ĐỌC TRUYỆN CỦA VÕ HỒNG

Trong những năm 50, 60 của thế kỷ trước, ở Nhatrang có hai nhà giáo cầm bút : Cung Giữ Nguyên và Võ Hồng. Cung Giũ Nguyên viết bằng Pháp ngữ cuốn tiểu thuyết Le Fils de la Baleine (Đứa con của Cá Voi), do Arthème Fayard xuất bản ở Pháp năm 1956. Võ Hồng thì sáng tác truyện bằng « tiếng nước tôi » (1).

Nếu không kể truyện ngắn đầu tiên Võ Hồng viết năm 1939, khi còn ngồi ở ghế nhà trường, truyện Mùa gặt, với bút danh Ngân Sơn, thì ông thật sự trình làng với tập truyện Hoài cố nhân, năm 1959. Với tập truyện này Võ hồng khởi đầu một văn nghiệp với 5 truyện dài : Hoa bươm bướm (1966), Người về đầu non (1968), Gió cuốn (1969), Nhánh rong phiêu bạt (1970), Như cánh chim bay (1971), 7 tập truyện ngắn : Lá vẫn xanh (1962), Vết hằn năm tháng (1965), Con suối mùa xuân (1966), Khoảng mát (1966), Bên kia đường (1968), Những giọt đắng (1969), Trầm mặc cây rừng (1971), và hai truyện thiếu nhi : Áo em cài hoa trắng (1969) và Mái chùa xưa (1971). Ngoài ra, những truyện ngắn của Võ Hồng đăng rải rác trên các tạp chí trước 1975 như : Mong manh một thoáng, Cánh bướm v.v… được gom góp vào một tập truyện tựa đề : Trong vùng rêu im lặng, tái bản năm 1988.

Xem qua thì những năm 60 là những năm mà nguồn sáng tạo của Võ Hồng dồi dào nhất. Võ Hồng không sống ở Sài gòn như phần đông các nhà văn thời đó, không gian truyện của ông là miền duyên hải, từ Phú Yên, quê ông, xuyên qua Tuy Hòa đến Nhatrang là nơi ông sinh sống.

Nhà văn Võ Phiến quê quán ở Bình Định, nhà văn Võ Hồng quê quán ở Phú Yên, Bình Định và Phú Yên là hai tỉnh sát nhau, cả hai nhà văn đều gắn bó với quê của mình, đều đem đồng ruộng và bóng dáng người dân quê vào tác phẩm, mỗi người mỗi vẻ theo tài năng cá biệt của mình.

Về phần Võ Hồng, qua tình quê hương ông muốn bảo tồn quá khứ, nhưng không vì thế mà ông thờ ơ với thời hiện đại. Cũng như những người thuộc thế hệ ông, ông hấp thụ văn hóa Tây phương, ông nhắc đến nhà văn Pháp Jean Giono, nhà văn Mỹ gốc Nga Nabokov với tác phẩm Lolita, ông bàn đến một cuốn tiểu thuyết Anh một thời đã gây tai tiếng : Người tình của Chatterly phu nhân. Trong một truyện ngắn, ông trình bày nội dung cuốn Giờ thứ hai mươi lăm của tác giả gốc Rumani, Virgil Gheorghiu, để nói về thân phận bi thảm của người dân quê vào thời chinh chiến. Trả lời cuộc phỏng vấn của tạp chí Văn năm 1972, Võ Hồng cho biết ông muốn thu thập thật nhiều tài liệu để viết truyện, như Tolstoi khi viết tác phẩm Chiến tranh và Hòa bình đã có được rất nhiều tài liệu để tham khảo. Vậy Võ Hồng tuy muốn giữ gìn quá khứ, ông luôn luôn cởi mở, tìm hiểu cách sáng tạo của các nhà văn Tây phương để học hỏi thêm và làm giàu cho cái vốn văn hóa của mình.

Truyện dài của Võ Hồng thuộc loại tiểu thuyết xã hội, cốt truyện mạch lạc, đầy ắp những tình tiết gay cấn, có đủ các yếu tố để làm thỏa mãn tính nhạy cảm và sự mong đợi của độc giả bình dân. Tác giả vẽ lên một xã hội chia làm hai khối :  người giàu và người nghèo, người giàu bao giờ cũng ích kỷ, tàn nhẫn và người nghèo bao giờ cũng thiệt thòi, chịu đựng.

