MỸ HỌC CỦA MAI THẢO

Một biến cố lịch sử lớn lao trong một nước bao giờ cũng gây nhiều đảo lộn trong hoàn cảnh sống của người dân. Hiệp định Genève ký kết vào ngày 20/7/1954  chia cắt đất nước Việt-Nam. Biến cố lịch sử này gây nên một biến cố xã hội : gần một triệu người dân từ miền Bắc di cư vào miền Nam ; và ở một khía cạnh khác, một mức độ khác, biến cố lịch sử đã kéo theo một biến cố văn hóa với sự xuất hiện của tạp chí Sáng Tạo.

Tạp chí Sáng Tạo được thành lập năm 1956 và ra mắt độc giả chỉ được 31 số cộng thêm 7 số của bộ mới, tuy nhiên nó phải được xem như một biến cố văn hóa có tiếng vang lớn. Tại sao là biến cố văn hóa ? Vì lập trường của nhóm chủ trương mà Mai Thảo (1927-1998) là thủ lĩnh thể hiện qua bản Tuyên ngôn đăng trên tạp chí, số 12, theo đó cần Tranh thủ những điều kiện căn bản tự do, độc lập thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của tư tưởng, văn chương, nghệ thuật, và vì những vấn đề được bàn đến trên tạp chí đều  thuộc về văn hóa : văn học, hội họa, âm nhạc, triết học, sử học, văn hóa dân tộc, v.v…

 Giữa lúc miền Nam lo xây dựng một thể chế mới, giữa lúc mọi người đang tìm cách ổn định đời sống, thì Sáng Tạo là một diễn đàn được giới trí thức, giới cầm bút theo dõi. Trong bối cảnh đó, tiếng nói của Mai Thảo đến với mọi người. Mai Thảo khẳng định lập trường của mình là cắt đứt với quá khứ để lên đường cách tân văn học. Và ông đã thực hành cái chí hướng đó trong cách sáng tạo của ông. Sáng tạo của Mai Thảo như thế nào ? Đặc điểm thứ nhất là ông tìm cách làm mới chữ nghĩa, trước tiên bằng cách đảo ngược các từ :

Người thiếu nữ còn có một cạnh khía rất đằm thắm đơn giản của nàng. (Thời thượng, tr. 138)

Trong những tủ sách cao, điệu dáng lầm lỳ, nghiêm khắc, những chồng sách đứng sát nhau, đắm chìm trong giấc ngủ bằn bặt. (Thời thượng, tr. 171)

Cảnh vật im lìm chung quanh, như ở đây đêm đã đến từ lâu, đêm giăng lưới đầy ngay sau khi vừa lặn mặt trời. (Mái tóc dĩ vãng, tr. 24)

Rồi đến cách chấm câu không theo quy tắc mà theo cảm xúc :

Nhả đạn vào kẻ thù trước mặt. Để sống. (Bên lề giấc mộng, tr. 52)

Thụy yêu tôi. Thầm lặng. Mãnh liệt. (Ôm đàn tới giữa đời, tr. 25)

Tiếng chân của Huyền không đổi thay từ bao nhiêu năm nay, nghe không lẫn được. Nặng. Tất tưởi. Lật đật. (Ôm đàn tới giữa đời, tr. 7)

Hôn nhân với Hậu thiết yếu phải bắt đầu bằng một tình yêu. Lớn. Sấm sét. Mãnh liệt. Tận cùng. (Sau khi bão tới, tr. 268)

Đặc biệt nhất là cách dùng mạo từ « một » khiến văn của Mai Thảo đọc lên không thể nhầm với văn của người khác :

Khi nói về một chiếc xe đang chuyển bánh : Bằng một chồm tới hung dữ, cái khối kim khí mới tinh lao nhanh qua cổng hội quán. (Thời thượng, tr. 35)

tốt hơn là đi chơi xa một thời gian. Như một lánh mặt. (Tình yêu màu khói nhạt, tr. 129)

Cỏ cây trên những ngọn đồi ấy là một tươi tốt kín trùm. (Ôm đàn tới giữa đời, tr. 150)

Khí trời ban mai thênh thang vây bọc thành một mát rượi, phơi phới tràn đầy. (Bên lề giấc mộng, tr. 70)

Tác giả đưa vào bút pháp của mình một cái mới lạ bên lề ngữ pháp bằng cách đặt mạo từ « một » trước một động từ (chồm tới, lánh mặt) hay trước một tính từ (tươi tốt, mát rượi).

Đặc điểm thứ hai là thơ tràn qua văn xuôi khiến cấu trúc, nhạc điệu và nhịp điệu của câu văn có thơ tính. Một từ được lặp đi lặp lại như trong một bài thơ :

Nắng như một ve vuốt. Nắng là một giải lụa. Nắng mướt như tơ, nắng mềm như liễu. Nắng lọc qua lá xuống những con đường nhỏ, nắng dệt vàng trên đất nâu, mỗi chùm nắng xao động là một nhánh hoa vàng. (Cũng đủ lãng quên đời, tr. 341)

Chung một đám bạn bè. Chung. Những buổi nắng, những chiều mưa. Chung. Những lời hát kia trong bài hát này (…). Chung. (Ôm đàn tới giữa đời, tr. 401)

Chung quanh Hậu, ngày tàn dần, ngày chỉ còn là một hiện hữu, nhợt nhạt và thoi thóp. Trong không khí, trước những ngọn thông, những sườn đồi còn nhìn thấy, bóng tối đã phảng phất. Bóng tối lan dần. Từng sợi. Từng phiến. Từng lớp. Từng hàng. Bóng tối đến bằng những bước nhung rón rén. Bóng tối đến như vừa tự trời phủ xuống, lại như vừa tự đất dâng lên. Trong những chùm lá. Trong gió than van. Trong tiếng lá thở dài, trong im lặng đầy đặc. (Sau khi bão tới, tr. 269)

Ranh giới giữa các thể loại thơ, tùy bút và truyện lắm khi không còn rõ ràng nữa. Nhà thơ Baudelaire trước kia đã từng đòi phá bỏ ranh giới giữa thơ và văn xuôi, ông viết : Ai trong chúng ta, vào những ngày đầy tham vọng, mà không mơ đến phép lạ của một văn xuôi có thi tính, có nhạc tính không nhịp không vần, đủ uyển chuyển và đủ trúc trắc để thích ứng với những chuyển động trữ tình của tâm hồn, với những lượn sóng nhấp nhô của mơ mộng, những sôi động của tâm thức ? (1)

Baudelaire và Mai Thảo đều có cái xu hướng phá hủy ranh giới giữa thơ và văn xuôi, nhưng mục tiêu của đôi bên khác nhau : Baudelaire nói đến thơ được sáng tạo bằng văn xuôi, còn Mai Thảo thì thi hóa một phần nào văn xuôi của truyện, có thể nói ông đã mỹ hóa văn phong của ông.

