ĐỘC THOẠI NỘI TÂM TRONG TIỂU THUYẾT TÂY PHƯƠNG

 

Thời gian là vấn đề trọng đại của con người, nó làm cho các nhà triết học bao phen trăn trở. Làm sao nắm bắt được thời gian ? Làm sao nghĩ về thời gian ? Con người không nắm bắt được thời gian bởi vì tương lai chưa đến, quá khứ đã biến mất, còn hiện tại thì luôn luôn trôi đi. Tiểu thuyết có lẽ là một nghệ thuật cho phép biểu hiện thời gian.

        Trong tiểu thuyết có hai thứ thời gian cần phân biệt : thời gian đo lường của đồng hồ (chronologie) và thời gian của tâm lý, của trải nghiệm (temporalité). Sartre đã từng nhìn nhận : chúng ta lẫn lộn thời gian của trải nghiệm với thời gian của đồng hồ (Nous confondons la temporalité avec la chronologie). Ở Pháp, từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20, thể loại tiểu thuyết đã tiến hóa nhiều. Từ việc kể truyện theo thời gian khách quan của đồng hồ, các tác giả đã lần lần đi đến việc kể truyện theo thời gian chủ quan, của tâm lý con người. Với nhà văn Marcel Proust, thời gian vỡ ra từng mảnh để soi rọi những kỷ niệm của quá khứ. Nói chung, yếu tố tâm lý trở nên quan trọng, cho nên nghệ thuật kể truyện đã nghiêng về thời gian của trải nghiệm.

        Vào đầu thế kỷ 20, một hình thức mới của tiểu thuyết dựa vào dòng chảy của tâm thức (flux de conscience / stream of consciousness) đã nảy sinh ; tiểu thuyết hiện đại đặc biệt chú trọng đến đời sống tâm lý của nhân vật và dùng một kỹ thuật viết mới gọi là độc thoại nội tâm.

Nguồn gốc của độc thoại nội tâm

         Trong số các nhà văn lớn ở Âu châu, Dostoïevski (1821-1881) là người đầu tiên đã thử đi vào nội tâm của con người để tìm những yếu tố mới cho nghệ thuật viết tiểu thuyết. Cách viết tiểu thuyết Crime et châtiment (Tội ác và trừng phạt) của ông cho thấy rõ hướng đi này ; vụ giết « bà già » chỉ là một biến chuyển trong cốt truyện, điều thực sự đáng kể là vô số những phân tích về những khủng hoản tinh thần, những xung động, những tra vấn của cảnh sát, những điều đó quấy nhiễu Raskolnikov. Nhân vật này khi thì bị giữ ở đồn cảnh sát, khi thì ở ẩn trong phòng riêng, xuất hiện dưới mắt độc giả với những tâm trạng sâu kín. Do ảnh hưởng của Dostoïevski và các nhà triết học Đức, Schopenhauer và Hartmann, văn học Pháp cuối thế kỷ 19 làm nổi bật trong tiểu thuyết cái phần thuộc nội tâm của con người. Guy de Maupassant chẳng hạn, trong cuốn tiểu thuyết Bel Ami đã diễn đạt cái tính phức tạp khó dò được của những ham muốn trong nội tâm.

Năm 1887, một nhà văn Pháp tầm thường, Édouard Dujardin, cho in cuốn tiểu thuyết đầu tay dưới hình thức độc thoại nội tâm, cuốn Les Lauriers sont coupés. Cốt truyện không hấp dẫn, nhưng cái dự định tạo một kỹ thuật kể truyện mới đáng được chú ý, theo dõi. Dujardin giải thích dự định của mình như sau : Nhân vật của « Les Lauriers sont coupés » không trình bày điều xảy ra xung quanh anh ta, mà điều anh ta thấy xảy ra ; không trình bày những cử chỉ anh ta làm, mà những cử chỉ anh ta ý thức đã làm ; trình bày những lời nói, không phải những lời nói của người ta nói với anh ta, mà những lời nói anh ta nghe thấy ; tất cả những điều đó, đúng y như anh ta đã đưa vào cái hiện thực riêng tư và duy nhất của mình. (1)