Ví dụ trong tiểu thuyết Nhánh rong phiêu bạt, bà Đức Lợi là một người đàn bà giàu có, nham hiểm đối với Thúy, một cô bé 12 tuồi, cùng lứa tuổi với hai cô con gái của bà, Thúy mồ côi cha mẹ, đến giúp việc ở nhà bà và bị bà bóc lột tối đa. Ông đại tá chồng bà đối với Thúy cũng không kém tàn nhẫn, Ông ta là người ham chức phận, sẵn sàng hối lộ để được làm tỉnh trưởng. Ông đại tá buộc vợ phải đuổi Thúy ra khỏi nhà lập tức vì Thúy có thể là một gián điệp của địch. Bên cạnh những người giàu có còn có những kẻ đầy uy quyền như các ông cảnh sát thẳng tay bắt bớ người dân quê lên thành phố tị nạn không có giấy tờ hợp pháp. Về phía người nghèo, có Dì Tám thương Thúy mặc dù không có bà con họ hàng gì, có chú thím Sáu, có ông thầy bói Huyền Linh, mọi người đều giúp đỡ Thúy theo sức của mình. Trong số những người nghèo cũng có người độc ác như vợ chồng ông Tư xích lô, nhưng sự có mặt của họ là để làm tăng thân phận bi đát của bé Thúy. Phần nhiều người nghèo trong truyện đều biết thương nhau.

Cách phân chia xã hội làm hai khối như thế, bên tốt bên xấu, có phần quá đơn giản, cứng nhắc, thực tế ngoài đời phức tạp hơn, và phần cuối truyện dễ đoán trước : ở hiền gặp lành, cái Thiện bao giờ cũng thắng. Nhìn xa hơn thì truyện có dáng dấp một bài học luân lý, đạo đức.

Phải đọc truyện ngắn của Võ Hồng mới thấy sự sáng tạo đa dạng của ông. Ông có óc quan sát để đưa vào truyện những khía cạnh linh tinh của cuộc sống hằng ngày ở thành thị, nào là chiến tranh gây nên nạn trai thiếu gái thừa, nào là những người con gái lớn lên trong chiến tranh đi tìm một chỗ đứng trong một xã hội đầy bất trắc, nào là những chuyện ở học đường vốn là môn sở trường của ông vì ông là một nhà giáo, những chuyện thầy trò, chuyện giữa các cô thầy, chuyện đi chấm thi, v.v…. Ngoài thành thị, thôn quê là nơi Võ Hồng có nhiều kỷ niệm tuồi thơ, truyện của ông dào dạt tình thương đối với miền quê và người dân quê. Chỉ cần xem truyện ngắn đầu tay của ông, truyện mang tựa đề Mùa gặt với bút hiệu Ngân Sơn như đã nói trên, Ngân Sơn là tên làng của ông, cũng đủ biết đây là sự báo hiệu một tình yêu quê hương rất đậm đà.

Có hai loại tình cảm thể hiện qua toàn thể truyện ngắn của Võ Hồng, đó là tình quê hương và tình người.

Tình quê hương

Đối với tác giả, những cuộc hành trình đều là một cái cớ để trở về quá khứ. Trong truyện Trở về, con đường lên Đà lạt qua ngả Tháp Chàm, đèo Ngoạn mục, Đơn Dương, v.v… được miêu tả từng chặng với những biến đổi của phong cảnh kèm theo những suy nghĩ về cuộc chiến, chặng cuối là Đà lạt, nơi ghi dấu những kỷ niệm riêng tư, thầm kín. Truyện Chuyến về Tuy hòa cũng là một cuộc hành trình đi tìm quá khứ và đặc biệt lần này là đi tìm quá khứ của quê hương. Tuy Hòa là tỉnh lỵ của Phú Yên, quê của tác giả như đã nói. Khi người kể truyện, hay tác giả ngồi trên một chiếc xe đò đang chạy, một quang cảnh hiện ra trước mắt : Những ruộng lúa của đồng Vạn ninh đang bắt đầu chín. Bốn năm năm rồi tôi không được nhìn một cánh đồng lúa chín. (…)

Lòng tôi xúc động nghẹn ngào bởi cái không khí thanh bình của nếp sống quê mùa, của thiên nhiên không hề thay đổi. Bỏ tôi giữa cảnh ấy, tôi sẽ tìm thấy lại trọn vẹn cái quá khứ êm đềm của những ngày thơ ấu, cũng bờ ruộng cỏ ướt sương đêm, cũng dòng nước mương chảy róc rách… (Trầm mặc cây rừng, tr. 76).

