BORIS PASTERNAK, CÂY BÚT BẤT KHUẤT

 

m 1958, thế giới phát hiện tên tuổi một nhà văn của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết : Boris Pasternak ; nhà văn này vừa được giải Nobel văn chương, với tác phẩm Bác sĩ Jivago.

Boris Pasternak sinh năm 1890 tại Moscova. Cha của ông là danh họa Leonid Pasternak, ngưi đưc văn hào Tolstoi chn để minh họa những tác phẩm của mình. Mẹ là bà Rosalia Kaufman, một nhạc sĩ dương cm có tài năng. Boris Pasternak lớn lên trong một môi trường nghệ thuật. Năm 13 tuổi, vì quá yêu âm nhạc ông bèn sáng tác một bản sonate được nhà soạn nhạc trứ danh Skriabine khen ngợi. Sáu năm sau ông bỏ âm nhạc, theo học môn triết ở đại học. Ông sáng tác thơ trữ tình và chịu ảnh hưởng của trào lưu tưng trưng và của trường phái vị lai. Ông trở thành bạn thân của nhà thơ Maïakovski. Ông quan niệm rằng với thơ trữ tình ông có thể tham dự vào sự sáng tạo đời sống.

Khi cuộc cách mạng 1917 bùng nổ, Boris Pasternak đầy hứng khởi đón mừng cách mạng và chấp nhận cả những sắc lệnh bonsevic tháng 10 năm 1917, ông t động gia nhập cuộc cách mạng. Nhưng chẳng bao lâu ông chống lại sự thống trị của hệ tư tưởng mác xít. Ông không quan niệm rằng nghệ thuật có thể phục tùng những đòi hỏi của chính trị, dù cho những đòi hỏi đó có cao thượng đến đâu đi nữa. Thi ca là cái bất khuất.

Pasternak được xem là một trong những nhà thơ đầu tiên của thế hệ ông. Ông cũng sáng tác bằng văn xuôi. Sau thế chiến thứ nhất, ông cho ra mắt các tác phẩm sau đây : tp thơ Ma sœur, la vie (Em tôi cuộc đời) (1922), Le lieutenant Schmidt (Trung úy Schmidt) và L’an 1905 (Năm 1905) ra năm 1927, La seconde naissance (Ra đời lần thứ hai) và Sauf-conduit (Giấy thông hành) ra năm 1931. Ngoài ra, Pasternak là dịch giả nổi tiếng của Shakespeare, Goethe, Shelley và Verlaine. Verlaine là nhà thơ Pháp mà ông ưa thích nhất.

Sauf-conduit là một tiểu luận về thơ trữ tình. Khởi đầu tác giả nói về nhà thơ Rilke, người gốc Áo, đã làm cho ông phát hiện nguồn thi ca, nhưng rồi dần dần cuốn sách gồm những đon văn có tính tự truyện, nói về quan niệm nghệ thuật của riêng ông. Cuốn sách đang thành hình thì ngày 14 tháng 4 năm 1930 Maïakovski tự tử. Do đó phần thứ 3 của cuốn sách hướng về Maïakovski để tỏ lòng kính phục nhà thơ này. Trong tác phẩm Sauf-conduit, Pasternak đi từ Rilke qua những tư duy của mình rồi đến với Maïakovski, lối viết này có một điểm nhất quán, đó là những trải nghiệm của nhà thơ nói chung và sự ca tụng thi ca.

Pasternak thành hôn với một nữ họa sĩ, cô Evguénia Lourie, năm 1923, hai ngưi xa nhau năm 1931. Ông thành hôn lần thứ hai với Zinaida Neuhans. Thời gian ông sống với người vợ này ở Georgie, ông được giới văn nghệ sĩ biệt đãi, khiến ông có cảm tưng ra đời lần thứ hai, vì quá hứng khởi ông nghe theo những lời tuyên truyền của Cộng sản. Nhưng rồi những ưu đãi của nhà cầm quyền trở nên nặng nề đối với ông. Năm 1935 ông bị bệnh trầm uất nặng, ông bị bắt buộc gia nhập phái đoàn Xô viết tại Hội nghị chống phát xít ở Paris.

Vào khoảng năm 1936, Pasternak dần dần ngưng mọi hoạt động và rút về sống trong một ngôi nhà của Hội Nhà văn, ở Peredelkino, gần Moscova. Sự bắt bớ và vụ án của Boukharine năm 1938 làm cho Pasternak không còn ảo tưởng về Staline nữa. Từ đó ông trở nên một kẻ âm thầm chống đối.

