BAUDELAIRE, NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG CHO THƠ HIỆN ĐẠI

Ở Trung tâm W.T. Bandy Center for Baudelaire and Modern French Studies của Đại học Vanderbit (Nashville, Tennessee) có một thư mục gồm trên 60.000 cuốn sách về Baudelaire. Năm 2002 tại Pháp, lại có thêm một cuốn tự điển về Baudelaire : cuốn « Dictionnaire Baudelaire » của Claude Pichois. Không kể Baudelaire còn là đề tài của nhiều luận án tiến sĩ. Tất cả những sự kiện đó chứng tỏ Baudelaire có tầm cỡ lớn khiến ông trở thành một tên tuổi của văn học thế giới. Baudelaire là một nhà phê bình nghệ thuật, một dịch giả, nhưng trước tiên ông là một nhà thơ.

Bài L’Albatros (Chim hải âu), một trong những bài thơ nổi tiếng của Baudelaire, kết thúc bằng đoạn thơ sau đây :

                   Le Poète est semblable au prince des nuées

                   Qui hante la tempête et se rit de l’archer ;

                   Exilé sur le sol au milieu des huées,

                   Ses ailes de géant l’empêchent de marcher.

 

Người thi sĩ như (chim hải âu,) đế vương trên chín tầng mây

Chim bay trong bão táp và nhạo cười kẻ dương cung bắn ;

Bị đày xuống mặt đất giữa những tiếng la ó,

Hai cánh khổng lồ ngăn trở bước chân chim.

Đó là hình ảnh của Baudelaire, người thi sĩ bị đày xuống trần thế. Baudelaire đã sống kiếp lưu đày như thế nào ? Đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật ra sao ? Thi phẩm Les Fleurs du Mal của ông có ảnh hưởng gì đối với thi ca Pháp và thi ca Việt Nam ?

I Một cuộc đời sống cho thơ

Charles Baudelaire sinh ngày 9-4-1821, tại Paris. Lúc đó người cha đã 62 tuổi, và người mẹ 27 tuổi. Sáu năm sau Baudelaire mồ côi cha. Mẹ ông tái giá với một viên sĩ quan, ông Jacques Aupick.

Baudelaire rất yêu mẹ và căm ghét người bố dượng, ông không bao giờ tha thứ sự tái giá của mẹ, và ông trách bà đã làm tan biến những kỷ niệm của người cha khuất bóng. Lòng căm ghét người bố dượng ngày càng tăng thêm. Nhưng ông Aupick không phải là một người độc ác, ông ham thích địa vị và ông ao ước đứa con của vợ ông sẽ có một cuộc đời nền nếp, một cái nghề vẻ vang, ông không có khả năng để đoán rằng đứa trẻ khó dạy kia có một thiên tài. Qua người bố dượng, Baudelaire sẽ căm ghét cái lý tưởng của giới tư sản. Thêm nữa ông Aupick là một trở ngại cho những gì Baudelaire yêu thích : người mẹ, thi ca và mơ mộng.

Năm 1839, Baudelaire bị đuổi khỏi trường Louis-le-Grand ở Paris, vì không chịu tố cáo một người bạn, cùng năm đó ông thi đỗ tú tài. Baudelaire ương ngạnh không chịu học luật và bắt đầu xung khắc với người bố dượng. Ông lui tới với một nhóm thanh niên say mê văn chương. Ông có những thái độ đầy khiêu khích, đi lại chơi bời với các cô gái điếm hạ cấp và mắc bệnh giang mai. Baudelaire tiêu xài rộng rãi và có nhiều món nợ lớn. Gia đình phản ứng bằng cách áp đặt một hội đồng pháp lý để rút lại quyền tự do sử dụng tài sản của Baudelaire. Khi đến tuổi trưởng thành, Baudelaire báo cho gia đình biết ông có ý muốn trở thành một nhà văn. Nhờ lợi tức hằng năm, ông trở nên một người khá giả. Nhưng chẳng bao lâu ông phung phí tài sản, nợ nần chồng chất nhanh chóng. Kể từ đó cuộc đời của Baudelaire trở nên chật vật.

Năm 1843, Baudelaire gặp Jeanne Duval, một phụ nữ lai đen 20 tuổi, mà Théodore de Banville, nhà thơ của trường phái Thi Sơn, tả như sau : Đó là một cô gái da đen, rất cao, với bộ mặt ngây thơ và tuyệt đẹp, một mái tóc quăn tít và trong cái dáng đi của một nữ hoàng, đầy một vẻ kiều diễm chưa thuần, có cái gì vừa thần thánh vừa thú vật. Giữa Jeanne Duval và Baudelaire khởi đầu một cuộc tình đầy sóng gió. Jeanne Duval thu hút Baudelaire và sẽ không ra khỏi cuộc đời của ông. Cô ta là một người vô học, thiếu đạo đức, phản bội Baudelaire mà không ngượng ngùng, luôn luôn tìm cách làm tiền Baudelaire và tỏ ra vô ơn. Đối với Baudelaire, Jeanne Duval là con thú đẹp vừa tội lỗi vừa khó cưỡng lại được. Đã nhiều lần Baudelaire tìm cách đoạn tuyệt, nhưng rồi ông cũng trở lại với cô ta. Về sau, bị bệnh hoạn và tật nguyền, Jeanne Duval không còn sức quyến rũ nữa, nhưng Baudelaire vẫn chăm sóc cô ta.

Năm 1845, Baudelaire bắt đầu dùng ma túy khiến ông có những thời kỳ ủ rũ. Cùng năm đó, ông cho in một cuốn sách mỏng về phê bình nghệ thuật, cuốn Salon de 1845 (Phòng triển lãm năm 1845), cuốn sách không được công chúng chú ý. Bị ám ảnh vì sự thất bại đó và vì sống trong tâm trạng mà Baudelaire gọi là « spleen » (tâm trạng buồn chán), ngày 30-6-1845, Baudelaire tự tử hụt. Sau cơn tuyệt vọng đó, năm 1846, ông cho ra mắt một cuốn Phòng triển lãm thứ 2 : Salon de 1846, ca tụng danh họa Delacroix.

Baudelaire tham gia cuộc cách mạng 1848. Sở dĩ ông căm ghét chế độ quân chủ tháng 7 (Monarchie de juillet) là vì chế độ này là hiện thân của những giá trị của giới tư sản được cái nghề của người bố dượng bênh vực. Suốt đời, Baudelaire ghét hệ giá trị của giới tư sản dựa vào sự tôn thờ đồng tiền và lòng tin vào sự tiến bộ. Con người Baudelaire là một con người không theo thời, một con người phản kháng mà sự nổi loạn còn quan trọng hơn cả những nguyên do của sự nổi loạn. Baudelaire có ý muốn khiêu khích, tạo sốc đến tột độ, chứ không có ý muốn dấn thân vào đường chính trị. Sau cuộc đảo chính ngày 2-12-1851, Louis Napoléon Bonaparte tự xưng hoàng đế; kể từ đó Baudelaire tỏ ra ghê tởm chính trị.

Song song với những hoạt động chính trị nhất thời, Baudelaire sống một tình yêu mới với nữ diễn viên Marie Daubrun, cô sẽ là một trong những người phụ nữ gây cảm hứng cho ông, ông khám phá nhạc của Richard Wagner và say mê truyện ngắn của nhà văn Mỹ Edgar Poe. Với Edgar Poe, bắt đầu sự kết hợp giữa một người sống và một người chết. Baudelaire tin rằng mình đã gặp kẻ song trùng. Năm 1854, ông bắt đầu cho đăng bản dịch « Truyện lạ thường » của E. Poe. Cuộc gặp gỡ với E. Poe là cuộc gặp gỡ đáng kể nhất trong đời Baudelaire. Phải nói gặp gỡ hơn là ảnh hưởng. Baudelaire đã tìm thấy trong tác phẩm của E. Poe sự xác nhận những đau khổ, những niềm tin sâu xa nhất của chính mình. Nỗi cô đơn của Poe, người say mê cái đẹp trong một nền văn minh chỉ biết cái lợi ích vật chất, chính là nỗi cô đơn của Baudelaire. E. Poe tìm sự giải thoát bằng nghệ thuật và bằng những « thiên đường giả tạo », điều đó Baudelaire hoàn toàn thông cảm và chia sẻ. Baudelaire cũng tìm thấy trong tác phẩm của Poe cái lý thuyết của ông về sự tương hợp giữa các giác quan. Tình huynh đệ thiêng liêng đó được thể hiện bằng sự thành công lâu dài của bản dịch các truyện của E. Poe. Với một sự hiểu biết Anh ngữ còn nhiều khuyết điểm, Baudelaire đã bắt tay vào một công trình dịch thuật cho đến ngày nay vẫn đứng vững với thời gian và làm nản chí những kẻ muốn bắt chước ông.

Từ 1852 đến 1864 là thời kỳ sáng tạo dồi dào nhất. Trong thời kỳ này, Baudelaire cho xuất bản thi phẩm Les Fleurs du Mal, cuốn sách ra mắt độc giả ngày 25-6-1857, và bị báo chí, nhất là báo Le Figaro chỉ trích thậm tệ. Ngày 20-8-1857, thi phẩm Les Fleurs du Mal bị kết án xúc phạm đạo đức công cộng và thuần phong mỹ tục. Cũng trong thời kỳ này, Baudelaire cho ra mắt một tiểu luận : Les Paradis artificiels (Những thiên đường giả tạo) (1860), tiểu luận này đã gây tiếng vang về những hậu quả của ma túy. Baudelaire cũng cho đăng nhiều bài phê bình về hội họa, âm nhạc và mỹ học khái quát, và ông bắt đầu viết những bài thơ văn xuôi về sau mang cái tựa đề Le Spleen de Paris-Petits poèmes en prose.

Sau khi đoạn tuyệt với Marie Daubrun, Baudelaire yêu bà Sabatier, mối tình này có tính cách huyền bí và là nguồn hứng của một số bài thơ như bài Harmonie du soir (Hòa điệu buổi chiều). Nhưng Baudelaire đã nhanh chóng xa rời bà Sabatier, vì trong khi ông lý tưởng hóa bà ta như « Thiên thần », « Nàng thơ », « Đức Mẹ », thì trái lại bà đã hiến thân cho ông như một phụ nữ tầm thường.

Năm 1861, khi Lacordaire chết, Baudelaire xin vào Viện Hàn lâm Pháp thay thế Lacordaire. Nhưng ông không ý thức được thái độ khai trừ của Hàn Lâm Viện đối với một nhà thơ tiền phong, bị gạt ra ngoài xã hội và bị tòa lên án như ông. Cuối cùng Baudelaire đành phải rút đơn.