Tình quê khiến con người đi tìm những kẻ cùng quê để được nghe lại tiếng nói của họ : Làng tôi nằm cách Tuy hòa ba mươi cây số về hướng Bắc, và chiến tranh tàn phá nhà cửa, phân tán dân làng đi di cư khắp mọi thị trấn miền Nam. Tuy hòa thâu lượm được đông đảo bà con quê tôi (…). Tôi muốn nghe những tiếng mừng rỡ bi bô, cái giọng nói quê mùa quen thuộc không pha chế. (tr.83)

Kẻ sống xa làng quê thường muốn tìm lại hình ảnh của quá khứ. Một trong những truyện ngắn hay nhất của Võ Hồng là truyện Lễ cúng trường. Truyện kể một người đàn ông có đứa con đi học, nhân ngày Tết sắp đến, nhận được thư của nhà trường xin phụ huynh học sinh đóng góp cho cây mùa xuân. Người đàn ông bèn nhớ lại tuổi thơ của mình ở trường làng khi xưa, nhớ mình thuở đó là bé Trung 11 tuổi, đi học phải đi đò qua sông mới đến trường. Sốt ruột nhất là những ngày lụt lội, con đò chậm chạp trên sông, bé Trung còn ở bên này sông mà đã nghe tiếng trống trường bên kia sông. Ông lái đò, thường gọi là lão Nhảy, là một nhân vật quen thuộc của đám học trò, mặt ông thường lầm lì, không vui, vì lũ học trò tinh nghịch, phá phách, lại trả tiền quá ít. Nhưng những ngày gần Tết ông lão đâm lây cái vui của mọi người khiến bé Trung cảm thấy thương ông. Kỷ niệm đáng nhớ nhất là những ngày gần Tết, học trò xôn xao về vấn đề đi Tết thầy, những đứa nghèo áy náy sợ cha mẹ mình đi Tết thầy ít hơn những đứa khác. Để chuẩn bị ngày lễ cúng trường, học trò mỗi đứa đem lồng đèn đến để treo trong lớp và đóng góp tiền, những đứa giàu đóng góp nhiều hơn những đứa nghèo. Thầy giao cho ông cai trường phần việc đi mua xôi, chè, bánh trái. Cái bàn của thầy được dùng làm bàn thờ đặt giữa lớp, hai cây đèn và cái lư hương được đặt lên cùng với xôi chè. Bắt đầu lễ cúng, thầy mặc áo dài, đội khăn xếp, lầm rần khấn vái. Rồi đến lũ học trò sắp hàng ngang năm đứa, chúng ăn mặc có phần tươm tất hơn ngày thường và nghiêm trang khấn vái. Bé Trung không biết khấn ai, chợt nhớ cái cây cà te trước trường, tiếng đồn cây đó nhiều ma, lũ học trò đâm sợ, chúng sợ những lúc ham chơi vô tình đi tiểu vào cây cà te, nên chúng thành khẩn xin tạ tội với ma trên cây cà te. Trong truyện này tác giả lột tả được tâm hồn ngây thơ, vô tội của đám học trò làng ngày xưa.

Thiên nhiên tạo nên hình ảnh đồng quê, cho nên tác giả dành cho thiên nhìên một vẻ đẹp đầy lưu luyến, như chúng ta đã thấy cảnh đồng lúa chín trong Chuyến vế Tuy hòa ; trong Lễ cúng trường, người đàn ông, trước kia là bé Trung, nhớ lại :

Thật đẹp là những ngày nắng đầu mùa. Nắng vàng nhẹ, không khí trong suốt khiến cảnh vật sáng tưng bừng. Đứng ở bến đò Thiện đức có thể nhìn thấy rõ bầy bò lội qua bến đò Gạch cách đó hai cây số. Bờ tre ở Hội phú, rặng dương liễu ở Mằng lăng hiện lên thành một dải xanh ngăn ngắt và dãy núi cát ở mãi Vùng Lấm toàn một màu vàng rất nhạt, sáng óng ánh dưới ánh mặt trời. (Bên kia đường, tr. 85)