Đặc điểm thứ ba trong sáng tạo của Mai Thảo là ông đưa ra cái gọi là « văn học viễn mơ », xa thực tại, và đó là điểm gây khó khăn cho truyện. Nếu bút pháp nặng về tùy bút hay thơ, và nếu cốt truyện xa thực tại thì tác động của truyện sẽ bị loãng đi, thiếu sức thuyết phục. Truyện cần cho người đọc cái cảm tưởng hiện thực, mà nếu Mai Thảo theo xu hướng viễn mơ thì cảm tưởng hiện thực sẽ mờ nhạt trong truyện. Thêm nữa « viễn mơ » gợi lên cái gì rất mù mờ.

Bên cạnh những độc giả hâm mộ truyện của Mai Thảo, không khỏi có những người lấy làm khó chịu vì chữ nghĩa mới của ông và vì cái « văn học viễn mơ » mà ông đề xướng. Nhưng thử hỏi có cách tân nào không động chạm đến những lập trường thủ cựu, thích yên ổn trong cái xưa cũ ? Có cách tân nào không bấp bênh, không gây hoài nghi, không gặp bất trắc ? Có cách tân nào thành công ngay từ đầu ? Phải nhìn nhận Mai Thảo đã sáng suốt từ chối sự trú ẩn trong nền văn học tiền chiến đã hết hợp thời ; những nổ lực của ông trong việc đi tìm cái mới cho sự sáng tạo văn chương là những nổ lực tích cực. Suốt đời ông gắn bó với văn chương, chữ nghĩa ; mặc cho những trầm bỗng của thế sự, ông sáng tác không ngừng.

Trước 1975, ngoài những tập truyện ngắn và tùy bút, Mai Thảo có khoảng bốn mươi tiểu thuyết. Ông không ngần ngại viết rất nhiều tiểu thuyết, một phần vì nhu cầu viết « feuilleton » trên báo thời đó. Có những thành kiến cho rằng Mai Thảo chỉ viết về thế giới ăn chơi với những phòng trà, vũ trường, những ca sĩ, vũ nữ và hạng người đàn ông chơi bời trác táng, trong một Sài Gòn xa hoa. Đề tài này có thật trong một số truyện của Mai Thảo. Nhưng công bình mà nói, nếu đọc toàn bộ tác phẩm của Mai Thảo, từ Đêm giã từ Hà Nội (1956) đến những truyện viết vào cuối thời miền Nam, chúng ta sẽ thấy những chủ đề trong sáng tạo của Mai Thảo rất đa dạng ; đặc biệt trong các tiểu thuyết cuối cùng như Để tưởng nhớ mùi hương, Ôm đàn tới giữa đời, các nhân vật truyện đều ở tỉnh nhỏ, với cuộc sống hằng ngày ở tỉnh nhỏ.

Với thời gian, sáng tạo của một nhà văn bao giờ cũng biến đổi, tiến hóa, nghệ thuật càng được trau chuốt hơn. Những tác phẩm của Mai Thảo vào cuối thời miền Nam như : Sau khi bão tới (1968), Mười đêm ngà ngọc (1969), Cũng đủ lãng quên đời (1969), Thời thượng (1970), Để tưởng nhớ mùi hương (1972), Bên lề giấc mộng (1973), Tình yêu màu khói nhạt (1973), Khi chiều giăng lưới (1974), Ôm đàn tới giữa đời (1974) đã đạt đến một độ mỹ cảm tinh tế, một văn phong giàu biểu tượng và ẩn dụ.

 Ở hải ngoại Mai Thảo can đảm tranh đấu để tạp chí Văn được tồn tại kể từ năm 1982, và ông làm chủ biên đến năm 1996 ; ông cũng tiếp tục viết và cho ra những tập truyện ngắn : Ngọn hải đăng mù (1986), Một đêm thứ bảy (1988), Chuyến métro đi từ Belleville (1990), Chân bài thứ năm (1990)… và một tập thơ : Ta thấy hình ta những miếu đền (1989) rất được chú ý.

Tuy nhiên để xác định vị trí của Mai Thảo trong nền văn học miền Nam, tôi xin giới hạn tầm nhìn vào những tác phẩm thuộc thời kỳ trước 1975, và thử tìm hiểu mỹ học trong sáng tạo của Mai Thảo thời đó.

                                     Một mỹ học được kiến trúc theo cảm tính

Khi các nhà văn viết truyện hư cấu, họ tưởng tượng một thế giới mà họ mong sẽ làm độc giả tin tưởng và thích thú theo dõi. Những gì được tưởng tượng dần dần tạo nên một thế giới riêng biệt của tác giả. Mỗi nhà văn có một thế giới tưởng tượng riêng. Pháp gọi là imaginaire, cái được tưởng tượng ra. Thế giới tưởng tượng của Võ Phiến đưa độc giả về thôn quê, gặp những nhân vật quê mùa, mộc mạc. Thế giới tưởng tượng của Mai Thảo trái lại đưa độc giả vào một đô thị xa hoa hay về một tỉnh nhỏ. Mỗi tác giả có những cách thức nghệ thuật riêng để tạo dựng cái thế giới truyện của mình ; những cách thức đó thường khi là vô thức và làm nên mỹ học của tác giả. Cho nên việc giải mã tác phẩm văn học để nêu lên phần nào mỹ học của tác giả đòi hỏi nhiều tra vấn tác phẩm đó.

