PHÁ TAM GIANG, NƠI HẸN VỚI TỬ THẦN

 

 

Thi ca miền Nam thời 54-75 đã hình thành trong một bối cảnh lịch sử mới, với một tâm thức mới, và đã trưởng thành trong khói lửa chiến tranh. Có cả một khoảng cách lớn lao giữa Thơ Mới thời tiền chiến và thơ miền Nam, nhân sinh quan, cách nhìn thế giới, cách nhìn tương lai của hai thời kỳ hoàn toàn khác hẳn nhau. Về tình yêu chẳng hạn, tình yêu trong Thơ Mới là thứ tình yêu ngây thơ, lãng mạn, vô tư, tình yêu trong thơ miền Nam là thứ tình yêu rắn rỏi, biết rõ thân phận mình và tự biết mình ngắn hạn trước lịch sử, trước cái chết. Cho nên thi ca miền Nam một mặt rời bỏ cái quá khứ quá yên bình, thiếu trưởng thành, mặt khác phản kháng chiến tranh gieo bao hiểm họa, đau thương. Đó là về nội dung, về hình thức thi ca miền Nam tuy còn duy trì phần nào các thể thơ truyền thống, nhưng đã hiển nhiên nghiêng về thơ tự do và thơ văn xuôi.

Tô Thùy Yên, tác giả bài Chiều trên Phá Tam Giang, là một trong những nhà thơ thể hiện cho thi ca miền Nam. Nguồn thơ của ông, với cái nhìn về thân phận nhỏ bé của con người trước hiểm họa chiến tranh, đã đạt đến một chiều kích siêu hình độc đáo. Khắc khoải siêu hình là nét đặc trưng của thơ Tô Thùy Yên. Ngay từ năm 1960, trong cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo về thơ, Tô Thùy Yên đã tuyên bố : Người làm nghệ thuật bây giờ ném cái siêu hình vào giữa đời sống. Cái siêu hình trong nghệ thuật ngày xưa là một thế giới hoàn toàn cô lập với đời sống mà chỉ những con người thăng hoa mới đột nhập được. Cái siêu hình ngày nay là cái siêu hình trong thân phận của một con người thông thường dính liền với đời sống.

Chính cuộc sống trong thời khói lửa với bao gian nan, nguy biến, khiến con người khi trực diện với cái chết có những suy tư về tính hữu hạn của mình. Chiến tranh lan tràn vào xã hội, vào đời sống của mọi người, ép buộc con người phải tự nhìn mình, tự tra vấn mình và tra vấn những biến cố đã xảy ra. Cái chết không còn là một tư duy sáo mòn để làm đẹp văn chương, mà là một khắc khoải siêu hình xoắn lấy tâm hồn con người. Khắc khoải siêu hình này làm nên chiều sâu của bài thơ Chiều trên phá Tam Giang của Tô Thùy Yên, sáng tác năm 1972, tức vào thời điểm chiến tranh khốc liệt ở miền Nam.

Đã có nhiều nhà thơ nói về cái chết, như Đinh Hùng chẳng hạn, ông gọi cái chết là Mặt trời máu. Cái chết trong thơ Đinh Hùng chủ ý nói về thế giới bên kia, nơi có người yêu của ông đã ra đi quá sớm.

Tô Thùy Yên không ở trong hoàn cảnh phải khóc người yêu đã chết, mà tự cảm thấy chính mình bị cái chết vây hãm, đe dọa tận cùng một cách vô lý. Vấn đề sống chết là mối trăn trở trong thơ Tô Thùy Yên, trong khi cái chết có thể đến một cách dễ dàng thì sự sống được xem như một nhiệm mầu: Sống trên đời, chuyện ghê gớm quá / Vậy mà ta sống có kỳ không ?  (Hề, ta trở lại gian nhà cỏ)

Độc giả yêu thơ Tô Thùy Yên hẳn còn nhớ những bài thơ nổi tiếng như : Anh hùng tận, Trường Sa hành, Tưởng tượng ta về nơi bản trạch, v.v… Nhưng có thể nói Chiều trên phá Tam Giang là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của thời chiến ở miền Nam.