Năm 1941, gia đình ông sơ tán vì chiến tranh, còn ông phải gia nhập ban bảo vệ dân sự ở thủ đô ; ông xem vic này như một thử thách để thanh sạch hóa. Do đó ông sáng tác nhng bài thơ yêu nước.

Năm 1946, những sắc lệnh của Idanov báo hiệu những đợt truy hại sắp tới. Olga Ivinskaïa, người yêu cuối cùng của Pasternak, là một phụ nữ đẹp, phóng khoáng, cô bị tình nghi làm gián điệp và bị bắt vào tháng 10, 1949. Pasternak quyết viết cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Jivago, trong đó nhân vật Lara chính là người yêu Olga Ivinskaïa. Mặc cho những áp lực đe dọa, Pasternak vẫn lén lút tiếp tục viết cho đến ngày Staline chết và ngày Olga được phóng thích, tháng 4, 1953.

Tác phẩm Bác sĩ Jivago đưc hoàn thành năm 1955. Sau khi bị các nhà xuất bản Xô viết từ chối, tác phẩm ra mắt ở Ý tháng 10, 1957. Đây là một biến cố gây tiếng vang rộng lớn trên thế giới, một thách thức không có chủ tâm của một con ngưi đi đầu với một chủ nghĩa đc tài. Năm 1958, Pasternak được giải Nobel văn chương, nhưng chính quyền Nga Xô cấm ông qua Stockholm nhận giải thưởng.

Boris Pasternak mất năm 1960, tại Peredelkino.

Chỉ đến năm 1987, khi có phong trào Perestroïka, Hi Nhà văn Xô viết mới khôi phục danh dự cho Boris Pasternak bằng cách bác bỏ việc loại ông ra khỏi Hội. Kể từ nay dân chúng Nga có thể tự do đọc Bác sĩ Jivago.

Tài liệu tham khảo :

Tạp chí văn học Europe, số 767, tháng 3-1993, số đặc biệt về Boris Pasternak.

Boris Pasternak, Sauf-conduit, Gallimard, 1989.

Advertisements

SÁNG THỨ BẢY NHÂM NHI TÁCH CÀ PHÊ

 

Ở Paris, thông thường sáng thứ bảy tôi vừa nhâm nhi tách cà phê vừa háo hức chờ đợi buổi phát thanh Répliques của nhà triết học Alain Finkielkraut, trên Đài France Culture. Từ năm 1985 đến nay – năm 2016 – cứ mỗi sáng thứ bảy A. Finkielkraut mời hai nhà chuyên môn về một vấn đề để thảo luận. Những vấn đề được bàn đến thuộc nhiều lĩnh vực : chính trị, thời sự, lịch sử, khoa học, triết học, văn học, v.v… Hai nhân vật được mời có quan điểm khác nhau hoặc hoàn toàn chống đối nhau, có khi họ lại có những quan điểm bổ sung cho nhau. Nhưng dù sao đi nữa cuộc thảo luận luôn luôn diễn ra trong một bầu không khí lịch sự, trong tinh thần tôn trọng nhau. A. Finkielkraut là tiếng nói thứ ba trong cuộc thảo luận, ông có lối phát biểu mạch lạc, rõ ràng, ông thường chọn những đề tài lý thú và đặt những câu hỏi thích đáng, khiến cuộc thảo luận thêm hào hứng. Thính giả có cảm tưởng được học hỏi thêm và phát hiện nhiều khía cạnh mới lạ của đề tài cuộc thảo luận.

Alain Finkielkraut sinh năm 1949. Sau biến cố tháng năm sáu mươi tám đánh dấu cuộc cách mạng văn hóa của giới trẻ ở Pháp, A. Finkielkraut, cũng như phần đông những thanh niên thời đó, có khuynh hướng thiên tả, thậm chí có một thời ông theo chủ nghĩa Mao Trạch Đông. Rồi với thời gian người thanh niên bồng bột khuynh tả đã trở nên một nhà triết học khuynh hữu, chịu ảnh hưởng sâu đậm của hai nhà triết học nổi tiếng : Hannah Arendt và Emmanuel Lévinas.

