốn nuốt nó. Ông ở trong cái thế đó vài giây, không cụ cựa, ngón tay đặt trên con cò, rồi thình lình ông rùng mình khiếp sợ, ông khạc cái súng xuống tấm thảm.

Và ông ngồi phịch xuống ghế, khóc nức nở : “Ta không làm được, ta không dám ! Trời ơi ! Trời ơi ! Làm sao để có can đảm mà tự tử đây !”

Có người gõ cửa ; ông đứng dậy hoảng hốt. Một người ở nói :

– Thưa, bữa ăn của ông đã dọn lên.

Ông trả lời :

– Được. Tôi xuống đây.

Thế rồi ông lượm khẩu súng, cất nó vào hộc bàn, rồi nhìn trong tấm gương trên lò sưởi để xem gương mặt có vẻ quá co giật không. Mặt ông đỏ như thường khi, có lẽ đỏ hơn một chút. Ông xuống nhà dưới và ngồi vào bàn ăn.

Ông ăn chậm rãi, như một người muốn kéo dài bữa ăn, không muốn trở lại trạng thái cô đơn. Rồi ông hút nhiều ống điếu trong phòng ăn, trong khi người làm dọn dẹp. Rồi ông trở lên phòng.

Ngay sau khi đã đóng cửa phòng, ông nhìn dưới gầm giường, mở tất cả các tủ, thăm dò mọi góc, lục lọi đồ đạc. Sau đó ông thắp mấy cây nến trên lò sưởi, và đi loanh quanh nhiều lần, mắt đảo khắp phòng với một nỗi lo lắng, khiếp sợ, khiến gương mặt ông co rúm lại, bởi vì ông biết ông sắp gặp nó, như mọi đêm, con bé Roque, đứa bé gái mà ông đã hiếp, đã bóp cổ.

Đêm nào cũng vậy, cái hình ảnh ghê rợn lại hiện ra. Trước tiên, trong lỗ tai ông có tiếng kêu vù vù, như tiếng động của một cái máy dùng để đập, hay tiếng xe lửa đang chạy trên một chiếc cầu ở xa. Thế rồi ông bắt đầu thở hổn hển, nghẹt thở, và ông phải cởi nút cổ áo sơ mi và giây nịt. Ông đi tới đi lui, để bộ máy tuần hoàn hoạt động, ông thử đọc sách, thử hát, vô ích ; dù ông không muốn, trí óc ông vẫn trở lại cái ngày ông giết người, và bắt ông nhớ lại chuyện đó, từ đầu đến cuối, với những chi tiết thầm kín nhất, những xúc động mãnh liệt nhất.

Sáng hôm đó, buổi sáng của cái ngày khủng khiếp, khi thức dậy, ông cảm thấy hơi choáng váng và nhức đầu mà ông cho là vì trời nóng, đến nỗi ông nằm ì trong phòng đến giờ ăn trưa. Sau bữa ăn, ông ngủ trưa ; rồi chiều ông đi ra ngoài để thở làn gió nhẹ, tươi mát, làm dịu tâm thần, dưới lùm cây trong rừng.

Nhưng ngay khi ra khỏi nhà, cái không khí nặng nề và nóng bức ngoài đồng làm ông càng thêm ngộp thở. Mặt trời còn trên cao, đổ tuông xuống mặt đất cháy, khô và thiếu nước, một thứ ánh sáng nóng hừng hực. Không một làn gió làm rung rinh cây lá. Tất cả thú vật, chim chóc, châu chấu đều im tiếng. Ông Renardet đi dưới cây cối, trên lớp rêu còn giữ được chút hơi mát của nước suối Brindille, dưới cái vòm bao la của tàn cây. Nhưng ông cảm thấy khó chịu. Ông có cảm tưởng một bàn tay xa lạ, vô hình siết cổ ông ; và ông gần như không nghĩ đến gì cả, vì thường khi đầu óc ông ít suy nghĩ. Chỉ có một ý nghĩ vu vơ ám ảnh ông từ ba tháng nay, đó là ý nghĩ tục huyền. Ông không chịu được sống một mình, điều đó làm ông khổ về tinh thần lẫn thể xác. Từ mười năm nay ông quen có một người đàn bà bên cạnh ông, quen với sự hiện diện thường xuyên của bà, quen được bà ôm ghì hằng ngày, đó là một nhu cầu khẩn thiết và không rõ rệt, ông cần sự tiếp xúc không ngừng với bà, cần được bà hôn. Từ khi bà Renardet mất, ông luôn luôn khổ mà không hiểu tại sao, ông khổ vì không còn cảm thấy cái áo của bà chạm vào chân ông suốt ngày, và nhất là không còn được mê mẩn trong vòng tay của bà. Ông góa vợ gần sáu tháng nay, và ông đã tìm trong vùng người thiếu nữ nào hoặc người đàn bà góa nào ông có thể cưới được khi mãn tang.

Tâm hồn trong sạch của ông ở trong một thể xác khỏe một cách phi thường, và những hình ảnh xác thịt bắt đầu khuấy động giấc ngủ của ông, cũng như những khi ông thức. Ông xua đuổi chúng, chúng vẫn trở lại, và đôi khi ông thì thầm, tự cười mình : “Ta bị cám dỗ như ông thánh Antoine.”