Về sau, khi độc thoại nội tâm của Dujardin được nhìn nhận và được phổ biến, thì Dujardin đưa ra định nghĩa sau đây trong cuốn Le monologue intérieur, xuất bản năm 1931 : Độc thoại nội tâm, theo thứ tự của thơ, là diễn ngôn không có thính giả và không được đọc lên, qua diễn ngôn đó một nhân vật nói lên cái tư duy thầm kín nhất của mình, gần gũi nhất với vô thức, diễn ngôn có trước mọi sắp đặt hợp lý, nghĩa là nó ở trong tình trạng chớm nở, bằng cách dùng những câu trực tiếp với cú pháp thu ngắn đến tối thiểu, để cho người ta có cái cảm tưởng chưa có sự sắp đặt. (2)

Theo thứ tự của thơ : Dujardin giải thích sự xuất hiện của tiểu thuyết độc thoại nội tâm bằng phong trào thơ tượng trưng của thời đó. Các nhà thơ tượng trưng không còn quan niệm đời sống nội tâm theo lý trí của thời cổ điển, mà theo vô thức.

Độc thoại nội tâm là hình thức văn chương nắm bắt cái hiện tại đang trôi qua : một ngôn ngữ đang thành hình, từ lúc này đến lúc khác và không ngừng trộn lẫn những kỷ niệm, mơ mộng, dự định, cảm giác. Tính liên tục của cái gọi là dòng chảy của tâm thức chính là chất liệu của hình thức đó, hình thức đưa đến một khủng hoảng của truyện, bởi vì sự tình cờ của những liên tưởng, ít ra theo nguyên tắc, thay thế cho việc sắp xếp truyện. Thay vì kể một truyện thì tác giả tiểu thuyết đưa độc giả vào ngay cái dòng chảy của một tâm thức. Nhân vật đang độc thoại không kể lại một chuyện đã xảy ra : nhân vật sống trong một hiện tại đang trải dài, đồng thời các từ nối tiếp nhau, nhân vật là cái dòng thác của từ ngữ và hình ảnh mà đôi khi người đọc khó tìm ra manh mối, và lắm khi người đọc muốn dựa theo thứ tự thời gian khách quan để tự kể cái truyện mà tác giả tránh kể. Phần tác giả thì lo sắp xếp văn bản theo mỹ quan và cho len lỏi vào độc thoại những dấu hiệu để giải thích truyện.

Những tiểu thuyết độc thoại nội tâm đầu tiên

 Ulysse của James Joyce

        Ulysse là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Ái Nhĩ Lan James Joyce, ra năm 1922. Tiểu thuyết Ulysse được các nhà phê bình đánh giá cao vì hai đặc điểm : một mặt James Joyce đã làm mới sử thi thời cổ đại của thi hào Homère, mặt khác ông dùng một kỹ thuật kể truyện mới : kỹ thuật độc thoại nội tâm. Nội dung truyện như sau.

Trong một cao ốc ở Sadymont, trong thành phố Dublin, Stephen và Mulligan bàn cãi với nhau trong khi cạo râu và ăn điểm tâm. Sau đó Stephen đến trường học để dạy môn sử. Cuối giờ dạy, Stephen bàn cãi rất lâu với ông hiệu trưởng về đủ thứ đề tài. Đến trưa Stephen trở về vừa suy nghĩ.

Cũng sáng hôm đó, lúc 8 giờ, Léopold Bloom bưng khay điểm tâm đến giường cho bà vợ ca sĩ, bà này đang mải mê nghĩ đến cuộc viếng thăm sắp tới của người tình nhân tên Boylan.

