EM ĐIÊN XÕA TÓC CỦA KIỆT TẤN

 

Trong dòng văn học hải ngoại, Kiệt Tấn là một nhà văn dễ được cảm tình của độc giả với những tự truyện đầy ắp tình người, với lối viết thông minh, hóm hỉnh, và với cái giọng miền Nam dễ mến. Kiệt Tấn lại có cái tài làm độc giả cười, cười thoải mái như khi xem hài kịch, chẳng hạn khi ông tả bộ điệu của người anh trong những màn khiêu vũ, trong truyện Đi trong thành phố có nắng (tập truyện Nghe Mưa).

Kiệt Tấn bắt đầu hoạt động sáng tác với một tập thơ : Điệp khúc tình yêu và trái phá ra mắt ở Sài Gòn vào năm 1966, khi ông ngoài hai mươi tuổi. Sau đó ở hải ngoại những tác phẩm khác lần lượt đến với độc giả : Nụ cười tre trúc (1987), Lớp lớp phù sa (1988), Thương nàng bấy nhiêu (1988), Nghe mưa (1989), Em ơi biết đâu tìm (1994), Việt Nam thương khúc (thơ) (1999), Tuyển tập Kiệt Tấn (2002). Các tác phẩm vừa kể, như đã nói, được xuất bản ở hải ngoại, riêng tập truyện Em điên xõa tóc do nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn xuất bản năm 2009.

Em điên xõa tóc gồm 18 truyện – nhìều truyện đã có rải rác trong các tập truyện ra trước – và kết thúc bằng một bài thơ dài chia làm nhiều đoạn, gọi là Lục bát điên. Trong 18 truyện có vài truyện hư cấu có thể được xem như những giấc mơ như : Ngoài cửa kiếngChú tiểu bìm bịpĐạo sĩ Phật Ma, phần lớn là những truyện có tính tự truyện. Tác giả kể lại những chặng đường của đời mình : thời thơ ấu và mới lớn, thời du học, thời gian hồi hương làm việc, đi lính, rồi lại ra đi, sống cuộc đời lưu vong, chịu đựng những khó khăn, những thử thách như nạn thất nghiệp, bệnh điên. Một cuộc đời trải dài trên ba lục địa, ba không gian : Việt Nam, Canada và Pháp. Tự truyện của Kiệt Tấn là những trải nghiệm của một con người qua bao vật đổi sao dời.

Kiệt Tấn là đứa con của miền sông nước Cửu Long, dù ở nơi nào ông cũng cảm thấy xúc động khi nghe những cái tên : Tiền giangHậu giang. Ông sinh trưởng trong một gia đình nghèo, cha làm thợ mộc, gia đình có năm người con, Kiệt Tấn là con út, Út Bạc Liêu. Người cha xưa kia theo nho học, rổi bỏ sang chữ quốc ngữ. Tính ông phóng khoáng, hay pha trò, và luôn luôn chống đối về bất cứ vấn đề gì. Bà mẹ gốc Cờ Đỏ, quê mùa, thất học. Bà tiếc không biết đọc để đọc kinh Phật vì bà rất mộ Phật. Khi nhỏ, Út Bạc Liêu rất thương gà vịt. Thuở lên sáu, cậu bé thương một con vịt con lông vàng. Tôi đưa vịt con cạ cạ lông nhung mịn của nó lên má mình, lòng rạt rào sung sướng, thương quá là thương ! Rồi ngày nọ em vịt vàng bị một chiếc xe cán nát. Cậu bé quằn quại muốn chết theo. Sau giai đoạn gà vịt đến giai đoạn phụ nữ, năm 13 tuổi, cậu Út Bạc Liêu yêu thầm Lệ Dung, cô bạn gái của người anh tên Lộc. Rồi năm 17 tuổi lại si tình cô láng giềng xóm trọ tên Hoa. Cứ thế nhiều gương mặt phụ nữ trong nước cũng như ở hải ngoại lần lượt tô điểm cho đời sống tình cảm của tác giả.