Khi bàn đến mỹ học của một nhà văn, trước tiên cần tìm hiểu cảm tính của nhà văn đó, cảm tính đưa đến việc tạo dựng một thế giới tưởng tượng. Tìm hiểu cảm tính của Mai Thảo là thăm dò những tác phẩm của ông để nêu lên những sự kiện và chủ đề đã biểu hiện những sở thích, cảm xúc và những ám ảnh trong nghệ thuật của ông.

Theo Maurice Merleau-Ponty, nhà triết học Pháp chuyên về hiện tượng luận,  khi nói về sự nhận thức (perception) phải nói đến kinh nghiệm của thân xác, kinh nghiệm này làm nảy sinh cảm tính. Merleau-Ponty cho rằng thế giới cảm tính vừa tuyệt đối vừa tương đối. Tuyệt đối là vì những thông tin do các giác quan đem lại được xem như nền tảng của mọi quan hệ với thế giới chung của mọi người, chúng ăn sâu vào cái thân xác đang nhận thức và đang hành động. Mặt khác, thế giới cảm tính có tính tương đối vì những thông tin của giác quan có thể bị biến đổi và có tính chủ quan. Nếu sự nhận thức đạt đến bề mặt và bề ngoài của những sự vật hiện thực, thì nhận thức có thể đem lại những cảm giác vô tận về những sự vật đó. Điều này Merleau-Ponty đã tìm thấy trong sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt trong sáng tạo của danh họa Cézanne. Ngoài ra không gian được nhận thức không phải là không gian khách quan, mà là một không gian đặc biệt do giác quan của cái tôi xây dựng. Nhưng không gian đó mở ra cùng lúc với thế giới chung của mọi người và với tính liên chủ thể.

Càng đọc truyện của Mai Thảo càng thấy một số hình tượng phát xuất từ ba yếu tố : không gian của vô thức, nhận thức của giác quan và một ám ảnh dai dẳng : nước.

Không gian của vô thức

Không gian cần thiết cho sự hiện hữu và kinh nghiệm của thân xác. Từ không gian, thân xác nhận thức thế giới bên ngoài. Không gian bàn đến ở đây là một không gian của vô thức mà Mai Thảo cho đi kèm với tư duy, cảm xúc của nhân vật truyện.

Nhưng tại sao lại là không gian của vô thức ? Theo phân tâm học, không gian và thời gian không ở trên cùng một bình diện trong thể nghiệm của con người. Sami-Ali, tác giả của cuốn L’espace imaginaire (Không gian được tưởng tượng), dựa vào kết quả công trình nghiên cứu của Freud mà cho rằng thời gian ở ngoài vô thức, vô thức không có thời gian tính. Trong giấc mơ, thời gian bị quy vào những khoảnh khắc tồn tại cùng một lúc, điều này không cho phép quan niệm một sự tiến trình theo thời gian. Và Sami-Ali trích dẫn Freud như sau : …sự xây dựng giấc mơ khắp nơi biến những tương quan thời gian thành những tương quan không gian, và cho những tương quan thời gian cái hình thức của không gian. Giả sử trong một giấc mơ chúng ta thấy diễn ra một cảnh giữa hai người có vẻ rất nhỏ bé và rất cách xa nhau, làm như họ được quan sát qua một ống nhòm cầm ngược. Sự nhỏ bé và xa cách đó đều có một nghĩa như nhau, cả hai thể hiện sự xa cách trong thời gian, và chúng ta hiểu rằng đây là một cảnh thuộc về một quá khứ xa xôi. (Freud, Nouvelles conférences sur la psychanalyse, Gallimard, 1936, tr. 36-37) Do đó, theo Sami-Ali, có thể suy ra rằng vô thức dù không biết đến thứ tự thời gian cũng không thể bỏ qua được cái biểu tượng của thời gian để biểu hiện thời gian. Mặt khác, vì thời gian liên quan đến hữu thức nên phải kết luận rằng vô thức không có tính thời gian bởi vô thức có tính không gian. Nhưng không gian không đưa đến một hiện thực nào bên ngoài, bản chất của không gian là tưởng tượng. Vậy từ phương diện của vô thức, chỉ có không gian là có thể được tưởng tượng, và thời gian chỉ có thể được nhận thức một khi nó được đưa về những hình thức có tính không gian.

Vậy không gian của Mai Thảo là một không gian của vô thức, một không gian được tưởng tượng qua vô thức. Không gian đó có đủ chiều kích : chiều dọc, chiều sâu, trên cao, dưới thấp, và trên cao, dưới thấp bao hàm nhiều ý nghĩa. Đọc truyện Mai Thảo ta thường gặp cái không gian đó, thời gian trôi đi, nhưng không gian trong vô thức của Mai Thảo vẫn bất biến.

 Truyện ngắn đầu tiên của Mai Thảo : Đêm giã từ Hà Nội (1956) bắt đầu bằng hai câu rất nổi tiếng : Phượng nhìn xuống vực thẳm. Hà Nội dưới ấy. Trong bối cảnh lịch sử của thời đất nước vừa chia đôi, qua cái nhìn của Phượng, Hà Nội của quá khứ mà Phượng sắp bỏ lại sẽ chìm vào sâu thẳm, tăm tối. Ra đi là chọn lựa một tương lai rực rỡ.

Trong truyện Cũng đủ lãng quên đời (1969), Liệu nhớ lại tuần trăng mật của cô ở Hương Cảng : Lên những ngọn đồi vây quanh ngó xuống thành phố trập trùng bậc thang dưới thấp. Nàng đứng trên đồi cao, phơi phới tóc bay, hạnh phúc bao la trời cao xanh trong, nàng mới lấy chồng lấy người nàng yêu, thế giới như thu nhỏ trong lòng bàn tay nàng nắm chặt, thành phố dưới chân như một thần phục ngoan ngoãn, nàng có tình yêu, là nàng có tất cả, tất cả thuộc về nàng như Cảng Thơm quì nép dưới chân (tr. 182). Ở trên cao, Liệu cảm thấy mình có uy quyền với cái Hương Cảng nhỏ bé dưới chân, vì mình có hạnh phúc.