Vì sáng hôm đó ông đã có nhiều ám ảnh, nên buổi chiều, bỗng nhiên ông muốn đi tắm trong dòng suối Brindille để được mát mẻ và để làm giảm bớt sự thèm muốn.

Ông biết xa hơn có một chỗ rộng và sâu, nơi mà dân trong vùng đôi khi đến tắm vào mùa hè. Ông đến đấy.

Hồ nước trong được hàng liễu dày che khuất, dòng suối chảy vào hồ đọng lại một lúc trước khi chảy trở ra. Khi ông Renardet đến gần, ông tưởng như nghe một tiếng động nhẹ, một tiếng vỗ bập bềnh, nhẹ nhàng, không phải tiếng suối vỗ vào bờ. Ông vạch lá chầm chậm và nhìn. Một đứa bé gái trần truồng, trắng nõn qua làn nước trong, đang đập nước với hai tay, nó vừa múa trong nước vừa xoay tròn với những cử chỉ dễ thương. Nó không còn là một đứa bé, mà cũng chưa hẳn là một người đàn bà ; thân hình nó mập, tròn trịa, có cái vẻ của một đứa bé gái phát triển sớm, lớn nhanh, gần như chín muồi. Ông không cử động, đờ người vì kinh ngạc, vì lo lắng, hơi thở hổn hển vì một xúc động lạ thường, đau buốt. Ông đứng đấy, tim đập mạnh, làm như một trong những giấc mơ dâm dục của ông vừa được hiện ra, làm như một bà tiên tội lỗi cho xuất hiện trước mắt ông đứa con gái quá trẻ đó làm ông bối rối, một nữ thần Vénus bé nhỏ của thôn quê, sinh ra trong con suối, như nữ thần Vénus trong huyền thoại, sinh ra trong sóng biển.

Bỗng đứa bé ra khỏi nước, nó đi về phía ông Renardet, mà không thấy ông, nó tìm áo quần cũ mèm của nó để mặc lại. Nó càng bước tới gần với những bước chân ngắn, ngập ngừng, vì sợ đá sỏi nhọn, ông lại càng cảm thấy bị nó thu hút, mà không cưỡng lại được, một cơn điên cuồng thú vật nung đốt cả thể xác ông, làm tâm thần ông hoảng hốt và khiến ông run từ đầu đến chân.

Đứa bé đứng vài giây sau cây liễu đang che ông. Thế rồi, bị mất hết lý trí, ông vạch cành cây, nhảy xổ vào nó, chụp lấy nó. Nó ngã, vì quá sợ hãi nó không kháng cự được, không kêu cầu cứu được, và ông đã hiếp nó mà không hiểu mình đã làm gì.

Ông tỉnh dậy sau khi phạm tội, như người ta tỉnh dậy sau một cơn ác mộng. Đứa bé bắt đầu khóc.

Ông nói : “Im đi, im đi nào. Tao sẽ cho mày tiền.”

Nhưng nó không nghe, nó khóc nức nở. Ông lại nói : “Im đi nào. Im đi nào. Im đi nào.”

Nó vẫn la hét và quặn mình để chạy thoát.

Ông chợt hiểu ông bị dồn vào đường cùng ; ông chụp cổ nó để bịt miệng nó lại, cho nó đừng có những tiếng la hét xé ruột, khủng khiếp. Vì nó tiếp tục giẫy giụa với cái sức mạnh phẫn nộ của một người muốn thoát chết, nên ông khép hai bàn tay khổng lồ của ông trên cái cổ đầy tiếng la hét, và ông đã bóp cổ nó trong khoảnh khắc, vì ông siết mạnh dữ dội, ông không nghĩ đến việc giết nó, mà chỉ làm cho nó im đi.

Rồi ông đứng dậy, điên loạn vì khiếp sợ. Con bé nằm trước mặt ông, đầy máu me, mặt nó xám đen. Ông sắp chạy trốn, khi cái bản năng huyền bí, mơ hồ điều khiển những kẻ bị lâm nguy xuất hiện trong tâm hồn bị chấn động của ông. Ông suýt ném cái thây trong nước, nhưng một thúc đẩy khác khiến ông để ý đến mớ áo quần của con bé, ông làm thành một gói nhỏ. Và rồi, vì ông có sẵn dây trong túi, ông cột cái gói và giấu nó trong một cái lỗ sâu dưới một thân cây mà gốc nằm trong nước.

Rồi ông đi, bước những bước dài ; ông đi ra đồng cỏ, đi một vòng lớn để những người nông dân ở xa, phía bên kia làng, thấy mặt ông, và ông trở về ăn tối, vào giờ thường lệ, vừa kể cho những người tôi tớ nghe những nơi ông đã đi dạo qua.

Tuy nhiên, đêm hôm đó ông ngủ, ông ngủ mê mệt như đôi khi những người bị kết án tử hình ngủ. Ông chỉ mở mắt lúc rạng đông, và ông chờ đến giờ ra khỏi giường, lòng bị dằn vặt vì lo sợ người ta sẽ phát giác tội ác.