Nỗi niềm của người lính miền Nam

Chiều trên Phá Tam Giang là một độc thoại với những cảm giác, suy tư, hồi tưởng. Đây là nỗi niềm chẳng những của tác giả mà còn của cả một thế hệ thanh niên bị lịch sử nghiền nát.

Phá Tam Giang được dùng làm không gian cho độc thoại. Địa danh đưa người đọc trở về với những câu ca dao của một thời nhiễu nhương. Đây là nơi chốn hiểm nghèo đối với khách bộ hành ngày xưa, và là nơi chốn ngự trị của tử thần ngày nay, một nơi chốn do định mệnh an bài. Cái eo biển ngày xưa rùng rợn vì có quân trộm cướp rình rập, ngày nay có giặc quân bố trí phục kích, không vì tiền của mà vì ý thức hệ.

Bài thơ  Chiều trên phá Tam Giang thuộc thể thơ tự do, gồm 155 câu chia làm ba phần (xin xem cuối bài). Đây là một độc thoại dài có thể được tóm tắt trong một từ duy nhất : chết. Cái chết trở nên một ám ảnh bàng bạt trong khắp bài thơ mà cấu trúc nhằm đưa sự sợ hãi lên tột đỉnh, qua ba giai đoạn : trong vòng vây của tử thần, tình yêu và sự sống ngoài tầm tay, trực diện với tử thần.

Bài thơ mở đầu như một cuốn phim : phá Tam Giang nhìn từ trên trực thăng cho thấy cảnh vật tiêu điều, tan hoang, gây một ấn tượng não nề : thùy dương gẫy rũ, nhà cửa trốc nóc… Tất cả đều báo hiệu điều chẳng lành. Và cuộc giáp mặt của hai kẻ thù khởi đầu bằng một câu hỏi : Vì sao người tới đây ? Câu hỏi như quả bom dội ngược lại : Vì sao ta tới đây ? Người lính miền Bắc là hiện thân của tử thần : Ví dầu ngươi bắn rụng ta. Độc thoại hướng về kẻ địch, rồi hướng về người yêu nơi đô thị xa xôi.

Trước viễn ảnh của cái chết rùng rợn, không lối thoát, và trong cơn tuyệt vọng, người lính trẻ miền Nam tìm một nơi để cầu cứu, đó là tình yêu. Tình yêu xuất hiện đột ngột : Anh sực nhớ em. Kẻ lo sợ cái chết xảy ra trong một tương lai gần, bèn bám vào thời hiện tại ở một nơi khác, Giờ này được lặp lại năm lần như để chứng tỏ rằng chỉ có hiện tại của tình yêu mới có thể cứu vớt mình khỏi vòng vây của tử thần. Như thế trong độc thoại có tới hai hiện tại : hiện tại ở đây (phá Tam Giang) là khoảnh khắc mà người lính có thể chết đột ngột, và hiện tại ở xa (đô thị), nơi có người yêu, một hiện tại ngoài tầm tay, người lính bám vào cái hiện tại ở xa đó một cách tuyệt vọng. Tình yêu của người lính được bộc lộ trong một câu gồm vỏn vẹn ba từ : Nhớ bất tận. Sự mâu thuẫn giữa câu thơ rất ngắn và cái nghĩa của trạng từ (adverbe) bất tận có tác dụng gây xúc cảm.