 Trong truyện Để tưởng nhớ mùi hương (1972), thị giác đi từ dưới thấp lên đến trên cao : Sân thượng cao ngang tầm mái nhà, đứng đó, ném tầm mắt đi, tầm mắt nhìn thấy một khoảng thật rộng của thành phố dưới chân. Thấy được những đỉnh cây chập chùng. Những ống khói nhà máy phía dưới khu bến tầu. Những ruộng đồng và những làng xóm xanh biếc bên kia bờ sông. Thấy được những bóng người thật nhỏ trên những lòng phố thật xa. Và thấy được sao đêm, thấy được mây trời. (tr. 95)

 Một động từ được Mai Thảo dùng nhiều trong các truyện là động từ « thả », nó chỉ một hành động làm rơi từ trên cao xuống ; động từ này rất thông dụng, nhưng khi nó được lặp đi lặp lại trong nhiều trường hợp khác nhau, nó cho phép nghĩ rằng đây là một công việc của vô thức để gợi lên hình tượng không gian :

Chiếc xe lên hết đèo, thả xuống một lòng phố. Đã tới Đà Lạt. (Mái tóc dĩ vãng, tr. 155)

hắn buồn và hắn cô đơn vô cùng bởi những âm thanh của kỷ niệm đang thả từng giọt một xuống đáy hồn, thả tới đâu thoảng tan tới đó. (Mái tóc, tr. 112)

Trong vô thức của tác giả, chiều cao của không gian bao hàm một thang giá trị. Nhân vật Ninh trong Để tưởng nhớ mùi hương nói : Lên cao, tâm hồn nhẹ hơn, đầu óc cũng như sáng tốt hơn là ở dưới thấp. Những vùng trên cao và những miền dưới thấp cũng ảnh hưởng đến đầu óc người ta nhiều lắm. (tr. 98)

Phía dưới là chốn nhỏ hẹp, tối tăm, tù đầy. Cũng trong truyện này, Sầu, cô gái gốc Hoa, sống trong cảnh nghèo nàn, túng quẫn, cha nghiện thuốc phiện, mẹ cờ bạc, độc ác, cô nghĩ : Tôi không có đất đứng, tôi không tìm được an ủi và trú ẩn trong gia đình tôi, nơi có một cái hố sâu đã khơi đào, hố thẳm đó càng ngày càng mở rộng. (tr. 93) Một hoàn cảnh khác trong truyện Khi chiều giăng lưới : Nàng đã đến thăm Thu Hương. Nhìn thấy trên cuộc đời người bạn gái phấn son rực rỡ một thời, cái dốc cao ngất, từ đó Thu Hương đang rớt xuống, rớt xuống, không có gì giữ lại cho được. (tr. 164)

Tình yêu là cái gì đẹp, thiêng liêng, luôn luôn ở trên cao. Trong Mười đêm  ngà ngọc, khi Nguyên và Châu đứng trên đèo Ngoạn Mục : Phút này, nàng như một nhánh hoa rừng kín thầm và kiêu hãnh mọc tận trên cao, trên một đỉnh núi cao ngất, và chàng là người thứ nhất lên được đỉnh núi thấy được bông hoa. (…) Nguyên nói vào vùng thơm không bao giờ mất của mái tóc lộng gió :

– Em nhìn xuống mà xem.

– (…)

– Em thấy những gì ?

– Ruộng đồng. Cây cối. Những giòng sông. Những con đường.

– Cuộc đời nữa chứ. Cuộc đời nằm dưới chân chúng ta (…)

Phải chăng Nguyên muốn nói đến cuộc đời hiện thực trong đó cả hai người đều có vợ, có chồng, và cả hai muốn thoát khỏi hoàn cảnh hiện thực để sống với người mình yêu. Nguyên nói tiếp : Cái phần thực nhất của anh và em là ở trên một tầng cao, trên một đỉnh núi. (tr. 149-250)

Nhưng có khi lên tới trên cao, con người vẫn không được toại nguyện. Trong truyện Khi chiều giăng lưới, Trình là một người đàn ông chơi bời, nhiều tham vọng, làm ăn giàu có. Nhưng khi lên đến đỉnh cao của xã hội, anh ta nhận thấy mình đã mất hạnh phúc gia đình, và tâm hồn trống trải, anh ta nghĩ trên cao là địa ngục. Truyện Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời là biểu tượng hay nhất của nỗi thất vọng khi nhân vật lên đến đỉnh cao ; nhân vật xông pha bao hiểm nguy, cố sức trèo lên núi, nhưng khi đã lên đến đỉnh, anh ta cảm thấy không còn gì để mơ ước.

Tuy thế, lên cao bao giờ cũng là cái hướng vô thức của Mai Thảo, vô thức đi tìm cái đẹp, đi tìm hạnh phúc trên cao. Không gian theo chiều dọc có trên có dưới là một không gian đặc thù của Mai Thảo, theo đó mỹ học được hình thành.

Nhận thức của giác quan

Trong thế giới tưởng tượng của Mai Thảo, có những yếu tố do giác quan tiếp nhận và được lặp đi lặp lại như mái tóc của người phụ nữ, ánh sáng và bóng tồi, màu sắc, cảm giác nóng bức và tươi mát.

Qua hình dáng của người phụ nữ, khướu giác nhạy cảm với cái phần chủ yếu là mái tóc. Mái tóc thơm là đối tượng của mỹ cảm. Ngay từ năm 1963 Mai Thảo đã có một tiểu thuyết tựa đề : Mái tóc dĩ vãng, và ở đoạn cuối của truyện, khi hai người yêu gặp lại nhau : Quyền ôm chặt lấy Khánh. Mái tóc Khánh thơm ngát (tr. 324).