Lúc 10 giờ, Bloom ra khỏi nhà, sau khi vừa ở trong nhà xí vừa đọc sách. Bloom đi qua các con đường nhộn nhịp để đến nhà bưu điện lãnh, với cái tên Henry Fleury, một cái thư của một bà Martha nào đó. Rồi ông tiếp tục đi, dọc đường ông mua thứ này thứ nọ, ông gặp nhiều người, rồi ông đi đây đi đó trước khi vào một nhà tắm công cộng. Ông lại tiếp tục đi qua thành phố, ông đến nghĩa địa Glasnevin, và cùng với các người bạn ông dự lễ an táng của Paddy Dignam. Sau đó, cả nhóm đi đến trụ sở của báo Con người tự do, ở đấy Bloom được tiếp đón rồi bị ông chủ quát mắng. Một dịp để tác giả James Joyce kể lịch sử của báo chí.

Sau khi trở lại đi thơ thẩn ngoài đường, Bloom bước vào một tiệm cà phê ăn qua loa trước khi đến thư viện, ở đấy ông thấy Stephen đang say sưa trong một bài thuyết trình về Hamlet của Shakespeare, lại một dịp cho tác giả suy ngẫm về triết học.

Đến 4 giờ chiều, Bloom ở tiệm giải khát Osmond Bar với hai cô tiếp viên. Bloom quyết định ăn trưa ở đấy. Sau tiệm giải khát là quán rượu. Trong khi Bloom suy nghĩ, lo âu về sự phản bội của người vợ, ông bị một tên gốc Ái Nhĩ Lan có biệt danh là Người Công dân gọi ông một cách bất nhã và dữ dằn, tên này cuối cùng đẩy ông ra khỏi quán rượu.

Khi Bloom một mình ủ rũ ngoài bãi biển, ông gặp những cô gái lẳng lơ, khêu gợi. Các cô này cố làm cho ông quên buồn. Sau đó Bloom đến một nhà bảo sanh, nơi một phụ nữ ông quen vừa sinh một cặp song sinh. Tại đấy ông thấy Stephen hơi say rượu, đi với một lũ người vui tính. Tất cả đều đi đến nhà thổ ở đường Mabbot Street, nơi đây Bloom và Stephen nhận ra nhau, gần gũi nhau trong cái lúc chè chén và điên loạn này.

Hai người bạn say khướt kết thúc chuyến đi liên miên của họ trong một quán rượu bình dân, họ trò chuyện thân mật một lúc trước khi trở về nhà. Đây là lúc điểm lại cái ngày hi hữu đó.

Qua tác phẩm Ulysse, James Joyce viết lại cuộc du hành sóng gió của nhân vật Ulysse trong sử thi thời cổ đại. Xin nhắc sơ qua sử thi Odyssée của thi hào Homère, xuất hiện năm 850 trước công nguyên. Chiến tranh thành Troie bùng nổ vì Pâris, con trai của vua Priam thành Troie, bắt cóc Hélène, người con gái đẹp nhất, vợ của Ménélas ở Sparte, thuộc nước Hy lạp. Cả nước Hy lạp chuẩn bị để chiến đấu chống thành Troie. Ulysse, vua của Ithaque, từ giả vương quốc, người vợ tên Pénélope và đứa con trai tên Télémaque để đi tham chiến ở Troie. Nhưng người dân Achée ở Hy lạp trở về quê hương đã bảy năm rồi mà Ulysse vẫn chưa thấy về. Ulysse bị cơn thịnh nộ của các vị thần giữ lại dọc đường. Ở triều đình Ithaque, Pénélope bị nhiều người đàn ông tranh nhau hỏi làm vợ để đoạt ngai vua. Pénélope là một người vợ chung thủy nên bà bày kế để trì hoãn lòng tham của họ. Bà hứa với họ bao giờ dệt xong tấm thảm sẽ chọn lựa một người chồng, nhưng ban đêm bà lén tháo ra cái phần bà đã dệt ban ngày. Còn Télémaque, đứa con trai của Ulysse, được nữ thần Athéna che chở nên xuống thuyền đi tìm cha, và được biết Ulysse bị nữ thần Calypso mê nên giữ lại trong bảy năm. Nhưng thần Zeus ra lệnh cho Calypso trả lại tự do cho Ulysse. Sau bao gian nguy, thử thách, Ulysse trở về nhà đoàn tụ với gia đình.