Trước nhiều thất bại, Baudelaire quyết định qua Bỉ để thực hiện những buổi nói chuyện, và đồng thời để thương lượng việc xuất bản những tác phẩm phê bình nghệ thuật của ông. Nhưng ở Bỉ Baudelaire chỉ có một cử tọa thưa thớt, và khoảng tiền thù lao ông nhận được quá ít so với khoảng tiền ước định. Sự tức giận nước Bỉ biến thành lòng căm ghét. Baudelaire bắt đầu viết một bài đả kích nước Bỉ, cái xứ mà ông không sao rời khỏi được. Ông túng thiếu nhưng nhất định chỉ trở về Pháp trong sự vẻ vang.

Năm 1866, đang ở Bỉ Baudelaire bị bệnh giang mai hành, gây nên những chứng đau đầu và đau dây thần kinh. Ông ngất xỉu tại Namur và bị bại liệt. Được đưa về Paris, Baudelaire mất ngày 31-8-1867, thọ 46 tuổi.

Năm 1949, một nghị quyết của Tòa Phá Án Pháp đã khôi phục danh dự cho Baudelaire.

II Les Fleurs du Mal hay thân phận của một nhà thơ bị nguyền rủa

Tác phẩm của Baudelaire gồm nhiều thể loại : thơ, thơ văn xuôi, tiểu luận phê bình, dịch thuật. Nhưng quan trọng nhất và nổi tiếng nhất là thi phẩm Les Fleurs du Mal.

Khác với Victor Hugo, tác giả của nhiều thi phẩm, Baudelaire là con người của một thi phẩm duy nhất. Điều đó có nhiều lý do. Cách viết của Baudelaire cô đặc và không nhanh chóng. Ông không vội vàng cho xuất bản. Cuộc đời của ông lại ngắn ngủi. Baudelaire đã tập trung trong một thi phẩm kinh nghiệm và thực chất của trọn một đời.

Cái tựa đề Les Fleurs du Mal là một khám phá rất hay, đặc biệt thích hợp với tác phẩm và tác giả. Nó có một mãnh lực gợi ý : vừa đủ rõ ràng về ý nghĩa, vừa đủ mập mờ để không dừng lại trong ý nghĩa. Qua cái tựa đề đó ta có thể liên tưởng đến chiều kích triết lý sâu xa, nghi ngờ một sự táo bạo có thể gây tai tiếng. « Fleurs du Mal » là bông hoa của tội lỗi, sự va chạm của hai cụm từ « bông hoa » và « tội lỗi » làm bật ra một phản đề. Ý nghĩa là cái đẹp mà người ta chiết ra từ tội lỗi. Và tội lỗi cũng có nghĩa là đau khổ. Mặc dù trên bình diện triết học, hai cụm từ « bông hoa » và « tội lỗi » được liên kết với nhau, nhưng một cách mập mờ chúng đưa đến hai loạt hình tượng : những bông hoa được hái trên một cánh đồng của đau khổ, hay sự hài lòng đối với tội lỗi vì nó có một khả năng thẩm mỹ phong phú.

A/ Cấu trúc của Les Fleurs du Mal

Đối với Baudelaire, làm thi sĩ là tìm lại thực chất của bản thể qua những thử thách và những điều nhục nhã của cuộc đời. Do đó những bài thơ trong Les Fleurs du Mal đã được tác giả sắp xếp một cách nhất quán. Tác phẩm gồm 7 phần : « Au lecteur » (Gửi bạn đọc), « Spleen et Idéal » (Spleen và Lý tưởng), « Tableaux parisiens » (Những bức họa Paris), « Le vin » (Rượu), « Fleurs du Mal » (Bông hoa của tội lỗi), « Révolte » (Nổi loạn) và « La mort » (Cái chết).

Trong phần đầu, « Au lecteur », chiều kích siêu hình rất rõ ràng. Con người chìm vào tội lỗi. Quỷ Satan đắc thắng ở trần gian.

Câu hỏi « Làm sao thoát khỏi tội lỗi ? » được đặt ra trong phần 2, Spleen et Idéal. Có hai cách. Thứ nhất : thoát khỏi tội lỗi bằng nghệ thuật. Theo Baudelaire, nghệ thuật là con đường chắc chắn nhất và gồm ba yếu tố : sự cao cả, sự khốn khổ và lý tưởng về cái đẹp của nhà thơ. Thứ hai : thoát khỏi tội lỗi bằng tình yêu. Hơn nửa phần của Spleen et Idéal nói về tình yêu được chia ra làm 4 chu kỳ cho những người phụ nữ đã từng là nguồn thi hứng của Baudelaire : Jeanne Duval, Marie Daubrun, bà Sabatier và những người phụ nữ khác. Hai giải pháp để thoát khỏi tội lỗi – nghệ thuật và tình yêu – đều đi đến thất bại, thất bại của lý tưởng, và gây nên tâm trạng buồn chán mà Baudelaire gọi là « spleen ».

Spleen et Idéal nói lên trải nghiệm riêng tư của Baudelaire, các phần tiếp theo nói về trải nghiệm của mọi người.

Những bài thơ trong Tableaux parisiens có tính chất xã hội, vì chúng hướng về sự đoàn kết của con người nơi đô thị, và đượm tình bác ái. Đồng thời một tình cảm rất mới mẻ, rất hiện đại xuất hiện, đó là nỗi cô đơn của con người, đặc biệt cô đơn của những người khốn khổ trong cộng đồng người dân đô thị.

Le vin, trong phần thứ 4, là một khái niệm đã tiến triển trong tư duy của Baudelaire. Trong bối cảnh của cách mạng 1848 và dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội của Fourier, « rượu là để cho người dân lao động xứng đáng được uống ». Dần dần rượu được đưa vào phạm trù các « thiên đường giả tạo » và trở nên một trong những cố gắng hỗn độn và đáng lên án của con người, để thoát khỏi những đòi hỏi của định mệnh.

Theo Antoine Adam, những bài thơ trong phần 5, Fleurs du Mal, đánh dấu  những trò chơi của một nghệ sĩ thích đi quá xa trong những táo bạo của một chủ nghĩa lãng mạng gây tai tiếng nào đó. Baudelaire đã dùng sự khiêu khích quá độ.

Phần 6, Révolte, chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc của tác phẩm. Nếu cho rằng sự nổi loạn là một phương tiện của con người để vượt khỏi cái định mệnh khốn khổ, thì điều đó hiển nhiên. Baudelaire không nói lên sự nổi loạn của riêng ông, mà sự nổi loạn của tất cả nhân loại, và không những ông đặt ra vấn đề chính đáng của sự nổi loạn mà còn đặt vấn đề hiệu nghiệm của nó. Điều chính yếu là sự nổi loạn được trình bày như một giải pháp sai lầm. Giải pháp duy nhất cho chúng ta để thoát khỏi một thế giới tội lỗi chính là cái chết.

Cuối cùng, trong phần 7, cái chết được tiếp đón không hãi hùng. Chỉ có cái chết mới cứu khỏi được sự buồn chán.

Cấu trúc của Les Fleurs du Mal làm nổi bật những ý sau đây : người thi sĩ được ca ngợi và bị nguyền rủa, con người bị sự u buồn và lý tưởng giày vò, người phụ nữ là thú vật và cũng là thiên thần, thế giới của chúng ta bị Địa ngục và Thiên đường khích động. Baudelaire cho rằng trong con người có hai sự cầu khẩn cùng một lúc, cầu khẩn Thượng Đế và cầu khẩn quỷ Satan.

B/ Các chủ đề trong thi phẩm Les Fleurs du Mal

Thơ của Baudelaire được sáng tạo qua 3 chủ đề lớn : thiên đường đã mất, nơi khác và tâm trạng spleen.

Cái gì làm nên thiên đường ? Đó là tuổi thơ, thời đại hoàng kim và kiếp trước. Proust đã viết : Les vrais paradis sont les paradis qu’on a perdus. (Những thiên đường thật sự là những thiên đường mà người ta đã mất). Baudelaire, ngay cả trong những thời kỳ đen tối của đời ông, không tin rằng tuổi thơ là một thiên đường đã hoàn toàn mất.

Baudelaire nhắc lại một tuổi thơ sung sướng trước khi bà mẹ tái giá, trong hai bài thơ, bài : Je n’ai pas oublié, voisine de la ville, / Notre blanche maison, petite mais tranquille… (Tôi không quên, cạnh thành phố, / Ngôi nhà màu trắng của chúng ta, nhỏ bé mà yên tĩnh) và bài : La servante au grand cœur dont vous étiez jalouse (Bà giúp việc có tấm lòng quảng đại mà bà ganh tị…). Trong thời gian góa bụa, bà mẹ thường ở với Baudelaire trong một ngôi nhà ở Neuilly-sur-Seine. Trong một bức thư gửi cho mẹ, đề ngày 11-01-1858, Baudelaire viết : Vậy mẹ không để ý sao, trong cuốn Les Fleurs du Mal có hai bài thơ liên quan đến mẹ, hay ít ra ám chỉ những chi tiết mật thiết của đời sống khi xưa của chúng ta, của cái thời mẹ ở góa, thời đó để lại cho con những kỷ niệm lạ lùng và buồn bã, một bài là :  « Tôi không quên, cạnh thành phố… » (Neuilly) và bài tiếp theo là : « Bà giúp việc có tấm lòng quảng đại mà bà ganh tị » (Marinette). Con không đặt nhan đề cho những bài thơ đó và không đưa ra những chỉ dẫn rõ ràng, bởi vì con ghét làm hoen ố những chuyện thân mật của gia đình. (1)

Thời đại hoàng kim cũng là hình ảnh của thiên đường. Leconte de Lisle, trong nhóm Thi Sơn, và những tác giả khác cùng thời với Baudelaire xem tôn giáo đa thần của Hy lạp thời cổ đại như tuổi trẻ của thế giới mà khái niệm tội lỗi của Thiên Chúa giáo làm cho trở nên đen tối. Theo quan niệm Hy lạp, thế giới khi xưa trẻ trung và đẹp, các bản năng được tự do nảy nở, con người sống trong sự hài hòa. Trong bài thơ La Géante (Người phụ nữ khổng lồ), khi nói đến sự tự do của bản năng giới tính, Baudelaire cũng có những ý tưởng gần với quan niệm Hy lạp.

Kiếp trước cũng là một thiên đường đã mất. Hồi ức của Baudelaire, cũng như hồi ức của Platon (2), được liên kết với khái niệm của một hạnh phúc xa xưa, bắt nguồn từ trong linh hồn và cũng là nơi mà linh hồn khao khát được trở về. Bài thơ La vie antérieure (Kiếp trước) gợi lại những cảm tưởng như « đã thấy rồi », tức là kiếp trước.