Trong khi người lính nhớ bất tận người yêu, thì cô gái nơi đô thị cũng yêu chàng thắm thiết : Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh / Cơn nghĩ tới không sao cầm giữ nổi. Trong tâm tư của cô gái, tử thần cũng đã len lỏi vào. Chết là ly biệt, là vĩnh viễn mất mát, vậy chết là một biến cố quá trầm trọng, tử thần có bộ mặt đáng ghê sợ, nên cô gái không dám gọi đích danh cái chết mà chỉ gọi là một điều hệ trọng vô cùng, khiến cô lo sợ. Tuy sống ở đô thị, xa chiến trường, nhưng lòng cô đầy lo âu qua sự lặp lại 14 lần động từ nghĩ tới. Và rồi trong cơn nguy khốn, người lính không còn ảo tưởng gì về tương lai của tình yêu nữa : Ôi tình yêu, bằng chứng huy hoàng của thất bại !

Trong dòng độc thoại, sau khi hướng về hai thái cực : kẻ địch tức sự chết, và người yêu tức sự sống, thì người lính quay lại mình để trực diện với cái chết. Chỉ trong phần thứ ba của bài thơ từ chết mới xuất hiện. Kẻ đang sống trong cơn nguy biến bỗng nhiên ý thức về cuộc đời thanh xuân của mình, với bao mơ ước hãy còn dang dở ; sự gần kề cái chết gây nên sợ hãi, uất ức đến điên cuồng, cơn điên của kẻ vẫy vùng trong nhà tù lịch sử. Một tiếng cười ma quái đáp lại sự vô lý của chiến tranh, của lịch sử.

Sức truyền cảm của ngôn từ

Nghệ thuật ngôn từ của Tô Thùy Yên có ba đặc tính : tương phản, hình tượng và gợi cảm.

Tác giả dùng thủ pháp tương phản giữa hai yếu tố nhằm làm tăng tính bi đát của cái chết gần kề. Tương phản giữa nội tâm và ngoại giới. Trong lòng thì khao khát sống : Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ / Thơm cả thiết tha đời », mà ngoại cảnh nhìn từ trên trực thăng là một bức tranh của hoang tàn, của sự chết : bờ bãi hỗn mang, thùy dương gẫy rũ, nhà cửa trốc nóc.

Tương phản giữa con người và thời gian : Cát hôn mê, nước miệt mài trôi ; biểu tượng của thời gian là dòng nước trôi đi bất tận, và con người là hạt cát chỉ ở một điểm cố định. Tương phản giữa con người và thiên nhiên : Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi.

Tương phản giữa tâm trạng của người cộng quân và tâm trạng của người lính miền Nam. Tương phản này bắt đầu bằng hai câu hỏi : Vì sao ngươi tới đây ? / Vì sao ta tới đây ? Cả đôi bên đều có mặt nạ, người lính miền Nam bị gán cho cái mặt nạ của tên lính ngụy, người lính miền Bắc mang mặt nạ của tử thần ; từ trên trực thăng, người lính miền Nam biết mình ở trong tầm bắn của địch, trong con mắt của tử thần : Ví dầu ngươi bắn rụng ta. Tương phản giữa người lính miền Bắc cuồng tín, có lòng tin sắt đá vào việc mình làm, bị trói buộc bởi lời thề sinh Bắc tử Nam, nên hăng say diệt địch, và người lính miền Nam sáng suốt, hoài nghi những giá trị của các hệ tư tưởng, ý thức được sự vô lý của việc chém giết nhau, tự thương thân và thương cả kẻ địch khờ dại. Con người thương xót con người, vì cả hai đều là nạn nhân của lịch sử, cả hai đều không thoát khỏi thân phận con người. Và thân phận con người được cánh quạt của chiếc trực thăng đang bay trên phá Tam Giang biểu tượng, suốt đời  Phải quạt, phải quạt. Sự lặp lại của hai từ  phải quạt gợi lên ý tưởng về sự đày đọa con người. Cả hai người lính dù khác chiến tuyến, dù xem nhau như quân thù đều bị đày đọa phải làm cùng một công việc mãi mãi không thay đổi, như Sysiphe trong truyện thần thoại Hy lạp, phải đẩy một tảng đá lên núi, tảng đá rơi xuống, Sysiphe lại phải đẩy lên, và cứ thế mãi mãi. Vậy số phận hai người lính Bắc, Nam là cứ phải mãi mãi chém giết nhau vì lịch sử quá nghiệt ngã. Và cái chết của họ chẳng làm thay đổi lịch sử. Sự mâu thuẫn đối kháng giữa hai người lính được nhấn mạnh với những tính từ, những cụm từ tương phản nhau : hăng điên / ảm đạm,  tiếng hét / bặt im, ghê gớm lắm / chẳng ra chi.