 Chẳng những thiên nhiên gắn chặt với đồng quê mà thiên nhiên, trong tưởng tượng của tác giả, còn đi kèm với cảm xúc của nhân vật. Hãy xem một người mẹ miền quê nhìn lên cây cối, lắng nghe tiếng chim kêu mà đếm ngày tháng mong đợi đứa con trai đi quân dịch trở về :

Mỗi tháng trông đợi dài bằng năm. Cây xoan trước cổng nở hoa vào lúc nó ra đi bây giờ lại nở hoa. Phải một kỳ nở hoa nữa thì nó về. Con tu hú báo hiệu mùa múi giẻ chín. Phải một kỳ tu hú kêu nữa thì nó về. Cây ổi xá lị nó xin giống ở Đồng Tròn về trồng năm kia, năm nay đã ra được hai trái. Sang năm nó về thì ổi sẽ chín đầy cành. Tha hồ nó mừng. (Bên Đập Đồng Cháy, trong tập truyện Những giọt đắng, tr. 87)

Không những thị giác mà các giác quan khác đều đón nhận thiên nhiên. Cũng trong truyện Bến Đập Đồng Cháy, cô gái tên Lụa đang mơ màng giữa cảnh thiên nhiên : Da trời xanh, cao vút, lảng vảng vài gợn mây mỏng. Mùi nhựa cây, mùi hoa dại pha với mùi đất ẩm tạo thành một mùi thơm nồng, ngây ngất. Tiếng nước đập đổ ào ào, đều đặn như một điệu ru. Lụa nằm lơ mơ nghĩ vẩn vơ. (tr. 97)

Trong truyện Mùa hoa soan, cô giáo Liên bực tức về một người học trò, nhưng thiên nhiên đã đem lại ngay cho cô sự bình thản, dễ chịu :

Trong khi ấy, để quên sự bực bội, nàng lắng nghe tiếng gió reo vi vút ở giữa những chòm phi lao bên kia đường. Hàng bông giấy mọc ở trụ cổng nhà ai kia nở ra những chùm hoa đỏ tươi. Màu hoa đỏ yêu đời tưng bừng điểm rải rác giữa nền lá xanh giúp nàng vui vui trở lại. Mùi tanh nhạt pha vị mặn của gió biển ở ngoài khơi thổi vào, cái cảm giác mát lành lạnh của nước như quạt nhẹ vào đến tận tâm hồn. (Con suối mùa xuân, tr. 78). Qua các giác quan : thính giác, thị giác, khướu giác, vị giác, thiên nhiên đã ảnh hưởng đến tâm trạng của nhân vật.

Thiên nhiên cũng làm tăng vẻ quyến rũ của giọng nói ấm áp của một người con gái : Giọng nói ấy như có chứa ánh nắng trên đồng lúa chín màu vàng, như là hơi thở của những chùm hoa màu đỏ. (Hoa khế lưng đồi, Những giọt đắng, tr. 54)

Và có lúc cây cối đem niềm vui đến cho con người : Những cây phi lao vi vút hát trên mái ngói đỏ của Chi Cảnh sát. (Trầm mặc cây rừng, tr. 83)

Trong thiên nhiên có thú vật. Võ Hồng dí dỏm khi ông miêu tả thú vật. Chẳng hạn ông biến một con gà trống thành một nhân vật đối đầu với một người  ghét gà, trong truyện Gà và Ba tôi :