Nếu nhà thơ ao ước một thế giới khác, có nghĩa là thế giới này không phải là xứ sở thật sự của ông. Dưới trần thế, linh hồn bị lưu đày, do đó chủ đề lưu đày rất quan trọng trong thơ của Baudelaire. Sự lưu đày của con thiên nga, của con chim hải âu chính là sự lưu đày của nhà thơ. Cho nên phải tìm một lối thoát bằng giác quan, bằng cuộc hành trình tình cảm, bằng rượu, bằng giấc mơ Paris và cuối cùng bằng cái chết.

Trước hết lối thoát bằng giác quan. Trong cuốn Les Fleurs du Mal tình yêu nhục dục hoàn toàn ở trong chu kỳ Jeanne Duval. Giác quan rạng rỡ được ca ngợi trong hai bài thơ : Parfum exotique (Hương thơm xứ lạ) và La Chevelure (Mái tóc). Trong bài La Chevelure, bộ ngực và mái tóc của nữ thần Vénus da đen, tức Jeanne Duval, là khởi điểm của một cuộc hành trình đến những bờ biển hạnh phúc hay những khí hậu đầy sức lôi cuốn được đồng hóa với khí hậu của Á châu, Phi châu. Cái nét độc đáo của Baudelaire là làm cho trí tưởng tượng khởi đầu bằng khướu giác. Mái tóc vốn có một hình tượng truyền thống là rừng, đã được Baudelaire đem lại cái mới là hương thơm :

Cả một thế giới xa xôi, vắng bóng, gần như đã chết,

Đang sống trong chốn sâu thẳm của em, một rừng thơm. (3)

Cũng như giác quan đưa đến một nơi khác, cuộc hành trình tình cảm cũng đưa Baudelaire đi xa. Trong chu kỳ Marie Daubrun, khởi điểm của bài thơ L’Invitation au voyage (Mời đi xa) không phải là một mái tóc mà là đôi mắt xanh của Marie Daubrun. Ánh mắt của cô gợi cho Baudelaire một phong cảnh ở Bắc Âu, đầy ánh sáng và ướt át.

Rượu cũng là một lối thoát. Bài thơ Le vin des amants (Rượu của những tình nhân) ca ngợi rượu vì nó đưa đến cái thế giới mộng tưởng.

Một lối thoát khác nữa là Giấc mơ Paris. Rêve parisien là giấc mơ của một nhà kiến trúc đô thị, nhà kiến trúc loại bỏ mọi yếu tố của thiên nhiên. Trong giấc mơ Paris không còn cây cối, không còn sự sống : tất cả đều được tưởng tượng theo hình học. Điều chắc chắn là đối với Baudelaire giá trị của nghệ thuật là thoát khỏi thiên nhiên. Trong bài Salon de 1846, ông viết : Công việc đầu tiên của một người nghệ sĩ là thay thế thiên nhiên bằng con người và phảng kháng thiên nhiên.  Baudelaire cho rằng thiên nhiên không hề là một người mẹ hay một người hướng dẫn, thiên nhiên là một thứ tội lỗi. Thay vì chìm đắm trong thiên nhiên, điều quan trọng là thoát khỏi nó. Và chẳng những nghệ thuật là cái phương tiện thoát khỏi thiên nhiên, mà nghệ thuật còn được định nghĩa trong cái thế đối lập với thiên nhiên. Nhưng giấc mơ Paris đi đến thất bại, vì nhà thơ chạm phải một thực tế phủ phàng : căn nhà tồi tàn của mình.

Vậy nghệ thuật và tất cả những cố gắng trên đời này để đi tìm một «nơi khác» đều thất bại. Như vậy mọi thoát khỏi mà không phải là một lên đường ra ngoài trần thế là một ảo tưởng chăng ? Đó là chủ đề của bài thơ rất dài và là bài thơ cuối cùng của Les Fleurs du Mal, bài Le Voyage (Cuộc hành trình). Và như thế, « nơi khác » cuối cùng là cái chết.

Chủ đề lớn sau cùng là tâm trạng spleen. Để nói lên tâm trạng buồn chán, Baudelaire chọn một từ của Anh ngữ : « spleen ». Từ « spleen » xuất hiện trong Pháp ngữ vào thế kỷ 18 và lan tràn trong văn học vào đầu thế kỷ 19. « Spleen » có nghĩa nỗi buồn chóng qua, vô cớ, mà đặc tính là sự chán chường mọi thứ.

Trong thơ Baudelaire, « spleen » có một tiếng vang đặc biệt. Có khoảng 8 bài thơ nói về tâm trạng spleen, trong đó 4 bài mang cùng tựa « Spleen ». Đối với Baudelaire spleen không phải chỉ là một sự buồn chán đơn giản, chóng qua hay một nỗi buồn nhẹ nhàng mà là nỗi đau đớn trong tâm hồn, là trăn trở về vấn đề hiện hữu trên đời này, là một nỗi lo sợ siêu hình và là cái cảm tưởng mình không thích đáng với chính mình và với cuộc đời. Spleen là sự buồn nôn về thể xác lẫn tâm hồn, là địa ngục ở trần thế, ngược lại với những mơ ước thiên đường của Lý tưởng. Phần đầu của tập thơ mang cái tên Spleen et Idéal. Spleen và Lý tưởng, hai khái niệm trái ngược nhau nhưng liên kết với nhau. Vì chính khi Baudelaire đặt lý tưởng quá cao mà ông gặp phải những thất vọng, những thất bại khiến ông ghê tởm cuộc sống. Cho nên người thi sĩ là người chuốc lấy tai hoạ nhiều nhất. Sự khao khát lý tưởng càng lớn, thì cuộc sống càng khó có thể chịu đựng. Và lý tưởng đối với người nghệ sĩ là cái đẹp.

III Quan niệm hiện đại về cái đẹp của Baudelaire

Trước hết khái niệm thẩm mỹ được thể hiện qua mẫu người « dandy ». Từ « dandy », ở Anh vào đầu thế kỷ 19, được dùng để chỉ một loại người thuộc hạng quý tộc có một lối trau chuốt quá đáng trong cách ăn mặc và trong cử chỉ, một vẻ lạnh lùng không tự nhiên, một sự ngạo mạn lễ phép và hoàn toàn dửng dưng với dư luận, nếu không nói là để khiêu khích dư luận.

Baudelaire đã làm cho mẫu người phong nhã dandy này tinh tế hơn để trở thành hiện thân của lý tưởng thẩm mỹ của ông. Theo Baudelaire, người dandy là một người nhàn rỗi, tức là vô ích về phương diện xã hội. Người dandy kìm nén tính tự nhiên, chăm sóc áo quần hơn là thể xác, sự giả tạo hơn là sự thành thật, cử chỉ hơn là mục đích của cử chỉ, cái bề ngoài hơn là bản chất. Nói chung, người phong nhã dandy trau dồi cái đẹp đến hy sinh cái thật, cái tốt và cái hữu ích. Người dandy trau chuốt vai trò của mình và nhân vật mình đóng. Tóm lại người dandy sống trước một tấm gương.

Nhưng Baudelaire không dừng lại ở mẫu người dandy, vì cái đẹp mà ông khao khát hãy còn xa. Trong cuốn Les Fleurs du Mal, khái niệm về cái đẹp giữ một địa vị quan trọng bởi vì nó được bao hàm trong cái tựa đề : những « bông hoa » của « tội lỗi » là cái đẹp mà nhà thơ chiết ra từ tội lỗi và từ sự đau khổ. Nhưng có những trường hợp mà cái đẹp không chỉ là mục đích của bài thơ, nó trở thành chất liệu của bài thơ. Khi đó Baudelaire nói rõ quan niệm của ông về cái đẹp.

Cái đẹp được xem như hình thức ưu việt của lý tưởng và tương ứng với những lúc nhà thơ thoát khỏi tâm trạng spleen. Bài thơ « Elévation » (Lên cao) cho thấy vài khía cạnh của sự giải thoát đó. Sự lên cao phối hợp hai yếu tố : sự vươn lên của tinh thần đến những tầng cao, nhưng cũng là sự hiểu biết thầm kín vũ trụ. Nhà thơ là người hiểu biết :

Ngôn ngữ của bông hoa và những vật câm nín. (4)

Cái đẹp gợi cho Baudelaire một sự ngây ngất làm bằng khoái lạc và hiểu biết  (bài tiểu luận của ông về « Le Tannhauser của Richard Wagner »). Đó là một khoái lạc có tính chất tri thức. Đối với Baudelaire cái đẹp là một lễ hội của tinh thần. Nó là nữ thần được nhà thơ tôn thờ, nó có sự hoàn hão của một tượng đá. Trong bài La Beauté, cái đẹp vừa xa lạ với trần thế, vừa cứng, lạnh như đá và vừa làm đau xé  những người yêu nó. Đặc biệt cái đẹp được nâng lên thành một giá trị tối cao. Cái đẹp, như về sau Nietzsche sẽ nói, vượt lên trên điều thiện và điều ác :

Dù em có đến từ trời hay từ địa ngục, có hề chi. (5)

Vậy nhà thơ ngỏ lời với cái đẹp bằng một nhiệt tâm gần như lòng sùng đạo, và chờ đợi sự cứu rỗi do cái đẹp đưa đến. Trong bài Les Phares (Những Ngọn hải đăng) người ta có thể phát hiện một lời khấn với cái Đẹp qua các nhà nghệ sĩ danh tiếng của quá khứ, với tư cách họ là trung gian. Để đáp lại sự tôn thờ của nhà thơ, cái đẹp đóng vai trò kẻ an ủi. Nhà thơ chờ đợi cái đẹp làm cho :

Vũ trụ bớt xấu và những khoảnh khắc bớt nặng nề. (6)

Và nếu Baudelaire ao ước sự an ủi đó cho chính mình, thì ông cũng vui lòng trao sự an ủi đó cho loài người. Vẻ đẹp, nghệ thuật, thi ca là gì nếu không

Là để cho những cõi lòng ở trần thế một ru ngủ tuyệt diệu. (7)

Cuộc đời của Baudelaire là một phản kháng kiên trì chống lại những giá trị của xã hội tư bản : lợi nhuận và sản xuất. Do đó Baudelaire có cảm tình với người bạn khốn khổ, nhà thơ Mỹ E. Poe. Bởi vì đối với Poe sự tôn thờ cái Đẹp không tương hợp với sự Hữu ích.