Ngoài việc khởi xướng và chủ trì buổi phát thanh Répliques (Đối đáp), A. Finkielkraut còn là giáo sư triết học ở Trường Bách Khoa và là thành viên của Hàn Lâm Viện Pháp. Ông cũng là tác giả của những cuốn sách nổi tiếng, như cuốn La Défaite de la Pensée (Thất bại của Tư duy) đánh dấu sự khởi đầu của việc chỉ trích thế giới hiện đại, và cuốn Le Nouveau Désordre amoureux ( Hỗn loạn mới của yêu đương), trong cuốn sách này, tác giả công kích cái gọi là Huyền thoại của Cách mạng dục tình phát xuất từ biến cố tháng năm sáu mươi tám, và từ những lý luận của các nhà triết học Gilles Deleuze và Félix Guattari.

Những người trí thức khuynh tả, dù có chống đối A. Finkielkraut thế nào đi nữa, cũng vẫn chăm chú theo dõi ông trên những làn sóng phát thanh, những kênh truyền hình và đọc sách của ông, vì ông là người có can đảm đi ngược dòng để khẳng định những giá trị truyền thống, ông không nhân nhượng trước những tư tưởng dễ dãi, thời thượng và có tính mị dân. A. Finkielkraut là một tên tuổi nổi bật của giới trí thức Pháp.

Một sáng thứ bảy, A. Finkielkraut báo với thính giả đề tài cuộc thảo luận hôm đó là Boris Pasternak và tác phẩm Bác sĩ Jivago. Tôi giật mình, nhớ lại một kỷ niệm khi còn ở quê nhà. Vào thời đó, chúng tôi thuộc lớp trẻ một mặt trân trọng kho tàng văn hóa nước nhà, mặt khác rất cởi mở với văn hóa Tây phương. Trong khi sách và tài liệu bằng ngoại ngữ có phần khan hiếm và đắt tiền, chúng tôi khao khát được biết những hiện tượng văn hóa ở nước ngoài, đặc biệt thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và Tiểu Thuyết Mới của Alain Robbe-Grillet ở Pháp. Một hôm có người bạn khoe vừa mới nhận được cuốn Le docteur Jivago từ Pháp gửi về. Bỗng nhiên tôi cảm thấy rất thèm đọc cuốn sách đó. Thêm nữa, được biết Boris Pasternak, tác giả cuốn sách, được giải Nobel nhưng không đi lãnh được, tính tò mò của tôi càng bị kích thích. Tôi bèn năn nỉ người bạn cho tôi mượn cuốn sách. Bạn tôi đang thích thú có được một cuốn sách quý, nghe tôi hỏi mượn thì có vẻ không vui, nhưng có lẽ vì thấy tôi van nài dữ quá và hứa chỉ giữ cuốn sách trong hai ngày, bạn tôi đành cho mượn. Phần tôi rất áy náy, vì trong vòng hai ngày làm sao đọc hết một cuốn sách dày như thế. Dù sao tôi vẫn thấy mình may mắn, nên vội đem cuốn sách về nhà, dẹp hết mọi việc để mải miết đọc cho kịp trả lại bạn. Vì thiếu thời gian để đọc kỹ và vì tuổi trẻ thiếu chín chắn trong sự tiếp nhận một tác phẩm, nên tôi không nhớ gì nhiều, chỉ nhớ mối tình đầy bất trắc của Jivago và Lara, nhớ có đông đảo nhân vật trong truyện – tiểu thuyết Nga bao giờ cũng có rất nhiều nhân vật – và nhớ nhất là… tuyết. Tôi đọc Bác sĩ Jivago trong một thành phố Sài gòn vô cùng nóng bức, mà sao tôi có cảm tưởng như tuyết rơi quanh mình nhiều quá !

Hôm nay được nghe bàn đến cuốn sách mà năm xưa tôi đã đọc vội vã. Khi nghe hai học giả chuyên về văn học Nga phát biểu về Boris Pasternak và tác phẩm của ông, tôi lóa mắt. Sau buổi phát thanh Répliques, tôi nhất định phải đọc lại một tác phẩm lớn đã từ lâu bị chôn vùi trong ký ức mình. Thế là tôi đến khu La Tinh tìm cuốn sách. Bà chủ hiệu sách kêu lên : Quái ! Hôm nay có cái gì mà nhiều người đến mua cuốn sách này thế ? À, thế thì tôi không phải là kẻ duy nhất, trong số các thính giả của Répliques, đã bị cuộc thảo luận lôi cuốn.

