TƯỢNG NỮ THẦN VÉNUS CỦA THỊ XàILLE

Tôi đi xuống cái sườn cuối cùng của ngọn núi Canigou, và mặc dù mặt trời đã lặn, tôi thấy rõ trên đồng bằng những ngôi nhà của thị xã Ille, nơi mà tôi đang đi đến.

« Anh có biết, tôi nói với người đàn ông sinh trưởng vùng Catalogne làm hướng dẫn viên cho tôi từ hôm qua, anh có biết chắc chắn ông de Peyrehorade ở đâu không ?

Anh ta kêu lên :

– Tôi mà không biết nữa thì thôi, tôi biết rõ nhà ông ấy như nhà tôi mà ; và nếu không tối trời như thế này, tôi sẽ chỉ ngôi nhà đó cho ông. Đó là ngôi nhà đẹp nhất ở Ille. Ông de Peyrehorade, ông ấy có tiền, vâng, và ông hỏi vợ cho con trai ông còn giàu hơn ông.

– Sắp có đám cưới à ? tôi hỏi.

– Vâng, sắp có đám cưới ! Chắc là người ta đã đặt thuê những chiếc đàn vĩ cầm cho hôn lễ rồi đấy. Tối nay, hay có lẽ ngày mai, ngày mốt, biết đâu ! Lễ cưới sẽ cử hành ở Puygarrig, bởi vì cậu con trai ông sẽ lấy cô de Puygarrig. Lễ cưới sẽ tốt đẹp, vâng đúng thế ! »

Tôi được bạn tôi, ông de P., giới thiệu với ông de Peyrehorade. Bạn tôi nói ông ấy là một nhà khảo cổ, học thức cao và một mực chiều lòng kẻ khác. Ông ấy sẽ vui thích đưa tôi đi xem những tàn tích cách mười dặm quanh vùng.

Thế nhưng tôi trông cậy ông ấy đưa tôi đi viếng vùng lân cận của thị xã Ille, nơi mà tôi biết có nhiều công trình nghệ thuật của thời cổ đại và thời trung đại. Cái đám cưới mà lần đầu tiên người ta báo cho tôi biết làm đảo lộn những dự định của tôi.

Tôi sẽ là kẻ phá đám, tôi tự nhủ thế. Nhưng người ta đang chờ tôi, vì ông de P. có báo trước tôi sẽ đến nên bắt buộc tôi phải trình diện.

« Thưa ông, chúng ta hãy đánh cuộc với nhau, người hướng dẫn nói với tôi khi chúng tôi đã xuống đến đồng bằng, chúng ta hãy đánh cuộc một điếu xì gà rằng tôi đoán đúng ông sẽ làm gì ở nhà ông de Peyrehorade ?

– Nhưng mà, tôi trả lời bằng cách chìa cho anh ta một điếu xì gà, đâu có gì khó để mà đoán. Giờ này, sau khi đã đi sáu dặm trong núi Canigou thì cái việc trọng đại là ăn tối.

– Vâng, nhưng mà ngày mai ?… Đây này, tôi đoán chắc rằng ông đến Ille là để xem cái tượng thần phải không ? Tôi đoán như thế vì thấy ông vẽ chân dung các thánh ở nhà thờ tu viện Serrabona.

– Tượng thần ! Tượng thần nào ? Hai từ đó kích thích tính tò mò của tôi.

– Sao ! Ở Perpignan người ta không kể cho ông nghe rằng ông de Peyrehorade đã đào ra một cái tượng thần như thế nào à ?

– Anh muốn nói một pho tượng bằng đất nung, bằng đất sét phải không ?

– Không phải đâu, thưa ông. Bằng đồng thật, và có đủ chán để hái ra tiền. Nó nặng bằng một cái chuông nhà thờ. Chúng tôi đã đào nó ra từ trong đất sâu, dưới gốc cây ô liu.

– Vậy anh có mặt khi người ta phát hiện nó ?

– Thưa ông vâng. Trước đó mười lăm ngày, ông de Peyrehorade bảo anh Jean Coll và tôi bứng một cây ô liu già đã chết vì cái rét năm ngoái, năm ngoái là cái năm tai hại, như ông biết. Vậy trong lúc làm việc, Jean Coll hăng hái mạnh tay, anh phát một nhát cuốc, và tôi nghe một tiếng « beng »… tưởng như anh ấy đập vào một cái chuông. Cái gì thế ? tôi nói. Chúng tôi vẫn cuốc, vẫn cuốc, và kìa một bàn tay đen thui hiện ra, có vẻ là bàn tay của một người chết ra khỏi đất. Tôi, thì tôi khiếp sợ. Tôi đi thưa với ông chủ và tôi nói với ông : « Thưa ông chủ, có người chết, ở dưới gốc cây ô liu ! Phải đi mời cha xứ ! – Người chết nào ? » Ông hỏi tôi. Ông đến nơi, và vừa mới trông thấy bàn tay, ông đã kêu lên :

« Một đồ cổ ! Một đồ cổ ! » Tưởng như ông ấy tìm ra một kho tàng. Và rồi, với cái cuốc và hai bàn tay ông xông xáo, ông làm việc gần như bằng hai chúng tôi.

– Và cuối cùng đã tìm ra được gì ?

– Một người đàn bà cao lớn, đen, nói vô phép chứ hơn phân nửa trần truồng, thưa ông, hoàn toàn bằng đồng, và ông de Peyrehorade nói với chúng tôi rằng đó là một ngẫu tượng thời người ta theo đa thần… thời hoàng đế Charlemagne ấy mà !

– Tôi hiểu… một pho tượng đẹp nào của Thánh Nữ Đồng Trinh bằng đồng thanh trong một tu viện bị tàn phá chứ gì !

– Một pho tượng đẹp của Thánh Nữ Đồng Trinh ! Ối chà !… Nếu là một pho tượng đẹp của Thánh Nữ Đồng Trinh thì tôi đã nhận ra rồi. Một tượng thần, xin thưa với ông : thấy rõ ở cái vẻ của nó. Nó nhìn người ta chăm chăm với đôi mắt to, trắng dã của nó… Tưởng chừng nó nhìn chòng chọc vào mặt mình. Khi nhìn nó, người ta phải nhìn xuống.

– Đôi mắt trắng à ? Chắc chắn đôi mắt đã được khảm vào đồng thanh. Có lẽ là một pho tượng La Mã nào đấy.

– La Mã ! Đúng thế. Ông de Peyrehorade nói là một tượng La Mã. À, tôi thấy rõ ông là một nhà thông thái như ông ấy.

– Pho tượng có được nguyên vẹn, có được bảo tồn không ?

– Ồ, thưa ông, nó chẳng thiếu cái gì. Nó còn đẹp hơn, hoàn tất hơn cái tượng vua Louis-Philippe bằng thạch cao, sơn màu, ở tòa thị chính nữa đấy. Nhưng dù với tất cả những cái đó, tôi vẫn không thích gương mặt của pho tượng. Nó có vẻ độc ác… và nó cũng độc ác đấy.

– Độc ác ! Nó đã làm điều gì độc ác ?

– Không phải độc ác với riêng tôi, nhưng mà rồi đây ông sẽ thấy. Lúc đó chúng tôi bốn người chung sức kéo nó đứng thẳng, và ông de Peyrehorade cũng kéo giây thừng, mặc dù sức ông không hơn sức một con gà, cái ông đáng kính đó! Chúng tôi rất vất vả để dựng đứng nó. Khi tôi nhặt một mảnh ngói để kê nó, thì đùng một cái, nó ngã xuống, bật ngửa cả khối nặng. Tôi nói : « Coi chừng ở phía dưới ! » Tuy nhiên tôi nói không được nhanh, và Jean Coll không kịp kéo cái chân của anh ra…

– Và anh ấy bị thương phải không ?

– Cái chân tội nghiệp của anh bị gẫy hẳn như một cây cọc leo. Tội anh ta quá ! Thấy thế, tôi nổi giận. Tôi muốn đập cái tượng thần với cái cuốc, nhưng ông de Peyrehorade đã giữ tôi lại. Ông cho Jean Coll tiền, dù sao đi nữa anh ấy cũng nằm đã mười lăm ngày từ khi tai nạn xảy ra, và bác sĩ nói rằng cái chân đó của anh sẽ không bao giờ đi đứng như cái chân kia. Đáng tiếc, anh ấy là người chạy nhanh nhất và, sau ông con trai của ông chủ, anh ấy là người chơi bóng quần lanh nhất. Ông Alphonse de Peyrehorade buồn phiền về chuyện này, bởi vì chính Coll thường chơi với ông. Thật là đẹp mắt khi họ đánh những quả bóng qua về. Băng ! băng ! Những quả bóng không bao giờ chạm đất. »

Cứ mãi nói chuyện như thế, chúng tôi đã đi vào Ille, và chẳng bao lâu tôi được đối diện với ông de Peyrehorade. Ông là một cụ già nhỏ thó còn mạnh khỏe và nhanh nhẹn, mặt ông thoa phấn, mủi đỏ, ông có vẻ vui tính và giễu cợt. Trước khi mở cái thư của ông de P., ông mời tôi ngồi vào một cái bàn đầy thức ăn, ông giới thiệu tôi với vợ ông và con trai ông, như tôi là một nhà khảo cổ tiếng tăm sẽ đưa cái vùng Roussillon này ra khỏi sự quên lãng mà nó bị chìm vào vì sự dửng dưng của các nhà bác học.

Vừa ăn ngon miệng, bởi vì không có gì làm mình ăn ngon miệng hơn là cái không khí trong lành của miền núi, tôi vừa quan sát những người chủ nhà. Tôi đã tả ông de Peyrehorade, tôi phải nói thêm rằng ông là hiện thân của sự linh hoạt. Ông nói chuyện, ông ăn, ông đứng dậy, ông chạy đến tủ sách, đem sách lại cho tôi, chỉ cho tôi xem những tranh in tay, rót rượu cho tôi uống ; ông không bao giờ ngồi yên hai phút. Bà vợ ông hơi quá đẫy đà như phần đông những người phụ nữ xứ Catalogne, khi họ đã quá bốn mươi tuổi, bà có vẻ một người phụ nữ hoàn toàn sống ở tỉnh nhỏ, chỉ lo công việc nội trợ. Mặc dù bữa ăn đủ cho ít nhất sáu người, bà chạy vào bếp, bảo người nhà giết chim bồ câu, ráng bánh bột bắp, bà mở không biết bao nhiêu hũ mứt. Trong khoảnh khắc, cái bàn chất đầy những thức ăn và chai rượu, chắc chắn tôi sẽ chết vì chứng khó tiêu nếu tôi thưởng thức tất cả những gì người ta mời tôi. Tuy nhiên, cứ mỗi món ăn mà tôi từ chối, thì họ lại phải nói thêm những lời xin lỗi. Người ta sợ tôi thiếu ăn ở Ille. Trong vùng này quá ít thực phẩm, mà dân Paris thì lại khó tính quá !

Giữa lúc cha me lăng xăng đi qua đi lại thì cậu con trai, Alphonse de Peyrehorade, ngồi bất động như cái cột mốc. Anh ta là một thanh niên cao lớn, hai mươi sáu tuổi, nét mặt đẹp và đều đặn, nhưng thiếu tế nhị. Anh ta có một khổ người và hình dáng của một lực sĩ, điều này chứng minh sự nổi tiếng của anh ta trong vùng, anh ta nổi tiếng là một người chơi bóng quần không bao giờ mệt. Tối hôm đó anh ta ăn mặc lịch sự, giống hệt tấm hình trong tạp chí « Journal des modes » (Báo thời trang), số cuối cùng. Nhưng anh ta có vẻ không thoải mái trong bộ đồ thời trang ; anh ta cứng ngắc như cái cọc trong cái cổ áo bằng nhung, và chỉ quay người với nguyên cái thân xác cứng đơ. Bàn tay anh ta to kệch và sạm nắng, móng tay ngắn, trái ngược một cách kỳ lạ với bộ đồ. Đó là bàn tay người đi cày ló ra khỏi tay áo người phong nhã. Thêm nữa, mặc dù anh ta nhìn tôi từ đầu đến chân một cách lạ lùng, vì cái tư cách người dân Paris của tôi, anh ta chỉ nói chuyện với tôi có một lần, đó là để hỏi tôi mua cái giây chuyền đồng hồ ở đâu.