Như đã nói, Kiệt Tấn có lối viết khôi hài, gây cười. Chẳng hạn năm học đệ tứ cậu học trò Kiệt Tấn mê một cô gái tên Hương ở gần nhà, bèn đàn hát bản nhạc có câu : Chiều nay lênh đênh trên sông Hương… và cố hát to chữ Hương. Tác giả viết : Dù ở Vĩnh Long chỉ có Sông Thiền Đức, sông Cá Cái, sông Cổ Chiên và sông Long Hồ, nhưng tôi vẫn cứ nằng nặc đòi « lênh đênh trên sông Hương » cho bằng được. Có lẽ thấy tôi đòi « lênh đênh » dữ quá nên nàng bèn dứt dây cho tôi trôi luôn. (tr. 72)

Hoặc khi ông nhắc đến cuộc phiêu lưu chính trị của người anh : Ở Vĩnh Long vì trót dại Lộc trốn vô bưng bị muỗi cắn chịu không thấu chạy trở về thành bèn bị đuổi học. Đổi sang trường ở Mỹ Tho, chàng lại cầm cờ biểu tình ủng hộ « Trò Ơn » chống Pháp, bị lính kín tróc nã, chạy lộn trở về Vĩnh Long tị nạn chính trị. (tr. 112)

Hoặc lúc ông kể chuyện cãi cọ giữa cha mẹ : Má tôi niệm kinh lần chuỗi, ông châm chọc là biết chuỗi có bao nhiêu hột rồi mà còn làm bộ đếm hoài. Má tôi cúng lạy, ông chỉ trích muốn ăn con gà cần gì phải lạy nó rồi mới dám đem xuống ăn. Giận lắm má tôi cũng chỉ đến mức sử dụng văn chương, đại khái : « ông đừng có « hành chánh » tui, ông đừng có thiên ám địa hôn tui. (tr. 179)

Ở Kiệt Tấn sự gây vui, cười cợt chỉ là bề mặt của một cái tôi có một bề sâu giàu yêu thương và không ngừng trăn trở. Truyện của ông được viết quanh ba chủ đề : lòng nhân ái, nữ giới và người mẹ và những khắc khoải của một tâm hồn đầy bứt rứt.

Lòng nhân ái

Kiệt Tấn không đưa độc giả vào những thế giới viễn vông, trừu tượng, ông dẫn độc giả đến với tha nhân. Ông có cái nhìn nhân ái đối với mọi người. Trong truyện Vòng chơi xóm học, nhân đi dạo quanh khu nhà thờ Notre Dame de Paris, gặp một ông lão đang quay cái đàn orgue de barbarie để xin tiền, Kiệt Tấn ngập ngừng với mấy đồng quan trong túi, rồi bỏ tiền ra cho ông lão và xin lỗi. Lòng thương người của tác giả tế nhị thế đó, sợ làm buồn lòng người ăn xin. Ông tự trách mình đủ điều : cố chấp, gian dối, vô trách nhiệm, sống theo bản năng, vô tình, vô tâm… Phải chăng mặc cảm tội lỗi khiến ông càng thương người hơn. Lòng thương người của ông không dùng giá trị đạo đức làm thước đo, không phân biệt hạng người này với hạng người khác, cho nên ông bênh vực cả những cô gái đứng đường : Nghĩ lại tôi cũng phần nào có lý vỗ ngực đứng vùng lên binh đĩ. Ai nói gì thì nói, tôi vẫn nghĩ làm đĩ không phải là một hạnh phúc. (Vòng chơi xóm học, tr. 244) Lòng nhân ái của Kiệt Tấn cũng dành cho Evelyne, cô gái điên. Evelyne là một bí ẩn đối với tác giả : đẹp và đài các như thế, có một mái tóc yêu kiều như thế, nhưng sao lại điên ? Tôi bồi hồi thương xót. Rồi đến cô Phượng, nạn nhân của hải tặc lúc vưọt biên, trong truyện Thiên đường vỗ cánh (Nghe Mưa). Kiệt Tấn thường dùng những từ đầy thương cảm : Hoài niệm thương động để gợi những chấn thương tâm thần của Evelyne và Phượng.