Rồi ông phải dự việc lập biên bản. Ông làm bổn phận như người bị mộng du, trong cái ảo giác làm cho ông thấy người và vật qua một giấc mộng, một cơn say, trong sự nghi ngờ thực hư thường làm rối loạn tâm trí người ta trong những giờ tai biến trầm trọng.

Chỉ có tiếng hét xé ruột của mụ Roque xuyên qua tim ông. Lúc đó ông suýt nhào đến, quỳ trước mặt mụ và kêu lên : “Chính tôi là thủ phạm đấy !” Nhưng ông tự dằn lòng. Tuy nhiên, suốt đêm ông đi vớt đôi guốc của đứa bé đã chết để đem về đặt trước ngưỡng cửa người mẹ.

Hễ cuộc điều tra còn tiếp diễn, hễ ông còn chỉ dẫn và đánh lạc hướng nhà chức trách, thì ông bình tĩnh, tự chủ, xảo trá, tươi cười. Ông bàn cãi đằm thắm với các ông quan tòa về những giả thuyết nảy ra trong đầu họ, đánh tan quan điểm của họ, phá hủy lập luận của họ. Thậm chí ông có cái thú xót xa, đau đớn, là phá rối những cuộc khám xét, làm rối reng những ý kiến của họ, và bào chữa cho những người bị tình nghi.

Nhưng kể từ ngày người ta bỏ những cuộc tìm kiếm, ông trở nên bồn chồn, dễ bị kích động hơn trước, mặc dù ông biết dằn những cơn giận. Những tiếng động làm ông giật thót vì sợ; ông run rẩy bởi những chuyện không đâu, đôi khi ông giật mình vì một con ruồi đậu trên trán. Thế rồi ông cảm thấy cần phải hoạt động, cái nhu cầu khẩn thiết đó buộc ông chạy bộ một cách phi thường, bắt ông phải đứng nhiều đêm trọn để đi lại trong phòng.

Không phải vì ông bị lương tâm cắn rứt. Cái bản chất hung bạo của ông không hợp với một sắc thái tình cảm nào hoặc với một sự lo sợ nào về đạo đức. Là một người có nhiều nghị lực và là người hung bạo, sinh ra để đánh giặc, tàn phá những nơi bị xâm chiếm và sát hại những kẻ bại trận, đầy bản năng man rợ của kẻ đi săn, kẻ thích đánh nhau, mạng sống con người đối với ông không đáng kể. Mặc dù ông tôn trọng Giáo hội Kitô giáo vì lý do chính trị, ông không tin có Thượng đế, cũng không tin ma quỷ, vì thế ông không chờ đợi sự trừng phạt hay sự thưởng công về các hành động của ông, trong một kiếp khác. Đối với mọi tín ngưỡng, ông có một triết lý mơ hồ được tạo nên bởi những khái niệm của các nhà bách khoa của thế kỷ trước (1); và ông xem tôn giáo như một sự thừa nhận về đạo đức của pháp luật, tôn giáo và pháp luật đều được loài người đặt ra để quy định những mối quan hệ xã hội.

Giết một người nào trong một cuộc đấu tay đôi để rửa nhục, hay trong chiến tranh, trong một cuộc cãi lộn, hay vì tai nạn, vì tư thù, thậm chí vì tính khoác lác, ông có vẻ cho những chuyện giết người như thế là vui, là hiên ngang, nó không để lại trong ông những dấu vết gì quan trọng hơn là phát súng bắn một con thỏ. Nhưng ông bị xúc động mãnh liệt về vụ ông giết đứa bé gái đó. Trước hết ông phạm tội ác trong một cơn mê hoặc không cưỡng lại được, trong một thứ bão táp dục tình làm tan biến lý trí. Và ông đã giữ lại trong lòng, trên da thịt ông, trên môi ông, cho đến những ngón tay sát nhân của ông, một thứ tình yêu thú vật, cùng với sự ghê tởm, hãi hùng của đứa bé bị ông chộp được và giết một cách hèn hạ. Bất cứ lúc nào trí óc ông cũng nhớ lại cái cảnh ghê rợn đó ; và mặc dù ông cố xua đuổi, cố gạt nó ra vì khiếp sợ, ông cảm thấy hình ảnh đó vẫn lởn vởn trong trí óc ông, xoay quanh ông, luôn chực để hiện ra lại.

Thế rồi ông sợ ban đêm, sợ bóng tối bao quanh ông. Ông chưa biết tại sao bóng tối có vẻ đáng khiếp sợ như thế; nhưng theo bản năng, ông sợ bóng tối; ông cảm thấy trong đó có nhiều sự hãi hùng. Ban ngày sáng sủa không hợp với những chuyện ghê sợ. Người ta thấy rõ người và vật; bởi thế người ta chỉ gặp những người và vật bình thường, có thể thấy được trong ánh sáng. Nhưng ban đêm, đêm tối dày đặc, dày hơn những bờ tường và trống trải, đêm vô tận, đen như mực và mênh mông đến thế, trong đêm người ta có thể chạm vào những cái đáng ghê sợ, người ta cảm thấy lảng vảng mối kinh hãi huyền bí. Ban đêm đối với ông như giấu kín một mối nguy không ngờ được, một mối nguy gần kề và đe dọa. Mối nguy nào ?