Cần phải nói rằng việc lên án cái xã hội ham lợi của Baudelaire không được căn cứ trên những tiêu chí công bình xã hội, mà nét đặc thù của nó là sự căm ghét của Baudelaire đối với mối quan hệ giữa đồng tiền và thời gian do chủ nghĩa tư bản lập nên. « Time is money » theo Baudelaire là một điều đáng ghê tởm. Cho nên ông mơ tưởng một thế giới nơi đó thời gian được thoát khỏi mọi ý tưởng về khả năng sản xuất, nơi mà thời gian bị bôi xóa, như trong bài La vie antérieure hay bài L’Invitation au voyage.

Nếu cái đẹp không tùy thuộc những khái niệm thiện và ác, nếu tự bản chất nó là vô ích, điều đó có nghĩa là nghệ thuật hoàn toàn độc lập đối với đạo đức. Vậy một vấn đề quan trọng đã được đặt ra : đạo đức của người nghệ sĩ như thế nào ? Người dandy là con người tổ chức đời mình theo những tiêu chí hoàn toàn thẩm mỹ. Đó là cái mẫu phải theo, nhưng Baudelaire còn đi xa hơn con người dandy, bởi vì đối với ông cuộc đời phải được biến đổi thành những bài thơ.

Lý thuyết đó đi rất xa. Nếu đã là nhà thơ thì cuộc đời sẽ không được sống cho chính nó, mà cho tác phẩm được rút ra từ cuộc sống. Mái tóc của Jeanne Duval, đôi mắt xanh của Marie Daubrun không còn là những đối tượng của nhục dục hay của tình âu yếm, như người đời tưởng, hay nếu chúng là những đối tượng của nhục dục hay của tình âu yếm thì chỉ vì chúng là cái nguồn của những câu thơ hay. Người phụ nữ được yêu sẽ không còn được yêu cho chính cô ta, mà với tư cách là sự hứa hẹn cho việc sáng tạo. Đối với Baudelaire, một kinh nghiệm chỉ có tính đạo đức nếu nó phong phú về phương diện thẩm mỹ. Cuộc sống được dùng để phục vụ nghệ thuật.

Vậy người nghệ sĩ có một đạo đức riêng, đạo đức này cũng đòi hỏi nhiều trong phạm vi của nó, như đạo đức của một vị thánh hay của người anh hùng. Cái đạo đức của người nghệ sĩ bao hàm một hình thức của chủ nghĩa khổ hạnh, vì sự tìm kiếm cái đẹp gạt bỏ những niềm vui của cuộc sống. Cái đạo đức đó cũng đưa đến việc tuẫn đạo, vì những kinh nghiệm làm cho cuộc sống bị nguy cơ và cũng vì những kinh nghiệm mà đạo đức bình thường lên án, tất cả những kinh nghiệm đó phải được nhà thơ sống qua nếu chúng có thể được biến đổi thành cái đẹp. Ở đây chúng ta trở lại với ý nghĩa của cái tựa đề Les Fleurs du Mal. Nhà thơ phải chiết cái đẹp từ cái ác, nghĩa là từ sự đau khổ và từ tội lỗi. Đau khổ và tội lỗi hiện hữu trên đời này và không tùy thuộc ý muốn của nhà thơ, nhưng nhà thơ phải đảm nhận không chút ngập ngừng, thậm chí phải gây ra đau khổ và tội lỗi để làm nên sự vẻ vang lớn nhất của tác phẩm mình.Vậy cái đẹp mà nhà thơ tôn thờ được định nghĩa như thế nào ?

Trong bài Exposition universelle, 1855 (Cuộc Triển lãm toàn cầu, 1855), Baudelaire viết : « Cái đẹp luôn luôn là kỳ dị. Tôi không muốn nói nó kỳ dị một cách cố ý, lạnh lùng, bởi vì trong trường hợp đó nó sẽ là một quái vật từ trong cuộc sống hiện ra. Tôi nói rằng cái đẹp luôn luôn bao gồm một chút kỳ dị, một chút kỳ dị ngây ngô, không cố ý, vô thức và chính cái kỳ dị đó làm nó đặc biệt là cái Đẹp. » (8) Ở đây tác giả nói về cái đẹp trong hội họa. Nhưng quan niệm đó của Baudelaire cũng có giá trị đối với những nghệ thuật khác. Nó làm sáng tỏ nhiều khía cạnh của thế giới thẩm mỹ của Baudelaire.

Trước hết cái kỳ dị đối lập với cái tự nhiên, chúng ta không quên sự chống đối của Baudelaire với thiên nhiên. Thiên nhiên vốn là cái gì bẩm sinh, nghệ thuật biểu hiện cái đạt được. Cho nên người ta hiểu sở thích của Baudelaire về đồ trang sức. Đối với ông, vẻ đẹp của một người phụ nữ là do son phấn – son phấn và nước hoa – hơn là do dáng uyển chuyển tự nhiên của thân xác. Baudelaire say mê cái chi tiết khiêu gợi hơn là sự hòa hợp chung.

Nhưng « thiên nhiên » cũng có nghĩa là cái gì chung cho một loài. Chính trong cái ý nghĩa đó mà trường phái cổ điển cố gắng biểu đạt bản chất của con người trong cái sự thật phổ thông của nó. Baudelaire, trái lại, chọn lựa cái riêng biệt, cái hiếm hoi, cái ngoại lệ, cái mà người ta không chờ đợi, cái đảo lộn những thói quen, cái làm ngạc nhiên và cái gây sốc. Thơ của Baudelaire không đề cao những tình cảm cao thượng. Theo Baudelaire, tội lỗi sản xuất những bông hoa đẹp nhất.

Tóm lại, cái kỳ dị là cái thoát khỏi chuẩn mực, quy tắc, tập tục. Và mỹ học của kỳ dị cũng là cái mà Baudelaire gọi chung là « nghệ thuật lãng mạn » hay « nghệ thuật hiện đại ». Đối với Baudelaire, chủ nghĩa lãng mạn và tính hiện đại đối lập với chủ nghĩa cổ điển. Baudelaire bênh vực mãnh liệt những tác phẩm nghệ thuật nói lên sự thật đặc thù của thế giới hiện đại, những tác phẩm mà sự mới mẻ gây nên khó chịu như những bức họa của Delacroix, âm nhạc của Wagner, thơ của Hugo, của con người Hugo trong thời gian bị lưu đày.

Cũng cần chú ý rằng cái tính « hiện đại » đó rất hiển nhiên về nội dung, nhưng nó vẫn giữ những hình thức truyền thống. Baudelaire viết : Tính hiện đại, chính là cái nhất thời, cái thoáng qua, cái không nhất thiết, là một nửa của nghệ thuật mà nửa kia là cái trường cửu và cái bất biến. (9)

IV Tính hiện đại của Les Fleurs du Mal và thi ca Pháp

Giữa một số lượng ấn bản khiêm tốn khi Baudelaire còn sinh thời và địa vị của Les Fleurs du Mal ngày nay trong văn hoá Pháp, khoảng cách thật là mênh mông. Tác phẩm đã chinh phục một công chúng đông đảo mà không mất đi cái tính chất đài các của nó. Les Fleurs du Mal đã được đưa vào chương trình của nhà trường đồng thời vẫn giữ cái vẻ khiêu khích.

Nếu đi lùi lại các trào lưu thi ca hiện đại ở Pháp, luôn luôn người ta tìm thấy, bằng một cách nào đó, Les Fleurs du Mal tại nguồn. Nghệ thuật của Baudelaire có nhiều sắc thái mới mẻ về cảm hứng, về ngôn ngữ thơ và về vai trò của nhà thơ.

Nếu nhà thơ là người tương hợp với cái vô hình ở trên đời này thì ông là người được Thượng Đế ban cho nguồn cảm hứng. Baudelaire đồng ý với Edgar Poe khi ông tuyên bố rằng sự sáng tạo là chuyện ý chí, chuyện khéo léo, tuy nhiên Baudelaire không từ bỏ cái thuyết cảm hứng. Một bài thơ không tự dưng mà được viết. Nghệ thuật thi ca là một khoa học ; tin vào sự ngẫu nhiên sẽ vô hiệu và là phạm thánh. Trong tiểu luận về Théophile Gautier, Baudelaire viết : Trong từ, trong ngôn từ có cái gì thiêng liêng không cho phép chúng ta làm thành một trò chơi của sự ngẫu nhiên. Sử dụng một cách tài tình một ngôn ngữ chính là thực hành một thứ ảo thuật gợi cảm (sorcellerie évocatoire) ». Thành ngữ « ảo thuật gợi cảm » rất phong phú, nó mở ra một thế giới thơ cho mỹ cảm, nó loại bỏ sự bốc đồng và mọi hoạt động của lý trí hẹp hòi.

Trong bài La situation de Baudelaire viết năm 1924, nhà văn kiêm nhà thơ Paul Valéry (1871-1945), đồ đệ của Mallarmé, cho rằng cuốn Les Fleurs du Mal không có những bài thơ về lịch sử, về chuyện cổ tích, không có cái gì có vẻ là một truyện kể, cũng không có những trường thoại về triết lý hay chính trị. Như thế thơ đã trở nên một nghệ thuật tự chủ, và ảo thuật gợi cảm khiến nhà thơ thoát khỏi diễn ngôn của văn xuôi. Đó cũng là mục đích mà Mallarmé đặt cho thơ, đặc biệt trong một câu thơ nổi tiếng của bài Tombeau d’Edgar Poe :

Cho những từ của đám đông một ý nghĩa thuần khiết hơn. (10)

« những từ của đám đông » tức ngôn ngữ tầm thường được dùng trong xã hội. Ngôn ngữ đó có một chức năng hữu ích. Thơ cũng dùng những từ vựng của đời sống hằng ngày. Nhưng thơ không chấp nhận các từ theo nghĩa thông thường, nghĩa của tự điển. Thơ ưu đãi những nghĩa mở rộng được gợi lên bởi một ngữ cảnh hay bởi âm của các từ.

Vì thế Mallarmé, rồi đến Valéry, đòi giữ cái di sản của Baudelaire để quan niệm một dòng thơ được trí tuệ nhào nặn, một dòng thơ khó hiểu, khác biệt với diễn ngôn của văn xuôi ; một nghệ thuật cô đặc và được chế biến, nghệ thuật đó không có nguyên do gì khác hơn là sự tồn tại của chính nó.

Sắc thái mới mẻ sau cùng của Baudelaire là việc định nghĩa nhà thơ. Trước hết nhà thơ là người có thiên nhãn, người thông suốt.