Trong hai truyện Những sợi thun đen và Năm nay đào lại nở, tác giả xúc động trước những người già không được may mắn ở quê nhà. Trong Những sợi thun đen, một ông già bơ vơ giữa một thành phố Sài Gòn ầm ĩ xe cộ qua lại. Bất cứ trời nắng hay trời mưa, ông già vẫn ngồi ở gốc một cây bàng, bán những sợi thun cắt từ ruột bánh xe, ở hai đầu dây có móc kẽm, dùng để cột những gói hàng. Ông già ốm nhom, đội cái nón cối rách vành trông thảm thương. Tác giả gọi ông là ông-già-quê-hương, vì ông chọn cây bàng làm cái nơi ngồi cố định như quê hương của ông. Tác giả luôn áy náy cho ông già, mỗi ngày đi đi về về ở sở làm đều cố ý trông chừng ông già, rồi dần dần lân la làm quen, mua dây thun giúp ông mặc dù không có nhu cầu. Rồi tiếp tục vác solex đi cày đều đều. Lại thấy ông già ngồi đó, chong ngóc một mình. Lại yên bụng, áy náy, yên bụng. Rồi nghĩ sao đó, lại tấp vô, rồi lại mua. Mua về cất đó, rồi lại quên, rồi lại mua, vân vân… (tr. 156) Về sau ông già cho biết ông gốc ở Bến Tre, có mười đứa con, vợ chết, con thì đứa theo bên này đứa theo bên kia, hai đứa con chết trong lúc đánh nhau. Ông già nói : Ở dưới tui phần giặc giã lung tung, lộn xộn quá, phần rầu vợ rầu con thúi ruột nên chịu hết nổi (…) May mà kiếm được cái nghề bán dây thun này. Nhưng bữa nọ có cuộc biểu tình Phật Giáo, sinh viên xuống đường, cái khu ông-già-quê-hương thường ngồi ở gần Đài phát thanh bị cô lập, khi trật tự vãn hồi, ông-già-quê-hương không còn đó nữa.

Rồi đến những bà-già-quê-hương trong truyện Năm nay đào lại nở, nào là bà già người Bắc di cư lượm lon, bà ta mất trí cứ loanh quanh đi tìm nhà ông Đa. Tác giả đâm lo sợ cho bà già lượm lon, thời buổi chiến tranh, hỏa tiễn, xe tăng rầm rộ. Biết đâu một ngày kia, bà già lượm lon sẽ bị một chiếc xe nghiền nát. Tôi sợ rồi một ngày nào đó cái khăn mỏ quạ, đôi giép Nhựt Bổn, mấy cái lon vừa lượm được sẽ văng tung toé (…). Người ta sẽ thu nhặt những gì còn lại của chiếc lưng còng, của hàm răng đen, của cặp kiếng đen, của một thuở bình yên bên sông Hồng, của những tình tự một thời với ông Đa. Rồi tác giả nhớ đến bà già bán cà rem của thời thơ ấu, bà có cái chuông lắc leng keng để kêu mời lũ học sinh, nhớ nụ cười móm đi kèm với cây cà rem. Sau bà-già-cà-rem là bà-già-đậu-lép, con trai bà đi lính chết, ban ngày bà giữ cháu, ban đêm bà đi bán đậu phọng lép mà con dâu bỏ ra sau khi đã chọn đậu phọng tốt để bán ở chợ. Biết bao bà-già-quê-hương mà tác giả đã gặp. Có lẽ tại vì tôi nhìn thấy quê hương qua những bà già đó, một quê hương vừa yêu dấu, vừa ngậm ngùi. Thương đứt từng khúc ruột. Viết tới đây tôi lại chảy nước mắt. Trời ơi ! Sao tôi cần quê hương đến như vậy ? (tr. 418)

Lòng nhân ái của Kiệt Tấn là vậy đó, đi từ người hành khất đến những cô gái buôn hương bán phấn, đến cô gái điên, đến cô gái thuyền nhân, rồi đến những ông già, bà-già-quê-hương ; đối với những người già này lòng nhân ái mở rộng, biến thành tình yêu quê hương bát ngát.                     