Chẳng bao lâu ông biết được. Một đêm, trời đã khuya, ông đang thức và ngồi trên chiếc ghế bành, ông có cảm tưởng thấy cái màn cửa sổ cụ cựa. Ông chờ, lo lắng, tim đập mạnh; cái màn lúc đầu im lìm, rồi bỗng nhiên nó lung lay trở lại; ít ra ông nghĩ là nó đã lung lay. Ông không dám đứng dậy, không dám thở, mặc dù ông là con người dũng cảm; ông đã từng vật lộn và thích tìm được kẻ trộm trong nhà mình.

Có thật cái màn đó đã lung lay không ? Ông tự hỏi, vì sợ thị giác sai lầm. Vả chăng cái lung lay đó quá ít, một thoáng rung rinh nhẹ nhàng của vải, của những nếp màn, chút lượn sóng như khi có gió. Ông nhìn thẳng, cổ căng ra ; và thình lình ông đứng dậy, xấu hổ vì đã sợ, ông bước đến chụp cái màn với hai tay và kéo nó qua một bên. Trước hết ông không thấy gì ngoài cửa kính đen, đen như mực. Màn đêm bí hiểm trải dài đến chân trời vô hình. Ông đứng trước cái bóng tối bất tận đó ; và ông chợt thấy một ánh sáng lờ mờ, di động, có vẻ ở xa. Thế rồi ông sát mặt vào cửa kính, tưởng có người đang câu tôm trái phép bên dòng suối Brindille, vì lúc đó đã quá nửa đêm, và cái ánh sáng lờ mờ đó bò ven bờ suối, dưới đám cây rừng. Vì chưa thấy rõ, ông lấy tay che hai bên mắt, thình lình cái ánh sáng lờ mờ trở nên sáng chói, và ông thấy con bé Roque trần truồng, máu me trên lớp rêu.

Ông thụt lùi, mặt co rúm lại vì khiếp sợ, ông đụng phải cái ghế và té ngửa. Ông nằm như thế vài phút, tâm hồn cô chiếc tuyệt vọng, rồi ông ngồi dậy, bắt đầu suy nghĩ. Ông vừa có một ảo giác, vậy thôi; một ảo giác do một tên ăn trộm về đêm đi ven dòng nước với cái đèn xách tay của hắn. Vả chăng có gì là đáng ngạc nhiên, vì đôi khi kỷ niệm của tội ác làm xuất hiện trong đầu ông cái hình ảnh của đứa trẻ đã chết.

Khi đứng dậy, ông uống một ly nước, rồi ngồi xuống. Ông nghĩ : “Ta sẽ làm gì đây, nếu cái đó trở lại ?” Và cái đó sẽ trở lại, ông cảm thấy thế, ông chắc chắn thế. Cửa sổ đã mời gọi cái nhìn của ông, nó gọi, nó thu hút ông. Để không thấy cửa sổ nữa, ông quay ghế về hướng khác, lấy một cuốn sách và thử đọc ; nhưng ngay sau đó ông tưởng như nghe có cái gì lung lay sau lưng ông, và thình lình ông quay ghế lại. Tấm màn còn cụ cựa, chắc chắn lần này nó có cụ cựa ; ông không thể nghi ngờ được, ông lao tới, chụp cái màn khá mạnh đến nỗi ông làm nó rơi với cả cái thanh treo màn ; rồi ông háu hức dán mặt vào cửa kính. Ông không thấy gì cả. Bên ngoài tất cả đều tối đen; ông thở, lòng vui mừng như một người vừa được cứu sống.

Vậy ông trở lại, ngồi xuống ghế; nhưng liền sau đó ông lại muốn nhìn ra cửa sổ. Từ khi cái màn bị rơi xuống đất, cửa sổ là một lỗ đen ngòm có sức thu hút, đáng sợ, nó cho thấy một đồng quê tối đen. Để tránh sự cám dỗ nguy hiểm đó, ông thay đồ, tắt đèn, đi nằm và nhắm mắt.

Ông nằm ngửa, không cựa quậy, da thịt nóng và xâm xấp mồ hôi, ông chờ giấc ngủ. Một ánh sáng chói lòa thình lình xuyên qua mí mắt ông. Ông mở mắt, tưởng nhà cháy. Xung quanh đều tối đen, ông tì khuỷu tay trên giường để cố xem cái cửa sổ luôn luôn có sức thu hút ông, không sao cưỡng nổi. Vì mải miết cố nhìn, ông thấy vài ngôi sao, ông đứng dậy và mò mẫm đi trong phòng, tìm được cửa kính với hai tay dang ra phía trước, ông dán trán lên kính. Đằng kia, dưới lùm cây, cái xác con bé chiếu sáng như lân, rọi sáng cái bóng tối chung quanh ông.

Ông hét lên một tiếng và chạy đến giường, ông nằm đấy đến sáng, giấu đầu dưới gối.