Một tựa đề khác, trích từ một đoạn văn của Thạch Lam, tiết lộ khướu giác nhạy cảm của Mai Thảo : Để tưởng nhớ mùi hương. Hình ảnh mái tóc được ghép với mùi hương trở lại trong nhiều tác phẩm :

Thoang thoảng trong không một mùi thơm vương lại của tóc, của da thịt người đàn bà. (Để tưởng nhớ mùi hương, tr. 58)

Mái tóc thiếu nữ toát ra một mùi thơm dịu nhẹ tinh khiết. (Thời thượng, tr. 26)

Phục lại ngửi thấy một mùi hương bốc lên từ mái tóc. Trong đêm, mùi hương trở nên tinh khiết hơn, và chính sự tinh khiết đó làm cho Phục ngây ngất xúc động. (Thời thượng, tr. 225)

Những sợi tóc Tâm đụng vào trán vào cổ tôi. Mùi tóc khô, thơm tinh khiết. (Bên lề giấc mộng, tr. 330)

Có một sự tương phản giữa mái tóc thơm tự nhiên và mái tóc giả tạo. Trong truyện Thời thượng, Phục tiếc mái tóc tự nhiên của vợ thuở xưa khi nhìn mái tóc cầu kỳ, thời thượng của cô hiện nay : Mái tóc Hường với cái cánh phượng vắt xéo một bên, và một bên là cái đường tóc cứng nhắc kéo lên đỉnh đầu làm cho Phục nhớ lại và luyến tiếc cái mái tóc óng ả của Hường ngày trước. Một mái tóc buông thả tự nhiên, chảy dài thành một dòng suối, lòa xòa như từng vùng bóng mát êm ái vây phủ lấy bờ vai. Mái tóc ở đó toát ra mùi sà phòng khô, nhẹ… (tr. 44)

Trong thế giới tưởng tượng của Mai Thảo, một mái tóc thơm tinh khiết có sức quyến rũ hơn tất cả. Điều này làm liên tưởng đến Baudelaire với bài thơ La Chevelure (Mái tóc) của ông ; hương thơm trong mái tóc của Jeanne Duval là khởi điểm của sự mời gọi đi đến những bến bờ xa lạ ; khướu giác ở đây đưa đến sự phối hợp của tất cả các giác quan. Phần Mai Thảo, ông muốn dõi theo, nắm bắt một mùi hương nhẹ nhàng, mong manh của mái tóc, vì nó gợi lên sự huyền bí của ngưòi nữ. Đối với Mai Thảo mùi hương của tóc không mời gọi ông đi xa như Baudelaire, mà nó mở đường cho ông vào thế giới của người nữ.

Mái tóc của người nữ thuộc về khướu giác, những gì còn lại thuộc về thị giác. Mai Thảo có một nghệ thuật tạo hình bằng ngôn từ rất tinh tế. Mở đầu truyện Thời thượng là hình ảnh một người phụ nữ Tây phương : Người đàn bà Tây phương nằm ngửa, lồ lộ một khối da thịt nhễ nhại, khiêu khích… Thân thể người phụ nữ Tây phương được phơi bày dưới mọi góc nhìn, không có gì thẩm mỹ, bí ẩn để lôi cuốn người nhìn. Trái lại cũng trong truyện Thời thượng sự xuất hiện của một cô gái trẻ đẹp từ trên xe bước xuống được miêu tả theo cái nhìn của nhân vật nam đang từ từ khám phá : Thoạt đầu, hiện ra từ cánh cửa xe mở rộng, là một bắp chân đàn bà. Bàn chân từ trong xe thò ra, đặt xuống bực thềm thấp nhất. Bàn chân ấy xinh nhỏ. Móng chân mầu hồng nhạt. Chiếc dép cao gót, mầu da chân, hai đường giây bắt chéo, nhỏ xíu, ôm ấp khít khao một bàn chân quý phái (…). Cái nhìn của Phục bò lên, đụng tới một cổ chân thanh thoát. Dưới ánh nắng chói lòa, cái bắp chân đàn bà vừa thò ra, mịn màng, trong muốt, mang trên hình thể tươi trẻ của nó cái mát mẻ đặc biệt của một nhành cây non. Rồi bàn chân sau hiện ra, đặt xuống theo. Rồi một gấu váy ngắn, ở thật xa trên đỉnh gối (…). Nàng con gái ra khỏi xe, nàng hất đầu cho mái tóc chạy về sau gáy. (tr. 23-24)

Cái nhìn bò lên, đụng tới là một cái nhìn tò mò nhưng không vội vã, một cái nhìn kinh ngạc trong đó có sự ham muốn. Nét trẻ trung, tươi mát của người con gái được thể hiện qua hình tượng nhành cây non.

 Ánh sáng và bóng tối là yếu tố căn bản trong sự tiếp nhận của thị giác. Ánh sáng của nắng cho thấy thấp thoáng gương mặt đẹp của người thiếu nữ :

Qua khung kính nhoà bóng nắng, Phục thoáng nhìn thấy một lần nữa, khuôn mặt đẹp, mộc mạc và cách biệt của người thiếu nữ. Đường mũi nàng thẳng và rõ nét. Những sợi tóc lòa xòa ở đó chắc vẫn phảng phất mãi mãi một mùi thơm tinh khiết. Tròng mắt nàng, hơi sâu, phủ kín dưới bóng rợp một hàng mi dài. (Thời thượng, tr. 35)

Trong truyện Để tưởng nhớ mùi hương, ánh sáng mờ ảo của một căn phòng từ ngoài nhìn vào làm nổi bật vẻ đẹp huyền bí của người phụ nữ : Trên một nền bóng tối mờ mờ không cho đoán thấy những hình ảnh bên trong, khoảng cách nhỏ chỉ vừa đủ cho Ninh nhìn thấy một nửa khuôn mặt, ở nửa khuôn mặt đó là một sống mũi dọc dừa rất thanh thoát. Và một vực mắt tròn. Và khi cánh cửa mở rộng, căn phòng sáng hơn, cái nhìn khám phá thêm một bàn tay đẹp, cái nhìn ngước lên đến vai : Bàn tay ấy là tận cùng của một đường cong mềm mại chạy xuống từ một bờ vai thanh thoát. (tr. 16)