Nữ giới và người mẹ

Qua những truyện ngắn trong Em điên xõa tóc, tức những mảnh tự truyện, Kiệt Tấn kể trong đời ông, ông ở gần ba loại nhà : nhà chùa, nhà chứa và nhà mồ. Khi nhỏ thường theo mẹ đi chùa, lớn lên bắt đầu lui tới nhà chứa, và nơi nào ông cũng ở gần nhà mồ, tức nghĩa địa. Những người phụ nữ của nhà chứa và những vũ nữ là những gặp gỡ nhất thời. Thật ra, người phụ nữ nói chung có một địa vị đáng kể trong đời tác giả, từ những thiếu nữ ở miền sông nước có tên Hương, Lệ Dung, Hoa, chị Trúc, v.v…, đến những thiếu nữ Tây phương : Diane, Louise, Danyèle. Ngoại trừ người phụ nữ tên Ánh về sau là hiền thê của tác giả và là người có công tranh đấu, che chở cho đời sống tâm thần của tác giả, những cô gái vừa kể thể hiện mỗi người một chặng đường trong cuộc đời tình cảm của tác giả. Những chặng đường đưa đến sự trưởng thành của tác giả đối với nữ giới.

Khi bàn về cách đối xử của Kiệt Tấn với nữ giới, cần trở về tập truyện Nghe Mưa để có cái nhìn toàn diện hơn. Nói đến người phụ nữ, nhất là người phụ nữ Tây phương, Kiệt Tấn đôi khi đi quá trớn trong cách miêu tả tình dục với những chi tiết dài dòng, dư thừa, có thể làm cho độc giả khó chịu, chẳng hạn trong những truyện : Yêu em xứ tuyếtĐiểm hẹn cuối năm (Nghe Mưa). Ở Kiệt Tấn, tình dục là do bản năng hay do một ám ảnh dai dẳng ? Dù do bản năng hay do ám ảnh, cách giải thích này chưa đúng, cần phải nhìn xa hơn và xem tình dục nơi Kiệt Tấn là một dấu hiệu của sự thất bại về đời sống tình cảm. Trong Yêu em xứ tuyết, cậu sinh viên Kiệt Tấn được Louise, một cô gái người Québec, thật lòng yêu thương, nhưng vì say mê một người đẹp khác tên Danyèle, cậu sinh viên bèn phản bội người tình. Về phần Danyèle, cô cũng yêu cậu sinh viên, cô nói : … em hỏi thiệt, anh có yêu em không ? Tôi dụ dự : – Yêu ?… Yêu ?… Chính anh cũng không rõ là mình có biết yêu hay không nữa. Anh muốn nói biết yêu giống như tấm chân tình của em yêu anh. Nhưng chắc một điều là anh quả thiệt có si mê em. Anh si mê đắm đuối. » (Nghe Mưa, tr. 87) Cậu sinh viên tự xét mình : Phải chăng tôi đã phát điên vì tình ? (…). Đã làm tất cả mọi điều tráo trở vừa qua cũng chỉ vì quá ham mê sắc dục. (tr. 91) Trong truyện Bạch thử cô nương, người con gái hỏi : Thế còn anh, anh có yêu em không ? Tới phiên tôi lúng túng, trả lời lập lửng : – Yêu em ?… Ờ thì anh tin cũng có yêu… Anh có biết tình yêu nó ra sao đâu mà tin tưởng với lại không tin tưởng (…). Nói đúng ra có lẽ anh tìm cách trốn chạy trong tình yêu của em. (tr. 154) Trong Thư cho Lộc, Kiệt Tấn thú thật với người anh : Khốn nạn thay em có trái tim tật nguyền. Đối với đàn bà, em chỉ biết si tình và đam mê thôi chớ em không biết yêu. Em muốn nói yêu theo cái nghĩa yêu bằng một tấm lòng đằm thắm… (tr.245)