Bắt đầu từ đó ông không chịu được cuộc sống của ông. Ban ngày thì ông sợ đêm sắp đến, và ban đêm thì cái hình ảnh hiện trở lại. Vừa mới đóng cửa phòng, ông đã cố chống chọi, nhưng vô ích. Một sức mạnh không thể chống lại nhấc ông lên và đẩy ông đến cửa kính, như để gọi con ma, và tức thì ông thấy con ma. Thoạt tiên con ma nằm nơi có vụ giết người, nó nằm hai tay và hai chân dang ra, như cái xác khi được phát hiện. Rồi đứa bé đã chết đứng dậy và đi đến, đi từng bước ngắn như con bé đã đi khi nó ra khỏi suối. Nó đến chầm chậm, đi thẳng trên bãi cỏ và trên các lẵng hoa giờ đây đã khô héo; rồi nó bay bổng lên không trung, đến cái cửa sổ của ông Renardet. Nó đến phía ông, như nó đã đến với kẻ sát nhân, cái ngày xảy ra vụ giết người. Và ông lùi lại trước sự hiện hình đó, ông lùi đến cái giường và quỵ xuống đấy, biết rõ rằng con bé đã vào phòng ông, bây giờ nó đứng sau tấm màn và chốc nữa đây màn sẽ lung lay. Ông nhìn chăm chú cái màn cho đến sáng, luôn luôn trông chờ để thấy nạn nhân của ông đi ra khỏi đấy. Nhưng nó không ra, nó cứ ở sau tấm vải đôi khi bị rung rinh. Ông Renardet siết chặt mấy tấm khăn trải giường với những ngón tay co quắp của ông, như ông đã siết cái cổ của con bé Roque. Ông lắng nghe đồng hồ đổ; trong im lặng, ông nghe con lắc đồng hồ đập nhịp nhàng và những tiếng đập mạnh của tim ông. Người đàn ông khốn đốn đó đau khổ hơn bất cứ người nào đã từng đau khổ.

Rồi ngay khi một vệt trắng hiện ra trên trần nhà, báo hiệu một ngày mới, ông tự cảm thấy được giải thoát; thế là ông được ở một mình, một mình trong phòng ông. Và ông nằm trở lại, ngủ được vài tiếng đồng hồ, một giấc ngủ đầy lo lắng, bồn chồn, nhiều khi ông lại thấy trong chiêm bao cái hình ảnh ghê sợ mà ông thấy lúc ông còn thức.

Khi ông xuống ăn trưa, ông cảm thấy đau khắp mình mẩy, như sau những cơn mệt ghê gớm; ông ăn ít, luôn luôn bị mối lo sợ ám ảnh, ông sợ con bé mà ông sẽ thấy lại đêm tới.

Tuy nhiên ông biết rõ rằng đó không phải là một sự hiện ra, rằng những người chết không bao giờ trở lại, chính tâm hồn bệnh hoạn của ông, bị ám ảnh bởi một ý nghĩ duy nhất, một kỷ niệm khó quên, là nguyên do của khổ hình ông đang chịu. Chỉ có tâm hồn của ông đã gợi lên, đã làm sống lại đứa bé đã chết, tâm hồn gọi đứa bé, dựng nó lên trước mắt ông và in trong mắt ông cái hình ảnh không xóa được. Nhưng ông cũng biết là ông sẽ không lành được cái tâm bệnh đó, ông sẽ không bao giờ thoát khỏi sự truy hại tàn nhẫn của ký ức ; và ông quyết định thà chết còn hơn là phải chịu đựng lâu dài những dằn vặt đó.

Thế là ông tìm cách tự tử. Ông muốn chọn một cái chết đơn giản và tự nhiên, không để thiên hạ tưởng là một vụ tự tử. Bởi vì ông tha thiết với thanh danh của ông, với cái tên tổ tiên ông để lại ; và nếu có sự nghi ngờ về cái chết của ông, chắc chắn người ta sẽ nghĩ đến vụ giết người không được giải thích, nghĩ đến kẻ sát nhân không tìm ra, và không bao lâu người ta sẽ buộc tội ông.

Một ý nghĩ lạ lùng đến với ông : ông đã giết con bé Roque dưới một gốc cây, ông muốn để cái cây đó đè nát ông. Vậy ông quyết định cho chặt cả rừng cây và giả vờ bị tai nạn. Nhưng cây sồi rừng đã từ chối giết ông.

Khi trở về nhà, ông tuyệt vọng, ông lấy khẩu súng, nhưng không dám tự bắn.

Đến bữa ăn tối, ông ăn, rồi lên phòng và ông không biết phải làm gì. Ông tự cảm thấy hèn nhát vì đã thoát chết. Ban nãy ông sẵn sàng chết, ông có ý chí mạnh mẽ, đầy quả quyết, ông làm chủ lòng can đảm và sự quyết định của mình ; bây giờ ông yếu đuối và sợ chết, cũng như ông sợ con bé đã chết.

Ông tự nhủ : “Ta không còn dám nữa, ta không còn dám nữa”, và ông khiếp sợ nhìn khi thì khẩu súng trên bàn, khi thì tấm màn che cửa sổ. Ông cũng có cảm tưởng rằng ngay sau khi ông chết có cái gì khủng khiếp sẽ xảy ra ! Cái gì ? Sự gặp gỡ của ông với nó chăng ? Nó rình ông, chờ ông, gọi ông ; và chính để bắt ông, trả thù ông và buộc ông phải chết mà nó hiện ra mỗi đêm.