 Ngoài ra, ánh sáng làm nổi bật cái bóng và cho nó một giá trị biểu tượng. Trong Thời thượng, Phục đã có vợ, được Bích, một cô gái trẻ yêu. Nhưng Phục vẫn chung thủy với vợ. Khi Phục và Bích đi bên nhau : Nắng dãi chan hòa hai cái bóng, một của Phục, một của Bích đổ xuống, lẫn lộn vào nhau ; Bích bạo dạn chỉ xuống bóng nàng và bóng Phục hòa nhập : – Anh coi. Phục nhìn, đứng vội sang một bên cho hai cái bóng tách rời. (tr. 168)

Trong truyện Ôm đàn tới giữa đời, Ngọc không yêu Khoa, nhưng Khoa yêu Ngọc, và theo dư luận của thành phố Pleiku thì chắc chắn hai người sẽ trở nên vợ chồng. Một lần nữa biểu tượng của cái bóng rất rõ rệt : Đêm hoàn toàn yên lặng. Những ánh mờ tỏ ném hai cái bóng lên vì tường. Chúng tôi chưa hòa với nhau làm một, nhưng hai cái bóng thì đã nhòa lẫn vào nhau. (tr. 135)

Cái bóng cũng có giá trị ẩn dụ. Trong Thời thượng, Phục vì yêu vợ trở nên quá nhu nhược, bị vợ lấn hiếp : Liên hệ giữa cặp vợ chồng mất dần cái thế quân bình ngày trước. Cho tới lúc Phục khám phá thấy vợ giống hệt như cái nắng buổi trưa đang chói lòa trước mắt. Một cái nắng tràn chiếm và dồn đưổi cùng khắp. Nắng tiến tới đâu bóng rợp lùi dần tới đó. Phục chính là cái bóng rợp thiểu não ngày lại ngày, một mờ dần, một thu nhỏ mãi lại. (tr. 18)

Qua thị giác, màu sắc tiết lộ cảm tính của tác giả. Màu trắng và những màu nhạt được khoác lên những cô gái đẹp. Ngược lại màu đỏ có tính tiêu cực :

Trên cặp môi ướt chảy của Hường, màu son đỏ chói như một vết thương chảy máu. (Thời thượng, tr. 42)

Hoa mặc một chiếc áo dài lòe loẹt, có những bông hoa lớn, đỏ chói. (Để tưởng nhớ mùi hương, tr. 72)

Mầu áo đỏ rứt mắt ngồn ngộn nổi bật trên một nền quần sa tanh bóng loáng. (Mười đêm ngà ngọc, tr. 47)

Cũng trong Mười đêm ngà ngọc có một màu được nhắc đi nhắc lại một cách lạ lùng, đó là màu tím. Để đi dự một buổi dạ hội, nhân vật Nguyên mặc một cái quần serge màu tím. Thưởng, người đàn ông ăn chơi, có nhiều thủ đoạn, cũng mặc quần màu tím và lái một chiếc xe Frégate màu tím. Rèm cửa phòng ngủ của Châu màu tím, và khi ra bãi biển Nhatrang với Nguyên, Châu mặc một bộ đồ tắm màu tím. Quả là quá nhiều màu tím trong truyện. Màu tím là màu thời trang của xã hội thời đó chăng ? Vậy nên xem màu đó như thuộc phạm vi xã hội hơn là một dấu hiệu cảm tính của Mai Thảo.

Sau khướu giác và thị giác, xúc giác cũng có ảnh hưởng. Xúc giác của các nhân vật nữ trở nên nhạy cảm dưới cái nhìn của nam giới :

Cái nhìn của Quyền còn đầm ấm trên da thịt, trên thân thể, như một va chạm kỳ thú. (Mái tóc dĩ vãng, tr. 56)

Chưa từng một người đàn ông nào lại nhìn tôi sỗ sàng và trắng trợn đến như vậy. Đến tiếp sau cái cảm giác khó chịu là một cảm giác nhột nhạt. Như chính da thịt tôi đã bị cái nhìn đụng tới và làm cho nổi gai lên. (Ôm đàn tới giữa đời, tr. 96)

Trái với cảm giác tươi mát được dùng để miêu tả một cô gái trẻ đẹp, cảm giác nóng bức làm cho con người cảm thấy có một sức mạnh bủa vây và thiêu hủy :

Cái nắng vẫn từ trên cao và từ căn ngõ bít bưng tức thở bên ngoài thả tới những hơi lửa bỏng rát. (Khi chiều giăng lưới, tr. 46) Cảm giác nóng bức cũng tượng trưng cho sự thiếu thốn, nỗi thèm muốn. Trang, nhân vật của  Để tưởng nhớ mùi hương, là một phụ nữ có chồng, còn trẻ đẹp, người chồng bỏ đi biền biệt. Trang sợ nhất những đêm mùa hè trời nóng bức, thân thể Trang bốc lửa, thèm khát một bàn tay mơn trớn.

 Sau cùng vị giác cũng có vai trò quan trọng qua sự hiện diện của rượu. Tất cả những nhân vật nam của Mai Thảo đều uống rượu, uống vì thói quen, uống để tìm quên lãng. Trong các truyện của Mai Thảo, rượu là một đặc tính của người đàn ông, nhất là người đàn ông đã từng có một quá khứ phóng đãng, thích tự do, tránh mọi ràng buộc. Trong ngôn ngữ của Mai Thảo rượu không được thi vị hóa, rượu là một dấu hiệu của nam tính hơn là một ám ảnh.