 Alain Finkielkraut đã vô tình đưa tôi trở về với Bác sĩ Jivago. Lần này tôi không phải đọc sách hấp tấp để kịp trả cho bạn. Tôi có thừa thì giờ để nhẩn nha đi vào thế giới mênh mông và bi đát của Jivago, để thưởng thức cái đẹp qua sự sáng tạo của một nhà thơ viết văn xuôi, vì Boris Pasternak trước tiên là một nhà thơ. Tác phẩm Bác sĩ Jivago kết thúc bằng những bài thơ, như để nhắc rằng cái đẹp thấp thoáng trong truyện bắt nguồn từ thơ.

DƯƠNG NGHIỄM MẬU VÀ MÊ LỘ CỦA NGƯỜI ANH HÙNG

Dương Nghiễm Mậu đã sớm xuất hiện trên văn đàn miền Nam, với những truyện : ng đành Gia tài người mẹ ra năm 1963. Năm 1966, Dương Nghiễm Mậu được Giải thưởng Văn chương Toàn quốc với tác phẩm Gia tài người mẹ. Sau hai tác phẩm vừa kể, tác giả không ngừng sáng tác ; tính đến năm 1972 Dương Nghiễm Mậu đã có khoảng 20 tác phẩm. Đọc truyện của ông, người đọc có thể nhận thấy những tìm tòi về nghệ thuật dựng truyện, những cố gắng ra khỏi đường mòn khuôn sáo, truyện dài Con sâu xuất bản năm 1971 là một bằng chứng. Ngoài những truyện dài, Dương Nghiễm Mậu còn là tác giả của những tập truyện ngắn như : Kinh cầu nguyện (1967), Quê người (1972), v.v… Trong số những truyện ngắn của ông đăng trên tạp chí Văn, năm 1972, có một truyện mang tựa đề : Chuyến trở về sau cùng (Giai phẩm Văn 1972), rất đáng được chú ý, vì ngoài cách đọc thông thường truyện còn gợi một cách đọc khác : cách đọc theo biểu tượng, khiến chiều kích của truyện được mở rộng đđt đến những khái niệm bất ngờ.

Vào thời quê hương chìm ngập trong khói lửa, làm sao văn chương đừng phản ánh thảm họa chiến tranh ? Cũng như vô số truyện của các tác giả miền Nam, Chuyến trở về sau cùng bắt nguồn từ chiến tranh. Truyện kể việc đưa quan tài một người lính tử trận về cho gia đình. Một người lính trẻ, sau một cuộc phục kích, trên đường về bị trúng đạn chết. Lẽ ra một tiểu đội phải đưa tiễn kẻ xấu số về với gia đình, nhưng tình hình thiếu an ninh nên chỉ có một người tài xế và một người lính làm nhiệm vụ này. Sau nghi lễ nhập quan, lính trong tiểu khu đi tìm hoa, bất cứ hoa gì, hoa dại, hoa vạn thọ, hoa giấy… để kết một vòng hoa, cái khung được làm bằng giây kẽm gai. Quan tài đưc đặt giữa lòng xe, có lá quốc kỳ phủ lên, một ống bơ dùng làm bình nhan. Người lính đội mũ sắt, tay cầm súng, ngồi gác bên cạnh. Từ trên cao nguyên, xe chạy theo quốc lộ về thành phố và phải qua nhiều trạm kiểm soát, đến mỗi trạm, người tài xế phải xuống xe, trình giấy tờ. Đi được hai phần ba đường thì xe đến một tiểu khu. Trời bắt đầu tối, người tài xế xin phép đu xe để nghỉ đêm. Sáng hôm sau, người tài xế giậy trước, di rửa mặt và trở lại xe gọi bạn thức dậy, người lính nhảy xuống xe, cái quần vướng vào vòng hoa và vòng hoa rơi xuống đường, hoa bắt đầu héo, người lính nhặt vòng hoa và đặt lại trên xe. Hai nời vào câu lạc bộ ăn sáng, khi trở ra chiếc xe biến mất, họ đâm lo lắng, mới hay chiếc xe bị kéo ra sau tiểu khu, vì có một nhân vật quan trọng sắp đến. Rồi họ tiếp tục cuộc hành trình. Xe chạy dọc con đường lớn của tỉnh lỵ, tới đầu quốc lộ, tiếp tục chạy, rồi ngừng lại một trạm kiểm soát, rồi chạy giữa rừng cao su, qua một cây cầu xi măng. Vòng hoa trên xe héo rũ trơ ra cái vòng kẽm gai, người lính vứt vòng hoa xuống đường. Xe chạy nhanh trên quốc lộ, vì người tài xế muốn làm xong nhiệm vụ sớm, cả người tài xế và người lính đều cảm thấy mỏi mệt. Khi đứng trưa, xe vào tới thị trấn, dừng lại, người tài xế ghé đồn quân cảnh trình giấy tờ, gửi xe, rồi hai người đi ăn trưa. Nắng tóe lửa. Trong cuộc đối thoại giữa hai ngưi, người lính tỏ vẻ ái ngại, sợ xác chết trong quan tài phình lên. Người tài xế trái lại không có vẻ gì lo lắng, anh ta đã thấy nhiều cảnh khủng khiếp, xác chết đã sình lên, chảy nước, thế mà người thân vẫn ôm lấy mà khóc ; theo anh ta, người lính trẻ này có phúc : Một mình một ngựa trở về thảnh thơi (tr. 59). Người tài xế không muốn đem tin dữ đến với gia đình, anh ta gọi đóvai trò tử thần. Xe ra khỏi đồn cảnh binh, chạy vào đường phố. Hai người bắt đầu tìm đưng. Xe đến ngã tư thứ nhất, rồi qua khu nghĩa đa. Đến khu dân cư, tưởng đã đến nơi, nhưng phải đi tới một ngõ lớn. Đến nơi xe ngừng, đúng là ấp Tây nhứt ghi trên giấy tờ. Đầu ngõ có cái quán, người trong quán cho biết không phải hẻm này. Khi đến đúng con hẻm 131/32, xe chạy vào trong hẻm. Tìm đúng số nhà, nhưng hỏi ra mới biết gia đình thân nhân của người lính chết đã dọn đi nơi khác, không để lại địa chỉ.