Ông khóc như một đứa trẻ, vừa lặp đi lặp lại : “Ta không dám nữa.” Rồi ông quỳ sụp xuống ấp úng : “Lạy Chúa, lạy Chúa”, tuy ông không tin có Chúa. Và quả thật ông không dám nhìn cái cửa sổ nữa, ông biết con bé ẩn náu ở đó, ông cũng không dám nhìn cái bàn, nơi có khẩu súng sáng loáng.

Khi đứng dậy, ông nói to : “Cái đó không thể kéo dài được nữa, phải chấm dứt ngay.” Tiếng nói của ông trong căn phòng im lặng làm ông rùng mình, lo sợ ; nhưng vì ông không quyết định được gì, vì ông biết ngón tay ông sẽ từ chối bấm cò, ông lên giường trùm chăn và suy nghĩ.

Ông phải tìm ra cái gì buộc ông phải chết, đặt bày một cái mưu tự chống lại mình, một cái mưu khiến ông không chút do dự, không chậm trễ, không luyến tiếc. Ông thèm địa vị những người bị kết án tử hình mà người ta dẫn lên máy chém, giữa những hàng lính. Ôi ! Ước gì ông có thể yêu cầu một người nào đó bắn ông ; ước gì, khi thú thật tâm trạng mình, thú thật tội ác mình với một người bạn đáng tin cậy, biết giữ kín những điều đó, ông có thể được người bạn ban cho cái chết. Nhưng nhờ ai cái việc ghê gớm đó ? Nhờ ai ? Ông tìm trong số những người ông quen. Ông y sĩ ư ? Không. Ông này về sau chắc sẽ kể lại chuyện đó. Và bỗng nhiên một ý nghĩ lạ lùng thoáng qua trong đầu ông. Ông sẽ viết thơ cho ông dự thẩm mà ông quen thân, để tự tố cáo mình. Ông sẽ nói hết trong thơ đó, nào là vụ giết người, nào là những dằn vặt mà ông đã chịu đựng, nào là sự quyết định tự tử, nào là những do dự và phương tiện dùng để được thêm can đảm. Nhân danh tình bạn lâu năm của họ, ông sẽ năn nỉ ông dự thẩm phá hủy bức thơ ngay sau khi ông ấy biết hung thủ đã tự trừng phạt. Ông Renardet có thể tin cậy ông quan tòa đó, ông biết ông ấy là một người kín đáo, đứng đắn, không biết nói ngay cả một lời bông lơn. Đó là một trong những người có một lương tâm không gì lay chuyển được, lương tâm họ chỉ được lý trí họ điều khiển mà thôi.

Vừa mới nảy ra cái ý đó thì lòng ông tràn đầy một niềm vui lạ lùng. Bây giờ ông yên lòng. Ông sẽ chậm rãi viết bức thơ, rồi khi trời sáng, ông sẽ đặt nó trong cái thùng thơ đóng vào bức tường của trại ông, rồi ông sẽ leo lên cái tháp để xem ông phát thơ đến, và khi người đàn ông mặc cái áo bờ lu xanh trở ra, ông Renardet sẽ nhảy xuống, đập đầu vào những tảng đá của nền nhà. Trước đó ông sẽ cẩn thận để cho bọn thợ đốn rừng thấy ông. Vậy ông có thể leo lên cái bậc có cái cột để treo cờ ngày lễ. Ông sẽ đập gẫy cái cột và nhào xuống với nó. Người ta sẽ cho đó là một tai nạn, không thể nghi ngờ được. Và ông sẽ chết liền vì cái sức nặng của ông và vì chiều cao của cái tháp.

Ông liền ra khỏi giường, đến bàn và bắt đầu viết ; ông không quên gì cả, không quên một chi tiết nào của vụ giết người, của cuộc sống đầy lo sợ của ông, của những dằn vặt đã chịu đựng, và ông chấm dứt bức thơ bằng cách báo tin rằng ông tự lên án mình, và sẽ xử tử kẻ phạm tội ác, ông cũng yêu cầu bạn ông, người bạn cố tri, chăm lo, trông chừng để đừng bao giờ người ta buộc tội ông, mỗi khi nhắc đến chuyện cũ.

Khi viết xong bức thơ, ông thấy trời đã sáng. Ông cho thơ vào phong bì, dán lại, biên địa chỉ, rồi ông đi xuống nhà với những bước đi thanh thản, ông chạy đến cái thùng thơ trắng đóng vào tường, ở góc trại, và khi ông đã vứt vào bên trong cái thơ, nó làm tay ông khó chịu, ông trở về nhanh, khóa cửa lại và leo lên tháp để chờ ông lính bộ binh đi qua, ông ta sẽ đem đi bản án tử hình của ông.

Bây giờ ông tự cảm thấy bình tĩnh, được giải thoát !