Ba tôi thoăn thoắt đi vòng ra sau. Ông bắt gặp con gà nhớn nhác đứng nhìn ông bỡ ngỡ như nhìn một người khách lạ. Trông bộ nó vừa nghiêm trang oai vệ vừa ngớ ngẩn buồn cười. Cái mào đỏ chóe cắt răng cưa phe phẩy qua lại dịu dàng mỗi khi con gà làm một cử động nhỏ. Mà nó thì cử động không ngừng. Toàn thân là gân, là bắp thịt nên nó không chịu đứng yên. Cặp giò cao hết bới đến rảy. Rồi cái cổ cúi bên này, vục bên kia, cặp mắt láo liên, cái mặt ngẩng qua nghếch lại. Bộ lông màu hung đỏ láng mướt đẹp rực rỡ nhưng lũ thằng Hai vặt hết lông đuôi thành ra đầu đuôi không xứng. Nó thiếu thốn, nó ngượng ngập, nó chênh vênh thế nào ấy (…) Con gà thiếu thốn ấy đang nhìn Ba tôi. Chừng như trên mặt ông có tỏa ra đằng đằng sát khí nên con gà vụt bỏ chạy. Ba tôi rượt theo. Nó chạy dọc theo ranh rào. Ba tôi ném một viên đá. Hụt ! Con gà hoảng bay vụt trở lại (…) Thêm một viên đá ném tới. Lại hụt ! Con gà gia tăng vận tốc và vừa chạy vừa ném trả lại sau những tiếng cục tác giận dữ. Chạy đến gần cổng, tôi tưởng nó mừng mà thoát ra nào ngờ nó chạy trở lui. Thật ngu dại một cách đáng giận, tôi nghĩ (…) Ba tôi lại ì ạch chạy theo. Ý chừng đã thấm mệt nên chân trái hơi khuỳnh ra. Vừa đưổi đến sân sau thì đầu ông bị ngáng vào dây phơi áo (…) Ở góc rào, con gà cũng dừng lại chờ. Cái mào đỏ lắc lư uyển chuyển (Những giọt đắng, tr. 72-73).

Lối viết dí dỏm của Võ Hồng không giới hạn vào sự miêu tả thú vật, ông còn làm người đọc mỉm cười chẳng hạn khi ông kể việc lùng bắt một người học trò trốn học trong truyện Hãy đến chậm hơn nữa.

Tình người

Trong thế giới truyện của Võ Hồng, bên cạnh tình quê hương còn có tình người, tình người dào dạt khắp nơi, tình người đa sắc, đa dạng. Trước hết là tình yêu trẻ con trong các truyện Nhánh rong phiêu bạt, Lễ cúng trường, Mẹ gà con vịt ; rồi tình thương một người bạn bất hạnh (Hãy đến chậm hơn nữa), tình thương một người thanh niên Ấn độ trầm lặng, đôn hậu, chết trong một cuộc oanh tạc (Hãy an nghỉ, Abdul Rahim). Tình thương có thể đến bất chợt, như trong truyện Trở về, khi người kể truyện ngồi trên xe và thấy những người phu lục lộ làm việc vất vả, rồi hình dung cuộc đời buồn bã của họ, hoặc khi thấy người lính ôm súng trên chòi canh mà tưởng tượng người lính này là con của người lính cách đây hai mươi năm cũng gác ở chòi canh này ; qua hình ảnh người lính, người ta có thể cảm thấy tình thương của tác giả đối với thân phận của người lính và nỗi đau buồn vì một cuộc chiến quá dài.Trong truyện Chuyến về Tuy Hòa, tình thương nãy sinh khi trên xe đò người kể truyện tình cờ nghe một người lính nói chuyện với một người đàn bà chồng mới chết, đi lãnh tiền tử tuất. Cuộc đối thoại giữa hai người như sau :

Người lính :

– Úi zào ! Đời lính mà, sống chết là thường. Như tui đây, chết hụt cả mười lần. Tui theo trực thăng tiếp tế chiến trường. Mấy lần ở dưới đất tụi nó bắn lên hoảng quá, vụt cha nó mấy cái túi ni lông gạo xuống rồi bay vọt lên cho thoát tầm đạn.

– Lỡ gạo rớt trong tay họ thì sao ?

– Thì họ ăn chớ biết làm sao ?

Người đàn bà cười giòn :

– Như vậy là anh có tội tiếp tế cho địch. Đáng đem xử Tòa án Mặt trận.

– Chị giỏi ra ngoài đó mà điều tra lập biên bản. Nó bắn té đái trong quần. Tui là một thằng « chì », nói cho chị biết. Không hề biết né chỉ huy trưởng đâu. Hễ ra lệnh đúng thì thằng này thi hành mà ra lệnh lơ mơ thì đừng có trông.

– Bộ anh làm sao ?

