RỪNG MẮM CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC

 Biết rằng không ai có thể trở lại cuộc đời mình lần nữa, nhưng mà nếu làm được chuyện đó, tôi vẫn chọn viết văn… Bình Nguyên Lộc tuyên bố như thế. Nhưng viết văn như thế nào ? Bình Nguyên Lộc phân biệt, như ở Tây phương, hai hạng người viết : nhà văn và người viết với ngôn ngữ tầm thường, Pháp gọi là écrivainécrivant. Và ông bênh vực hạng người thứ hai : hạng người dùng ngôn ngữ tầm thường để viết. Trong bài phỏng vấn của tạp chí Văn, Sài gòn, số 199, ngày 1-4-1972, do Nguyễn Nam Anh thực hiện, Bình Nguyên Lộc nói : Ông Tản Đà làm thơ thì hay, viết văn cũng hay. Ông là Ecrivain. Nhưng anh nông phu lại không có tài hay sao khi anh ta làm thơ như thế này :

                            Ông Nỉnh ông Ninh

                            Ông ra đầu đình

                            Ông gặp ông Nảng ông Nang

                            Ông Nảng ông Nang

                            Ông ra đầu làng

                            Ông gặp ông Nỉnh ông Ninh.

Anh nông phu ấy đã bị gọi là Ecrivant đấy. Nhưng đố ông Tản Đà làm nổi một bài thơ như vậy.

Rồi Bình Nguyên Lộc nói chính ông đã từng làm écrivant dưới bút danh Phong Ngạn để sáng tác truyện, vì vấn đề mưu sinh, nhưng ông không lấy đó làm xấu hổ. Ông tỏ ra khiêm tốn khi ông cầm bút. Tuy thế, từ người viết với ngôn ngữ tầm thường, ông đã nhanh chóng trở thành nhà văn, và tên tuổi của ông đã đi vào văn học Việt Nam.

Tên thật của Bình Nguyên Lộc là Tô Văn Tuấn, ông sinh năm 1914 ở xã Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa. Vì ông rất gắn bó với cái nơi chôn nhau cắt rún của ông, nên những cái tên Tân Uyên, Biên Hòa và sông Đồng Nai thường xuất hiện đây đó trong truyện của ông. Sau khi từ giã nghề công chức, ông bắt đầu làm báo, viết văn, ông hăng say viết. Cũng theo tạp chí Văn kể trên, cho đến năm 1966, Bình Nguyên Lộc có :

820 truyện ngắn (đã in được 5 tập)

52 tiểu thuyết (đã in được 11 quyển).

Ngần ấy số lượng tác phẩm cũng đủ làm người đọc choáng váng. Về truyện ngắn, công bình mà nói, tác giả viết không đều tay, giá trị các truyện không ngang nhau, có truyện hay, đọc nhiều lần không chán, có truyện đọc một lần thì có thể bỏ qua. Những truyện hay của Bình Nguyên Lộc ở lâu dài trong trí nhớ người đọc. Ông có cái tài quan sát tỉ mỉ từ con cá, con chim, đến cây cỏ, thổ nhưỡng, ông am hiểu lối sống của người dân quê cũng như cách ăn ở của người thành thị, và chỉ cần vài ba chi tiết là ông vẽ lên đầy đủ chân dung một người phụ nữ, đó là chưa kể sự miêu tả cảnh sông nước miền Nam trong truyện của ông. Đọc Bình Nguyên Lộc, cũng như đọc Sơn Nam, là đi vào cái thế giới của miền đất mới.

Trong chiều hướng này, truyện ngắn Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc là một truyện tiêu biểu cho sự tranh đấu gay go của con người để giành lấy đất sống. Rừng Mắm đã được dịch ra Pháp ngữ và Anh ngữ.