Một cơn gió khô, lạnh buốt thổi qua mặt ông. Miệng mở to, ông hít mạnh nó, uống lấy cái mơn trớn lạnh lẽo của nó. Bầu trời đỏ rực, cái đỏ của mùa đông, và cả đồng bằng phủ đầy sương giá trắng xóa, chiếu óng ánh dưới những tia nắng đầu tiên, tưởng chừng những mảnh chai vụn được rắc đều trên đồng bằng. Ông Renardet, đầu trần, đứng nhìn cả vùng bao la, bên trái những đồng cỏ, bên phải ngôi làng với những ống khói đã bắt đầu lên khói để chuẩn bị bữa ăn sáng.

Dưới chân ông, con suối Brindille chảy trong đá, nơi mà chốc nữa đây ông sẽ chết bẹp. Ông cảm thấy hồi sinh, đầy nhựa sống, trong cảnh bình minh lạnh lẽo và huy hoàng đó. Ông ngập trong ánh sáng, ánh sáng len lỏi vào hồn ông như một niềm hy vọng. Bao kỷ niệm dồn dập hiện đến, kỷ niệm những buổi sớm mai như thế này, khi ông đi nhanh trên lớp đất cứng gây thành tiếng động dưới chân, những cuộc đi săn hứng thú bên bờ ao có những con vịt rừng đang ngủ. Những cái ngon mà ông thích, những cái ngon của cuộc đời ùa tới trong kỷ niệm, kích thích ông và cho ông những thèm muốn mới mẻ, làm tỉnh dậy những ham muốn của cái thể xác thích hoạt động và sung sức của ông.

Vậy mà ông sắp chết ? Tại sao ? Ông sắp tự tử một cách đột ngột, chỉ vì ông sợ một cái bóng ư ? Ông giàu có và còn trẻ mà ! Thật là điên rồ ! Ông chỉ cần một cuộc giải trí, đi vắng, đi du lịch để quên ! Đêm qua, ông không thấy đứa bé, bởi vì đầu óc ông lo âu, bận nghĩ đến chuyện khác. Có lẽ ông sẽ còn thấy nó nữa ? Và nếu nó còn ám ảnh ông trong cái nhà này, hẳn nó sẽ không theo đuổi ông nơi khác ! Trái đất rộng mênh mông, và tương lai thì dài ! Tại sao phải chết ?

Ông đưa mắt nhìn lơ đãng cái đồng cỏ, và ông thấy một chấm xanh trên con đường mòn dọc theo dòng suối Brindille. Đó là Médéric, ông ta đem thơ của thành phố đến và đem thơ của làng đi.

Ông Renardet giật mình, ông cảm thấy đau nhói, ông lao xuống cái cầu thang xoay ốc để lấy lại cái thơ, để đòi ông phát thơ trả lại cái thơ. Nếu người ta thấy ông thì có hề gì ; ông chạy trên cỏ còn đọng lại nước đông thành đá của đêm qua ; và ông đến trước thùng thơ, ở góc trại, cùng một lúc với người lính bộ binh.

Ông này đã mở cánh cửa bằng gỗ của thùng thơ, ông lấy giấy tờ mà dân làng đã bỏ vào đấy.

Ông Renardet nói :

– Chào Médéric.

– Chào ông xã trưởng .

– Này Médéric, tôi có bỏ trong thùng thơ một cái thơ mà bây giờ tôi cần. Tôi đến nhờ ông trả lại cho tôi.

– Vâng, thưa ông xã trưởng, tôi sẽ trả lại ông cái thơ.

Người phát thơ ngước mắt. Ông kinh ngạc trước gương mặt của ông Renardet ; đôi má ông xã trưởng tím ngắt, đôi mắt thâm quầng như bị lún vào đầu, cái nhìn bối rối, tóc tai bù xù, bộ râu rối bời, cà vạt sổng sểnh. Rõ là ông ta không có ngủ đêm qua.

Người phát thơ hỏi :

– Có phải ông bị bệnh không, thưa ông xã trưởng ?

Ông Renardet bỗng hiểu thái độ của mình chắc có vẻ lạ lùng, ông mất bình tĩnh, ấp úng :

– Không đâu… không đâu… Chỉ vì tôi nhảy ra khỏi giường để chạy đến xin ông cái thơ… Tôi đang ngủ… Ông hiểu chứ ?…

Một sự nghi ngờ vu vơ thoáng qua trong trí người lính già. Ông hỏi :

– Thơ gì ?

– Cái thơ mà ông sắp trả lại tôi.

Bây giờ Médéric trở nên do dự, ông nhận thấy thái độ ông xã trưởng không tự nhiên. Có lẽ có một bí mật gì trong cái thơ đó, một bí mật chính trị chăng ? Ông biết ông Renardet không thuộc đảng cộng hòa, và ông biết tất cả những mánh khóe, những xảo trá mà người ta dùng trong những cuộc bầu cử. Ông hỏi :

– Cái thơ đó gởi cho ai ?

– Cho ông Putoin, ông dự thẩm ấy mà ! Ông Putoin là bạn tôi đấy !