– Đây chỉ biết làm theo lẽ phải. Hôm tháng trướv tui mới cự nự với Đại đội trưởng đó. Ra lệnh cho tiểu đội của tui tiến lên, nhưng tui nhất định không tiến. Tiến ẩu kiểu đó, chết đội viên của mình. Chỉ huy là phải sáng suốt. Tui bị điệu về Sài gòn, lãnh phạt trọng cấm mười ngày…

Người kể truyện hay tác giả nói : … tôi dần dần có cảm tình với anh. Giọng anh nói cười tự nhiên, như xuất phát thẳng từ tâm can chân thực.... Cái cảm tình tôi dành cho anh khiến tôi yêu luôn màu áo kaki bạc thếch, cặp đùi quá ngắn, mái tóc dài lởm chởm nơi ót. (Trầm mặc cây rừng, tr. 78-79)

 Cuộc chiến lan tràn khắp nơi khiến tình người được dành cho những nạn nhân ở thôn quê. Trong truyện Bên Đập Đồng Cháy, ba người con trai trong làng mới lớn đã lần lượt chết một cách tức tửi, bé Thúy, trong Nhánh rong phiêu bạt, đang học ở trường thì một cuộc oanh tạc làm tan nát thôn xóm của Thúy, cha mẹ anh em đều chết. Trong chốc lát bé Thúy bỗng trở nên mồ côi, không nơi nương tựa. Trong Cánh bướm, người kể truyện hết lòng bênh vực, biện hộ cho một người đàn bà nhà quê chạy loạn không có giấy tờ hợp pháp :

Hắn là nạn nhân của tình trạng xã hội nước ta, cái tình trạng bi đát độc nhất trên thế giới. Đại úy nghĩ xem có dân tộc nào bị liên miên đến hai mươi lăm năm chiến tranh dai dẳng không ? (…) Hắn mới 32 tuổi. Hắn là thân phận đàn bà. Hắn sinh ra và lớn lên ở nhà quê. Chiến tranh đi kèm theo hắn suốt từ ngày hắn mới lên bảy tuổi, cầm cái roi đi cạnh con bò cho đến hôm nay hắn trở thành người mẹ của hai đứa con cũng vừa bằng tuổi cầm roi đi cạnh con bò như hắn ngày xưa… (Trong vùng rêu im lặng, tr. 42)

Cũng trong truyện Bên Đập Đồng Cháy, một người đàn bà khác cũng là nạn nhân của chiến tranh. Bà Xự đã mất đứa con trai duy nhất, rồi còn phải rời bỏ nhà cửa để theo nhóm người di tản. Nhưng khi đến cái Đập Đồng Cháy, bà Xự nhớ lại chính nơi này khi xưa bà đã gặp người thanh niên về sau trở thành chồng bà, quá xúc động bà không còn sức đi theo nhóm người để lánh nạn.

Tình người là tình yêu tha nhân, một tình yêu thanh cao, đơn phương, nãy sinh từ những cảnh lầm than của con người, từ những hình ảnh gợi cảm, từ cách ăn nói, đi đứng của một cá nhân nào, v.v… Khác với tình yêu tha nhân, tình yêu của đôi lứa phải là tình yêu của đôi bên. Trong truyện của Võ Hồng tình yêu đôi lứa hiếm khi được toại nguyện, có khi là một tình yêu câm nín (Bọt trắng, Hãy an nghỉ, Abdul Rahim, Mùa hoa soan), có khi tình yêu không được chia sẻ vì người con gái không đồng chí hướng (Con suối mùa xuân, Hai người đàn ông), hoặc một hoàn cảnh trớ trêu gây nên xa cách (Trầm mặc cây rừng, Những giọt đắng). Riêng truyện Trầm mặc cây rừng có dáng dấp của một tự truyện, đưa người đọc vào một chuyện tình vô vọng.

Võ Hồng đi tìm quá khứ, đi tìm những tâm hồn chất phác, chân thực. Ông muốn nắm bắt những hình ảnh mà thời gian dần dần làm phai mờ. Tình quê hương và tình người là hai mặt của một tâm hồn đa cảm, hai yếu tố đã nuôi dưỡng nguồn sáng tạo của ông. Ngòi bút của Võ Hồng hướng về Thiện hơn Mỹ, và tạo cho tác giả một chỗ đứng trong nền văn học miền Nam.

(1) Nói theo bản nhạc « Tình ca »  của Phạm Duy.