« À, thưa ông khách của tôi, ông de Peyrehorade nói khi bữa ăn tối sắp kết thúc, ông thuộc về tôi, ông ở nhà tôi. Tôi không thả ông ra đâu, tôi chỉ thả ông ra khi nào ông đã thấy hết tất cả những gì lạ lùng mà chúng tôi có trong miền núi này. Ông phải tập hiểu biết vùng Roussillon của chúng tôi, và công nhận giá trị của nó. Ông không ngờ được những gì chúng tôi sẽ cho ông xem đâu. Những công trình nghệ thuật của Phénicie, Celtique, La Mã, Ả rập, Byzance, ông sẽ thấy tất cả, từ cây thông bá hương đến cây bài hương. Tôi sẽ đưa ông đi khắp nơi và không tha cho ông một viên gạch nào. »

Một cơn ho buộc ông phải ngừng. Thừa dịp tôi nói với ông rằng tôi khổ tâm đã quấy rầy ông trong những ngày vui thú như thế này của gia đình ông. Nếu ông vui lòng cho tôi những lời khuyên quý báu về các cuộc đi chơi, thì tôi có thể đi một mình, ông không phải nhọc công đưa tôi đi…

« À ! Ông muốn nói đến hôn lễ của thằng con trai này hả ? ông kêu lên, cắt ngang câu nói của tôi. Chuyện thường thôi, hôn lễ sẽ cử hành ngày kia. Ông dự tiệc cưới với chúng tôi nhé ! Trong gia đình mà ! Vì con dâu tương lai của tôi để tang một bà dì mà cô ta là thừa kế. Vậy không có lễ lớn, không có khiêu vũ. Uổng thật ! Nếu không ông sẽ thấy các cô gái vùng Catalogne khiêu vũ… Các cô xinh đẹp, và có lẽ ông sẽ nảy cái ý muốn bắt chước thằng Alphonse của tôi. Người ta nói một hôn nhân làm nảy sinh những hôn nhân khác… Thứ bảy này, khi hai trẻ thành hôn xong, tôi sẽ rảnh rang, và chúng ta sẽ thi thố tài năng với nhau. Xin ông tha lỗi cho tôi đã đem lại cho ông sự nhàm chán của một lễ cưới ở tỉnh nhỏ. Đối với một nguời dân Paris đã chán ngấy các lễ hội… và lại là một lễ cưới không có khiêu vũ nữa chứ ! Tuy nhiên ông sẽ thấy một cô dâu… một cô dâu… ông sẽ phải khen tôi… Nhưng ông là một người đàn ông nghiêm trang và ông không còn nhìn phụ nữ nữa. Tôi có cái hay hơn để cho ông xem. Tôi sẽ cho ông xem cái này… Tôi dành cho ông một bất ngờ tuyệt diệu vào ngày mai.

– Trời ! tôi nói, khó có một kho tàng trong nhà mà công chúng không biết đến. Tôi nghĩ là tôi đã đoán được cái bất ngờ mà ông dành cho tôi. Nhưng nếu đúng là pho tượng của ông thì sự miêu tả của người hướng dẫn tôi chỉ để kích thích tính tò mò của tôi và khiến tôi sẵn sàng chiêm ngưỡng.

– À ra thế ! Anh ta đã nói với ông về cái tượng thần, bởi vì họ gọi nữ thần Vénus Tur… tuyệt đẹp của tôi như thế, nhưng tôi không muốn nói gì thêm với ông. Ngày mai, giữa thanh thiên bạch nhật, ông sẽ thấy và ông hãy nói cho tôi biết là tôi có lý hay không khi tôi nghĩ nó là một tuyệt tác. Đương nhiên, ông đến đây quá đúng lúc ! Có những câu khắc trên tượng mà tôi, kẻ ngu muội đáng thương, tôi giải thích theo cách của tôi… nhưng một nhà bác học ở Paris !… Có lẽ ông sẽ chế nhạo cách giải thích của tôi… bởi vì tôi có viết một tiểu luận… tôi, kẻ đang nói chuyện với ông… một nhà khảo cổ già ở tỉnh nhỏ, tôi liều viết… Tôi muốn làm cho báo chí rên xiết… Nếu ông vui lòng đọc và sửa cho tôi, tôi có thể hy vọng… Chẳng hạn, tôi tò mò muốn biết ông dịch thế nào cái chữ khắc trên bệ tượng : CAVE… Nhưng tôi chưa muốn yêu cầu ông điều gì ! Xin hẹn ông ngày mai, ngày mai ! Hôm nay xin đừng nói gì về nữ thần Vénus.

– Peyrehorade ơi, bà vợ nói, mình bỏ qua cái chuyện tượng thần của mình là đúng. Mình phải thấy là mình không để cho ông đây ăn. Thôi, ông đã thấy ở Paris những pho tượng còn đẹp hơn pho tượng của mình nhiều. Ở điện Tuileries có hằng tá tượng và cũng bằng đồng.

Ông de Peyrehorade cắt ngang lời bà :

– Đấy chính là sự ngu muội, sự ngu muội thần thánh của tỉnh nhỏ ! So sánh một vật cổ tuyệt đẹp với những cái tượng tầm thường của Coustou (1) !

Bà nội trợ của tôi thiếu tôn kính làm sao

Khi nói đến các vị thần ! (2)

Ông có biết là vợ tôi muốn tôi cho nung chảy cái pho tượng của tôi để đúc một cái chuông cho nhà thờ chúng tôi không ? Bởi vì bà ấy bảo trợ nhà thờ. Một tuyệt tác của Myron, thưa ông !

– Tuyệt tác ! Tuyệt tác ! Đúng là nó làm ra một tuyệt tác ! Nó làm cho một người phải gẫy chân !

– Này mình, ông de Peyrehorade vừa nói với một giọng quả quyết vừa đưa về phía bà cái chân mặt của ông trong một chiếc tất bằng lụa dệt nhiều màu, mình thấy không, nếu nữ thần Vénus của tôi làm gẫy cái chân này, tôi sẽ không tiếc.

– Trời đất ! Peyrehorade, làm sao mình có thể nói như thế được ! May mà tình trạng người đó đã khá… Hơn nữa tôi không chịu lãnh trách nhiệm nhìn cái pho tượng đã gây tai họa như vừa rồi. Tội cho Jean Coll !

– Bị nữ thần Vénus gây thương tổn, thưa ông, ông de Peyrehorade nói và phá lên cười, bị nữ thần Vénus gây thương tổn, thằng vô lại than phiền :

Veneris nec praemia nóris. (3)

Ai mà chẳng bị Vénus gây thương tổn ? »

Cậu con trai, Alphonse, hiểu tiếng Pháp khá hơn tiếng La tinh, liền nháy mắt với cái vẻ hiểu biết, và nhìn tôi như muốn hỏi : « Và ông, người Paris, ông có hiểu không ? »

Bữa ăn tối chấm dứt. Đã một tiếng đồng hồ rồi tôi không còn ăn nữa. Tôi thấm mệt và tôi không thể giấu được những cái ngáp liên hồi. Bà de Peyrehorade là người đầu tiên thấy tôi ngáp, và bà nói đã đến lúc tôi phải đi ngủ. Thế rồi lại bắt đầu có những lời xin lỗi về chỗ ở tồi tàn mà tôi sắp sử dụng. Tôi sẽ không được như ở Paris. Ở tỉnh nhỏ người ta không thoải mái ! Tôi cần phải khoan dung đối với người dân vùng Roussillon. Dù cho tôi có phản đối mà nói rằng sau một cuộc hành trình trong núi, một bó rơm đã là cái giường êm ả cho tôi rồi, họ vẫn xin tôi tha lỗi cho những người dân quê tội nghiệp, nếu họ không đối xử với tôi được như họ mong muốn. Cuối cùng tôi lên căn phòng mà người ta dành cho tôi, có ông de Peyrehorade đưa tôi lên. Cầu thang, với những nấc trên cao làm bằng gỗ, dẫn đến giữa một hành lang, có nhiều phòng mở ra phía hành lang.

« Bên phải, ông chủ nhà nói với tôi, là căn hộ mà tôi dành cho bà Alphonse tương lai. Phòng của ông ở đầu mút đối diện của hành lang. Ông thấy rõ, ông ta nói tiếp với cái vẻ muốn tỏ ra mình là người tinh tế, ông thấy rõ rằng phải biệt lập đôi tân hôn. Ông ở đầu này của ngôi nhà, chúng nó ở đầu kia. »

Chúng tôi bước vào một căn phòng đầy đủ bàn ghế, cái đồ vật đầu tiên mà tôi nhìn thấy là một cái giường bề dài bảy bộ (4), bề ngang sáu bộ, và nó cao quá đến nỗi phải có một cái thang nhỏ để leo lên. Chủ nhà chỉ cho tôi cái chuông, và sau khi ông đã đích thân xem xét cái bình đường có đựng đầy đường không, những chai nước hoa có đặt đúng ở chỗ rửa mặt không, sau khi đã hỏi tôi nhiều lần tôi có thiếu gì không, ông chủ nhà chúc tôi ngon giấc và để tôi lại một mình.

Các cửa sổ đều đóng kín. Trước khi thay đồ, tôi mở một cửa sổ để thở không khí mát về đêm, dễ chịu sau một bữa ăn tối kéo dài. Trước mặt tôi là núi Canigou, dáng dấp nó lúc nào cũng đẹp, nhưng đêm hôm đó tưởng như nó là quả núi đẹp nhất trên thế giới, một ánh sáng rạng rỡ làm nó sáng lên. Tôi đứng đấy vài phút để ngắm cái dáng tuyệt vời của nó, và tôi sắp đóng cửa sổ lại, khi đưa mắt nhìn xuống, tôi thấy pho tượng trên cái bệ, cách nhà khoảng hai mươi toa (5). Pho tượng được đặt ở góc một hàng rào cây xanh ngăn một khu vườn nhỏ với một mảnh đất vuông, rộng, hoàn toàn đều đặn, về sau tôi được biết mảnh đất đó là sân chơi bóng quần của thành phố. Mảnh đất là sở hữu của ông de Peyrehorade, ông đã nhượng cho thị xã theo lời yêu cầu cấp thiết của con trai ông.

Từ chỗ tôi đứng, khó cho tôi thấy rõ tư thế của pho tượng, tôi chỉ có thể xét về bề cao của nó, nó có vẻ cao khoảng sáu bộ. Vừa lúc này có hai đứa ranh mãnh trong thị xã đang đi qua sân chơi bóng quần, chúng đi khá gần hàng rào, vừa huýt sáo cái bài hát hay của xứ Roussillon, bài « Montagnes régalades ». Chúng dừng lại để nhìn pho tượng ; một trong hai đứa gọi pho tượng cộc lốc, bất nhã, nó lại la to tiếng nữa. Nó nói tiếng Catalogne, nhưng vì tôi đã từng ở xứ Roussillon khá lâu nên có thể hiểu sơ sơ điều nó nói :

« Mày đó hả, con đểu giả ! (tiếng đó trong ngôn ngữ Catalogne còn mãnh liệt hơn). Mày đó hả, nó nói. Vậy là chính mày đã bẻ gẫy chân của ông Jean Coll ! Mày mà thuộc về tao, thì tao sẽ bẻ cổ mày đấy.

– Ối ! Bẻ cổ nó với cái gì ? đứa kia nói. Nó bằng đồng và cứng đến nỗi ông Etienne làm gẫy cái dũa trên mình nó, khi ông thử dũa nó. Loại đồng của thời những người theo đa thần, nó cứng hơn là gì.

– Nếu tao có cái kéo cắt của tao (hình như nó là một đứa tập sự nghề thợ khóa), thì tao sẽ bứng cặp mắt trắng dã của nó, giống như tao bóc hột hạnh nhân ra khỏi vỏ. Nó dám trị giá trên một trăm xu lắm đấy. »

Chúng bước đi xa.

« Tao phải chúc tượng thần một đêm tốt đẹp cái đã », đứa tập sự cao nhất nói, nó thình lình dừng lại.

Nó cúi xuống, và chắc là nó nhặt một hòn đá. Tôi thấy nó giăng tay, ném một cái gì, và tức thì có một tiếng vang trên mặt đồng thanh. Cùng lúc đó đứa tập sự lấy tay ôm đầu vừa la lên một tiếng đau đớn. Nó kêu lên :

« Nó ném trở lại tao hòn đá đây này! »

Và hai đứa ranh mãnh cắm đầu chạy trốn. Tất nhiên là hòn đá dội trên kim loại, và đã trừng phạt tên vô lại kia vì nó đã xúc phạm đến nữ thần.

Tôi đóng cửa lại và cười khoái chí.

« Thêm một kẻ phá hoại văn vật bị nữ thần Vénus trừng phạt. Ước gì tất cả những kẻ phá hoại các công trình xưa cổ bị bể đầu như thế ! »

Thốt xong lời chúc nhân từ đó, tôi ngủ thiếp đi.

Trời sáng hẳn khi tôi thức dậy. Cạnh giường tôi, một bên có ông de Peyrehorade đang mặc áo ngủ ; bên kia có người giúp việc, tay bưng một tách sô cô la do vợ ông sai bưng lên.