Người lính bộ binh lục trong xấp giấy tờ và tìm ra cái thơ mà ông Renardet đòi. Thế rồi ông bắt đầu nhìn cái thơ, trở nó qua lại trong tay, rất bối rối vì sợ phạm một lỗi nặng hoặc làm cho ông xã trưởng trở thành kẻ thù của mình.

Thấy ông ta ngập ngừng, ông Renardet phác một cử chỉ để chụp cái thơ và giật nó. Cử chỉ đột ngột đó cho Médéric thấy là có một điều gì bí ẩn, quan trọng, khiến ông phải làm nhiệm vụ của mình bằng bất cứ giá nào.

Ông ném cái thơ vào trong cái bị da, vừa đóng lại vừa trả lời :

– Không, tôi không thể trả lại được, thưa ông xã trưởng. Vì cái thơ được gởi cho tòa án, tôi không thể trả lại được.

Một mối lo sợ kinh khủng làm quặn lòng ông Renardet, ông ấp úng :

– Ông biết rõ tôi mà ! Ông có thể nhận ra ngay cả nét chữ của tôi kia mà ! Tôi đã nói với ông rằng tôi cần cái thơ đó.

– Không. Không được.

Ông Renardet vốn tính hung bạo, nổi giận :

– Mẹ kiếp, coi chừng đấy ! Ông biết là tôi không đùa đâu, và tôi có thể làm cho ông mất chỗ làm đó ông già, và chẳng lâu đâu. Và rồi nói cho cùng, tôi là xã trưởng làng này, và bây giờ tôi ra lệnh cho ông phải trả lại tôi cái thơ.

Người lính bộ binh trả lời một cách cương quyết :

– Không, không thể được, thưa ông xã trưởng !

Thế rồi ông Renardet mất trí, chụp hai tay ông phát thơ để giật cái bị da ; nhưng Médéric hất ông ra, lùi lại và đưa cao cây gậy nhựa ruồi to tướng của ông. Ông bình tĩnh nói :

– Ồ, xin đừng đụng đến tôi, thưa ông xã trưởng, nếu không tôi sẽ nện cho một trận. Hãy coi chừng. Tôi, tôi làm bổn phận của tôi !

Cảm thấy mình bị dồn vào đường cùng, ông Renardet đột nhiên trở nên khiêm nhường, hiền lành, khẩn nài như đứa trẻ đang khóc.

– Nào, nào, trả lại tôi thơ đó đi ông bạn, tôi sẽ thưởng ông, cho ông tiền, hãy nghe đây, hãy nghe đây, tôi sẽ cho ông một trăm quan, ông nghe không ? Một trăm quan.

Người phát thơ bỏ đi. Ông Renardet đi theo ông ta, thở hổn hển, miệng ấp úng :

– Médéric, Médéric, hãy nghe tôi, tôi sẽ cho ông một nghìn quan, ông nghe không ? Một nghìn quan.

Người phát thơ vẫn tiếp tục đi, không trả lời. Ông Renardet lại nói :

– Tôi sẽ làm cho ông giàu có… ông nghe không ? Tôi sẽ cho ông những gì ông muốn… Năm chục nghìn quan… Năm chục nghìn quan cho cái thơ đó… Có hề gì đến ông ?… Ông không muốn à ?… Vậy thì, một trăm nghìn… này… một trăm nghìn… ông hiểu không ?… Một trăm nghìn…một trăm nghìn.

Người phát thơ quay lại, nét mặt rắn rỏi, đôi mắt nghiêm khắc :

– Vừa thôi nhé, nếu không tôi sẽ lặp lại với tòa án tất cả những gì ông vừa mới nói.

Ông Renardet khựng lại. Thế là hết. Không còn hy vọng gì nữa. Ông quay trở lui và chạy về nhà, chạy nhanh như một con thú bị đuổi.

Thế rồi đến lượt Médéric dừng lại, và kinh ngạc nhìn cuộc chạy trốn đó. Ông ta thấy ông xã trưởng vào nhà, và ông ta chờ như có cái gì lạ lùng chắc chắn sẽ xảy ra.

Quả thật, chẳng bao lâu, dáng người cao lớn của ông Renardet hiện ra trên đỉnh tháp Renard. Ông chạy quanh trên mái bằng như một người điên ; rồi ông chụp cái cột cờ, lay nó một cách dữ dội mà không tài nào bẻ gẫy nó được, rồi thình lình như một người bơi lội lộn nhào xuống nước, ông lao mình trong khoảng không, hai tay dang ra phía trước.

Médéric chạy tới để cứu. Khi băng qua cánh rừng, ông thấy đám thợ đốn cây đi làm. Ông gọi họ và la lên là có tai nạn ; và họ tìm thấy dưới chân tháp một cái xác đầy máu me, đầu đập trên một tảng đá. Óc và máu lẫn lộn thành một dòng màu hồng trong nước suối Brindille chảy quanh tảng đá đó.

 

______________

(1) Bộ Bách khoa tự điển, ở thế kỷ 18, do Diderot chủ trương, có mục đích trình bày những tiến bộ của khoa học và tư tưởng trong mọi lĩnh vực. Ngoài Diderot, các tác giả chính là Voltaire, Montesquieu, Rousseau, Jaucourt.

(Chú thích của dịch giả)

 

 

 

 

Advertisements