 

Advertisements

NHÀ TÔI BÊN CHIẾC CẦU SOI NƯỚC

 

          Những đổi thay trong xã hội do những biến cố lịch sử gây nên thường phản ánh ít nhiều trong một trường học, nhất là trong một lớp học như lớp học của tôi, đi từ tuổi nhỏ đến hết bậc trung học. Tôi có dịp nhận xét về những đổi thay trong các lớp tôi đã từng đi qua. Năm tôi học 8ème, tức lớp nhì tiểu học, ở trường Couvent des Oiseaux, Đà lạt, lúc đó cuối thời Pháp thuộc, người Pháp chưa rời hẳn Việt Nam, trong lớp tôi chỉ có 4 học sinh Việt Nam, còn lại là học sinh Pháp, những học sinh này vẫn còn đầu óc thực dân, coi rẻ người Việt Nam. Hai, ba năm sau học sinh Pháp lần lượt biến mất, để chỗ cho một loạt học sinh từ Huế lên Đà lạt học ; không hiểu sao lúc đó học sinh các trường Đồng Khánh và Jeanne d’Arc ở Huế ồ ạt lên Đà lạt. Các bậc phụ huynh sợ con cái đi chiến khu chăng ? Hay có sự lựa chọn cho con em nền văn hóa giáo dục Pháp của ngôi trường nổi tiếng này ? Những tiếng nói qua lại ngoài giờ học nghe rất lạ tai : « Mi để cuốn sách ở mô ? », « Cái chi mà lạ rứa ? », « Tao nhớ mạ tao chi lạ ! »… Rồi khi tôi lên lớp seconde, tức lớp 10 ngày nay, một lần nữa bộ mặt của lớp học lại thay đổi : các bạn học mới của tôi phần nhiều là người Bắc di cư vào Nam, họ vẫn còn xót xa nghĩ đến quê hương vừa rời bỏ.

Trong số các bạn mới có một người không phải là di cư, một người có vẻ như biệt lập, đó là một cô gái lai xinh đẹp, tên Kim Thư. Tôi biết lờ mờ rằng gia đình Kim Thư ở Nhatrang, Thư vào Sài Gòn học một hai năm gì đó, rồi lên Đà lạt. Đôi mắt màu nâu của Thư luôn luôn đượm một vẻ buồn khiến tôi cảm thấy mến bạn, tuy nhiên chúng tôi không có cơ hội thân nhau, vì Thư ở nội trú còn tôi ngoại trú. Tuy thế chúng tôi cũng có chung với nhau nhiều kỷ niệm, như những lần đi pique–nique xa với cả lớp hay đi công tác xã hội. Nhưng kỷ niệm đẹp nhất mà tôi nhớ mãi là giọng hát của Thư. Ở trường, ngoài những giờ học có những giờ gọi là « étude », học sinh được tự do học ôn bài vở ngoài đồi, vì ngôi trường tọa lạc trên một ngọn đồi. Có lần tôi ngồi dưới gốc một cây thông, đang ôn bài vật lý để ngày hôm sau thi, bỗng một giọng hát vang lên :

                   Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước

                   Em đến tôi một lần

                   Bao lũ chim rừng họp đàn trên khắp bến xuân.

Tiếng hát trong trẻo, cao vút. Tôi ngạc nhiên vội xếp sách, nín thở để lắng nghe.

                   Từng đôi chim trong nắng riu rít ca u ù u ú

                   Hồn mùa ngây ngất trầm vương

                   Dìu nhau bên góc suối nơi ven rừng

                   Còn thấy chim ghen lời âu yếm

                   Đến đây mây núi còn chập chùng

                  Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng

                  Gột áo phong sương du khách còn ngại ngùng nhìn bến xuân.

 

                   Sương mênh mông che lấp kín non xanh

                   Ôi cánh buồm nâu còn in trên sóng xuân

                   Ai tha hương nghe ríu rít oanh ca

                   Cánh nhạn vào mây thiết tha

                  Lưu luyến tình vừa qua.  (1)

                 

Tôi lần mò đến gần lùm cây nơi có tiếng hát. Thì ra Thư đang ngồi hát một mình !

– Trời ! Bạn hát hay quá ! Thế mà lâu nay giấu tài nhé !

Thư mỉm cười, trong ráng chiều trông Thư còn đẹp hơn thường ngày. Từ đấy giọng hát của Thư vẫn đeo đưổi tôi.

         Chúng tôi học chung với nhau đến tú tài. Sau đó còn gặp nhau, nhưng không lâu, ở Đại học Văn khoa Sài Gòn. Rồi Thư đi Pháp trước tôi. Từ đó chúng tôi bặt tin nhau.