« Nào, hãy đứng lên, hởi người dân Paris ! Những người lười biếng của thủ đô là thế đấy ! ông chủ nhà nói trong khi tôi vội vàng thay quần áo. Đã tám giờ rồi mà còn nằm trong giường ! Tôi, tôi dậy từ sáu giờ sáng. Tôi đã lên đây ba lần rồi đấy, tôi nhón gót đến gần cửa phòng ông : chẳng có ai cả, không một dấu hiệu của sự sống. Ở tuổi ông, ngủ nhiều quá không tốt cho ông đâu. Và còn nàng Vénus của tôi mà ông chưa thấy. Nào, ông hãy uống nhanh cho tôi cái tách sô cô la của Barcelone này đi… hàng lậu chính cống. Thứ sô cô la mà người ta không có ở Paris. Ông hãy lấy lại sức đi, bởi vì một khi ông đứng trước nàng Vénus của tôi, thì khó mà lôi ông ra khỏi đó được. »

Trong vòng năm phút tôi đã sẵn sàng, nghĩa là cạo râu mới phân nửa, áo quần gài khuy không kỹ, và lưỡi bị bỏng vì sô cô la nóng hổi mà tôi đã nuốt vội. Tôi đi xuống vườn và đứng trước cái pho tượng tuyệt diệu.

Đúng là một nữ thần Vénus đẹp tuyệt vời. Phần trên thân thể để trần, như người xưa thường miêu tả các vị thần ; bàn tay mặt đưa lên ngang với đôi vú, gan bàn tay quay vào trong, ngón cái và hai ngón đầu thẳng ra, hai ngón kia hơi uốn cong. Bàn tay kia, gần hông, nâng tấm khăn che đậy phần dưới của thân thể. Tư thế của pho tượng nhắc nhở tư thế của người chơi trò đố ngón tay mà tôi không hiểu tại sao lại được gọi là « Germanicus ». Có lẽ người ta muốn miêu tả vị nữ thần đang chơi trò đố ngón tay chăng.

Dù sao đi nữa, không thể thấy cái gì tuyệt vời hơn cái thân hình của nữ thần Vénus này, không gì êm dịu hơn, gây khoái lạc hơn những đường cong của pho tượng ; không gì lịch sự hơn, đài các hơn tấm khăn che lên người. Tôi tưởng sẽ thấy một công trình nào của thời Hậu Đế quốc La Mã ; nhưng tôi đã thấy một tuyệt tác của cái thời thịnh nhất của nghệ thuật đúc tượng. Điều đặc biệt gây ấn tượng cho tôi là  những đường cong giống như thật một cách tuyệt diệu, đến mức người ta có thể tưởng chúng được đúc khuôn theo một người mẫu có thật, nếu thiên nhiên sản xuất được những mẫu người cũng hoàn hảo như thế.

Mái tóc vén lên ở trán, có vẻ như xưa kia là màu vàng. Cái đầu, nhỏ như hầu hết các pho tượng Hy lạp, hơi nghiêng về phía trước. Về phần gương mặt, tôi không bao giờ miêu tả được cái vẻ kỳ lạ của nó, nét mặt này không giống nét mặt của một pho tượng cổ nào mà tôi còn nhớ. Không phải là vẻ đẹp bình thản và nghiêm khắc của những nhà điêu khắc Hy lạp, vì do phương thức tạo hình, họ làm cho tất cả những nét trên mặt có cái vẻ bất động uy nghiêm. Trái lại ở đây, tôi ngạc nhiên nhận thấy chủ tâm rõ ràng của người nghệ sĩ là làm cho sự tinh ranh đi đến cái độ độc ác. Tất cả các nét hơi co lại : đôi mắt hơi nghiêng, hai khóe miệng vểnh lên, lỗ mũi hơi phồng ra. Sự coi thường, tính mỉa mai, tàn ác hiện trên gương mặt đó, tuy nhiên nó có một vẻ đẹp không tưởng tượng được. Sự thật, càng nhìn pho tượng tuyệt đẹp này người ta càng cảm thấy một cách khó chịu rằng trong một vẻ đẹp tuyệt vời như thế lại có thể thiếu vắng mọi cảm tính.

« Nếu người mẫu của tượng này đã từng có, tôi nói với ông de Peyrehorade, và tôi ngờ ông Trời đã từng tạo nên một người phụ nữ như thế, thì tôi ái ngại cho những người tình của cô ta ! Chắc cô ta đã vui thích làm cho họ chết vì tuyệt vọng. Trong vẻ mặt của cô ta có cái gì tàn bạo, và tuy nhiên tôi chưa bao giờ thấy một vẻ đẹp như thế.

– Cả thân hình Vénus bám vào con mồi của mình ! ông de Peyrehorade kêu lên, hài lòng về sự nhiệt tình của tôi.

Cái vẻ mỉa mai quỷ quái có lẽ được tăng thêm bởi sự tương phản giữa đôi mắt khảm bạc và rất lóng lánh với cái lớp dỉ đồng màu xanh lục hơi đen mà thời gian đã biến cả pho tượng. Đôi mắt lóng lánh gây một ảo tưởng nào đó nhắc nhở hiện thực, cuộc sống. Tôi nhớ lại lời người hướng dẫn, anh ta nói pho tượng làm những kẻ nhìn nó phải nhìn xuống. Điều này gần như đúng, và tôi không thể đừng tức giận với chính mình khi tôi cảm thấy hơi khó chịu trước cái gương mặt bằng đồng thanh.

« Ông bạn đồng nghiệp về môn khảo cổ lỗ sĩ của tôi ơi, chủ nhà của tôi nói, bây giờ thì ông đã ngắm tất cả trong chi tiết rồi, nếu ông vui lòng, chúng ta hãy bắt đầu một cuộc đàm đạo khoa học đi. Ông nói sao về cái câu khắc này mà ông chưa để ý đến ? »

Ông chỉ cho tôi cái bệ của pho tượng, và tôi đọc các chữ này :

CAVE AMANTEM

« Quid dicis, doctissime ? ông vừa hỏi tôi vừa xoa hai bàn tay vào nhau. Hãy xem chúng ta có đồng ý về cái nghĩa của câu : « cave amantem » này không.

– Nhưng mà, tôi trả lời, có tới hai nghĩa. Có thể dịch là : « Coi chừng người yêu cô, hãy ngờ vực những người tình. » Nhưng, trong cái nghĩa đó, tôi không biết cái câu « cave amantem » có đúng tiếng La tinh không. Khi thấy bộ mặt quỷ quái của bà này, tôi nghĩ đúng hơn là nhà nghệ sĩ muốn cảnh giác đề phòng người xem đối với cái sắc đẹp ghê sợ kia. Vậy tôi sẽ dịch là : « Bạn hãy coi chừng nếu nàng yêu bạn. »

– À hà ! ông de Peyrehorade nói, vâng, đó là một cái nghĩa có thể được chấp nhận ; nhưng ông muốn nghĩ thế nào thì nghĩ, tôi thích lối dịch đầu mà tôi sẽ bàn rộng ra. Ông đã biết người tình của Vénus rồi chứ ?

– Vénus có nhiều người tình.

– Vâng, nhưng người đầu tiên là Vulcain. Người ta có muốn nói chăng : « Mặc dù với tất cả sắc đẹp của cô, với cái vẻ khinh thường của cô, cô sẽ có một người tình làm thợ rèn, một người què xấu xí » ? Một bài học thấm thía, thưa ông, cho những người phụ nữ làm dáng ! »

Tôi không khỏi mỉm cười, vì lối giải thích có vẻ gượng gạo đó.

« Ghê gớm thay tiếng La tinh với tính súc tích của nó », tôi nói để tránh nói ngược lại với nhà khảo cổ của tôi, và tôi lùi vài bước để ngắm pho tượng kỹ hơn.

« Khoan, ông bạn đồng nghiệp ! ông de Peyrehorade nói bằng cách chặn cánh tay tôi, ông chưa thấy hết. Còn một câu khắc nữa. Ông hãy leo lên cái bệ và nhìn ở cánh tay mặt. » Vừa nói ông vừa giúp tôi trèo lên.

Tôi bám vào cổ của nàng Vénus, không kiểu cách, tôi đã bắt đầu quen thuộc với nàng. Tôi nhìn nàng một lúc ngay dưới mắt nàng, và khi nhìn gần, nàng ta còn có vẻ độc ác hơn và đẹp hơn. Rồi tôi nhận ra vài nét chữ cổ viết tay, khắc nơi cánh tay, hình như thế. Nhờ đeo kính vào nhiều lần, tôi đánh vần ra những chữ sau đây, trong khi đó ông de Peyrehorade lặp lại mỗi chữ tôi vừa đọc ra, ông tán thành bằng cử chỉ và giọng nói. Vậy tôi đọc ra như sau :

VENERI TVRBVL

EVTYCHES MYRO

IMPERIO FECIT

Sau từ TVRBVL của hàng đầu, hình như có vài chữ bị xóa ; nhưng TVRBVL thì rất rõ ràng.

« Có nghĩa là gì ? ông chủ nhà hỏi, vẻ mặt hớn hở, tươi cười một cách ranh mãnh, vì ông nghĩ rằng tôi sẽ vất vả với cái từ TVRBVL.

– Có một từ mà tôi chưa hiểu, tôi nói ; phần còn lại dễ thôi. EUTYCHES ra lệnh dâng cái này cho nữ thần Vénus.

– Tuyệt hay. Nhưng TVRBVL, ông hiểu nó ra sao ? TVRBVL là gì ?

– TVRBVL làm tôi lúng túng nhiều. Tôi tìm một cách vô hiệu một tính ngữ nào thuộc Vénus có thể giúp tôi. Nào, ông nói sao về từ TVRBVLENTA ? Nàng Vénus làm bối rối, khuấy động… Ông nhận thấy rằng tôi vẫn lo nghĩ về cái vẻ độc ác của Vénus. TVRBVLENTA không phải là một tính ngữ quá sai cho Vénus, tôi nói thêm với một giọng khiêm tốn, bởi vì chính tôi tôi cũng không thỏa mãn về cách giải thích của tôi.

– Nàng Vénus gây xáo động ! Nàng Vénus nhộn nhạo ? Chà ! Vậy ông tưởng nàng Vénus của tôi là một thứ Vénus tửu quán chăng ? Không phải thế đâu, thưa ông : đó là một nàng Vénus lịch sự. Nhưng mà đây tôi xin giải thích cho ông từ TVRBVL… Ít ra xin ông hứa với tôi là sẽ không phổ biến sự phát hiện của tôi trước khi tiểu luận của tôi được in ra. Bởi vì, thưa ông, tôi lấy làm vinh dự về sự phát hiện đó… Các ông phải để cho chúng tôi gặt hái vài bông hoa chứ, chúng tôi, những kẻ khốn cùng ở tỉnh nhỏ. Các ông, những nhà bác học ở Paris, các ông giàu đến thế ! »

Tôi vẫn đứng trên bệ cao, từ trên đó tôi long trọng hứa sẽ không bao giờ thiếu phẩm cách để ăn cắp điều ông đã phát hiện.

« TVRBVL …, thưa ông, ông ta nói bằng cách sát lại gần tôi và nói nhỏ, vì sợ một người nào khác nghe được, ông hãy đọc : TVRBVLNER AE E.

– Tôi chẳng hiểu gì hơn.

– Xin ông nghe đây. Cách đây một dặm, ở chân núi có một cái làng tên là Boulternère. Tên đó là một biến đổi của từ La tinh TVRBVLNERA. Không có gì thông thường hơn những sự đảo lộn đó. Boulternère, thưa ông, đã từng là một thành phố La Mã. Tôi luôn luôn nghi ngờ điều đó, nhưng không bao giờ tôi có được cái bằng chứng. Và đây là cái bằng chứng. Nữ thần Vénus này là vị thần địa phương của thành phố Boulternère, và từ Boulternère, mà tôi vừa mới chứng minh cái nguồn gốc xưa cổ, chứng tỏ một điều còn lạ thường hơn, đó là Boulternère, trước khi là một thành phố La Mã, đã là một thành phố của dân tộc Phénicie ! »

Ông ngừng nói một lúc để thở và để tận hưởng sự ngạc nhiên của tôi. Tôi dằn được một trận cười sắp bật ra.