Thế hệ rừng mắm và thế hệ rừng tràm

Cộc là một đứa con trai 15 tuổi, sống với cha mẹ và ông nội trong một khu rừng tràm. Nó nhớ năm nó lên 10 tuổi, cha mẹ nó bán túp lều lá ở vùng Cao Lãnh, và cùng ông nội nó đến nơi này. Ông nội nó tiếc nhớ những ngôi mộ của tổ tiên mà ông đã để lại nơi làng xóm. Cả gia đình đi trên một chiếc xuồng lớn, gọi là xuồng cui, lênh đênh từ rạch này qua rạch khác, cuối cùng dừng lại ở cái rạch này, giữa một rừng tràm, cây cối đan nhau dày mịt, đến nổi không thấy ánh sáng mặt trời, con rạch tối như một cái hang. Xứ này muỗi quá nhiều, nước thì đầy phèn, muốn có rau mùi để ăn với cá, người lớn phải ra tay chế biến một cách tài tình để dựng lên những cái vườn tí hon, cao cẳng, bằng cách đóng bốn cái cọc ba chân, treo lên đấy bốn cái nồi lớn khoét đáy, lấp đầy bằng thứ đất được đem từ xa tới, như thế rau mùi và ớt mọc trên bốn cái nồi. Lại nữa, nhờ bóng bốn cái nồi xê dịch trên mặt đất, gia đình thằng Cộc có thể đoán giờ để sinh hoạt trong ngày. Mấy cây chuối họ trồng đã chết vì đất nhiều phèn, mấy con gà đem theo cũng lần lượt chết. Khi đến nơi này, họ đốt một khoảng rừng tràm để trồng lúa ; lúa gặt được không bao nhiêu, tía thằng Cộc phải đem cá khô đi rất xa để đổi lấy thêm lúa. Cơm không đủ ăn, có ngày phải ăn rắn, ăn rùa.

Cộc sống trong một thế giới người câm, cha mẹ và ông nội nó không nói chuyện với nhau, suốt ngày làm việc quần quật. Mà nếu họ có nói gì, nó cũng nhàm tai, nó thèm nghe những giọng nói khác, nó thèm thấy nhà cửa xung quanh nó, thèm nghe tiếng nói, tiếng cười của nhiều người khác, nó… thèm người. Nó bắt đầu cảm thấy đời sống trong cái rừng tràm này ngột ngạt và nó có những ý nghĩ thoát ly.

Ông nội của Cộc đặt cho xóm này cái tên Ô Heo. Thật ra Ô Heo là tên một cái gò ở xa rừng tràm, muốn đến đấy, phải băng rừng rất nguy hiểm vì dễ gặp thú dữ, cho nên gia đình cấm Cộc đến gò Ô Heo. Dù bị cấm nó cũng lén lút đến đấy để gặp những người lạ mặt thỉnh thoảng dừng chân nơi đó. Họ kể đủ thứ chuyện rất hấp dẫn ở làng xóm họ, nào là lễ lộc, đám ma, đám cưới, họ nói đến những món ăn như trái cây xoài, mít, chè, những thứ mà thằng Cộc không hề biết tới từ năm năm nay. Nó thèm các thứ đó vô cùng. Có lần tía nó đi xa trở về cho nó cục đường, ăn xong nó càng khổ sở hơn, vì cục đường làm tăng nỗi thèm của nó. Một hôm người đàn ông mà Cộc quen mặt ở gò Ô Heo đem theo một cô nhân tình, những người phụ nữ thường đến đây hái bồn bồn về làm dưa để bán. Cô nhân tình này chuyện trò giễu cợt với Cộc, cô rủ Cộc về làng làm ruộng, rồi Cộc sẽ cưới được em gái cô tên Thôi. Trở về nhà, Cộc đâm ra mơ mộng, nó mơ đến người con gái tên Thôi, nó mơ một cuộc sống khác. Một hôm, trong bữa ăn Cộc hỏi ông nội :

– Sao mình lại tới đây ông nội ?

– Đã nói cho mầy biết rồi. Trên xứ, mình không có ruộng, làm công khổ cả đời.

– Ở đây, mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời.

Rồi nó nói thêm với vẻ oán trách, làm ông nội nó giật mình :

Ở đây mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta.

Ông nội nó im lặng. Cộc để ý thấy ông nội đã già nhiều, ông thường than nhớ mồ nhớ mả của tổ tiên mà ông đã lìa xa, và nó cảm thấy thương ông quá.

 Sau nhiều ngày làm việc vất vả, lúa đã phơi khô và đổ vào bồn, ông nội Cộc tuyên bố :

Ngày mai ra biển.

Cộc ngạc nhiên, nó chưa từng thấy biển. Thế rồi ba người đàn ông : ông nội Cộc, tía Cộc và Cộc ra đi sớm trên chiếc xuồng trôi theo con rạch Ô Heo. Khi gần tới biển, không còn đất hai bên bờ rạch nữa, mà là một thứ bùn đen, cây tràm  nhường chỗ cho một thứ cây lạ, rễ của nó phơi ra ngoài và một thứ hoa trắng năm cánh mọc ngay trên rễ. Cộc ngơ ngác trước một thứ cây lạ lùng mọc lên hằng hà sa số. Ông nội nó giải thích đây là cây mắm, loại cây này không dùng được, ngay cả việc dùng làm củi cũng không được. Và đây là bài học quý báu của ông nội nó, mục đích của việc ra biển :

– Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra… Phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt được để người ta hưởng, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được.