Khi một người đàn ông chỉ nhìn người phụ nữ qua sự si mê, khoái lạc, hưởng thụ, mà không có khả năng yêu người phụ nữ, chắc chắn phải có một vấn đề tâm lý nào đó. Có biết bao nhiêu người phụ nữ đã đi qua cuộc đời của Kiệt Tấn, nhưng trái tim tật nguyền của ông không có khả năng yêu. Cuối cùng những người phụ nữ ông từng gặp gỡ : Lệ Dung, Hoa, Tuyết, chị Trúc, Diane, Louise, Danyèle và bao nhiêu người khác, những người phụ nữ đó góp lại thành một người phụ nữ duy nhất đưa Kiệt Tấn vào một ngõ cụt, không lối thoát. Sau này, khi đã sống ổn định ở Pháp, tác giả có phần hoảng hốt : Tôi chưa kịp yêu đương gì hết đã thấy tuổi già sòng sộc nó thì tới sau. (Em điên xõa tóc, tr. 243)

Sự thiếu vắng tình yêu đối với nữ giới có một bí ẩn, một lý do : đó là Kiệt Tấn đã dồn hết tình thương của mình cho người mẹ. Đang sống ở Bagnolet, một ngoại ô vùng Paris, trong đêm khuya vắng vẻ nghe nhạc vọng cổ, tác giả bỗng bùi ngùi nhớ về người mẹ năm xưa. Nếu dùng ngôn ngữ hình tượng thì truyện Nụ cười tre trúc là một tượng đài để tôn vinh người mẹ, một tượng đài được tô điểm bằng những câu vọng cổ rất mùi. Mẹ của tác giả là một phụ nữ quê mùa, thất học, như đã nói, bà không biết gì về thế giới xung quanh, đến mức bà không hiểu được giọng Bắc và cho đó là tiếng ngoại quốc. Bà được diễn tả như một người phụ nữ phúc hậu và giàu lòng thương người. Một người phụ nữ suốt đời sống trong cảnh nghèo và đầy can đảm, bà không ngại nhọc nhằn đã một mình chèo xuồng về Cờ Đỏ thăm mẹ vừa bị ngã, trặc chân, đang nằm trong một chòi lá. Trong thời giặc Pháp, đang chèo thuyền trên sông bà đã không do dự cứu ngay một bé gái sắp chết đuối. Bà mộ Phật, thương thú vật, còn lòng thương người của bà thì không kể xiết. Bà khóc khi bố thí cho một nguời mù, khóc khi chia tay với các cô dâu hụt của bà, bà khóc nhiều trong thời tản cư, khóc với những kẻ nghèo khổ, đau khổ, khóc vì xúc động. Kiệt Tấn ví giọt nước mắt của mẹ mình như hạt ngọc, và ví lòng nhân ái của mẹ như cái bồ lúa : Trái tim má tôi là một cái bồ lúa mà mỗi hạt lúa là một giọt nước mắt ngọc trai má tôi tặng không cho đời. (tr.110) Khi Kiệt Tấn chào đời thì người mẹ đã bốn mươi tuổi, vì sinh đẻ nhiều và vì cuộc sống vất vả, bà có phần già mau. Nhưng nụ cười của bà thì tuyệt vời trong ký ức của tác giả, ông gọi là nụ cười tre trúcMặt bà nhăn nheo hiền hậu, cười móm (…). Buổi trưa, khi ngồi vá áo bên cửa sổ, bà ngó tôi cười móm trong vuông nắng, tự nhiên tôi có cảm giác đang nằm dưới một gốc tre già bên bờ ao, lá tre trên cao thoáng gió rì rào, giọt nắng trộn lẫn bóng lá tre nhảy nhót trên khuôn mặt tôi mát rượi, tôi thiu thiu ngủ, giấc mơ thơ thới… Ôi ! Chi xiết êm đềm nụ cười tre trúc ! Cho dù má tôi không cười thành tiếng, tôi vẫn nghe có tiếng rì rào thanh thoát của tre trúc rộng lượng chở che. (tr. 98)