« Quả vậy, ông nói tiếp, TVRBVLNERA là hoàn toàn tiếng Phénicie, TVR hãy đọc là TOUR… TOUR và SOUR cùng một chữ phải không ? SOUR là cái tên của Tyr trong tiếng Phénicie ; tôi không cần phải nhắc cái nghĩa cho ông. BVL là Baal, Bâl, Bel, Bul, phát âm hơi khác nhau. Về phần NERA, nó làm tôi hơi vất vả. Vì không tìm được một chữ trong tiếng Phénicie, tôi toan nghĩ rằng chữ đó do chữ Hy lạp vnpoç có nghĩa ẩm ướt, sình lầy mà ra. Vậy có lẽ là một từ lai. Để chứng minh rằng chữ Hy lạp vnpoç là đúng, tôi sẽ chỉ cho ông ở Boulternère các con suối chảy từ trên núi đã tạo nên những cái ao thối tha như thế nào. Mặt khác, cái vĩ tố NERA có thể được thêm vào, rất lâu về sau, để chào mừng Nera Pivesuvia, vợ của Tétricus, bà này có lẽ đã ban ân huệ gì đó cho thành Turbul. Nhưng vì những cái ao, tôi thích từ nguyên của chữ vnpoç hơn. »

Ông ta lấy ra một nhúm thuốc lá, vẻ thỏa mãn.

« Nhưng thôi chúng ta hãy để qua một bên dân tộc Phénicie, và trở lại cái câu khắc. Vậy tôi xin dịch : « Myron ra lệnh cung hiến cho nữ thần Vénus ở Boultanère pho tượng này, tác phẩm của ông. »

Tôi hết sức tránh chỉ trích cái từ nguyên của ông, nhưng đến lượt tôi, tôi muốn tỏ ra mình hiểu biết, và tôi nói :

« Khoan, xin ông hãy ngừng lại. Myron có dâng hiến một cái gì, nhưng tôi hoàn toàn không thấy là cái pho tượng này.

– Thế nào được ! ông ta la lên, Myron chẳng phải là một nhà điêu khắc Hy lạp nổi tiếng sao ? Tài năng của ông được truyền lại trong gia đình : một người trong hậu duệ của ông đã làm pho tượng này. Không gì chắc chắn hơn.

– Nhưng mà, tôi trả lời, tôi thấy trên cánh tay một cái lỗ nhỏ. Tôi nghĩ rằng cái lỗ dùng để gắn một cái gì, một chiếc vòng chẳng hạn, mà cái ông Myron đó tặng nữ thần Vénus, làm vật cúng để đền tội. Myron là một người tình đau khổ. Vénus bực tức ông, ông làm cho Vénus nguôi giận bằng cách tặng một chiếc vòng vàng. Ông hãy để ý rằng « fecit » thường được hiểu là « consecravit ». Đó là những từ đồng nghĩa. Nếu tôi có trong tay những cuốn sách sử của Gruter hay Orelli, tôi sẽ cho ông xem nhiều ví dụ. Một người si tình nằm chiêm bao thấy Vénus, người đó tưởng tượng nàng ra lệnh tặng cho pho tượng của nàng một chiếc vòng vàng, điều này tự nhiên thôi. Myron tặng cho pho tượng một chiếc vòng… Rồi thì bọn ngoại xâm hay một tên ăn trộm phạm thánh nào…

– Chà ! Thấy rõ là ông đã viết tiểu thuyết ! ông chủ nhà vừa kêu lên vừa đưa tay đỡ tôi tuột xuống. Không, thưa ông, đây là một tác phẩm thuộc trường phái Myron. Chỉ nhìn lối điêu khắc là ông sẽ đồng ý. »

Vì tôi tự cho mình một nguyên tắc là không bao giờ nói ngược đến cùng những ông khảo cổ bướng bỉnh, cho nên tôi vừa cúi đầu với cái vẻ bị thuyết phục vừa nói :

« Một tác phẩm tuyệt diệu.

– Trời ơi ! ông de Peyrehorade kêu lên, lại thêm một chuyện phá hoại văn vật nữa đây ! Người ta đã ném một hòn đá vào pho tượng của tôi ! »

Ông vừa nhận thấy một cái vết trắng ở phía trên đôi vú của Vénus. Tôi thì tôi thấy một cái vết tương tự trên các ngón tay của bàn tay mặt, tôi đoán là những ngón tay bị hòn đá chạm phải trong đường bay của nó, hoặc là một mảnh đá bể trong khi va chạm trên pho tượng đã nẩy qua bàn tay. Tôi kể cho ông chủ nhà nghe sự xúc phạm mà tôi đã chứng kiến và sự trừng phạt nhanh chóng sau đó. Ông cười nhiều lắm, và khi so sánh cái anh chàng tập sự với Diomède (6), ông chúc cho người tập sự này sẽ thấy, như nhân vật Hy lạp, tất cả những người bạn mình bị hóa thành chim trắng.

Tiếng chuông báo hiệu bữa ăn trưa làm gián đoạn cuộc đàm đạo về thời cổ, và cũng như tối hôm qua, tôi bị ép phải ăn quá nhiều. Rồi những người làm việc trong trang trại của ông de Peyrehorade đến, và trong khi ông nghe họ tường trình công việc thì cậu con trai ông đưa tôi đi xem chiếc xe ngựa có mui xếp mà anh ta đã mua ở Toulouse cho vị hôn thê, đương nhiên là tôi trầm trồ ngắm nghía. Sau đó tôi vào chuồng ngựa với anh ta, trong suốt nửa tiếng đồng hồ anh ta khoe ngựa của mình, nào là thuộc giống tốt, nào là những giải chúng đoạt được trong các cuộc đua của tỉnh. Cuối cùng anh ta đi đến việc đề cập đến người vợ tương lai, khi nói đến con ngựa cái màu xám mà anh ta tặng cô ấy.

« Chúng ta sẽ thấy cô ấy hôm nay, anh ta nói. Tôi không biết ông có cho cô ấy xinh đẹp không. Ở Paris, các ông khó tính ; nhưng ở đây và ở Perpignan, tất cả mọi người đều nhận thấy cô ấy duyên dáng. Điều hay là cô ấy rất giàu. Bà dì của cô ở Prades để lại của cải cho cô. Ồ ! Tôi sẽ rất hạnh phúc ! »

Tôi lấy làm khó chịu vô cùng khi thấy một người thanh niên tỏ vẻ xúc động về của hồi môn hơn là về đôi mắt đẹp của người vợ tương lai.

« Ông là người sành sỏi về nữ trang, Alphonse nói tiếp, ông nghĩ thế nào về cái này ? Đây là chiếc nhẫn mà tôi sẽ tặng cô ấy ngày mai. »

Khi nói như thế anh ta rút từ ngón tay út ra một chiếc nhẫn to có khảm hột xoàn và có hình hai bàn tay đan vào nhau ; một ám chỉ có vẻ vô cùng thi vị. Lối chạm trổ đã xưa, nhưng tôi nghĩ rằng người ta đã sửa lại để gắn thêm hột xoàn vào. Bên trong chiếc nhẫn có khắc những chữ sau đây theo kiểu gô tích : « Sempr’ab ti », có nghĩa là mãi mãi với em.

« Một chiếc nhẫn đẹp, tôi nói ; tuy nhiên những cái hột xoàn thêm vào làm nó hơi mất cái đặc tính của nó.

– Ơ, như thế nó còn đẹp hơn, anh ta mỉm cười trả lời. Có tới một nghìn hai trăm quan tiền hột xoàn. Mẹ tôi cho tôi đấy. Một chiếc nhẫn của gia đình, rất xưa… từ thời hiệp sĩ Trung cổ. Bà ngoại tôi đã đeo nó, bà nhận được từ bà ngoại của bà. Ai mà biết được người ta chế tạo nó ra lúc nào.

– Theo tục lệ ở Paris, tôi nói với anh ta, người ta trao tặng một chiếc nhẫn đơn sơ, thường khi chiếc nhẫn được làm bằng hai kim loại khác nhau, như vàng và bạch kim. À, chiếc nhẫn kia anh đang đeo ở tay, nó sẽ thích hợp hơn. Chiếc nhẫn này với hột xoàn và hai bàn tay chạm nổi, nó to quá đến mức không thể mang găng tay được.

– Ối ! Bà Alphonse sẽ làm theo ý bà muốn. Tôi nghĩ là bà ấy vẫn hài lòng có được chiếc nhẫn. Một nghìn hai trăm quan ở ngón tay là điều thích thú. Chiếc nhẫn nhỏ kia, anh ta nói thêm khi nhìn chiếc nhẫn trơn tru ở bàn tay với vẻ hài lòng, chiếc nhẫn đó là do một người phụ nữ ở Paris tặng tôi vào một ngày lễ Thứ ba ăn uống no nê trước Mùa Chay. Chà ! Tôi chơi hết chỗ nói hồi tôi ở Paris, cách đây hai năm ! Chính ở đấy mới chơi bời được !… » Và anh ta thở dài lấy làm tiếc.

Ngày hôm đó, chúng tôi phải ăn tối ở Puygarrig, tại nhà cha mẹ của cô vợ tương lai của Alphonse ; chúng tôi leo lên chiếc xe ngựa có mui xếp, và chúng tôi đi đến lâu đài, xa thị xã Ille khoảng một dặm rưỡi. Tôi được giới thiệu và đón tiếp như một người bạn của gia đình. Tôi không nói đến bữa ăn tối và cuộc nói chuyện sau đó mà tôi ít tham dự. Alphonse ngồi bên cạnh người vợ chưa cưới, cứ mười lăm phút thì anh ta thỏ thẻ với cô ấy một lần. Về phần cô thì cô chẳng nhìn lên, và mỗi lần vị hôn phu của cô nói chuyện, cô đỏ mặt với vẻ khiêm tốn, nhưng cô trả lời không chút lúng túng.

Cô de Puygarrig mười tám tuổi, dáng người uyển chuyển và mảnh mai, ngược lại với hình dáng xương xương, vạm vỡ của người hôn phu. Chẳng những cô đẹp mà còn hấp dẫn nữa. Tôi khâm phục cách trả lời rất tự nhiên của cô, và khâm phục cái vẻ đầy lòng tốt tuy nhiên có một chút ranh ma, điều này, dù tôi không muốn, nhắc cho tôi cái pho tượng Vénus của chủ nhà. Trong việc âm thầm so sánh, tôi tự hỏi cái vẻ đẹp xuất sắc của pho tượng mà mình phải nhìn nhận là đúng, phải chăng phần lớn là do cái sắc mặt hổ cái của nó, bởi vì mãnh lực ngay cả trong những nhiệt tình xấu xa, luôn luôn gợi cho ta một sự ngạc nhiên và một thứ khâm phục không chủ tâm.

« Tiếc thay cho một con người dễ thương đến thế, lại giàu có, tôi tự nhủ khi rời khỏi Puygarrig, và tiếc thay của hồi môn của cô làm háo hức một người đàn ông không xứng đáng với cô ! »

Khi trở lại Ille, tôi không biết nói gì với bà de Peyrehorade, tôi nghĩ rằng đôi khi tôi nên nói với bà vài lời cho có vẻ lịch sự. Tôi kêu lên :

« Quý vị là những người gan dạ thật ở vùng Roussillon ! Thưa bà, làm sao ông bà lại cho cử hành hôn lễ vào một ngày thứ sáu ! Ở Paris, chúng tôi dị đoan hơn ; không ai dám cưới vợ một ngày như thế.

– Trời ơi ! Thôi ông đừng nói nữa, bà trả lời, nếu chuyện đó chỉ tùy thuộc tôi, hẳn tôi sẽ chọn một ngày khác. Nhưng ông Peyrehorade đã muốn như thế, phải làm theo ý ông thôi. Tuy nhiên việc đó làm tôi buồn. Nếu có tai họa gì xảy ra thì sao ? Phải có một lý do chứ, bởi vì tại sao thiên hạ đều sợ ngày thứ sáu ?

– Ngày thứ sáu ! ông chồng bà la lên, là ngày của nữ thần Vénus ! Ngày tốt cho một hôn lễ ! Thưa ông bạn đồng nghiệp của tôi. Ông thấy không, tôi chỉ nghĩ đến nàng Vénus của tôi mà thôi ! Xin thề danh dự ! Vì nàng mà tôi đã chọn ngày thứ sáu. Ngày mai, nếu ông muốn, trước hôn lễ, chúng ta sẽ làm một chút lễ hiến sinh. Chúng ta sẽ dâng hiến nàng hai con chim bồ câu, và nếu tôi biết tìm đâu ra nhựa hương…

– Ối Trời ! Cái ông Peyrehorade này ! bà vợ cắt lời ông, bà công phẫn tột độ. Xông hương cho một tượng thần ! Một điều ghê gớm ! Thiên hạ trong vùng này sẽ nói sao về chúng ta ?

– Ít ra, ông de Peyrehorade nói, bà cũng cho phép tôi đặt trên đầu của pho tượng một vòng hoa hồng và hoa huệ chứ :

Manibus date lilia plenis. Dâng hoa huệ đầy tay (7).