         Năm 1989, một buổi tối ở Paris, tôi đang nghe nhạc, thình lình điện thoại reo. Có tiếng một người bạn thúc tôi : « Hãy mau mau xem « Apostrophes » trên kênh truyền hình Antenne 2, có Kim Thư … » Tôi vội bật máy. « Apostrophes » là buổi truyền hình văn hóa hằng tuần, Bernard Pivot mời nhiều vị khách, thường là những nhà văn nổi tiếng như Marguerite Duras, Soljenitsyne, v.v… để phỏng vấn và tranh luận, ông cũng mời những người trẻ vừa có tác phẩm xuất bản và được chú ý. « Apostrophes » đạt nhiều kết quả tốt đẹp bất ngờ : mỗi tuần có được hai triệu người xem, sự kiện này ảnh hưởng đến số lượng sách bán trên thị trường. Thế là tôi được thấy Kim Thư trên màn ảnh nhỏ sau bao năm vắng tin. Thư đã nghiễm nhiên trở nên một nhà văn ở cái thủ đô ánh sáng này, với bút danh Kim Lefèvre, tôi đoán Thư đã lập gia đình với một người Pháp. Sở dĩ Thư đưọc Bernard Pivot mời là vì Thư có cuốn tự truyện : « Métisse blanche » vừa ra mắt độc giả Pháp. Hôm đó người xem truyền hình phát hiện một phụ nữ duyên dáng có hai dòng máu Pháp-Việt đang kể lại cuộc hành trình của đời mình. Chúng tôi, lũ bạn của Thư, mới vỡ lẽ là mình không biết gì nhiều về người bạn lai cùng học chung với mình năm xưa ; chúng tôi vội đi mua cuốn « Métisse blanche ».

         Đọc Thư, tôi mới hiểu phần nào nỗi u buồn trong đôi mắt bạn khi còn ngồi dưới mái trường xưa. Thì ra Thư chào đời mà không biết cha của mình là ai. Thư sống với mẹ và mang tên họ của người bố dượng, họ Lâm : Lâm Kim Thư. Thuở lớn lên, Thư sống với mặc cảm của người con lai. Xã hội Việt Nam thời đó có tinh thần chống thực dân Pháp, nên khắc nghiệt với những đứa con lai, dấu tích của thực dân để lại. Người con lai cảm thấy bị gạt bên lề, thậm chí bị ruồng bỏ, khinh khi. Trong « Métisse blanche », Thư kể lại cuộc đời của mình ở Việt Nam, tuổi thơ và tuổi lớn lên ở Nhatrang ; rồi vì một mối tình ngang trái, Thư phải bỏ Nhatrang vào Sài Gòn tìm quên lãng. Một người đàn bà giàu có nhận làm mẹ đỡ đầu cho Thư và gửi Thư lên Đà Lạt học. Nhưng bà mẹ đỡ đầu này luôn luôn vắng bóng, vô cảm, mà Thư thì khao khát được thương yêu. Nhatrang, Sài Gòn, Đà lạt, nơi nào Thư cũng cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Thư có cảm tưởng như bị đời hất hủi và xem việc rời khỏi Việt Nam như một vĩnh biệt, vĩnh biệt cái xứ mà Thư tự hỏi có phải là quê hương của mình không.

         Thư nổi tiếng ngay với cuốn « Métisse blanche », rồi những tác phẩm khác lần lượt xuất hiện : « Retour à la saison des pluies », « Moi, Marina la Malinche », « Les Eaux mortes du Mékong ». « Métisse blanche » được dịch ra Việt ngữ dưới tựa đề : « Cô gái lai trắng », và sắp được dịch ra Anh ngữ. Ngoài ra, các nhà làm sách giáo khoa Pháp xin phép tác giả được in vài trích đoạn của cuốn sách cho học sinh đọc.

 Nhà văn Kim Lefèvre còn là dịch giả của Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp và Phan Thị Vàng Anh.

         Quả đất này xem ra nhỏ bé thật ; rồi mọi người không sớm thì muộn cũng gặp lại nhau. Tôi gặp lại Kim Thư, và tình bạn chúng tôi trở nên thân thiết hơn xưa. Những đau khổ, nổi loạn, uất ức trong lòng Thư khi xưa nay đã lắng xuống. Thư nhìn về quá khứ với một tâm hồn thanh thản, vẫn thương yêu, ôm ấp hình ảnh người mẹ Việt Nam của mình.

(1)Bản nhạc « Đàn chim Việt » của Văn Cao, Phạm Duy đổi lời và đổi tên thành « Bến Xuân ».