Trong thời gian Kiệt Tấn tu nghiệp ở hải ngoại, xảy ra biến cố tháng tư bảy lăm, mẹ con không còn gặp nhau nữa. Một tháng sau được tin mẹ mất, nhưng người con chưa có thể hình dung được mẹ mình đã lìa đời, vô thức từ chối cái chết của mẹ, tình trạng trí óc tê liệt đó kéo dài mười năm. Rồi một hôm, sau một chầu nhậu nhẹt vào dịp Tết, người con Kiệt Tấn bỗng dưng ý thức mẹ mình đã vĩnh viễn khuất bóng, bèn khóc mùi mẫn, khóc sướt mướt, khóc đứt ruột, khóc nhào lăn trên lề đường (…) Tôi thương má tôi lắm…  Kiệt Tấn thương mẹ như thế đó. Khi xưa Út Bạc Liêu được mẹ đêm hôm chăm sóc, chữa trị bệnh ghẻ, được mẹ dẫn đi chùa, được mẹ cho ăn trái mận hiếm hoi lấy từ trên bàn thờ, và trong thời giặc giã thiếu thốn mẹ nhịn ăn để đứa con đuợc ăn chén cơm chan với nước cá, thấy con ăn ngon mẹ nở nụ cười tre trúc. Những kỷ niệm đó khắc ghi trong lòng người con.

Dù ở tuổi nào, dù sống ở đâu Kiệt Tấn cũng hướng về người mẹ, tìm hình ảnh mẹ qua những người phụ nữ khác, trước hết là những người chị. Kiệt Tấn vốn yêu thơ, làm thơ, đặc biệt ông mê thơ của Nguyễn Bính mà ông gọi là sư phụ của ông, và rồi ông cũng có những người chị như Nguyễn Bính. Người chị bao giờ cũng thay thế mẹ để chăm sóc em, đùm bọc em, và đứa em bao giờ cũng làm nũng, vòi vĩnh với chị. Ngay từ khi mới lớn, cậu em Kiệt Tấn đã yêu thầm chị Lệ Dung, bạn gái của người anh, trong truyện Lệ Dung sang Tề. Trong khi chị Lệ Dung thêu thùa thì cậu em Kiệt Tấn ngồi bên cạnh, đọc tập thơ Lỡ bước sang ngang cho chị, và ngửi thầm mùi hương bàn tay của chị qua tấm khăn thêu. Nhưng với chị Trúc trong truyện Tết này chưa chắc em về được thì cậu em đâm ra lãng mạn hơn, trong một thời gian lâu dài hơn. Trúc không phải tên thật của người chị thứ hai này, nhưng ai cũng hiểu đây là dấu ấn của chị Trúc của Nguyễn Bính. Chị Trúc của Kiệt Tấn là Người Đẹp Bình dương, nàng có đôi bàn tay làm bánh rất ngon. Mỗi năm cứ đến Tết cậu em Kiệt Tấn chép một đoạn thơ của Nguyễn Bính gửi về chị Trúc. Nhưng hồng nhan bạc phận, cuộc đời của chị Trúc bất hạnh khiến cậu em Kiệt Tấn ngậm ngùi.

Sau hai người chị, tác giả đi tìm hình ảnh mẹ qua các bà-già-quê-hương. Nói về bà-già-cà-rem, tác giả viết : Nhưng đôi khi nhìn ánh mắt mừng rỡ của bà, tiếng chuông leng keng và cái miệng móm cười không còn răng, tôi chợt thấy má tôi đang ngồi chồm hổm đó – tôi cầm lòng không đậu. Tôi bỏ ra năm cắc mua của bà cây cà rem đậu xanh (…) Bà cầm nón lá đứng dậy, má tôi đó (…). Vào lớp thầy ra hiệu cho cả lớp ngồi xuống. Tôi ngồi xuống ở bàn đầu ngó ra còn thấy má tôi đang tất tả chạy trên con đường đá xanh lởm chởm, tay vịn nón lá sợ bay mất. Rồi bóng má tôi với cái áo vá vai mờ dần trong mưa. (tr. 420, 423)