Rimbaud muốn thấy trong Les Fleurs du Mal một tiếp cận mới mẻ về sự huyền bí của thế giới. Không phải là Rimbaud xem thường tầm quan trọng của ngôn ngữ thơ. Nhưng đối với Rimbaud, sự xuất hiện của màu sắc, và sự chói sáng của hình tượng là dấu hiệu của một sự tìm kiếm sâu xa hơn, và có lẽ cũng là phương tiện để đạt đến « cái mà con người tưởng đã thấy », nói một cách khác, là phương tiện để mở ra cho thơ những lĩnh vực mới. Điều chắc chắn là Rimbaud đã tiếp nhận di sản của Baudelaire với cái ý muốn đi xa hơn. Bài học của bài thơ  Correspondances (Tương ứng) đối với Rimbaud sẽ là sự rối loạn của tất cả các giác quan (le dérèglement de tous les sens). Mục đích của Rimbaud là đi đến cái lạ, là làm một người có thiên nhãn.

Nếu có một lĩnh vực ưu đãi việc sử dụng cái tài thiên nhãn của nhà thơ thì đó là những sâu thẳm của vô thức với những phong phú không ngờ được của chúng, đó là lĩnh vực mà Lautréamont và các nhà thơ siêu thực đã thám hiểm. Đạt đến cái lạ bằng cách hoàn toàn thoát khỏi những ràng buộc của lý trí, chính là đường hướng mà Baudelaire không tiên đoán rõ ràng và ông cũng không cần phải tán thành. Nhưng làm sao có thể phủ nhận được rằng Baudelaire đã dự phần vào việc đi tìm cái lạ trong chiều sâu của vô thức ngay từ đầu ? Sau Rimbaud, các nhà thơ siêu thực quan niệm thơ như sự mạo hiểm tuyệt đối và họ tuyên bố rằng một sự tìm kiếm như thế đòi hỏi một phương pháp. André Breton khuyên đồ đệ nhịn ăn, dùng lối viết máy móc hay những cuộc đi dạo xa trong Paris để tìm cái lạ thường. Baudelaire đã chẳng khẳng định rằng nhà thơ phải tuân theo một thứ đạo lý đặc biệt, tuyệt đối thích hợp với mục đích của mình đó sao ?

Là người có thiên nhãn, nhà thơ cũng là người bị đày vào cái họa. Chắc chắn đây không phải là một ý tưởng mới, bởi vì nó đã được đa phần các nhà thơ lãng mạn chấp nhận. Đối với họ, quan niệm đó chỉ trên lý thuyết, vì khi họ còn sống tác phẩm của họ đã được nổi tiếng. Lại có những nhà thơ sống cái quan niệm đó một cách bi thảm như Gérard de Nerval, ông đã treo cổ trên một cột đèn.

Baudelaire có nhiệm vụ chứng minh rằng cái tai họa mà nhà thơ chịu đựng, không hề là một tai nạn, mà nó là một hợp lý của sự lựa chọn của nhà thơ. Và trong trường hợp của Baudelaire, thực tế không phủ định lý thuyết. Les Fleurs du Mal làm cho người ta tin rằng không thể quan niệm một thứ đẹp nào đó mà không có tai họa.

Bị xã hội nguyền rủa, Verlaine và Rimbaud chấp nhận sống bên lề xã hội, họ cho thấy hình ảnh của một nhà thơ gần với kẻ vô gia cư. Họ là mẫu nhà thơ bị nguyền rủa. Các nhà thơ siêu thực thì không nhất thiết chọn cái hình thức khiêu khích đó, họ chấp nhận thân phận nhà thơ, vì đối với họ, cắt đứt với trật tự của xã hội là một sự chọn lựa cơ bản mà họ không nghĩ đến.

Thế kỷ 19 ở Pháp đặt niềm tin vào sự tiến bộ. Victor Hugo là một ví dụ điển hình của cái nhìn lạc quan đó : ngay cả khi ông tố cáo tai họa và sự bất công, tác giả của cuốn Les Misérables tuyên xưng niềm tin của mình vào một tương lai đầy ánh sáng. Trên bình diện này, Baudelaire đi ngược lại với thế kỷ của ông. Tuy nhiên thái độ phản tiến bộ không làm ông lánh xa những cái mới mà trái lại ông hoàn toàn đảm nhận tính hiện đại.

Như đã nói, qua tâm trạng spleen, Baudelaire đã biểu lộ một khắc khoải siêu hình về thân phận con người. Les Fleurs du Mal là hình thức hiện đại của sự khắc khoải của Pascal, nhà triết học Pháp ở thế kỷ 17. Và đồ đệ của Baudelaire rất đông đảo : Dostoievski, và gần chúng ta hơn : Camus, Sartre đã cho thấy cái nhìn của họ về một nhân loại trăn trở trong một thế giới vô lý.

Nhưng tính hiện đại không chỉ giới hạn vào cái hình thức siêu hình trong Les Fleurs du Mal, nó cũng xuất hiện trong chiều kích xã hội. Baudelaire đã thật sự phát hiện nổi cô đơn của con người trong lòng đô thị. Về phương diện này, Baudelaire có những người thừa kế bất ngờ nhất : Dos Passos, Steinbeck, Fitzgerald và các nhà văn Mỹ đã trải qua cuộc khủng hoảng của năm 1930.

Ở Việt Nam, Baudelaire cũng có những người thừa kế, trong lĩnh vực thi ca.

V Baudelaire và Thơ Mới Việt Nam

Vào những năm 30 của thế kỷ trước, nền thi ca Việt Nam đã thoát khỏi khuôn khổ truyền thống nhờ tiếp xúc với nền thi ca Pháp, và đã chịu ảnh hưởng của nhiều trường phái như thơ lãng mạn, thơ của nhóm Thi Sơn, thơ tượng trưng, thơ siêu thực. Nhưng sâu đậm nhất là dấu ấn của Baudelaire, người đã mở đường cho thơ tượng trưng Pháp và các dòng thơ hiện đại khác. Các nhà thơ trẻ của nhóm Thơ Mới vừa thoát khỏi thơ Đường đã bị Baudelaire chinh phục ngay, đến nỗi Bích Khê trong bài thơ Ăn mày đã kêu lên : Baudelaire ! Người là Vua Thi Sĩ ! Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên v.v… đều mang ít nhiều ảnh hưởng của tác giả Les Fleurs du Mal.

Trước hết kỹ thuật láy phụ âm, láy từ và láy câu của Baudelaire đã ảnh hưởng đến các nhà thơ Việt Nam. Xuân Diệu có cách láy phụ âm đầy gợi cảm trong những câu thơ như :

Những luồng run rẩy rung rinh lá (Đây mùa thu tới)

Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng. (Vội vàng)

Mặc luồng gió mạnh mặc mưa to. (Muộn màng)

Hoặc :         Phút gần gũi cũng như giờ chia biệt

Tưởng trăng tàn hoa tạ với hồn tiêu. (Yêu)

Đặc biệt cách láy phụ âm « t » trong câu chót này gây một cảm tưởng tan biến.

Bích Khê cũng dùng kỹ thuật láy từ, láy câu, trong bài Mộng cầm ca chẳng hạn, có những câu láy tạo nên một nhạc điệu phong phú và làm ta liên tưởng đến những bài thơ của Baudelaire như : Moesta et errabunda, Réversibilité hay  Harmonie du soir.

Nhưng chính bài Correspondances (Tương ứng), viết theo thể sonnet, trong đó Baudelaire đề cao hiện tượng hòa hợp cảm giác, mới gây tiếng vang mạnh mẽ trong Thơ Mới Việt Nam.

Correspondances

La Nature est un temple où de vivants piliers

Laissent parfois sortir de confuses paroles ;

L’homme y passe à travers des forêts de symboles

Qui l’observent avec des regards familiers.

Comme de longs échos qui de loin se confondent

Dans une ténébreuse et profonde unité,

Vaste comme la nuit et comme la clarté,

Les parfums, les couleurs et les sons se répondent.

Il est des parfums frais comme des chairs d’enfants,

Doux comme les hautbois, verts comme les prairies,

Et d’autres, corrompus, riches et triomphants.

Ayant l’expansion des choses infinies,

Comme l’ambre, le musc, le benjoin et l’encens,

Qui chantent les transports de l’esprit et des sens.

Charles Baudelaire, Les Fleurs du Mal, Gallimard, 1972 và 1996, tr. 40.

  

                            Tương Ứng

Thiên nhiên là một ngôi đền mà những cột trụ sống động

Đôi khi để thoát ra những lời văng vẳng ;

Con người qua đấy, đi trong những cánh rừng biểu tượng

Dưới cái nhìn quan sát thân mật của biểu tượng.

Như những tiếng vọng dài hòa lẫn nơi xa

Trong một sự đơn nhất mờ mịt và sâu thẳm,

Mênh mông như màn đêm và ánh sáng,

Hương thơm, màu sắc và âm thanh hòa hợp nhau.

Có những mùi hương tươi mát như da thịt trẻ thơ,

Êm dịu như tiếng kèn rừng, xanh ngắt như đồng cỏ,

Và những mùi khác, đồi bại, phong phú, vẻ vang.

Tỏa ra như những sự vật bất tận,

Như mùi hổ phách, mùi xạ hương, mùi an tức hương và mùi trầm,

Đều ca tụng những nhiệt tình của tâm hồn và giác quan. (11)

Bài sonnet được trình bày như một giải thích và một minh họa của cái tựa đề. Baudelaire khẳng định lòng tin vào một vũ trụ đơn nhất và tuyên xưng một niềm hy vọng lớn. Trong tư duy của tác giả lúc đó chưa có quỷ Satan gây nên sự hủy hoại, chia rẽ. Bài thơ gợi lên một cái nhìn về thế giới nơi mà tất cả đều tương ứng với nhau. Có ba loại tương ứng :

Tương ứng giữa cái thế giới mà ta nhận thức được và cái thế giới vô hình.Vũ trụ được kiến trúc như một biểu tượng : vũ trụ gồm có hai thành tố có những điểm tương đồng. Chỉ có khía cạnh cụ thể có thể được nhận thức, nhưng đôi khi chúng ta mơ hồ cảm thấy cái vô hình ẩn giấu sau cái hữu hình. Loại tương ứng này được gọi là tương ứng « dọc » bởi vì nó thuộc về quan hệ giữa Trời và Đất.

Tương ứng giữa các cảm giác do giác quan đưa đến. Đó là những tương ứng giữa âm thanh, mùi hương, màu sắc, và cũng phải kể đến những cảm giác của xúc giác và vị giác. Đây là loại tương ứng « ngang » bởi vì nó được vận dụng trong cái thế giới được các giác quan nhận thức. Nhà phê bình Georges Blin gọi những mối tương quan ngang này là « synesthésies » (hòa hợp cảm giác).