Sau cùng, tính tương phản làm tăng cảm giác bị siết chặt : tử thần đến gần, siết chặt con người : Chiều trên phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận / Chiều trên phá Tam Giang im lìm âm cảm thông.

Bài thơ được phong phú hóa nhờ ngôn từ hình tượng : Chiều dòn tan nắng động nứt ran ran, và nhờ sức gợi cảm qua những câu thơ giàu thanh bằng, gợi lên nỗi buồn mênh mang như : Rào rào trận buồn ngây chân tay

Cách tạo từ tượng thanh cũng gây sức gợi cảm : Rào rào trận gió nhám mặt mũi / Rào rào trận buồn ngây chân tay. Trận gió gây tiếng động rào rào đã đành mà nỗi buồn cũng lên tiếng như gió để làm tê liệt thân xác.

Cách láy phụ âm đáng được chú ý. Trong hai câu : Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ / Thơm cả thiết tha đời, phụ âm th gợi lên hơi thở, tức sự sống. Kẻ biết mình có thể chết trong giây phút sắp đến bỗng cảm thấy ham sống.

Và trong câu : Với từng ấy tấn tuồng bần tiện, phụ âm t vang lên mạnh mẽ để gây nên một cảm tưởng tàn nhẫn.

Ngoài ngôn từ tương phản, hình tượng và gợi cảm, có thể nói thủ pháp lặp lại là một trong những nét mỹ học của thơ Tô Thùy Yên. Trong một bài thơ khác : Cánh đồng con ngựa chuyến tàu, tác giả có những lặp lại khiến hình tượng rất sống động và tạo một cảm giác nhanh chóng : Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu… Tàu chạy mau càng mau càng mau. Trong bài Chiều trên phá Tam Giang, thủ pháp lặp lại nhằm tô đậm những ám ảnh dai dẳng, đầy cảm tính : Phá Tam Giang, phá Tam Giang, lặp lại ba lần có dụng ý nói lên nỗi ám ảnh của nơi chốn tử thần ngự trị. Phải quạt, phải quạt diễn tả nỗi ngao ngán, rã rời phải làm đi làm lại suốt đời chỉ một hành động. Và câu : Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi là câu nhạc chủ đạo trở đi trở lại để nhắc nhở sự tiếc nuối những gì quý báu trên đời đang mất : tình yêu và tuổi trẻ, và cũng là tiếng nức nở của tuyệt vọng.

Bài thơ Chiều trên phá Tam Giang của Tô Thùy Yên gây ấn tượng sâu sắc nhờ sức gợi hình, gợi cảm của ngôn từ nhằm duy trì không khí cái chết ở phá Tam Giang và làm nổi bật sự trăn trở siêu hình của con người. Ở đây mối đe dọa của tử thần được phóng lớn, khiến thân phận con người trở nên mong manh, cuộc đối mặt giữa con người và tử thần trở nên bi đát. Bài thơ theo một cấu trúc vòng tròn : từ cái chết đến sự sống rồi trở về cái chết. Cấu trúc vòng tròn khiến sự khắc khoải siêu hình xoắn sâu vào con người đang quằn quại trong sợ hãi, cô đơn. Cấu trúc vòng tròn cũng làm liên tưởng đến ngục tù, đến một định mệnh không lối thoát của con người. Con người vốn biết mình hữu hạn, nên muốn đẩy xa cái thời hạn phải từ biệt cõi đời. Cho nên sự hoảng sợ càng dồn dập, càng tăng lên tột đỉnh khi con người ý thức mình phải chết một cách vô lý trong lúc tuổi đời hãy còn xuân xanh.