Nước, một ám ảnh dai dẳng

Trong các tác phẩm của Mai Thảo, trội hơn hết là chủ đề nước. Nước hiện diện khắp nơi, qua hình tượng biển, sông, hồ và mưa, trời mưa rất nhiều trong Ôm đàn tới giữa đời. Những tựa đề truyện như : Dòng sông rực rỡ, Sóng ngầm, Trong như hồ thu, v.v… đã báo hiệu một ám ảnh của nước. Nhân vật Ninh trong Để tưởng nhớ mùi hương nói : Riêng tôi, tôi yêu những dòng sông. Yêu từ thuở nhỏ. Yêu từ những con sông thật nhỏ, thật hiền, yêu đến những dòng sông thật mênh mông, có sóng, có triều, lúc đầy, lúc vơi, nó gợi cho mình cái ấn tượng của biển cả. (tr. 64)

Ngôn ngữ  của Mai Thảo làm nảy sinh hình tượng nước :

Một thứ ánh sáng mờ mờ đục đục chảy vào căn phòng. Dòng chảy chậm như một lan chiếm từ tốn. (Bên lề giấc mộng, tr. 67)

Cuộc sống cứ chảy trôi bình thường như vậy, những ngày tiếp đó. Nhưng là thứ bình thường bề ngoài. Như một mặt hồ phẳng chỉ lăn tăn, gợn gợn mà kỳ thực là đã cuồn cuộn những đợt sóng ngầm dưới đáy. (Mái tóc dĩ vãng, tr. 101)

 Hình tượng của nước được kết hợp với hạnh phúc. Tâm trạng của cô ca sĩ Khánh trong Mái tóc dĩ vãng được nói lên như sau : Niềm sung sướng thấy Quyền đến phòng trà vỡ òa như một dòng suối trong lòng nàng… (tr. 111)

Nước cũng được kết hợp với vẻ đẹp của người nữ. Trong nhiều truyện của Mai Thảo, tóc của người nữ là một dòng suối : Nàng đẹp lạ thường. Một vẻ đẹp gần như mơ màng, hoang đường, mái tóc thật dài thả xuống thành một dòng suối óng mượt sóng soải trên hai bờ vai… (Tình yêu màu khói nhạt, tr. 24)

Một phụ đề (motif) (2) được gắn liền với chủ đề nước, đó là tấm gương. Nhân vật nhìn hình mình trong nước như trong một tấm gương, điều này làm liên tưởng đến huyền thoại Narcisse của Hy Lạp. Narcisse, chàng thanh niên tự mê sắc đẹp của mình trong nước. Trong Để tưởng nhớ mùi hương, Trang nhìn mình trong nước, biết mình đẹp : … Trang ngồi như thế, hơi cúi xuống, soi dung nhan nàng trên mặt nước giới hạn và trong vắt của cái bể non bộ. Đường mũi, vành môi, gò má, trũng mắt mờ mờ hiện. Đẹp. Trang biết nàng đẹp. Khuôn mặt phản chiếu lên từ đáy nước, đã mất đi ánh hào quang rực rỡ của những xuân đời Trang đã bỏ lại, nhưng Trang biết nàng còn đẹp, một nhan sắc vô ích, một mình, lặng lẽ, nó biết nó đẹp, nhưng không biết đẹp cho ai và dùng để làm gì… (tr. 14-15)

Con sông hiền hòa, êm dịu bao nhiêu thì biển tham lam, hung dữ bấy nhiêu. Sau đây là giấc mơ của Liệu trong truyện Cũng đủ lãng quên đời, một giấc mơ tiết lộ sự ham muốn nhục dục bị dồn nén trong đời sống ban ngày : Liệu vừa mơ thấy gì ? Một bãi biển. Đêm. Một đêm nhiệt đới. … Liệu nghe thấy biển gọi nàng như một người tình và nàng bắt đầu chạy… Dang rộng cánh tay, tóc hất về sau, mắt sáng long lanh miệng hoa hé mở, nàng từ trên đồi cát lao xuống bãi biển, ở đó, trước mặt, biển là một người tình hung dữ, cất cao điệu cười man rợ đầy hoan lạc. Khi Liệu chạy xuống, tự hiến thân như một trinh nữ tự hiến thân trong một cuộc tế thần. Tiếng sóng gầm gừ, Liệu nghe như một mời gọi âu yếm. Và nàng tới… Biển trăm tay ôm, nghìn môi hôn. Trong những chỗ ngóc ngách, thân mật nhất của thân thể Liệu, biển tới. Nàng sống tan tành trong một cảm giác bị chiếm đoạt hoàn toàn. (tr. 178-180)

Trong thế giới cảm tính của Mai Thảo, mưa, một hiện tượng của thiên nhiên, trở nên một yếu tố nghệ thuật : Chàng nói trận mưa nào cũng có một vẽ đẹp riêng. Những trận mưa phùn nhỏ, nghiêng nghiêng đẹp vì những đường nét tơ liễu phơi phới. Mưa như bay múa, như khiêu vũ giữa không gian. Những trận mưa lớn đẹp vì cái âm thanh dạt dào, tiếng mưa lớn nghe kỹ là tiếng ca hát hân hoan vô tận của đất trời và tạo vật. (Thời thượng, tr. 278) Ở đây, thính giác được liên kết với thị giác để tạo nên cảm xúc về cái đẹp.

Một phụ đề khác của nước là con đê, con đê ngăn giữ thứ nước hung hãn. Trong Để tưởng nhớ mùi hương, cái bề ngoài điềm tĩnh của Trang giấu kín những đòi hỏi mãnh liệt : Nàng vừa là một con đê, vừa là một ngọn triều. Con đê ngăn lại một ngọn triều hung dữ. Và ngọn triều thì xô chuyển liên hồi một bờ đê mong manh. (tr. 53)  Khi Trang và Ninh sắp rơi vào cơn cám dỗ : Ninh có cảm giác như trong chàng có một bờ đê cao ngăn chia thành một giới hạn (…), con đê cao ấy đã bị một ngọn triều mãnh liệt dâng lên và phá vỡ. Ngọn triều ào qua. Giới hạn biến mất. Mọi lảng tránh, mọi giữ gìn không còn lý do nào tồn tại. (tr. 297)

Còn rượu trong thế giới cảm tính của Mai Thảo là gì ? Như đã nói, nhiều nhân vật nam của Mai Thảo uống rượu : Dũng đứng lên, pha mau cho nỗi buồn muốn che dấu và cho những lời nói thiếu thành thật của mình một ly rượu. Chàng không còn gì hơn. Chàng chỉ còn rượu. Thật là thảm hại. Rượu là một chạy trốn. Dũng tự đuổi mình và tự chạy trốn mình. (Sau khi bão tới, tr. 223)