Ông thấy chưa, thưa ông, hiến chương là một danh từ vô ích. Chúng ta không có tự do tín ngưỡng ! »

Những sắp xếp cho ngày hôm sau được quy định như thế này. Đúng mười giờ sáng, tất cả mọi người phải sẵn sàng và ăn mặc chỉnh tề. Sau khi đã uống sô cô la, mọi người đi xe ngựa đến Puygarrig. Lễ cưới dân sự sẽ cử hành ở nhà hành chính của làng, và lễ hôn phối sẽ cử hành ở nhà nguyện của lâu đài. Sau đó là bữa ăn trưa. Sau bữa ăn trưa, ai nấy đều tiêu khiển theo ý mình cho đến bảy giờ. Bảy giờ thì trở về Ille, tại nhà ông de Peyrehorade, nơi đây gia đình đôi bên cùng nhau ăn tối. Phần chương trình còn lại sẽ diễn ra một cách tự nhiên. Vì không thể khiêu vũ, người ta muốn ăn uống tối đa.

Từ tám giờ sáng, tôi đã ngồi trước tượng Vénus, tay cầm cây bút chì, tôi vẽ đi vẽ lại cái đầu của pho tượng, lần này là lần thứ hai mươi, mà không làm sao nắm được cái vẻ mặt. Ông de Peyrehorade đi lui đi tới xung quanh tôi, ông khuyên tôi thế này thế nọ, ông lặp lại cho tôi những từ nguyên của tiếng Phénicie ; rồi ông đặt hoa hồng của xứ Bengale trên bệ tượng, và với một giọng vừa bi vừa hài, ông đọc lên trước pho tượng những lời chúc cho đôi tân hôn sắp sống dưới mái nhà ông. Vào khoảng chín giờ, ông trở vào nhà để thay áo quần. Cùng lúc đó Alphonse xuất hiện, thân hình bó chặt trong một bộ đồ mới, tay mang găng trắng, giày đánh bóng, nút áo chạm giũa, một cánh hoa hồng cài ở lỗ khuy áo.

« Ông sẽ vẽ chân dung của vợ tôi chứ ? anh ta vừa nói vừa cúi xuống trên hình vẽ của tôi. Vợ tôi cũng đẹp đấy. »

Vào lúc này, trên sân chơi bóng quần, bắt đầu một trận đấu và lôi cuốn lập tức sự chú ý của Alphonse. Tôi thì mệt mỏi và tuyệt vọng không vẽ được cái gương mặt quỷ quái đó, tôi sắp bỏ hình vẽ để xem người ta chơi. Trong số những người tham dự trò chơi, có vài người Tây Ban Nha dắt la, họ đến từ hôm qua. Họ thuộc những miền Aragon, Navarre, hầu hết chơi rất khéo. Cho nên những người chơi thuộc thị xã Ille, mặc dù được cổ võ bởi sự hiện diện và lời khuyên của Alphonse, họ đã nhanh chóng bị những quán quân mới đến đánh bại. Khán giả bản xứ rụng rời. Alphonse nhìn đồng hồ. Chỉ mới chín giờ rưỡi. Mẹ anh chưa chải tóc. Anh không do dự nữa : anh cởi áo, yêu cầu người ta đưa cho anh một cái áo để chơi, và anh thách thức những người Tây Ban Nha. Tôi nhìn anh, mỉm cười, tôi hơi ngạc nhiên.

« Phải bảo vệ danh dự của xứ sở chứ », anh nói.

Thế là tôi nhận thấy anh đẹp thật. Anh đầy nhiệt huyết. Bộ áo quần của anh, lúc nãy làm anh quá ý tứ, cẩn thận, giờ đây chẳng còn là gì nữa. Mấy phút trước đây, anh không dám quay đầu vì sợ làm cái cà vạt không ngay. Bây giờ anh không còn nghĩ đến mái tóc quăn của anh, cũng không nghĩ đến những đường xếp được ủi thẳng ở ngực áo. Còn vị hôn thê của anh ư ?… Ôi ! Nếu cần thiết, anh dám cho dời ngày cưới lắm đấy, tôi nghĩ thế. Tôi thấy anh mang vội một đôi giày xăn đan, anh xắn tay áo lên, và với cái vẻ tự tin, anh ra đứng đầu cái phe bị thua, giống như César ngày xưa tập hợp quân lính ở Dyrrachium. Tôi nhảy qua hàng rào, và đứng ở một chỗ thuận lợi, dưới bóng một cây sếu, làm thế nào để thấy cả hai phe.

Ngược lại với sự chờ đợi của mọi người, Alphonse đánh hụt quả bóng đầu tiên ; thật ra quả bóng bay đến sát mặt đất, nó được một người gốc Aragon ném với một sức mạnh bất ngờ, người này có vẻ là người cầm đầu phe Tây Ban Nha. Ông ta khoảng bốn mươi tuổi, người khô đét và nóng nảy, cao sáu bộ, và nước da xanh xanh của ông ta có cái màu sậm gần như màu đồng thanh của tượng Vénus.

Alphonse nổi giận, ném cái vợt xuống đất.

« Chính cái chiếc nhẫn tai hại này, anh la lên, nó siết ngón tay tôi và làm tôi hụt quả bóng mà tôi có thể chộp dễ dàng ! »

Một cách khó khăn, anh cởi chiếc nhẫn có hột xoàn : tôi tiến lại để đỡ lấy, nhưng anh ra dấu cho tôi, anh chạy đến tượng Vénus, tròng chiếc nhẫn vào ngón tay đeo nhẫn của tượng, và anh trở lại cầm đầu phe Ille.

Mặt anh nhợt nhạt nhưng anh bình tỉnh, quả quyết. Kể từ đó, anh không phạm một lỗi nào, và những người Tây Ban Nha hoàn toàn bị đánh bại. Sự hào hứng của khán giả là một quan cảnh đẹp : có những người hò hét vui mừng và tung mũ lên trời ; những người khác siết tay Alphonse, gọi anh là niềm vinh dự của xứ sở. Nếu anh đẩy lui một cuộc xâm lăng, tôi ngờ rằng anh sẽ không nhận được những lời khen nhiệt liệt hơn, thành thực hơn. Nỗi buồn của kẻ thất bại làm cho cuộc chiến thắng càng thêm rạng rỡ.

« Chúng ta sẽ có những trận đấu khác, ông bạn dũng cảm của tôi ơi, Alphonse nói với một người gốc Aragon bằng một giọng trịch thượng ; nhưng tôi sẽ chấp các anh đấy. »

Tôi muốn Alphonse khiêm tốn hơn, và tôi gần như buồn phiền vì sự nhục nhã của đối thủ của anh.

Người khổng lồ Tây Ban Nha cảm thấy thấm thía sự lăng nhục đó. Tôi thấy anh ta xanh mặt dưới làn da sạm nắng. Anh ta vừa nhìn cái vợt với vẻ ủ ê vừa nghiến răng ; rồi bằng một giọng đục anh ta nói nhỏ : « Me lo pagaràs » (Rồi mày sẽ biết tay tao)

Tiếng nói của ông de Peyrehorade phá rối cuộc chiến thắng của con trai ông : ông chủ nhà rất ngạc nhiên không thấy con mình điều khiển việc chuẩn bị chiếc xe ngựa có mui xếp mới tinh, ông càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy cậu con đẫm mồ hôi, tay cầm cái vợt. Alphonse chạy về nhà, rửa mặt rửa tay, mặc lại bộ đồ mới và mang vào đôi giày đánh bóng. Năm phút sau chúng tôi đi nước kiệu trên con đường dẫn đến Puygarrig. Tất cả những người chơi bóng quần trong thị xã và một số đông khán giả đi theo chúng tôi với những tiếng reo hò. Những con ngựa khỏe kéo chúng tôi phải khó khăn mới vượt được những người vùng Catalogne gan dạ này.

Chúng tôi đang ở tại Puygarrig, và đoàn xe sắp sửa đi đến nhà hành chính, khi Alphonse vỗ trán, nói nhỏ với tôi :

« Bậy quá ! Tôi để quên chiếc nhẫn ! Nó mắc vào ngón tay của Vénus, khốn đốn thật ! Ít ra xin ông đừng nói với mẹ tôi nhé ! Có lẽ bà sẽ không nhận thấy gì.

– Anh có thể bảo ai về lấy chiếc nhẫn, tôi nói.

– Chà ! Người ở của tôi nó ở lại Ille, còn những đứa này tôi không tin cậy đâu. Một nghìn hai trăm quan hột xoàn ! Có thể cám dỗ nhiều người. Vả chăng, những người ở đây họ sẽ nghĩ gì về cái tính đãng trí của tôi ? Họ sẽ nhạo cười tôi dữ lắm ! Họ sẽ gọi tôi là người chồng của pho tượng… Miễn là người ta đừng ăn cắp chiếc nhẫn của tôi ! May thay cái tượng thần làm tụi ranh mãnh sợ. Chúng không dám đến gần đâu. Thôi ! Không sao ; tôi có một chiếc nhẫn khác. »

Hai nghi lễ dân sự và tôn giáo được diễn ra với vẻ long trọng thích đáng, và cô de Puygarrig nhận chiếc nhẫn của một cô ả bán mũ phụ nữ ở Paris, mà không ngờ rằng hôn phu của cô đã hy sinh để tặng cô một bằng chứng ái tình được dành cho anh ta. Rồi mọi người ngồi vào bàn tiệc, người ta ăn uống, cả hát hò nữa, tất cả kéo dài rất lâu. Tôi khổ cho cô dâu về những chuyện vui thô lỗ xung quanh cô : tuy nhiên cô giữ một thái độ vượt khỏi hy vọng của tôi, và vẻ lúng túng của cô không do tính vụng về hay kiểu cách.

Có lẽ tính can đảm nảy sinh trong những trường hợp khó khăn.

Nhờ Trời bữa ăn chấm dứt, lúc đó là bốn giờ chiều, đàn ông đi dạo trong khu rừng tuyệt đẹp, hay nhìn những phụ nữ nông thôn ở Puygarrig múa trên sân cỏ của lâu đài, họ mặc áo quần đẹp dành cho những ngày lễ. Chúng tôi đã trải qua vài giờ như thế. Trong khi các bà vồn vã vây quanh cô dâu, cô cho họ ngắm cái giỏ hoa. Rồi cô đi thay áo, và tôi để ý cô đội lên mái tóc đẹp của cô một cái nón vải và bên trên một cái nón có cài lông chim, bởi vì người phụ nữ không có gì vội vàng hơn là đội những đồ trang sức mà tục lệ không cho phép khi họ còn là thiếu nữ.

Gần tám giờ tối thì mọi người sẵn sàng trở về Ille. Nhưng trước hết xảy ra một cảnh thống thiết. Bà dì của cô de Puygarrig, thay thế mẹ cô, bà là một người đàn bà già nua và rất sùng đạo, bà không đi theo chúng tôi được. Trước lúc khởi hành, bà giảng cho cô cháu một bài đạo đức cảm động về nhiệm vụ người vợ, kết quả bài giảng của bà là bao nhiêu nước mắt tuôn rơi, và những cái hôn hít bất tận. Ông de Peyrehorade so sánh sự xa nhau này với sự bắt cóc các phụ nữ của dân Sabin ngày xưa bởi đàn ông La Mã để đem về làm vợ. Tuy nhiên, cuối cùng chúng tôi cũng lên đường được, dọc đường mỗi người cố gắng làm cho cô dâu quên nỗi buồn, và làm cô cười, nhưng vô ích.

Ở Ille, bữa ăn tối đang chờ chúng tôi, và bữa ăn bực bội làm sao ! Nếu khi sáng những chuyện vui thô lỗ khiến tôi khó chịu, thì giờ đây tôi còn khó chịu hơn vì những cách nói lập lờ và những câu bông đùa mà đề tài đặc biệt là cô dâu chú rể. Trước khi ngồi vào bàn tiệc, chú rể vắng mặt một lúc, mặt mày anh tái nhợt và lạnh lùng. Mỗi lúc anh mỗi uống thứ rượu cũ sản xuất ở Collioure, mạnh gần bằng rượu trắng. Tôi ngồi bên cạnh anh, và tôi nghĩ cần phải cảnh cáo :

« Hãy coi chừng ! Người ta nói rằng rượu… »

Không biết tôi đã nói điều gì ngu ngốc để tỏ ra đồng tình với đám thực khách. Anh đẩy đầu gối tôi và nói rất nhỏ :

« Khi nào người ta đứng dậy rời bàn ăn… ông cho tôi nói với ông đôi lời. »

Giọng nói trịnh trọng của anh làm tôi ngạc nhiên. Tôi nhìn anh kỹ hơn, và tôi nhận thấy nét mặt của anh thay đổi một cách kỳ lạ.

« Anh có cảm thấy khó chịu trong người không ? tôi hỏi.

– Không. »

Và anh uống rượu trở lại.