Cũng có những dấu hiệu khác đưa về người mẹ. Dấu hiệu thứ nhất là sự lưu luyến tuổi thơ, vì trong tuổi thơ nào cũng có người mẹ. Trong truyện Đi trong thành phố có nắng, tác giả nhớ đến cái Tết thời thơ ấu. Trong Em điên xõa tóc, tác giả viết : Tôi nhớ tô hủ tiếu hồi nhỏ chỉ dịp Tết mới được ăn, trên có miếng tôm chiên và lát gan khô, xịt tàu vị yểu « Hai con chuột » vô, tôi gục đầu húp tới giọt nước lèo cuối cùng. Sướng hết sức ! Ai đã đuổi tôi ra khỏi thiên đường ? Câu hỏi đột ngột, gần như sừng sộ Ai đã đuổi tôi ra khỏi thiên đường ? hàm nghĩa oán hận, vì ra khỏi thiên đường là mất mẹ. Cũng trong Em điên…  trước đĩa xúp của bệnh viện, tác giả tự nhủ : nên nghĩ đây là tô hủ tiếu hồi còn nhỏ của mày đó, ăn đi, người ta có cảm tưởng như là lời khuyên của người mẹ. Và trong tiệm kem, khi gọi ly nước bạc hà cho Evelyne : … tôi thích màu xanh lục của bạc hà, nó gợi tôi nhớ tuổi ấu thơ… Tô hủ tiếu, ly bạc hà, và Tết và nắng trên những bức tường vôi cao, tôi chẳng đòi hỏi gì hơn. (tr. 321)

Dấu hiệu thứ hai là tìm mẹ qua xúc giác ; tác giả nhạy cảm về những cái gì êm, mềm, mượt, gợi nhớ những vuốt ve của mẹ. Con vịt con có lớp lông vàng mượt khiến cậu bé Kiệt Tấn thích cà cà vào má. Nhung lụa gây nên cảm giác êm dịu, che chở, an toàn của người mẹ, thường được ghép với người phụ nữ. Với cô gái tên Hoa, cậu con trai mới lớn Kiệt Tấn khám phá : …hai ngón tay cái ve vuốt mi mắt trên bụp nhẹ của nàng và đường lông mày măng tơ. Như nhung. Cảm giác như nhung. Êm đềm chi xiết… Tôi cúi xuống cạ nhẹ môi tôi lên môi nàng. Lướt qua, khẽ lướt qua… Mướt như lụa. Tuyệt diệu. Thần tiên. Hoang đường ! Còn Evelyne thì có tóc mai nhung mượt trên hai màng tang thả xuống nhu mì.

Dấu hiệu thứ ba về người mẹ là hình ảnh cây vú sữa. Cũng mái tóc của Evelyne làm tác giả nhớ đến tàng cây vú sữa ở quê nhà, nhớ lúc đến thăm hai chị em mà người chị hẳn là chị Trúc. Trái vú sữa trong vườn trương bóng như vú căng bên trong có sữa trắng (…) Ai đã đặt tên cho trái cây đó là « vú sữa » ? Thiệt quá tài tình !

Tóm lại tình yêu mẹ quá lớn, quá bền bỉ, nó chiếm hết trái tim và hết cuộc đời của người con. Một tình yêu chế ngự đời sống tình cảm như thế, phân tâm học gọi là phức cảm Œdipe. Phức cảm này có nơi đứa bé trai – ở đây chúng ta giới hạn vấn đề ở người con trai, vì đang nói về trường hợp Kiệt Tấn – vào khoảng 3 đến 5 tuổi ; đứa bé trai yêu mẹ và muốn độc chiếm mẹ cho riêng mình, xem người cha như tình địch. Phức cảm này dần dà biến đi khi người con trai lớn lên, tiếp xúc với những người phụ nữ khác ; sự chống đối người cha biến thành lòng khâm phục. Tuy nhiên có những trường hợp phức cảm Œdipe mạnh mẽ, dai dẳn, khó giải quyết, làm cho đời sống tâm lý mất thăng bằng và khiến người con trai không có khả năng yêu một người phụ nữ nào ngoài mẹ. Trái tim tật nguyền của Kiệt Tấn cho phép nghĩ rằng Kiệt Tấn ở trong trường hợp này.