         Nghệ thuật ngôn từ của Tô Thùy Yên đã làm cho bài thơ Chiều trên phá Tam Giang không hề chìm vào quên lãng. Bài thơ vẫn đứng vững với thời gian, để nhắc nhở với những thế hệ đến sau rằng đã có một thời những người trai trẻ bị một ý thức hệ tước đoạt tuổi trẻ và quyền sống ở đời, để đi vào cõi chết một cách tức tưởi, vô lý.

                                 CHIỀU TRÊN PHÁ TAM GIANG

1.

Chiếc trực thăng bay là mặt nước

Như cơn mộng nhanh.

Phá Tam Giang, phá Tam Giang,

Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát,

Cát hôn mê, nước miệt mài trôi.

Ngó xuống cảm thương người lỡ bước,

Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi.

Phá Tam Giang, phá Tam Giang,

Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ.

Chiều dòn tan, nắng động nứt ran ran.

Trời thơm nước, thơm cây, thơm xác rạ,

Thơm cả thiết tha đời.

Rào rào trận gió nhám mặt mũi.

Rào rào trận buồn ngây chân tay.

Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ

Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma.

Ta ngó thấy thùy dương gẫy rũ

Từng cây như nỗi bất an già.

Ta ngó thấy rào chà cản nước

Từng hàng như nỗ lực lao đao.

Ta ngó thấy nhà cửa tróc nóc

Từng ngôi như mặt đất đang gào.

Vì sao ngươi tới đây ?

Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói,

Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam.

Vì sao ta tới đây ?

Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn,

Dưới mắt ngươi làm tên lính ngụy.

Ví dầu ngươi bắn rụng ta

Như tiếng hét

Xé hư không bặt im,

Chuyện cũng thành vô ích.

Ví dầu ngươi gục

Vì bom đạn bất dung,

Thi thể chẳng ai thâu,

Nào có chi đáng kể.

Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng,

Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm

Có cùng gom góp lại,

Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu ?

Ngươi há chẳng thấy sao

Phá Tam Giang, phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn ?

 

Ta phá lên cười, ta phá lên cười

Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ

Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin,

Hỏi nhau chơi thỏa chút tính bông đùa :

Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh

Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc… ?

Các việc ngươi làm,

Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm.

Các việc ta làm,

Ta xét thấy chẳng ra chi.

Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm

Khi cùng làm những việc như nhau.

Ta tự hỏi vì sao,

(Còn ngươi, có bao giờ ngươi tự hỏi ?)

Và ta tự trả lời.

(Có bao giờ ngươi tự trả lời ?)

Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ

Phải quạt, phải quạt

Chỉ vì nó phải quạt.

Ta thương ta yếu hèn.

Ta thương ngươi khờ khạo.

Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng,

Nên cả hai cùng mắc đường Lịch sử,

Cùng mê sa một con đĩ thập thành.

 

Chiều trên phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận.

Chiều trên phá Tam Giang im lìm âm cảm thông.

2.

Chiều trên phá Tam Giang

Anh sực nhớ em

Nhớ bất tận.

 

Giờ này thương xá sắp đóng cửa.

Người lao công quét dọn hành lang.

Những tủ kính tối om.

Giờ này thành phố chợt bùng lên

Để rồi tắt nghỉ sớm.

(Sài Gòn nới rộng giờ giới nghiêm.

Sài Gòn không còn buổi tối nữa.)

Giờ này có thể trời đang nắng.

Em rời thư viện đi rong chơi

Dưới đôi vòm cây ủ yên tỉnh

Viền dòng trời ngọc thạch len trôi.