 Rượu cũng là chất lõng như nước. Nhà khoa học luận Gaston Bachelard phân biệt hai thứ rượu : có thứ rượu thuộc về lửa và có thứ rượu thuộc về nước. Theo Bachelard, hai thứ rượu đó gắn liền với hai nhà văn : E.T.A. Hoffmann và Edgar Poe. Nhà văn Đức Hoffmann có tiếng nghiện rượu punch là thứ rượu được pha với rượu arak, nước chanh và đường, thứ rượu mà người ta làm bốc cháy. Bachelard cho rằng chính ngọn lửa của rượu punch là nguồn hứng của sự sáng tạo của Hoffmann, nhất là khi ông viết những truyện kỳ ảo. Có một truyện của Hoffmann tựa đề là Les élixirs du diable (Rượu bùa của quỷ). Về phần nhà văn Mỹ Edgar Poe, ông mồ côi mẹ sớm. Theo nhà phân tâm học Marie Bonaparte, hình ảnh người mẹ chết hiện diện sâu đậm trong tác phẩm của Edgar Poe. Ông thường uống rượu trong những thời kỳ người vợ bị bệnh nặng, và rượu làm cho ông bị những cơn hôn mê. Bachelard kết hợp thiên tài của Edgar Poe với thứ nước tù hãm, nước chết của ao hồ được miêu tả trong tác phẩm của ông. Vậy hai thứ rượu khác biệt nhau : rượu của Hoffmann là thứ rượu bừng cháy, nó mang dấu hiệu của nam tính, rượu của Edgar Poe là thứ rượu ngập tràn, đem lại quên lãng và cái chết, nó mang dấu hiệu của nữ tính. Rượu của Mai Thảo gần với rượu của Edgar Poe hơn, thứ rượu đem lại quên lãng, nó cũng gợi lên cái chết, cái chết của tình yêu, do đó rượu của Mai Thảo thuộc về nước, nó có nữ tính, nó không thuộc về lửa.

Vào những năm 70 ở miền Nam, mạch viết của Mai Thảo rất mạnh mẽ. Càng viết Mai Thảo càng tiết lộ cảm tính của mình, và cảm tính đó làm nền tảng cho một thế giới tưởng tượng được cái đẹp của người nữ ngự trị. Về điểm này, có thể nói truyện Để tưởng nhớ mùi hương biểu hiện rõ nhất mỹ học của Mai Thảo, có không gian vô thức, có cái đẹp được nhận thức qua giác quan và có nước dưới hình thức biểu tượng và ẩn dụ.

Tác giả truyền mỹ cảm của mình cho nhân vật Ninh. Ninh nói : Tôi yêu những cái phảng phất. Tôi thích những cái mơ hồ. (tr. 77) … (Ninh) Yêu mầu xanh của cây, mầu nâu của đất, hương thơm của ngọc lan, sự rộng lớn của buổi chiều, tiếng chim hót ban mai, ánh nắng tàn hoàn hôn. Yêu những nét đẹp mong manh, những tơ liễu vờn, những khói sương tan… (tr. 231-232) Ninh xúc động trước sắc đẹp của ba người phụ nữ : Phượng với vẻ đẹp lộng lẫy của thị thành, Trang với vẻ đẹp đài các, cuốn hút của tỉnh nhỏ, Sầu với vẻ đẹp khỏe mạnh của một cô gái mới lớn. Ninh xúc động trước dáng điệu nằm ngủ của Trang, chưa bao giờ Ninh thấy một người đàn bà ngủ đẹp như thế.

Với một mỹ học được cảm tính tạo nên, hướng về cái đẹp, một văn phong được mỹ hóa, Mai Thảo quả là một nhà văn duy mỹ, ông đã thổi vào văn học miền Nam một sinh khí mới ; những cố gắng của ông để đi tìm cái mới đã đánh thức những người cầm bút.

Chú thích :

(1) Quel est celui de nous qui n’a pas, dans ses jours d’ambition, rêvé de miracle d’une prose poétique, musicale sans rythme et sans rime, assez souple et assez heurtée pour s’adapter au mouvements lyriques de l’âme, aux ondulations de la rêverie, aux soubresauts de la conscience ?

(Baudelaire, Dédicace du Spleen de Paris, Petits poèmes en prose, 1869)

(2) Tôi dịch « thème » là chủ đề và « motif » là phụ đề. Nếu dịch từ « motif » (Pháp) hay « motiv » (Đức) ra tiếng Việt là « mô típ » như ta thường thấy đâu đó, đối với độc giả Việt Nam nhất là những độc giả không quen thuộc với những vấn đề văn học, thì « mô típ » không gợi lên được gì.

Theo Tự điển ngữ học của Georges Mounin, trong một tác phẩm văn học, chủ đề (thème) có thể được phân tích ra làm nhiều phụ đề (motif), những phụ đề này là những đơn vị tối thiểu hoàn toàn có tính biến cố.

Tác phẩm của Mai Thảo được bàn đến :

Đêm giã từ Hà Nội

Bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời

Mái tóc dĩ vãng, 1963, Nxb Xuân Thu, Hoa Kỳ tái bản

Sau khi bão tới, 1968, Nxb Xuân Thu, Hoa Kỳ tái bản

Cũng đủ lãng quên đời, Nxb Hồng Đức, Sài Gòn, 1969

Mười đêm ngà ngọc, 1969, Nxb Sống Mới, Hoa Kỳ tái bản

Thời thượng, Nxb Côi Sơn, Sài Gòn, 1970

Để tưởng nhớ mùi hương, 1971, Nxb Việt Nam, Hoa kỳ tái bản

Bên lề giấc mộng, Nxb Ngày Mới, 1973

Tình yêu màu khói nhạt, 1973, Nxb Xuân Thu, Hoa Kỳ tái bản

Khi chiều giăng lưới, Nxb Tiếng Phương Đông, 1974

Ôm đàn tới giữa đời, 1974, Nxb Xuân Thu, Hoa Kỳ Tái bản

Tài liệu tham khảo :

Sami-Ali, L’espace imaginaire, Gallimard, 1974

 

 

Advertisements