Do tính song song với sử thi Odyssée, tác phẩm Ulysse gây ấn tượng sâu đậm. Đây là một phiên bản hiện đại của Odyssée, biến đổi mười năm lang thang của cuộc du hành sóng gió của Ulysse thành một ngày đi liên miên của Bloom trong thành phố Dublin. Cấu trúc truyện và các nhân vật làm sống lại kiệt tác của thi hào Homère. Tác phẩm Ulysse gồm 18 chương, chia ra 3 phần : buổi sáng của Stephen Dedalus, tức Télémaque, là phần ra mắt của đứa con trai Ulysse, những chuyến đi liên miên của Léopold Bloom, tức vua Ulysse của Homère, tương ứng với những diễn biến do vua Ulysse của Ithaque kể lại, trong khi sự trở về nhà của Bloom làm liên tưởng đến đoạn kết của sử thi.

Nếu trong toàn thể truyện, cấu trúc được giữ đúng theo cấu trúc của sử thi Odyssée, thì một vài biến cố không được nhắc đến, vài biến cố khác lại được phóng to.

James Joyce thăm dò và làm mới ngôn ngữ. Trong từ vựng ông dùng cho các độc thoại và nhất là trong từ vựng để ghi lại những cảm giác, có rất nhiều từ tượng thanh, những từ hiếm hoi, hay những từ trích từ ngôn ngữ của nước khác và nhiều trò chơi chữ. Vậy từ vựng của Joyce rất phong phú. Tác giả cũng gây tác động vào chất liệu của từ vựng bằng cách phân mảnh các từ (tiếng Việt của chúng ta là một ngôn ngữ đơn tiết (monosyllabique) nên không có vấn đề phân mảnh) để làm nảy sinh trong tâm thức của nhân vật những liên tưởng nối tiếp nhau. Câu văn không chấm phết do việc dùng kỹ thuật độc thoại nội tâm, để biểu hiện dòng chảy liên miên của tâm thức. Khi bà Bloom sáng sớm nằm trong giường, nửa tỉnh nửa mê, mơ về cuộc đời của bà, nhớ đến quá khứ và suy nghĩ lờ mờ về cái ngày mới đang chờ bà, thì độc thoại nội tâm của bà dài đến bốn mươi nghìn chữ (trong bản Pháp ngữ), khoảng ba mươi trang, không chấm phết, như một mạch viết tuôn ra trong đó những ý tưởng, hình ảnh, tư duy tiếp nối nhau nhanh chóng. Ngoài độc thoại nội tâm của bà Bloom còn có những độc thoại khác trong suốt tác phẩm, độc giả đi vào tâm thức của những nhân vật chính.

Joyce giải thích rằng độc thoại nội tâm là ở chỗ chép lại trực tiếp những tư duy thầm kín nhất của các nhân vật theo cái thứ tự hay vô thứ tự mà những tư duy đó xuất hiện tùy theo ký ức, tưởng tượng, mơ mộng hay liên tưởng. Qua tính giả tạo đó, độc giả có cái ảo tưởng là thình lình mình ở trong tâm thức của người khác. Độc giả dự vào cái luồng chảy liên miên của những tư duy vừa chớm hiện lên đã nhanh chóng biến mất, luồng chảy đó không ngừng lên tiếng từ bên trong của mỗi người trong chúng ta.