(…)

Ông với lại tía là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con là xoài, mít, dừa, cau.

Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho con cháu họ hưởng.

Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sanh chút ít cho con cháu của con hưởng sao ?

Ông nội Cộc cũng giảng cho nó biết rằng tổ tiên ngày xưa từ miền Trung vào đây đều chịu số phận làm cây mắm, rồi đến ông sơ, ông cố và ông nội của Cộc mới làm tràm, mới kiếm được miếng ăn.

Cộc ý thức được sự hy sinh cao cả của ông nội nó trong bao nhiêu năm trời. Nó cảm thấy thương ông quá đổi. Ông nội nó hứa rồi đây sẽ có đông người đến lập nghiệp ở vùng Ô Heo, miền đất này sẽ trở nên sầm uất, và tha hồ cho Cộc ăn đủ thứ món kể cả món chè. Thằng Cộc bỗng nhiên hướng về tía nó, nó muốn tía nó sẽ là tràm như nó. Cả một niềm thương yêu tràn ngập lòng nó.

Vinh danh đoàn người tiên phong trong cuộc Nam tiến

Truyện Rừng Mắm khởi đầu bằng tâm trạng một đứa trẻ không chịu nổi cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn và cô đơn ở một nơi hoang vắng, để đi đến một bài học lịch sử sống động với sự đóng góp của ba thế hệ trong gia đình, một trang sử mà chính đứa trẻ phải tiếp tay để viết lên, để ghi nhớ và tiếp tục cuộc tranh đấu lâu dài của những người di dân trước đây từ miền Trung đã vào miền Nam khai khẩn đất hoang, đã chịu bao gian khổ, hiểm nghèo. Tác giả Bình Nguyên Lộc ví họ như những chiến sĩ ra trận, hy sinh xương máu để về sau con cháu có được một miền đất trù phú.

Trong cuốn sách Viết và sống của Nguyễn Ngu Í, Bình Nguyên Lộc có cho biết rằng gia đình ông giữ được gia phả của mười thế hệ ở Tân Uyên, tức gia đình ông là một gia đình xưa nhất. Người di dân miền Trung tiến vào Nam vào thế kỷ 17, tức đã 300 năm, mười thế hệ của một gia đình có thể lấp gần đầy ba thế kỷ.

Khi Bình Nguyên Lộc bắt đầu viết văn, ông có ý định viết một truyện lịch sử mà ông đặt cho cái tựa đề là Phù Sa. Vì hoàn cảnh, truyện bị thất lạc, rồi được viết lại nhưng bị gián đoạn nhiều lần, và cuối cùng truyện Phù Sa hóa lở dở. Mục đích của tác giả khi viết truyện này có một ý nghĩa thâm sâu : đó là sự đền ơn tổ tiên đã đẩy mạnh cuộc Nam tiến, vì ông luôn bị những hy sinh lớn lao của tổ tiên ám ảnh.

Bình Nguyên Lộc tha thiết với sự hình thành của đất miền Nam. Ông đã tỏ ra yêu thương, gắn bó với dải đất này. Không có gì đáng ngạc nhiên nếu truyện của ông nói về miền Nam, về người dân miền Nam. Khi đọc truyện của ông, dẫu là những truyện mà nghệ thuật viết có khi sơ sài, người dân miền Nam vẫn nhận ra giọng nói miền Nam bình dị, thân mật, ấm áp tình người, và thấy được cái nơi mình sống là của cha ông mình để lại cho mình.

Nếu Phù Sa không được thực hiện như lòng mong mỏi của tác giả thì truyện Rừng Mắm làm ánh lên cái khí huyết của những kẻ vững tâm đi tìm đất sống. Rừng Mắm đã góp phần vào truyền thống dựng nước.

Tác phẩm và tài liệu tham khảo :

– Tuyển Tập Bình Nguyên Lộc. An Tiêm xuất bản, Paris-California, 1999.

– Bình Nguyên Lộc, Mưa thu nhớ tằm, tái bản ở Mỹ, không có tên nhà xuất bản.

– Bình Nguyên Lộc, Tâm trạng Hồng, Xuân thu, Texas tái bản.

– Nguyễn Ngu Í, Sống và viết, Xuân Thu, California tái bản.

– Tạp chí Văn, Sài gòn, số 199, ngày 1-4-1972.

Advertisements