 

Nghĩ tới ngày thi tương lai thúc hối,

Căn phòng cao ốc vàng võ ánh đèn,

Quyển sách mở sâu đêm.

Nghĩ tới người mẹ đăm chiêu, đứa em quái quỉ.

Nghĩ tới đủ thứ chuyện tầm thường

Mà cô gái nào cũng nghĩ tới.

Rồi nghĩ tới anh, nghĩ tới anh

Một cách tự nhiên và khốn khổ.

Giờ này có thể trời đang mưa.

Em đi nép hàng hiên sướt mướt,

Nhìn bong bóng nước chạy trên hè

Như những đóa hoa nở gấp rút.

Rồi có thể em vào một quán nước quen

Nơi chúng ta thường hẹn gặp,

Buông tâm trí bập bềnh trên những đợt lao xao

Giữa những đám ghế bàn quạnh quẽ.

Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh,

Cơn nghĩ tới không sao cầm giữ nổi

Như dòng lệ nào bất giác rơi tuôn.

Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng

Của chiến tranh mà em không biết rõ.

Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng

Một điều em sợ phải nghĩ tới.

Giờ này thành phố chợt bùng lên.

 

Chiều trên phá Tam Giang

Anh sực nhớ em

Nhớ bất tận.

 

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi

Rực chiếu bao nhiêu giấc mộng đua đòi

Như những mặt trời con thật dễ thương

Sẽ rơi rụng dọc đường lên dốc tuổi,

Mỗi sáng trưa chiều tối đêm khuya.

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi,

Coi chuyện đó như lần đi tuyệt tích

Trong nước trời lãng đãng nghìn trùng,

Không nghe thấy cả tiếng mình độc thoại.

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi,

Thấy trong lòng đời nở thật lẻ loi

Một cành mai nhị độ.

Thấy tình yêu như vận hội tàn đời

Để xé mình khỏi ác mộng

Mà người đàn ông mê tưởng suốt thanh xuân.

 

Ôi tình yêu, bằng chứng huy hoàng của thất bại !

 

3.

Chiều trên phá Tam Giang,

Mày nhìn con nước xiết

Chảy băng bờ bãi ngổn ngang câm.

Nghĩ tới, nghĩ tới những công trình mày có thể hoàn thành

Mà rồi mày bỏ dở.

Nghĩ tới kiếp người đang lỡ độ đường

Trên mịt mùng nghi hoặc.

Nghĩ tới thanh xuân mất tích tự đời nào

Còn lưu hậu chua cay hoài vọng.

Nghĩ tới khu vườn ẩn cư cỏ cây khuất lấp,

Căn nhà ma ám chầy ngày gió thổi miên man

Đụt tuổi già bình an vô tích sự

Như lau lách bờm sờm trên mặt sông nhăn

Cùng cái chết.

Cái chết lâu như nỗi héo hon dần

Làm chính mình bực bội.

 

Gió muôn ngàn năm thổi lẽ tuần hoàn

Cho cỏ cây thay đời đổi kiếp.

Và mày kinh sợ nghe nhắc điều vượt sức bình sinh

Bởi mày không đủ dạn dày trình diễn tới lui cơn thất chí

Như gã hề cuồng mưu sinh giữa chốn đông người

Với từng ấy tấn tuồng bần tiện

Rút ra từ lịch sử u mê.

Gió thổi thêm đi, gió thổi thêm đi

Cho cỏ cây mau chết, mau hồi sinh.

Mày mặc kệ.

 

Chiều trên phá Tam Giang

Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn

Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng

Dớn dác ngó.

Tô Thùy Yên

6-1972

Tác phẩm của Tô Thùy Yên :

Tô Thùy Yên, Thơ tuyển, Tác giả xuất bản, Saint Paul, Minesota, Hoa Kỳ, 1995.

Tô Thùy Yên, Thắp tạ, An Tiêm, Houston, Hoa Kỳ, 2004.

 

 

 

Advertisements