Tương ứng ngang được nối liền chặt chẽ với tương ứng dọc. Theo Baudelaire, chúng ta nhận thức với ít nhiều mập mờ những quan hệ giữa những cảm giác khác nhau, bởi vì trong cái thế giới ở phía sau mà chúng ta không nắm bắt được, những cảm giác vốn được phân loại hẳn hòi, cuối cùng tan đi trong một đơn nhất. Chúng đưa về một thực tế duy nhất và chúng như cái bằng chứng của một kiến trúc đôi của vũ trụ.

Loại tương ứng thứ ba – vẫn là tương ứng ngang – liên quan đến những khái niệm « đạo đức », là loại tương ứng giữa cái được nhận thức với cái đang ở trong trí tưởng tượng, giữa những cảm giác và những khái niệm « đạo đức » như sự đồi bại hay sự vẻ vang. Có thể nghĩ rằng có sự đối lập giữa những hương thơm của sự vô tội trước khi có tội lỗi và những hương thơm của sự trưởng thành : nhà thơ ý thức rằng ngay trong tội lỗi đã có những bông hoa thơm. Tính từ « đồi bại » trong bài thơ có lẽ là loại tính từ xấu duy nhất, và sự tăng dần từ « đồi bại » (corrompus) để đi đến « phong phú » (riches), rồi « vẻ vang » (triomphants) cho thấy sự vẻ vang đã nảy sinh từ sự đồi bại, cũng như bông hoa nở từ tội lỗi. Sự lan tỏa của thứ hương thơm – ma túy đó gợi lên những « thiên đường giả tạo ». Baudelaire đã thử nghiệm những tình trạng do rượu, nha phiến, cần sa gây ra.

Trò chơi tương ứng đa chiều, đa dạng đó là do các thành tố bên ngoài tuy có vẻ khác nhau nhưng tựu trung đều đưa về một đơn nhất của nguồn cội. Sau khi đã giải thích một cách bóng gió trong hai đoạn thơ bốn câu, Baudelaire minh họa tư duy của ông trong hai đoạn chót ba câu. Bài thơ chấm dứt bằng sự bay bổng cao siêu đến cõi vô tận.

Qua sự phối hợp của giác quan và ngôn ngữ, Baudelaire đã đưa thơ đến một mức độ mới mẻ và độc đáo. Nhà thơ hiện ra như con người có khả năng hội giác được tính đơn nhất của thực tại. Như đã nói trên, Rimbaud sẽ không quên bài học này, khi nhà thơ đề cao sự rối loạn của các giác quan.

Các nhà Thơ Mới Việt Nam cũng mang dấu ấn của hiện tượng hòa hợp cảm giác của bài Correspondances.

Trong bài Huyền diệu, Xuân Diệu dẫn câu thơ của Baudelaire :

Les parfums, les couleurs et les sons se répondent.

Hương thơm, màu sắc và âm thanh hòa hợp nhau.

Và bài thơ bắt đầu như sau :

Này lắng nghe em khúc nhạc thơm

Say người như rượu tối tân hôn ;

Như hương thấm tận qua xương tủy,

Âm điệu, thần tiên, thấm tận hồn.

Huy Cận, trong bài Đi giữa đường thơm có câu :

Trong không khí hương với màu hòa hợp.

Dưới ánh trăng, Hàn Mặc Tử thử nghiệm hiện tượng hòa hợp các giác quan :

Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm kỳ ảo, thơm thơm, và nếu người thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say gió xé rách lả tả (Chơi giữa mùa trăng).

Bích Khê cũng quan tâm đến sự hòa hợp các giác quan trong nhiều bài thơ, chẳng hạn trong bài Đồ mi hoa :

Ta những muốn sầu thương thôi biểu lộ.

Sắc trong màu, màu trong sắc ; hân hoan

Ta những muốn mùa đông nhường lại chỗ.

Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc, lan man.

Cũng như Baudelaire, Bích Khê trong bài Mộng cầm ca nâng khướu giác lên hàng đầu :

Đây dạ lan hương, đây đỉnh trầm hương ;

Đây bát ngát và thơm như sữa lúa ;

Hồn xạ hương phơ phất ở trong sương.

Ngoài ảnh hưởng sâu đậm của bài Correspondances, các nhà thơ mới cũng gần gũi với Baudelaire về phương diện chủ đề. Qua bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ, người ta có thể nhận ra chủ đề lưu đày của hai bài thơ L’AlbatrosLe Cygne của Baudelaire.

Mặt khác, trong bài Le Guignon (Vận xui) có đoạn như sau :

Mainte fleur épanche à regret

Son parfum doux comme un secret

Dans les solitudes profondes.

Biết bao cánh hoa miễn cưỡng tỏa ra

Hương thơm êm dịu như nỗi niềm thầm kín

Trong chốn cô liêu sâu thẳm.

Đoạn thơ này khiến chúng ta liên tưởng đến bài thơ Gửi hương cho gió của Xuân Diệu :

Biết bao hoa đẹp trong rừng thẳm

Đem gửi hương cho gió phụ phàng !

Mất một đời thơm trong kẽ núi,

Không người du tử đến nhằm hang !

Nhưng ảnh hưởng của Baudelaire trong Thơ Mới không dừng lại ở kỹ thuật láy, ở hiện tượng hòa hợp cảm giác hay ở chủ đề lưu đày. Ở đây, tôi chỉ xin nêu lên trường hợp của Xuân Diệu và Hàn Mặc Tử. Xuân Diệu đã trải nghiệm tâm trạng spleen của Baudelaire, và Hàn Mặc Từ có những trăn trở siêu hình nhắc nhở những khắc khoải đau đớn của tác giả Les Fleurs du Mal.

Vào thời tiền chiến, Xuân Diệu là một nhà thơ của tuổi trẻ, của tình yêu, muốn vội vàng níu kéo mùa xuân của cuộc đời đang trôi qua. Nhưng cũng có lúc nhà thơ sống một tâm trạng buồn, tâm trạng spleen của Baudelaire. Đặc biệt bài thơ Sắt, trong tập Thơ Thơ, mang ảnh hưởng đậm nét của bài Spleen số 4. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét hai bài thơ để thấy rõ ảnh hưởng của Baudelaire.

                                                        Spleen

Quand le ciel bas et lourd pèse comme un couvercle

Sur l’esprit gémissant en proie aux longs ennuis,

Et que de l’horizon embrassant tout le cercle

Il nous verse un jour noir plus triste que les nuits ;

Quand la terre est changée en un cachot humide,

Où l’Espérance, comme une chauve-souris,

S’en va battant les murs de son aile timide

Et se cognant la tête à des plafonds pourris ;

Quand la pluie étalant ses immenses traînées

D’une vaste prison imite les barreaux,

Et qu’un peuple muet d’infâmes araignées

Vient tendre ses filets au fond de nos cerveaux,

Des cloches tout à coup sautent avec furie

Et lancent vers le ciel un affreux hurlement,

Ainsi que des esprits errants et sans patrie

Qui se mettent à geindre opiniâtrement.

Et de longs corbillards, sans tambours ni musique,

Défilent lentement dans mon âme ; l’Espoir,

Vaincu, pleure, et l’Angoisse atroce, despotique,

Sur mon crâne incliné plante son drapeau noir.

Charles Baudelaire, sđd. tr. 113.

 

                                               Spleen

Khi bầu trời thấp và nặng đè như một cái vung

Trên tâm hồn rên rỉ bị nỗi chán chường giày vò

Và khi từ chân trời bầu trời bủa vây

Đổ xuống chúng ta một ngày đen tối buồn bã hơn đêm khuya;

Khi trái đất biến thành cái ngục ẩm ướt,

Nơi mà niềm Hy vọng, tựa như con dơi,

Rụt rè đập cánh vào tường bay đi

Và đâm đầu vào những trần nhà mục nát;

Khi màn mưa trải ra những vệt dài mênh mông

Tựa như những thanh sắt của một nhà tù rộng lớn,

Và khi một đám nhện câm nín ghê người

Đến giăng lưới ở tận cùng óc não chúng ta.

Bỗng dưng chuông nhà thờ giận dữ tung lên

Và ném lên trời tiếng hét ghê rợn,

Cũng như những tâm hồn lang thang không xứ sở

Bắt đầu rên xiết dai dẳng

Và những đoàn xe tang, không trống không nhạc

Chậm rãi nối đuôi nhau trong tâm hồn tôi ; niềm Hy vọng,

Bị đánh bại, khóc than, và nỗi Lo sợ tàn bạo, chuyên chế,

Cắm trên đầu tôi gục xuống lá cờ đen của nó. (11)

Trong bài thơ này, tâm trạng spleen đang cơn khủng hoảng tột độ, đưa đến hiện tượng tức thở, tâm hồn bị chấn động và cảm tưởng thất bại, sa lầy.

Khởi đầu là sự ngột ngạt, tức thở. Bầu trời thường gây cho nhà thơ cảm giác lên cao theo Lý tưởng, như trong bài Élévation, nhưng ở đây bầu trời sụp xuống để vây hãm, giam cầm con người. Câu thơ đầu tiên gây một cảm giác nặng nề. Vì phải chịu đựng bao chán chường, thất bại, nhà thơ trở nên thụ động. Không những thân xác mà cả tâm hồn đều bị tức thở. Động từ « đổ xuống » (verse) và « ngày đen » (un jour noir) biến ngày thành chất lỏng đen gợi cho ta cảm giác một tâm hồn bị chìm trong tâm trạng spleen. Có những đảo ngược như bầu trời vốn mênh mông biến thành cái vung chật hẹp và ban ngày trở thành đen tức thành ban đêm. Không gian càng bị thu hẹp lại : bầu trời được bốn bức tường thay thế, dưới một cái vòm thấp dễ sụp đổ. Niềm Hy vọng quờ quạng, mù quáng như con dơi. Hình ảnh cái ngục nói lên sự ngạt thở và biểu hiện cho sự lưu đày của con người không xứ sở trên trần gian. Sự đau khổ trong đầu óc nhà thơ được ảo giác hóa qua hình ảnh đám nhện giăng lưới. Khi sự sợ hãi lên tột đỉnh, tâm hồn nhà thơ bị chấn động và một ảo giác thứ hai hiện ra với chuông nhà thờ, đoàn xe tang. Trong khi ảo giác về đám nhện giăng lưới hướng về thị giác thì ảo giác về chuông nhà thờ hướng về thính giác. Trong hai khổ thơ chót, tác giả đi vào thế giới bên trong để chứng kiến sự thất bại của tâm hồn : sự sa lầy của trí tuệ và đạo đức. Hy vọng và Lo sợ, hai thực thể của thế giới con người, hai phúng dụ được nhân cách hóa. Cuối cùng Lo sợ đã thắng và biểu hiệu của nó là lá cờ đen. Lo sợ cướp mất sức sống và nghị lực tinh thần của nhà thơ. Chủ đề óc não bị giằn vặt được lặp lại trong câu thơ cuối cùng : nhà thơ chấp nhận sự thất bại của mình bằng cách cúi đầu trước lá cờ chiến thắng của Lo sợ.