Vậy tác phẩm Ulysse của James Joyce mở đầu một hình thức kể truyện hoàn toàn mới, một mặt, về bút pháp đặc biệt như vừa nói trên ; mặt khác, trong tác phẩm Joyce cho cái ngày của nhân vật Bloom một tính biểu tượng, ngày của Bloom biểu tượng cho thân phận con người với một trăm ba mươi chủ đề được vô số nhân vật trải nghiệm. Tác phẩm Ulysse của Joyce trình bày thế giới không từ bên ngoài, mà từ những tâm thức đa dạng của các nhân vật được đưa vào truyện.

Nhà văn Pháp Valery Larbaud cảm thấy say mê khi đọc truyện Ulysse. Về phần ông, ông cũng có ba truyện ngắn dùng độc thoại nội tâm : Beauté, mon beau souci… (1920), Amants, heureux amants… (1921) và Mon plus secret conseil (1923).

Sau James Joyce, có nhà văn nữ gốc Anh Virginia Woolf và nhà văn Mỹ William Faulkner, hai tác giả này rất thành công trong việc dùng độc thoại nội tâm, mỗi người mỗi cách.

Mrs Dalloway của Virginia Woolf

Trong truyện này, tác giả không dùng hẳn hình thức của độc thoại nội tâm, mà dùng bút pháp gián tiếp tự do, cách dùng này cho phép độc giả luôn luôn đi vào những ý nghĩ thầm kín của nhiều nhân vật, nhất là nhân vật bà Dalloway. Truyện xảy ra một ngày đẹp trời của tháng 6 năm 1923, tại Luân đôn. Clarissa Dalloway, một phụ nữ 52 tuổi, thuộc xã hội thượng lưu của Luân đôn, tổ chức một buổi tiếp tân sang trọng tối hôm đó. Cái ngày hôm đó bắt đầu từ buổi sáng, khi bà Dalloway sửa soạn đi mua hoa, đồng hồ Big Ben gõ 9 giờ. Thời gian của đồng hồ, suốt ngày hôm đó không ngớt đánh dấu những suy nghĩ và mơ mộng của các nhân vật. Nhưng trong khi thời gian trôi qua, thì Clarissa buông xuôi theo những ý nghĩ của mình, bà nhớ lại những ngày đã qua, nhớ tất cả những kỷ niệm về mối tình khi xưa của bà với Peter. Big Ben đánh dấu sự diễn tiến của ngày sắp tàn ; và vụ tự tử của Septimus vào cuối ngày đã khiến cho cái ngày đẹp của mùa hè trở nên đen tối.

The Sound and the Fury của William Faulkner

William Faulkner đã nhanh chóng trở nên bậc thầy về kỹ thuật độc thoại nội tâm. Tác giả đòi hỏi độc giả phải ra sức tham gia cốt truyện và phải kiên nhẫn. Trong tác phẩm The Sound and the Fury, William Faulkner để độc giả tự phát hiện lấy chuyện của một gia đình qua tâm thức của một thanh niên tên Benjy, 33 tuổi, bị bệnh tâm thần. Benjy không có những tư duy thật sự, đúng hơn anh ta có những cảm giác, nhiều lúc anh ta rên rẩm như một con thú hoặc anh ta hét lên. Faulkner đặt kề nhau những độc thoại nội tâm của các nhân vật khác nhau, ông làm gián đoạn thời gian, gây rối rắm những mẩu chuyện, và chỉ đưa ra rất ít điểm mốc. Tính độc đáo của các tiểu thuyết của Faulkner là cho những sự kiện đã qua được ưu tiên, thời gian của Faulkner không có tương lai. Nhiều độc thoại bắt đầu bằng một kỷ niệm gây chấn thương tinh thần do một cảnh khủng khiếp, một vụ giết người, một vụ hiếp dâm, một sự loạn luân ; tất cả đều được trông thấy, hay đúng hơn được ức đoán qua sự hốt hoảng của một tâm thức bị một ám ảnh theo đuổi. Quá khứ như một nguyền rủa không ngớt đè nặng trên các nhân vật. Các nhân vật của Faulkner không thể thoát khỏi ám ảnh của quá khứ.