Những trăn trở siêu hình

Ngoài sự mất thăng bằng về tâm lý, có một yếu tố đã làm tác giả lâm vào tình trạng suy sụp tâm thần, đó là trí nhớ, là ký ức. Tuy được sống yên ổn ở Pháp, nhưng Kiệt Tấn bị quá khứ ám ảnh, dằn vặt, quá khứ là thời thơ ấu, là người mẹ thân yêu, là quê hương trong thời chiến, thời tác giả đi lính, có những bạn bè người chết kẻ tàn phế. Dù giận quê hương, Việt Nam vẫn còn đeo cứng trong tâm tưởng, gỡ ra bật máu, đau nhức như vết thương chưa lành. (tr. 300) Đó là quá khứ, còn ngày mai thì toàn là đen tối với viễn ảnh thất nghiệp. Tình trạng đó gây nên khủng hoảng tinh thần với những cơn điên. Tuy nhiên trong bệnh viện tâm thần tác giả vẫn sáng suốt suy nghĩ và không ngừng trăn trở về phận người. Kiệt Tấn quằn quại trong sự hiện hữu trên đời này và tự hỏi tại sao hồi đi lính ông không chết trong chiến tranh ? Ông muốn từ bỏ phận người và thèm được làm một hòn đá vô tri, không trí nhớ, không quá khứ, không tương lai. Ông có cảm tưởng mộng du trong dòng thời gian, chơi vơi giữa quá khứ và tương lai, cuối cùng ông ý thức rằng khoảnh khắc hiện tại sẽ không bao giờ trở lại nữa.

Ngày sinh nhật của Kiệt Tấn là một dịp để ông suy nghĩ tường tận về cái tôi của ông hiện diện trên đời này. Ông nói ông đâu đòi hỏi sinh ra làm người, đâu chọn lựa làm người Việt Nam. Ông tự hỏi : Tôi sinh ra do sự giao hợp của cha mẹ tôi ? Và ông trả lời : không, ông đã có trong vũ trụ. Cái tôi ở trong một dòng biến dịch vô thủy vô chung. Đâu là giới hạn của tôi trong vũ trụ ? Rượu trong ly không phải là tôi, uống vào bụng rượu trở thành tôi, bài tiết ra, rượu không phải tôi. Vậy không có ranh giới giữa cái tôi và cái không phải tôi. Ông kết luận : Tôi mật thiết với vũ trụ (…). Hôm nay là sinh nhựt của tôi. Và cũng không phải là sinh nhựt của tôi.

Kiệt Tấn nhìn nhận nếu ông có một đời sống hạnh phúc, có thăng bằng thì chẳng bao giờ ông cầm bút. Vì viết là một việc quá khó khăn : Tôi bây giờ viết một câu văn đã thấy đổ mồ hôi hột… Khi viết, tôi như người lên đồng, lúc cười lúc khóc, vật vã hành xác. Nhưng khi vào bệnh viện tâm thần : Tự nhiên tôi thèm viết, viết gì cũng được, miễn được cầm bút và ngúy ngoáy trên trang giấy trắng. Vậy Kiệt Tấn viết vì ông cần viết, vì những khủng hoảng tâm lý làm ông mất thăng bằng trong đời sống. Dù biết rõ viết là một hành động vất vả, đòi hỏi nhiều nghị lực, nhiều cố gắng của trí tuệ, nhưng Kiệt Tấn vẫn cầm bút, đi tìm sự an bình cho tâm hồn. Thời gian đã cướp đi cái thiên đường của tuổi thơ, đã cướp đi quá khứ, cho nên viết là chống lại thời gian, để tìm lại nụ cười tre trúc của người mẹ, tìm lại tuổi thơ và quê hương. Qua tự truyện của Kiệt Tấn, độc giả phát hiện một nhà văn chân thật, giàu lòng yêu thương, một nhà văn có những trăn trở siêu hình, và những trăn trở này không những là của riêng ông mà còn là của con người nói chung.