Và sau đây là bài thơ « Sắt » của Xuân Diệu :

                                               Sắt

Ngày muốn hết buồn như đời muốn hết ;

Chiều bị thương ráng sức kéo mình đi.

Lũ mây già, nghìn vạn khối lâm ly,

Đứng giữ lưới bủa vây trời nhỏ hẹp.

Vài chiếc quạ, mình than, cong mỏ thép,

Quạ vừa kêu, đến tự xự đêm nào ;

Những cây bàng là những bộ xương cao,

Nét ngớ ngẩn đã rèn bằng sắt cũ.

Tét cắn lá – lá nằm trên đất ủ,

Màu lặng yên không còn mộng xa bay ;

Đất đen kêu như sắt dưới chân giày,

Tiếng rắn rỏi có pha màu mực đậm.

Chân đi nặng như mang xiềng ; giam cấm

Trong cũi to, hồn không thể vượt lên ;

Muốn rụng rơi, trái tim nặng ưu phiền,

Trái tim giữa một cái kềm bằng sắt.

Cái tựa Sắt ngắn ngủn gây một cảm tưởng đột ngột và làm liên tưởng đến một khối nặng đổ sập xuống. Trong hai bài thơ SpleenSắt không gian và thời gian đều giống nhau. Baudelaire làm cho bầu trời thu hẹp lại với hình tượng cái vung, rồi hình tượng bốn bức tường, Xuân Diệu dùng « nghìn vạn khối mây» để nêu lên sự bủa vây của bầu trời. Cuối cùng không gian trở thành nhà tù với những chấn song trong bài Spleen, và trong bài Sắt có cái « Cũi to ». Thời gian là ban ngày, một ngày buồn. Baudelaire chán chường : « … một ngày đen tối buồn bã hơn đêm khuya » (… un jour noir plus triste que les nuits). Còn Xuân Diệu thì than thở : « Ngày muốn hết buồn như đời muốn hết ». Đối diện với con dơi rụt rè, biểu tượng cho niềm Hy vọng trong bài Spleen, có con quạ trong bài Sắt. Con quạ không yếu ớt, rụt rè, nó cứng, nó « cong mỏ thép » và mình than của nó báo hiệu màu đen của đất cứng. Màu đen trong hai bài thơ là màu của tối tăm, tuyệt vọng. Như đã nói, đối với Baudelaire, ban ngày biến thành chất lỏng đen của tâm trạng spleen : « (Bầu trời) Đổ xuống chúng ta một ngày đen tối … ». Trong bài Sắt cũng có chất lỏng đen : « Tiếng rắn rỏi có pha màu mực đậm ».

Đặc điểm của bài thơ của Xuân Diệu là gây một cảm giác cứng : « mỏ thép », « sắt », « rắn rỏi », « xiềng », « kềm », và một cảm giác nặng : « ráng sức kéo mình đi », « chân mang xiềng », « hồn không thể vượt lên ». Xuân Diệu dùng hai cảm giác cứng và nặng để nói lên sự ngạt thở và sự sa lầy của tâm trạng spleen.

Nhưng phải nói nhà thơ Việt Nam có thể được xem như gần gũi với Baudelaire nhất về những ám ảnh siêu hình chính là Hàn Mặc Tử.

Xin nhắc sơ qua, cuộc đời của Hàn Mặc Tử rất ngắn ngủi, ông sinh ngày 22-9-1912, bị bệnh phong, mất ngày 11-11-1940. Thọ 28 tuổi. Tác phẩm của Hàn Mặc Tử gồm : Lệ Thanh Thi tập, Gái quê, Đau Thương, Xuân như ý, Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Duyên kỳ ngộ, Quần Tiên HộiChơi giữa mùa trăng.

Đương nhiên quá trình sáng tác thơ của Baudelaire và của Hàn Mặc Tử hoàn toàn khác biệt nhau. Mỗi nhà thơ có một số phận riêng, và cảm hứng của họ bắt nguồn từ hai nền văn hóa khác xa nhau.

Thơ của Hàn Mặc Tử là một kho tàng trong văn học Việt Nam. Và những gì người ta đã viết về Hàn Mặc Tử từ trước đến nay không thể nào làm vơi được kho tàng đó, dù chỉ là một phần rất nhỏ. Tôi chỉ xin bàn về Hàn Mặc Tử trong cái nhìn đối chiếu với Baudelaire. Trong bài Quan niệm thơ gởi cho Trọng Miên từ Qui Nhơn, tháng 6 năm 1939, Hàn Mặc Tử vốn đã đọc nhiều về Baudelaire khẳng định sự tương phản giữa ông và tác giả Les Fleurs du Mal. Hàn Mặc Tử phân biệt tình cảm với tình dục (passion), và nhắc lại rằng Baudelaire cho tình dục là một điều tự nhiên, còn Hàn Mặc Tử nhìn nhận mình « đã tận hưởng những phong vị của nhạc, của hoa, của trăng, của gái một cách vô tội. » Nhưng sự tương phản chính yếu giữa hai nhà thơ là ở quan niệm của mỗi người về thơ trong tương quan với khoa học, luân lý và tôn giáo. Baudelaire tách rời thơ với khoa học, luân lý và tôn giáo. Đối với Baudelaire thơ là thơ. Hàn Mặc Tử là một tín đồ Thiên Chúa giáo, ông quan niệm thơ theo tư duy tôn giáo, ông viết : Cho nên thơ là một tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thỉ, vô chung với những hạnh phúc bất tuyệt […] Cho nên tất cả thi sĩ ở trong đời phải qui tụ, phải đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời. Và Hàn Mặc Tử định nghĩa thơ như sau : Thơ là sự ham muốn vô biên những nguồn khoái lạc trong trắng của một cõi trời cách biệt. Vậy thơ của Baudelaire và thơ của Hàn Mặc Tử là hai dòng thơ bắt nguồn từ hai tư duy, hai tâm tư khác biệt, tuy nhiên đã có một sự gặp gỡ hay đúng hơn một sự gần gũi giữa hai tác giả trong chiều kích siêu hình, qua hai ám ảnh : máu và sự siêu thoát.

Máu là đời sống dưới hình thức chất lỏng. Vì những ý nghĩa tượng trưng của nó, máu là nguồn cảm hứng cho huyền thoại, cho văn chương. Con ma hút máu, bệnh lao, bệnh thiếu máu, người đao phủ là những đề tài trong văn học phương Tây. Thế kỷ 19, nhờ những phát hiện của khoa học về máu, đã làm cho hình ảnh của máu phun lên thành một biểu tượng của sự tranh đấu giữa sự sống và sự chết. Sau một thời kỳ máu được dùng như một ẩn dụ của chủng tộc, thì vào thế kỷ 19, ở phương Tây người ta đã dùng máu trở lại để xây dựng những hình ảnh gây xúc động. Les Chants de Maldoror của Lautréamont, Une saison en enfer của Rimbauđ là những tác phẩm đẫm máu. Rimbaud kêu gọi triệt để sự bạo tàn và sự giết người.

Trong Les Fleurs du Mal có những bài thơ nói về máu như : Une MartyreLa Fontaine du sang. Và ngay từ đầu tác phẩm đã có sự kêu gọi giết người trong bài La Destruction. Say mê hình ảnh máu chảy lan ra là che đậy một sự sợ hãi mà bài La Fontaine du sang tiết lộ, đó là sự sợ hãi trước một dòng máu chảy không ngừng.

Il me semble parfois que mon sang coule à flots,

Ainsi qu’une fontaine aux rythmiques sanglots.

Je l’entends bien qui coule avec un long murmure,

Mais je me tâte en vain pour trouver la blessure.

(La Fontaine de sang)

Đôi khi dường như máu tôi chảy lai láng,

Như một máy nước thổn thức nhịp nhàng.

Tôi nghe rõ nó kéo dài tiếng chảy thì thầm,

Nhưng tôi sờ soạng vô ích để tìm vết thương.

Máu trong tác phẩm của Baudelaire có hai tính chất : tình dục và tôn giáo. Máu hiện diện trong những cảnh nhục dục, bạo tàn và khoái cảm đau (masochiste). Bài A celle qui est trop gaie (Gửi người phụ nữ quá vui) chứa đựng một hình ảnh mổ bụng. Bài Le vampire (Con ma hút máu) đưa ra một phúng dụ của người yêu Dracula. Trong bài A une Madone sự thờ kính thần tượng trở thành sự căm ghét đến đổ máu. Ảnh hưởng Thiên Chúa giáo hiện diện trong những bài thơ về rượu của Baudelaire. Máu và rượu được kết hợp như trong thánh lễ Thiên Chúa giáo, rượu được hóa thành máu của Chúa Kitô. Cũng cần nhắc lại rằng tính chất tôn giáo trong thơ của Baudelaire không có nghĩa là ông sùng đạo Thiên Chúa. Trong Les Fleurs du Mal có những câu thơ như lời khẩn nguyện với Thiên Chúa, nhưng cũng có những câu thơ phạm thượng.

Cũng như thơ Baudelaire, thơ Hàn Mặc Tử có rất nhiều ám ảnh về máu, máu ở đây không do sự bạo tàn, giết người, nhưng cũng gây cho người đọc sự kinh hoàng :

Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy

Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra. (Say trăng)

Ta sẽ hộc ra từng búng huyết

Nhuộm đầy phong vị khúc mê ly. (Người Ngọc)

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết. (Rướm máu)

Hoặc :       Máu tim ta tuôn ra làm bể cả

Ôi ta mửa ra từng búng huyết

Ta muốn níu hồn ai đương hiển hiện,

Trong lòng và đang tắm máu sông ta. (Biển hồn ca)

Cũng như máu, linh hồn bị đẩy ra khỏi thể xác :

Há miệng cho hồn văng lên muôn trượng

Đêm nay ta khạc hồn ra khỏi miệng. (Hồn lìa khỏi xác)

Trong ám ảnh của Hàn Mặc Tử có hình tượng cái miệng là nơi mà máu và linh hồn thoát ra khỏi thể xác. Những động từ như : « mửa», « hộc », « văng », « khạc »… làm liên tưởng đến sự sống mà nhà thơ gấp rút muốn tống khỏi thể xác của mình. Vì máu tượng trưng cho sự sống, máu ra khỏi thể xác là dấu hiệu của sự chết. Phải chăng đây là một ý muốn lìa đời vì quá khổ đau ? Có thể vì bệnh lý mà ám ảnh về máu trở nên mãnh liệt. Máu không hiện ra dưới hình thức vết hay giọt mà là « búng », « vũng », « sông », « biển ». Máu trong thơ Hàn Mặc Tử cũng có tính tôn giáo. Máu tuôn ra khỏi thể xác là một sự đổ máu để chuộc tội, để được cứu rỗi linh hồn, cũng như Chúa Kitô đã đổ máu để cứu chuộc nhân loại.