Sau các nhà văn James Joyce, Virginia Woolf và William Faulkner, độc thoại nội tâm trở nên thông dụng trong tiểu thuyết. Như thế, kỹ thuật độc thoại nội tâm do một nhà văn Pháp đề xướng và do ba nhà văn viết tiếng Anh-Mỹ làm cho hình thức đó trở nên một nghệ thuật kể truyện rất phong phú. Tuy nhiên đây không phải là dòng tiểu thuyết độc thoại nội tâm duy nhất. Ở rải rác vài nước khác ở Âu châu cũng đã có độc thoại nội tâm, như ở Ý với nhà văn Svevo, đặc biệt ở Áo nhà văn Arthur Schnitzler là tác giả một truyện ngắn khá dài về độc thoại nội tâm, tựa đề Leutnant Gustl ra năm 1901, tức hơn 20 năm trước tác phẩm Ulysse. Dù sao với James Joyce, Virginia Woolf và nhất là William Faulkner, độc thoại nội tâm đã đạt đến cao điểm, và ngày nay đã trở nên ngôn ngữ của tiểu thuyết hiện đại.

Trong độc thoại nội tâm, tư duy xuất hiện từ vô thức và không có dấu vết của người kể truyện, vì thế độc thoại nội tâm được xem như xuất phát từ một con người cô đơn. Độc giả đi vào cái tôi bí ẩn của nhân vật, trong khi nhân vật tưởng mình được che chở trong sự sâu kín riêng tư, được tránh xa sự lắng nghe, vì mọi lắng nghe của kẻ khác đòi hỏi nhân vật phải có một diễn ngôn mạch lạc, hợp lý, hoặc tưởng mình có một mặt nạ để che dấu mọi xúc cảm. Vậy độc thoại nội tâm có thể được xem như một hình thức kể truyện của cô đơn.

Độc thoại nội tâm hình thành vào thời đại của khủng hoảng tâm thức, vào khúc quanh của thế kỷ 19 ở Tây phương, nó biểu lộ cách nhìn thế giới, cách nhìn con người bị dằn vặt bởi một cô đơn có tính bản thể, một cô đơn điển hình của thời đại chúng ta. Sự cô đơn của nhân vật hư cấu cũng là để cho độc giả hiện thực trải nghiệm. Bởi vì khi người kể truyện vắng bóng, và khi tiếng nói đơn độc được nghe mà nó không hay biết, thì điều này buộc độc giả phải ở trong một tình cảnh đọc truyện rất đặc biệt.

 

(1) Le personnage des « Lauriers sont coupés » expose, non pas ce qui se passe autour de lui, mais ce qu’il voit se passer, non pas les gestes qu’il accomplit, mais ceux qu’il a conscience d’accomplir ; les paroles, non pas qui lui sont dites, mais qu’il entend ; tout cela, tel qu’il incorpore à sa propre et unique réalité. (Theo Belinda Cannone, tr. 30)

(2) Le monologue intérieur est, dans l’ordre de la poésie, le discours sans auditeur et non prononcé, par lequel un personnage exprime sa pensée la plus intime, la plus proche de l’inconscient, antérieurement à toute organisation logique, c’est-à–dire son état naissant, par le moyen de phrases directes réduites au minimum syntaxial, de façon à donner l’impression « tout venant ». (Theo Belinda Cannone, tr. 32)

 

Tác phẩm và tài liệu tham khảo :

James Joyce, Ulysse I – II, Gallimard, 1957.

Virginia Woolf, Mrs Dalloway, Gallimard, Folio, 1994.

William Faulkner, Le bruit et la fureur (The Sound and the Fury), Gallimard, Folio, 1972.

Jean Milly, Poétique des textes, Armand Colin, 2012.

Belinda Cannone, Narrations de la vie intérieure, Presses Universitaires de France, 2001.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Advertisements