Trong khi đó, giữa những tiếng reo hò và tiếng vỗ tay, một đứa bé mười một tuổi, chui xuống gầm bàn, nó đưa cho mọi người thấy sợi giây băng trắng và hồng nó vừa tháo khỏi mắc cá của cô dâu. Người ta gọi cái đó là giây nịt tất. Tức thì giây nịt tất được cắt thành miếng nhỏ để phát cho các thanh niên, để họ gắn vào lỗ khuy áo, theo một tục lệ xưa còn tồn tại trong vài gia đình theo chế độ phụ quyền. Một dịp để cô dâu đỏ mặt… Nhưng sự bối rối của cô lên đến cực điểm, khi ông de Peyrehorade đòi mọi người im lặng, để ngâm cho cô vài câu thơ ứng khẩu của xứ Catalogne, ông nói thế. Và đây là nghĩa của các câu thơ, nếu tôi hiểu rõ :

« Cái gì thế hởi các bạn ? Rượu tôi uống vào nó có làm cho tôi thấy gấp đôi không ? Ở đây có hai nàng Vénus… »

Thình lình chú rể quay đầu đi, vẻ hốt hoảng, làm mọi người cười.

« Vâng, ông de Peyrehorade nói tiếp, có hai nàng Vénus dưới mái nhà tôi. Một nàng tôi tìm được trong lòng đất như một cây nấm củ ; nàng kia từ trời xuống, vừa mới chia cho chúng ta giây nịt của nàng. »

Ông muốn nói giây nịt tất của nàng.

« Con trai tôi ơi, con hãy chọn giữa nàng Vénus La Mã và nàng Vénus xứ Catalogne người mà con thích. Cái thằng vô lại nó chọn nàng Catalogne, và cái phần của nó là tốt nhất. Nàng La Mã đen, nàng Catalogne trắng. Nàng La Mã lạnh lùng, nàng Catalogne làm cháy rực những gì đến gần nàng. »

Câu cuối cùng gây tiếng hoan hô rầm trời, những tràng pháo tay quá rầm rộ và những tiếng cười quá rền vang, đến nỗi tôi tưởng cái trần nhà sắp sập trên đầu. Xung quanh bàn chỉ có ba gương mặt nghiêm trang, gương mặt của đôi tân hôn và gương mặt của tôi. Tôi rất nhức đầu, và rồi không hiểu tại sao, một đám cưới bao giờ cũng làm tôi buồn. Vả lại, cái đám cưới này làm tôi hơi chán ghét.

Những đoạn thơ cuối do ông xã phó ngâm, và chúng được ngâm nhanh, tôi phải công nhận thế ; mọi người bước qua phòng khách để tiễn cô dâu, cô sắp sửa được đưa lên phòng, vì đã gần nửa đêm.

Alphonse kéo tôi vào góc một cửa sổ, anh vừa nói với tôi vừa nhìn nơi khác :

« Ông sẽ chế nhạo tôi… Nhưng không biết tôi bị gì… tôi bị mê hoặc rồi ! Ma hãy bắt tôi đi ! »

Ý nghĩ đầu tiên của tôi là anh ta tưởng mình bị một tai họa nào đe dọa, kiểu những tai họa mà Montaigne và bà de Sévigné nói đến :

« Tất cả vương quốc của tình ái là đầy chuyện bi thảm, v.v… »

Tôi tưởng những loại tai họa đó chỉ xảy đến cho những kẻ trí thức, tôi tự nhủ thầm thế.

« Anh uống nhiều rượu Collioure quá, anh Alphonse, tôi nói. Tôi đã báo trước cho anh rồi mà.

– Vâng, có lẽ. Nhưng cái này nó còn ghê gớm hơn nữa. »

Anh ta có giọng nói ngắt quãng. Tôi tưởng anh ta hoàn toàn say rượu.

« Ông biết chiếc nhẫn của tôi chứ ? anh nói tiếp sau một hồi im lặng.

– Sao ? Người ta ăn cắp nó à ?

– Không.

– Vậy thì anh vẫn có nó ?

– Không… tôi… tôi không thể lấy nó ra khỏi ngón tay của cái con quỷ Vénus đó.

– Ờ ! Tại anh không kéo mạnh nó ra !

– Có chứ… Nhưng con Vénus… nó siết chặt ngón tay. »

Anh nhìn tôi chăm chăm, vẻ mặt nhớn nhác, anh vịn vào then móc cửa để đừng ngã.

« Chuyện hoang đường ! tôi nói. Anh đã đẩy quá sâu chiếc nhẫn. Ngày mai anh sẽ gỡ nó được với cái kìm. Nhưng coi chừng đừng làm hỏng pho tượng.

– Không, tôi đã nói với ông. Ngón tay của con Vénus nó thụt vào, nó cong lại ; nó siết bàn tay, ông hiểu tôi chứ ?… Nó là vợ tôi, có vẻ như thế, bởi vì tôi đã cho nó chiếc nhẫn… Nó không muốn trả lại tôi. »

Bỗng tôi thấy lạnh người, và trong giây lát tôi bị nổi da gà. Rồi, một tiếng thở dài lớn của anh ta thổi vào mặt tôi một hơi rượu, và mọi xúc động đều biến mất.

Cái thằng khốn kiếp, tôi nghĩ, nó say nhừ rồi.

« Thưa ông, ông là nhà khảo cổ, chú rể nói thêm bằng một giọng thảm thương, ông biết các pho tượng đó… có lẽ có một động lực nào, một ma thuật nào mà tôi không rõ… Ông đến xem được không ?

– Rất sẵn lòng, tôi nói. Anh hãy đi với tôi.

– Không, tôi thích ông đi một mình.

Tôi ra khỏi phòng khách.

Thời tiết đã thay đổi trong khi thiên hạ ăn uống, và bây giờ trời bắt đầu mưa xối xả. Tôi sắp đi mượn một cây dù, khi một ý nghĩ ngăn tôi lại. Tôi tự nhủ : « Tôi sẽ là một người rất ngu đần nếu tôi đi kiểm tra những gì một người say rượu nói ! Thêm nữa, có lẽ anh ta muốn đùa ác với tôi để những người dân lương thiện tỉnh nhỏ cười chơi ; và cái điều ít ra có thể xảy đến cho tôi là tôi sẽ bị ướt như chuột lột và bị một cơn cảm nặng… »

Từ ngưỡng cửa tôi liếc nhìn cái pho tượng đầm đìa nước mưa, và tôi lên phòng, tôi không vào phòng khách. Tôi đi nằm, nhưng khó ngủ. Tất cả những cảnh xảy ra trong ngày trở lại trong đầu tôi. Tôi nghĩ đến người thiếu nữ đẹp đến thế và trong trắng đến thế mà bị rơi vào tay một tên nghiện rượu tàn nhẫn. Tôi tự nhủ, một cuộc hôn nhân có sắp đặt, nó bỉ ổi làm sao ! Một ông xã trưởng đeo vào một cái băng chéo ba màu, một ông cha xứ đeo cái băng chéo để cử hành lễ, thế là đứa con gái chính trực nhất trên thế gian này bị nạp cho con quái vật Minautore ! Hai kẻ không yêu nhau có thể nói gì được với nhau trong những giây phút như thế, những giây phút mà một cặp tình nhân có thể trả giá bằng cả đời họ ? Một người phụ nữ có bao giờ yêu được một người đàn ông mà đã một lần cô chứng kiến sự thô lỗ ? Những cảm tưởng đầu tiên không thể bôi xóa được và, tôi chắc chắn điều đó, cái gã Alphonse này rất đáng bị căm ghét…

Trong khi tôi độc thoại, một độc thoại mà tôi rút ngắn rất nhiều, tôi nghe những tiếng chân qua lại rầm rầm trong nhà, những cánh cửa được mở ra, đóng vào, những chiếc xe khởi hành ; rồi hình như tôi nghe trong cầu thang những bước chân nhẹ nhàng của những người phụ nữ đi về phía đầu mút hành lang đối diện với phòng tôi. Hẳn là đoàn người đưa cô dâu đến giường. Sau đó họ đi trở xuống cầu thang. Cánh cửa phòng bà de Peyrehorade đóng lại. Cái cô gái tội nghiệp đó, tôi nhủ thầm, chắc phải luống cuống và khó chịu biết chừng nào. Tôi trăn trở trong giường, bực bội. Một thanh niên đóng vai trò ngu ngốc trong ngôi nhà vừa có một hôn lễ.

Trong nhà đã im lặng từ một lúc, khi có tiếng chân nặng nề đi lên cầu thang. Những bậc bằng gỗ kêu răn rắc rất mạnh.

« Cái thứ người thô lỗ ! tôi kêu lên. Tôi đoán chắc là gã ta sẽ ngã trong cầu thang cho mà xem. »

Tất cả đều trở lại yên tĩnh. Tôi vớ lấy một cuốn sách để thay đổi trong đầu óc. Đây là một bản thống kê của tỉnh, được tăng thêm với cái tiểu luận của ông de Peyrehorade về những công trình lịch sử của các đạo sĩ thời nền văn minh Celte, những công trình này ở quận Prades. Đọc đến trang thứ ba thì tôi thiu thiu ngủ.

Tôi ngủ không được ngon giấc và thức dậy nhiều lần. Lúc đó có thể là năm giờ sáng, khi gà gáy, tôi thức tỉnh đã hơn hai mươi phút. Mặt trời sắp mọc. Lúc bấy giờ tôi nghe rõ ràng cũng những tiếng chân nặng nề đó, cũng tiếng răn rắc trên cầu thang mà tôi đã nghe trước khi ngủ. Điều này có vẻ kỳ lạ. Vừa ngáp tôi vừa cố đoán tại sao Alphonse dậy sớm đến thế. Tôi không tưởng tượng được điều gì có thể là thực. Tôi sắp sửa khép mắt lại khi tôi chú ý một lần nữa đến những tiếng giậm chân lạ lùng và rồi chẳng bao lâu pha lẫn với tiếng chuông leng keng và tiếng cửa mở rầm rầm, rồi tôi nghe những tiếng la khó phân biệt.

« Chắc là anh chàng nghiện rượu đã đốt nhà đâu đây ! » tôi thầm nghĩ và nhảy ra khỏi giường.

Tôi mặc áo quần nhanh chóng và ra ngoài hành lang. Từ cái mút đầu kia có những tiếng kêu la, than khóc và một tiếng la đau xé trội hẳn trên những tiếng khác : « Con trai tôi ơi ! Con trai tôi ơi ! » Đương nhiên là một tai họa đã xảy ra cho Alphonse. Tôi chạy lại phòng đôi tân hôn : nó đông nghẹt người. Cái quang cảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là người thanh niên mặc quần áo phân nửa, nằm ngang trên giường, thành giường bị gẫy. Anh ta nhợt nhạt, bất động. Mẹ anh khóc và kêu la bên cạnh anh. Ông de Peyrehorade hối hả, ông xoa nước hoa Eau de Cologne  hai bên thái dương cho con, người ta thoa muối amoni dưới mũi. Khổ thay, con trai ông chết đã từ lâu. Trên chiếc đi văng, ở cuối phòng, cô dâu cả người bị co giật một cách khủng khiếp. Cô thốt lên những tiếng kêu không thành tiếng, và hai người gái giúp việc to khoẻ phải vất vả lắm mới giữ cô lại được.

« Trời ơi ! tôi la lên, cái gì đã xảy ra thế ? »

Tôi đến gần giường và đỡ lên cái thân thể của người thanh niên xấu số ; người anh đã cứng đơ và lạnh ngắt. Răng anh nghiến lại và mặt anh đen sì biểu hiện những kinh hoàng ghê gớm. Thấy rõ là cái chết của anh dữ dội và cơn hấp hối khủng khiếp. Tuy nhiên không một vết máu nào trên áo quần. Tôi vén áo sơ mi anh và thấy trên ngực một cái dấu trắng nhợt kéo dài trên xương sườn và trên lưng. Tưởng chừng anh bị siết chặt trong một cái vòng sắt. Chân tôi đạp trên một cái gì cứng trên tấm thảm ; tôi cúi xuống và thấy chiếc nhẫn hột xoàn.

Tôi kéo ông de Peyrehorade và vợ ông vào phòng của họ ; rồi tôi cho người đưa cô dâu vào.

« Ông bà còn một đứa con gái, tôi nói, ông bà phải săn sóc cô. » Thế rồi tôi để họ ở đấy.