Cả Baudelaire và Hàn Mặc Tử đều quằn quại trong sự đau thương của kiếp sống, nhưng hai con đường siêu thoát không gặp nhau.

Baudelaire cảm thấy bị rơi vào một vực thẳm. Vực thẳm là một trong những ám ảnh khắc khoải nhất của ông, được ông nhắc đến thường xuyên. Trong tác phẩm Mon coeur mis à nu, Baudelaire viết : Về tinh thần cũng như về thể xác, tôi luôn luôn có cái cảm giác về vực thẳm, chẳng những vực thẳm của giấc ngủ, mà còn vực thẳm của hành động, của giấc mơ, của kỷ niệm, của ước muốn, của luyến tiếc, của hối hận, của cái đẹp, của số (số ở đây có nghĩa là nhiều, đối lập với đơn nhất). Tôi vun đắp sự cuồng loạn của tôi với lạc thú và khiếp sợ. Bây giờ tôi vẫn còn chóng mặt. (12) Vực thẳm đó trước tiên là một vực thẳm của ngoại giới, là sự trống rỗng và tính hão huyền của trần thế, nhưng quan trọng nhất là vực thẳm của nội giới, nơi của tâm linh và choáng váng. Những cố gắng của những người thân và nhất là của mẹ Baudelaire để đưa ông trở về đời sống bình thường đều vô ích. Ông nhất định mình là một kẻ bị nguyền rủa, nói phạm thượng, một kẻ bị rơi vào vực thẳm. Cách nhìn thế giới của Baudelaire có tính bất ổn như hình ảnh bầu trời như một cái vung, trong bài thơ Spleen đã được bàn đến ở trên. Baudelaire là kẻ bị đày xuống địa ngục, ông là một vực thẳm đầy tuyệt vọng. Bài sonnet Le Gouffre (Vực thẳm) viết vào cuối đời, nói lên sự sợ hãi siêu hình :

Sur le fond de mes nuits Dieu de son doigt savant

Dessine un cauchemar multiforme et sans trêve.

Trên cái nền đêm tối của tôi Thượng Đế với ngón tay tài giỏi của Ngài

Vẽ lên một cơn ác mộng đa dạng và triền miên.

Trong khi Baudelaire rơi xuống vực thẳm vùn vụt đến chóng mặt thì ở Hàn Mặc Tử có hiện tượng thăng thiên :

Ta bay lên ! Ta bay lên !

Gió tiễn đưa ta tới nguyệt thiềm. (Chơi trên trăng)

Hoặc :                  Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu

Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang ? (Thánh Nữ Đồng Trinh Maria)

Nhưng vẫn có sự sợ hãi vì chói ngợp :

Mới hay cõi siêu hình cao tột bực

Giữa hư vô xây dựng bởi trăng sao

Xa lắm rồi, xa lắm hãi dường bao ! (Siêu thoát)

Không gian của Hàn Mặc Tử là không gian của ánh sáng, trên cõi trời cao có Thiên Chúa là ánh sáng :

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền

Không u ám như cõi lòng ma quỷ. (Ngoài vũ trụ)

Baudelaire tự xem mình là một nhà thơ bị nguyền rủa, tâm hồn luôn nổi loạn, và sau khi đi tìm giải thoát trong tình yêu, trong thiên đường giả tạo và trong nghệ thuật, ông nhận thấy chỉ có cái chết là lối giải thoát cuối cùng để chấm dứt sự khổ đau trên đời này. Hàn Mặc Tử cũng nghĩ về cái chết, nhưng ông có cái nhìn xa hơn, lạc quan hơn, nhà thơ xin Chúa tha tội để được về nước Chúa là nơi cội nguồn của mình. Chìm xuống vực thẳm hay bay lên trời, Baudelaire và Hàn Mặc Tử đều bị chơi vơi, choáng váng, đó là điểm gặp nhau của họ. Hai con đường siêu thoát vẽ lên nét độc đáo của hai nhà thơ, của hai phương pháp mỹ học.

Một khía cạnh khác về quan hệ giữa Baudelaire và các nhà thơ Việt Nam là ảnh hưởng của Edgar Poe. Nếu trong thơ của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê có những đầu lâu, hồn ma, tiếng rú, là phần lớn do ảnh hưởng của các truyện quái đản của Poe. Và nếu nhà văn Mỹ đã đến được với các nhà thơ Việt Nam cũng là nhờ công trình dịch thuật của Baudelaire.

Khi Baudelaire trưởng thành thì một thế hệ sáng chói đang ngự trị trên thi đàn Pháp, gồm những Lamartine, Hugo, Musset, Vigny. Baudelaire đã được thơ lãng mạn nuôi dưỡng, nhưng ông muốn trở thành một nhà thơ khác. Trong một bản thảo bài tựa cuốn Les Fleurs du Mal, Baudelaire viết : Những nhà thơ nổi tiếng đã chia nhau từ lâu những mảnh đất có nhiều hoa nở nhất của lĩnh vực thi ca […] Vậy tôi sẽ làm việc khác. Baudelaire sẽ xa rời thơ lãng mạn.

Cuộc đời náo động và có khi bí ẩn của Baudelaire đã khiến ông xứng đáng mang danh hiệu « Người thi sĩ bị nguyền rủa » (le poète maudit), danh hiệu do Verlaine tạo nên. Tác phẩm của Baudelaire dưới mọi hình thức đều được xây dựng xung quanh một cái trục thiết yếu : nói về con người trong bản thể toàn diện, với những mâu thuẫn bi đát, bằng cách biểu lộ một tâm thức sáng suốt và bằng cách tôn vinh cái đẹp với một lối viết trong sáng, dành ưu tiên cho trí tưởng tượng sáng tạo. Baudelaire là người sáng lập và đề cao tính hiện đại của thơ. Ông đã biến sự sáng tạo thơ thành một hành động sống. Ảnh hưởng của Baudelaire rất sâu rộng. Vẻ vang lớn nhất của ông là đã làm xuất hiện nhiều nhà thơ lớn ở Pháp. Valéry cho rằng Verlaine, Mallarmé, Rimbaud sẽ không phải là những nhà thơ nổi tiếng nếu họ đã không từng đọc Les Fleurs du Mal. Verlaine và Rimbaud tiếp tục Baudelaire trên bình diện tình cảm và cảm giác, Mallarmé nối dài Baudelaire về sự hoàn hảo và trong sáng của thơ.

Theo nhà thơ Anh Quốc T.S. Eliot thì thi phẩm Les Fleurs du Mal của Baudelaire là cái gương lớn nhất của thi ca hiện đại, dù được phát biểu trong ngôn ngữ nào đi nữa. Thơ của Baudelaire đã lan tràn sang Đức, Anh, Ý, Tây Ban Nha, Mỹ, và không ngừng lại ở Âu châu, Mỹ châu. Lịch sử đã đưa thơ Baudelaire đến dải đất Việt Nam, đúng vào lúc nền thi ca Việt Nam cần thoát khỏi thơ truyền thống, cần có một ngôn ngữ mới, một nhạc điệu mới và một cái nhìn mới mẻ về vũ trụ, nhân sinh. Baudelaire đã mở đường cho thơ hiện đại ở phương Tây và đã góp phần vào việc hiện đại hóa thơ Việt Nam.

________________

(1) Charles Baudelaire, Les Fleurs du Mal, Gallimard, 1972 và 1996, tr. 315.

(2) Platon, triết gia của Hy lạp thời cổ đại (428-348 trước công nguyên). Theo học thuyết chính yếu của ông thì trong những cuộc đời liên tiếp của chúng ta, chúng ta chỉ thấy cái phản ánh khiếm khuyết và thô thiển của các thực tại tối cao, những thực tại đó là Thực chất (Essences) hay Ý niệm (Idées). Linh hồn trước kia được biết nhũng Thực chất, nhưng về sau bị mất phẩm giá, linh hồn có một luyến tiếc mơ hồ hay hồi ức, hồi ức chứng tỏ sự khao khát của linh hồn được trở về trạng thái của xưa kia.

(3)     « Tout un monde lointain, absent, presque défunt,

         Vit dans tes profondeurs, forêt aromatique. » (La chevelure)

(4)     « Le langage des fleurs et des choses muettes. » (Élévation)

(5)     « Que tu viennes du ciel ou de l’enfer, qu’importe. » (Hymne à la beauté)

(6)     « L’Univers moins hideux et les instants moins lourds. » (Hymne à la Beauté)

(7)     « C’est pour les coeurs mortels un divin opium. » (Les Phares)

(8) « Le beau est toujours bizarre. Je ne veux pas dire qu’il soit volontairement, froidement bizarre, car dans ce cas il serait un monstre sorti des rails de la vie. Je dis qu’il contient toujours un peu de bizarrerie, de bizarrerie naïve, non voulue, inconsciente et que c’est cette bizarrerie qui le fait être particulièrement le Beau. »

Charles Baudelaire, « Exposition universelle (1855) », Écrits sur l’Art, Librairie Générale Française, 1992 và1999, tr. 257.

(9) « La modernité, c’est le transitoire, le fugitif, le contingent, la moitié de l’art, dont l’autre moitié est l’éternel, l’immuable. »

Charles Baudelaire, « Le Peintre de la vie moderne », Écrits sur l’Art, sđd, tr. 51

(10) « Donner un sens plus pur aux mots de la tribu. » (Valéry, Le tombeau d’Edgar Poe)

 (11) Những bài dịch thơ Baudelaire ở đây không được dịch dưới dạng thơ, chỉ cốt để độc giả hiều ý của các bài thơ.

(12) « Au moral comme au physique, j’ai toujours eu la sensation du gouffre, non seulement du gouffre du sommeil, mais du gouffre de l’action, du rêve, du souvenir, du désir, du regret, du remords, du beau, du nombre, etc…

J’ai cultivé mon hystérie avec jouissance et terreur. Maintenant j’ai toujours le vertige… »

Charles Baudelaire, Fusées, Mon coeur mis à nu, La Belgique déshabillée, « Folio Classique », Gallimard, 1975, 1976 và 1986, tr. 85.

Trích từ cuốn Tiếp cận Văn học Pháp của Liễu Trương,

  Nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 2007, có sửa chữa.

 

Advertisements