Không nghi ngờ gì nữa, Alphonse là nạn nhân một cuộc ám sát mà những kẻ gây ra đã tìm cách lẻn vào phòng cô dâu ban đêm. Tuy nhiên tôi rất lúng túng với những vết bầm ở ngực và hình tròn của chúng, bởi vì một cây gậy hay một thanh sắt không thể làm ra những vết bầm như thế. Bỗng nhiên tôi nhớ có nghe nói rằng ở Valences có bọn giết thuê dùng những cái túi dài bằng da đựng đầy cát mịn để đánh chết những người mà người ta thuê chúng giết. Tức thì tôi nhớ đến người dắt la gốc Aragon, thuộc Tây Ban Nha, và lời đe dọa của anh ta ; tuy nhiên, tôi khó tưởng tượng anh ta trả thù một cách ghê gớm đến thế vì một câu bông đùa.

Tôi đi quanh trong nhà, tìm khắp nơi những dấu vết bẻ khóa mà không tìm thấy gì. Tôi đi xuống vườn để xem bọn sát nhân có lẻn vào phía này không ; nhưng tôi không tìm ra một dấu hiệu nào chắc chắn. Vả lại trận mưa đêm hôm trước đã làm ướt sũng mặt đất đến mức không còn vết ấn rõ rệt. Tuy thế, tôi nhận thấy có vài bước chân in sâu vào đất ; những bước chân đi theo hai hướng ngược nhau, nhưng cùng trên một đường thẳng, đi từ góc hàng rào giáp với sân bóng quần đến cửa nhà. Có thể là bước chân của Alphonse khi anh đi lấy chiếc nhẫn ở ngón tay của pho tượng. Mặt khác, nơi đó hàng rào thưa hơn nơi khác, có lẽ bọn sát nhân đã bước qua hàng rào ngay chỗ đó. Khi đi qua đi lại trước pho tượng, tôi dừng chân một lúc để nhìn nó. Lần này, tôi xin thú thật, tôi không thể nhìn vẻ mặt độc ác, mỉa mai của nó mà không hãi hùng ; và trong đầu tôi đầy những cảnh khủng khiếp mà tôi vừa chứng kiến, tôi tưởng chừng đang thấy một hung thần vỗ tay hoan hô cái tai họa đổ xuống nhà này.

Tôi trở về phòng và ở đấy đến trưa. Rồi tôi ra khỏi phòng và hỏi thăm về hai vị chủ nhà. Họ trở nên bình tâm hơn một chút. Cô de Puygarrig, tôi phải nói bà góa phụ của Alphonse, đã tỉnh lại. Bà đã trả lời ngay cả với ông biện lý của vua ở Perpignan, lúc bấy giờ ông biện lý đang đi kinh lý ở thị xã Ille, và ông quan tòa này đã nhận lời khai nhân chứng của bà. Ông yêu cầu tôi nộp lời khai của tôi. Tôi nói với ông những điều tôi biết, và tôi không giấu ông những nghi ngờ của tôi đối với người dắt la ở Aragon. Ông biện lý ra lệnh bắt người đó ngay lập tức.

« Thưa, ông có biết được điều gì do bà Alphonse khai không ? tôi hỏi ông biện lý của vua khi tôi đã viết xong và ký tên tờ khai nhân chứng của tôi.

– Người phụ nữ khốn khổ đó đã hóa điên, ông nói với nụ cười buồn. Điên ! Hoàn toàn điên. Và đây là lời bà ấy kể :

Bà ấy đã nằm xuống được vài phút, bà nói, các bức màn được kéo xuống, khi cánh cửa phòng bật mở, có người vào. Thế rồi bà Alphonse đang nằm trong khe giường, mặt quay vào tường. Bà không cử động vì bà đinh ninh rằng đó là chồng bà. Một lúc sau cái giường kêu răn rắc làm như nó chịu một sức nặng to lớn. Bà ấy khiếp đảm, nhưng không dám quay đầu lại. Năm phút, có lẽ mười phút… đã qua đi như thế, bà ấy không ý thức được thời gian. Rồi bà có một cử động vô ý, hay là cái người nằm trong giường đã cử động, và bà cảm thấy có cái gì lạnh như nước đá chạm vào bà, đó là lời bà nói. Bà chui vào khe giường, tay chân run rẩy. Ít lâu sau, cánh cửa bật mở lần thứ hai, có người đi vào và nói : « Chào cô vợ bé nhỏ của anh. » Chẳng bao lâu các bức màn được kéo lên. Bà nghe một tiếng kêu bị ngạt thở. Người nằm trong giường, bên cạnh bà, ngồi dậy và có vẻ đưa hai cánh tay về phía trước. Lúc bấy giờ bà quay đầu lại… và bà nói bà thấy chồng bà quỳ gối cạnh giường, cái đầu ngang với chiếc gối, giữa hai cánh tay của một thứ người khổng lồ màu lục nhạt đang mãnh liệt ghì chồng bà. Bà nói, và bà lặp đi lặp lại hai mươi lần, tội nghiệp bà !… bà nói rằng bà nhận ra… ông đoán là gì không ? Cái tượng Vénus bằng đồng thanh, pho tượng của ông de Peyrehorade ấy mà… Từ ngày pho tượng ở trong vùng này, ai nấy đều mơ đến nó. Nhưng tôi tiếp tục câu chuyện của người phụ nữ khốn khổ hóa điên đây. Trước quang cảnh đó bà ngất xỉu, và hẳn là bà đã mất trí từ một lúc rồi. Bà không thể nói trong bao lâu bà ở trong tình trạng ngất xỉu như thế. Khi tỉnh lại, bà lại thấy con ma, hay pho tượng, như bà vẫn nói, nó bất động, hai chân và phần dưới của thân thể ở trên giường, nửa thân trên và hai cánh tay dang ra phía trước, và chồng bà ở giữa hai cánh tay của nó, không cử động. Có con gà gáy. Lúc bấy giờ pho tượng ra khỏi giường, để xác chết nhào xuống và đi ra. Bà Alphonse giật chuông lia lịa, và chuyện còn lại thì ông đã biết. »

Người ta đưa vào người Tây Ban Nha thuộc vùng Aragon, anh ta bình thản và tự bào chữa mình một cách rất bình tĩnh và nhanh trí. Vả chăng, anh ta không chối đã thốt ra lời mà tôi nghe được, nhưng anh ta giải thích bằng cách cho rằng anh ta không muốn nói gì khác hơn là ngày hôm sau, khi anh ta đã nghỉ khoẻ, anh ta sẽ thắng lại người đã thắng anh ta. Tôi nhớ anh ta còn thêm :

« Một người xứ Aragon, khi họ bị lăng nhục, họ không chờ ngày hôm sau để trả thù. Nếu tôi tưởng rằng ông Alphonse muốn nhục mạ tôi, tôi đã đâm vào bụng ông ấy ngay lập tức với con dao của tôi rồi. »

Người ta so sánh giày của anh ta với những dấu chân trong vườn ; giày của anh ta lớn hơn nhiều.

Cuối cùng người chủ quán trọ, nơi người đàn ông đó ở, quả quyết rằng suốt đêm anh ta xoa bóp một con la bị bệnh và chữa thuốc cho nó.

Vả lại, người xứ Aragon đó là một người đàn ông có tiếng tốt, được nhiều người trong vùng biết, anh ta đến đây mỗi năm để buôn bán. Vậy họ thả anh ta ra với những lời xin lỗi.

Tôi quên lời khai của một người tôi tớ, người này là người cuối cùng đã thấy Alphonse khi còn sống. Đó là vào lúc anh đi lên phòng của vợ và gọi người đầy tớ hỏi với vẻ lo lắng rằng anh ta có biết tôi ở đâu không. Người đầy tớ trả lời rằng anh ta chẳng thấy tôi đâu cả. Thế rồi Alphonse thở dài mà không nói gì trong hơn một phút, rồi anh nói : « Thôi, ma quỷ cũng đưa ông ấy đi mất đất rồi ! ». Tôi hỏi người đầy tớ Alphonse có đeo chiếc nhẫn hột xoàn khi nói chuyện với anh ta không. Anh ta do dự không trả lời, cuối cùng anh ta nói anh ta không nghĩ là có, vả chăng anh ta không hề chú ý điều đó. Anh ta nói thêm :

« Nếu ông có đeo chiếc nhẫn ở tay, thì chắc là tôi đã để ý, bởi vì tôi tưởng ông đã tặng bà Alphonse chiếc nhẫn rồi. »

Khi tôi chất vấn người đàn ông đó, tôi cảm thấy chút sợ hãi dị đoan mà lời khai của bà Alphonse đã truyền khắp trong nhà. Ông biện lý của vua nhìn tôi mỉm cười, và tôi tránh không vặn hỏi nữa.

Vài giờ sau lễ an táng Alphonse, tôi chuẩn bị rời thị xã Ille. Xe của ông de Peyrehorade sẽ đưa tôi đến Perpignan. Mặc dù tình trạng suy yếu của ông, ông già tội nghiệp cũng muốn tiễn đưa tôi đến cái cửa vườn. Chúng tôi im lặng đi qua vườn, ông hơi lê đôi chân và vịn vào cánh tay tôi. Khi chúng tôi từ giã nhau, tôi liếc nhìn lần cuối cùng cái tượng Vénus. Mặc dù ông chủ nhà không sợ hãi và căm ghét cái pho tượng như nó đã làm cho một phần trong gia đình ông sợ hãi căm ghét, tôi tiên đoán rằng ông sẽ có ý muốn tống đi một đồ vật không ngừng nhắc cho ông một tai họa ghê gớm. Chủ ý của tôi là cổ võ ông để cái pho tượng trong một viện bảo tàng. Tôi ngập ngừng để vào đề, khi ông de Peyrehorade quay đầu như cái máy về phía tôi đang nhìn chăm chăm. Ông thấy pho tượng, tức thì ông òa khóc. Tôi hôn ông và tôi leo lên xe mà không dám nói với ông một lời nào.

Từ lúc tôi ra đi, tôi không biết thêm điều gì có thể làm sáng tỏ cái thảm họa huyền bí đó.

Ông de Peyrehorade lìa đời sau con trai ông vài tháng. Theo di chúc của ông, ông để lại cho tôi những bản thảo của ông mà có lẽ một ngày kia tôi sẽ cho xuất bản. Tôi không tìm thấy bài tiểu luận liên quan đến mấy câu khắc trên pho tượng Vénus.

Tái bút. Ông bạn de P. của tôi vừa viết thơ cho tôi từ Perpignan cho hay pho tượng không còn nữa. Sau khi chồng bà chết, việc làm đầu tiên của bà de Peyrehorade là cho nung chảy cái tượng và đúc nó thành cái chuông, và dưới hình thức mới, pho tượng có ích cho nhà thờ. Nhưng ông de P. nói thêm, hình như một số phận xui xẻo đã đeo đuổi những ai sở hữu cái đồng thanh đó. Từ khi người ta đánh cái chuông ở Ille, nho trong vùng bị hư hại hai lần vì giá lạnh.

                                                                                        Prosper Mérimée (1803-1870)

                                                                                     Nguyên tác La Vénus d’Ille (1837),

                                                         Trích từ tập truyện Colomba et dix autres nouvelles, Gallimard, 1964.

Chú thích :

  • Coustou là tên của ba nhà điêu khắc thế kỷ 17-18 : Nicolas Coustou, tác giả tượng Đức Mẹ thương xót ở nhà thờ Notre Dame de Paris. Người em là Guillaume Coustou, tác giả pho tượng Ngựa Marly ở viện bào tàng Louvre, và một tượng đúc Ngựa Marly ở ngay quảng trường Concorde Paris. Con của Guillaume Coustou là Guillaume II Coustou, tác giả cái lăng Dauphin ở thành phố Sens.
  • Trích từ kịch bản Amphitrion của Molière.
  • « Ngươi sẽ không biết những món quà của Vénus », trích từ sử thi Énéide của Virgile.
  • Bộ (pied) : đơn vị đo lường. Một bộ là khoảng hơn 30 phân.
  • Toa (toise) : đơn vị đo chiều dài bằng khoảng 6 bộ, tức gần 2 thước
  • Theo truyền thuyết, Vénus trả thù Diomède bằng cách hóa thân những người bạn của Diomède thành chim trắng.
  • Trích sử thi Énéide của Virgile.
Advertisements

RỪNG MẮM CỦA BÌNH NGUYÊN LỘC

 Biết rằng không ai có thể trở lại cuộc đời mình lần nữa, nhưng mà nếu làm được chuyện đó, tôi vẫn chọn viết văn… Bình Nguyên Lộc tuyên bố như thế. Nhưng viết văn như thế nào ? Bình Nguyên Lộc phân biệt, như ở Tây phương, hai hạng người viết : nhà văn và người viết với ngôn ngữ tầm thường, Pháp gọi là écrivainécrivant. Và ông bênh vực hạng người thứ hai : hạng người dùng ngôn ngữ tầm thường để viết. Trong bài phỏng vấn của tạp chí Văn, Sài gòn, số 199, ngày 1-4-1972, do Nguyễn Nam Anh thực hiện, Bình Nguyên Lộc nói : Ông Tản Đà làm thơ thì hay, viết văn cũng hay. Ông là Ecrivain. Nhưng anh nông phu lại không có tài hay sao khi anh ta làm thơ như thế này :

                            Ông Nỉnh ông Ninh

                            Ông ra đầu đình

                            Ông gặp ông Nảng ông Nang

                            Ông Nảng ông Nang

                            Ông ra đầu làng

                            Ông gặp ông Nỉnh ông Ninh.

Anh nông phu ấy đã bị gọi là Ecrivant đấy. Nhưng đố ông Tản Đà làm nổi một bài thơ như vậy.

Rồi Bình Nguyên Lộc nói chính ông đã từng làm écrivant dưới bút danh Phong Ngạn để sáng tác truyện, vì vấn đề mưu sinh, nhưng ông không lấy đó làm xấu hổ. Ông tỏ ra khiêm tốn khi ông cầm bút. Tuy thế, từ người viết với ngôn ngữ tầm thường, ông đã nhanh chóng trở thành nhà văn, và tên tuổi của ông đã đi vào văn học Việt Nam.

Tên thật của Bình Nguyên Lộc là Tô Văn Tuấn, ông sinh năm 1914 ở xã Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa. Vì ông rất gắn bó với cái nơi chôn nhau cắt rún của ông, nên những cái tên Tân Uyên, Biên Hòa và sông Đồng Nai thường xuất hiện đây đó trong truyện của ông. Sau khi từ giã nghề công chức, ông bắt đầu làm báo, viết văn, ông hăng say viết. Cũng theo tạp chí Văn kể trên, cho đến năm 1966, Bình Nguyên Lộc có :

820 truyện ngắn (đã in được 5 tập)

52 tiểu thuyết (đã in được 11 quyển).

Ngần ấy số lượng tác phẩm cũng đủ làm người đọc choáng váng. Về truyện ngắn, công bình mà nói, tác giả viết không đều tay, giá trị các truyện không ngang nhau, có truyện hay, đọc nhiều lần không chán, có truyện đọc một lần thì có thể bỏ qua. Những truyện hay của Bình Nguyên Lộc ở lâu dài trong trí nhớ người đọc. Ông có cái tài quan sát tỉ mỉ từ con cá, con chim, đến cây cỏ, thổ nhưỡng, ông am hiểu lối sống của người dân quê cũng như cách ăn ở của người thành thị, và chỉ cần vài ba chi tiết là ông vẽ lên đầy đủ chân dung một người phụ nữ, đó là chưa kể sự miêu tả cảnh sông nước miền Nam trong truyện của ông. Đọc Bình Nguyên Lộc, cũng như đọc Sơn Nam, là đi vào cái thế giới của miền đất mới.

Trong chiều hướng này, truyện ngắn Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc là một truyện tiêu biểu cho sự tranh đấu gay go của con người để giành lấy đất sống. Rừng Mắm đã được dịch ra Pháp ngữ và Anh ngữ.

Thế hệ rừng mắm và thế hệ rừng tràm

Cộc là một đứa con trai 15 tuổi, sống với cha mẹ và ông nội trong một khu rừng tràm. Nó nhớ năm nó lên 10 tuổi, cha mẹ nó bán túp lều lá ở vùng Cao Lãnh, và cùng ông nội nó đến nơi này. Ông nội nó tiếc nhớ những ngôi mộ của tổ tiên mà ông đã để lại nơi làng xóm. Cả gia đình đi trên một chiếc xuồng lớn, gọi là xuồng cui, lênh đênh từ rạch này qua rạch khác, cuối cùng dừng lại ở cái rạch này, giữa một rừng tràm, cây cối đan nhau dày mịt, đến nổi không thấy ánh sáng mặt trời, con rạch tối như một cái hang. Xứ này muỗi quá nhiều, nước thì đầy phèn, muốn có rau mùi để ăn với cá, người lớn phải ra tay chế biến một cách tài tình để dựng lên những cái vườn tí hon, cao cẳng, bằng cách đóng bốn cái cọc ba chân, treo lên đấy bốn cái nồi lớn khoét đáy, lấp đầy bằng thứ đất được đem từ xa tới, như thế rau mùi và ớt mọc trên bốn cái nồi. Lại nữa, nhờ bóng bốn cái nồi xê dịch trên mặt đất, gia đình thằng Cộc có thể đoán giờ để sinh hoạt trong ngày. Mấy cây chuối họ trồng đã chết vì đất nhiều phèn, mấy con gà đem theo cũng lần lượt chết. Khi đến nơi này, họ đốt một khoảng rừng tràm để trồng lúa ; lúa gặt được không bao nhiêu, tía thằng Cộc phải đem cá khô đi rất xa để đổi lấy thêm lúa. Cơm không đủ ăn, có ngày phải ăn rắn, ăn rùa.

Cộc sống trong một thế giới người câm, cha mẹ và ông nội nó không nói chuyện với nhau, suốt ngày làm việc quần quật. Mà nếu họ có nói gì, nó cũng nhàm tai, nó thèm nghe những giọng nói khác, nó thèm thấy nhà cửa xung quanh nó, thèm nghe tiếng nói, tiếng cười của nhiều người khác, nó… thèm người. Nó bắt đầu cảm thấy đời sống trong cái rừng tràm này ngột ngạt và nó có những ý nghĩ thoát ly.

Ông nội của Cộc đặt cho xóm này cái tên Ô Heo. Thật ra Ô Heo là tên một cái gò ở xa rừng tràm, muốn đến đấy, phải băng rừng rất nguy hiểm vì dễ gặp thú dữ, cho nên gia đình cấm Cộc đến gò Ô Heo. Dù bị cấm nó cũng lén lút đến đấy để gặp những người lạ mặt thỉnh thoảng dừng chân nơi đó. Họ kể đủ thứ chuyện rất hấp dẫn ở làng xóm họ, nào là lễ lộc, đám ma, đám cưới, họ nói đến những món ăn như trái cây xoài, mít, chè, những thứ mà thằng Cộc không hề biết tới từ năm năm nay. Nó thèm các thứ đó vô cùng. Có lần tía nó đi xa trở về cho nó cục đường, ăn xong nó càng khổ sở hơn, vì cục đường làm tăng nỗi thèm của nó. Một hôm người đàn ông mà Cộc quen mặt ở gò Ô Heo đem theo một cô nhân tình, những người phụ nữ thường đến đây hái bồn bồn về làm dưa để bán. Cô nhân tình này chuyện trò giễu cợt với Cộc, cô rủ Cộc về làng làm ruộng, rồi Cộc sẽ cưới được em gái cô tên Thôi. Trở về nhà, Cộc đâm ra mơ mộng, nó mơ đến người con gái tên Thôi, nó mơ một cuộc sống khác. Một hôm, trong bữa ăn Cộc hỏi ông nội :

– Sao mình lại tới đây ông nội ?

– Đã nói cho mầy biết rồi. Trên xứ, mình không có ruộng, làm công khổ cả đời.

– Ở đây, mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời.

Rồi nó nói thêm với vẻ oán trách, làm ông nội nó giật mình :

Ở đây mình có ruộng, nhưng cũng khổ cả đời. Tui muốn đi quá, đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta.

Ông nội nó im lặng. Cộc để ý thấy ông nội đã già nhiều, ông thường than nhớ mồ nhớ mả của tổ tiên mà ông đã lìa xa, và nó cảm thấy thương ông quá.

 Sau nhiều ngày làm việc vất vả, lúa đã phơi khô và đổ vào bồn, ông nội Cộc tuyên bố :

Ngày mai ra biển.

Cộc ngạc nhiên, nó chưa từng thấy biển. Thế rồi ba người đàn ông : ông nội Cộc, tía Cộc và Cộc ra đi sớm trên chiếc xuồng trôi theo con rạch Ô Heo. Khi gần tới biển, không còn đất hai bên bờ rạch nữa, mà là một thứ bùn đen, cây tràm  nhường chỗ cho một thứ cây lạ, rễ của nó phơi ra ngoài và một thứ hoa trắng năm cánh mọc ngay trên rễ. Cộc ngơ ngác trước một thứ cây lạ lùng mọc lên hằng hà sa số. Ông nội nó giải thích đây là cây mắm, loại cây này không dùng được, ngay cả việc dùng làm củi cũng không được. Và đây là bài học quý báu của ông nội nó, mục đích của việc ra biển :

– Bờ biển này mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra… Phù sa là đất bùn mềm lũn và không bao giờ thành đất thịt được để người ta hưởng, nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được.

(…)

Ông với lại tía là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm, chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con là xoài, mít, dừa, cau.

Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho con cháu họ hưởng.

Con, con sắp được hưởng rồi, sao lại muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sanh chút ít cho con cháu của con hưởng sao ?

Ông nội Cộc cũng giảng cho nó biết rằng tổ tiên ngày xưa từ miền Trung vào đây đều chịu số phận làm cây mắm, rồi đến ông sơ, ông cố và ông nội của Cộc mới làm tràm, mới kiếm được miếng ăn.

Cộc ý thức được sự hy sinh cao cả của ông nội nó trong bao nhiêu năm trời. Nó cảm thấy thương ông quá đổi. Ông nội nó hứa rồi đây sẽ có đông người đến lập nghiệp ở vùng Ô Heo, miền đất này sẽ trở nên sầm uất, và tha hồ cho Cộc ăn đủ thứ món kể cả món chè. Thằng Cộc bỗng nhiên hướng về tía nó, nó muốn tía nó sẽ là tràm như nó. Cả một niềm thương yêu tràn ngập lòng nó.

Vinh danh đoàn người tiên phong trong cuộc Nam tiến

Truyện Rừng Mắm khởi đầu bằng tâm trạng một đứa trẻ không chịu nổi cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn và cô đơn ở một nơi hoang vắng, để đi đến một bài học lịch sử sống động với sự đóng góp của ba thế hệ trong gia đình, một trang sử mà chính đứa trẻ phải tiếp tay để viết lên, để ghi nhớ và tiếp tục cuộc tranh đấu lâu dài của những người di dân trước đây từ miền Trung đã vào miền Nam khai khẩn đất hoang, đã chịu bao gian khổ, hiểm nghèo. Tác giả Bình Nguyên Lộc ví họ như những chiến sĩ ra trận, hy sinh xương máu để về sau con cháu có được một miền đất trù phú.

Trong cuốn sách Viết và sống của Nguyễn Ngu Í, Bình Nguyên Lộc có cho biết rằng gia đình ông giữ được gia phả của mười thế hệ ở Tân Uyên, tức gia đình ông là một gia đình xưa nhất. Người di dân miền Trung tiến vào Nam vào thế kỷ 17, tức đã 300 năm, mười thế hệ của một gia đình có thể lấp gần đầy ba thế kỷ.

Khi Bình Nguyên Lộc bắt đầu viết văn, ông có ý định viết một truyện lịch sử mà ông đặt cho cái tựa đề là Phù Sa. Vì hoàn cảnh, truyện bị thất lạc, rồi được viết lại nhưng bị gián đoạn nhiều lần, và cuối cùng truyện Phù Sa hóa lở dở. Mục đích của tác giả khi viết truyện này có một ý nghĩa thâm sâu : đó là sự đền ơn tổ tiên đã đẩy mạnh cuộc Nam tiến, vì ông luôn bị những hy sinh lớn lao của tổ tiên ám ảnh.

Bình Nguyên Lộc tha thiết với sự hình thành của đất miền Nam. Ông đã tỏ ra yêu thương, gắn bó với dải đất này. Không có gì đáng ngạc nhiên nếu truyện của ông nói về miền Nam, về người dân miền Nam. Khi đọc truyện của ông, dẫu là những truyện mà nghệ thuật viết có khi sơ sài, người dân miền Nam vẫn nhận ra giọng nói miền Nam bình dị, thân mật, ấm áp tình người, và thấy được cái nơi mình sống là của cha ông mình để lại cho mình.

Nếu Phù Sa không được thực hiện như lòng mong mỏi của tác giả thì truyện Rừng Mắm làm ánh lên cái khí huyết của những kẻ vững tâm đi tìm đất sống. Rừng Mắm đã góp phần vào truyền thống dựng nước.

Tác phẩm và tài liệu tham khảo :

– Tuyển Tập Bình Nguyên Lộc. An Tiêm xuất bản, Paris-California, 1999.

– Bình Nguyên Lộc, Mưa thu nhớ tằm, tái bản ở Mỹ, không có tên nhà xuất bản.

– Bình Nguyên Lộc, Tâm trạng Hồng, Xuân thu, Texas tái bản.

– Nguyễn Ngu Í, Sống và viết, Xuân Thu, California tái bản.

– Tạp chí Văn, Sài gòn, số 199, ngày 1-4-1972.