Người tài xế và người lính nản lòng, lúng túng không biết phải làm sao. Truyện đến đây chấm dứt.

Truyện xảy ra trong những không gian tiếp nối nhau. Tác giả miêu tả cuộc hành trình từ trên cao nguyên về đến thành phố một cách tỉ mỉ như một cuốn phim quay chậm. Người đọc có cảm tưởng thời gian chậm lại qua nhiều chặng đường, nhiều trạm kiểm soát, qua sự mệt mỏi của người tài xế và người lính phải ngủ dọc đường, phải ăn sáng, ăn trưa trong cái nóng hừng hực và bụi bặm. Khi đến thành phố cũng chưa xong, còn phải cho xe chạy ngoằn ngoèo một lúc, rồi khi đến đúng cái ấp Tây nhứt cũng vẫn chưa xong, còn phải bỏ con hẻm thứ nhất đ đến con hẻm thứ hai mới đến đúng số nhà, đúng số nhà nhưng không đúng gia đình, một lần nữa người tài xế và người lính vẫn không đt đến mục tiêu.

Cuốn phim được quay chậm cũng đ người đọc thấy phản ứng của mọi người trong khu dân cư. Trong cái quán đầu ngõ hẻm thứ nhất, khi thấy chiếc xe chở quan tài dừng lại và người tài xế xuống xe cầm giấy hỏi thăm, thì mọi người bỗng im bặt, hồi hộp, lo sợ, tự hỏi con ai đây. Rồi khi biết là xe đi lầm ngõ thì họ thở phào nhẹ nhõm, tiếng nói, tiếng cười lại vang lên, nhưng họ vẫn tỏ ra xót xa cho gia đình nào đó đã có con chết. Qua ngõ hẻm thứ hai cũng có nhiều ngưi đứng hai bên ngõ im lặng theo dõi, Trong ngôi nhà mang đúng con số đã ghi trên giấy, một người đàn bà và một cô gái chạy ra thất thần, sắp òa lên khóc,ởng nời ta đem xác con trai mình, em mình về. Nhưng khi biết có sự lầm lẫn với gia đình người xấu số đã dọn đi nơi khác, họ như thoát nạn. Hình ảnh như được phóng lớn cho thấy nỗi lo sợ của mọi người : những người có con em đang chiến đấu ngoài mặt trận cũng như những người tuy không có người thân đang vào sinh ra tử, nhưng đầy lòng trắc ẩn.

Truyện tác giả kể phản ánh hiện thực với những sự kiện cụ thể, quá quen thuộc đối với những người đã từng sống vào thời đó.

Mặt khác, truyện Chuyến trở về sau cùng hàm nhiều ẩn nghĩa, vì như chúng ta biết, một tác phẩm, một văn bản có thể được giải thích bằng nhiều cách, vì lẽ tác phẩm văn học bao giờ cũng là một tác phẩm mở.

Vậy có thể đọc truyện này ở một mức độ khác : mức độ biểu tượng. Nhưng trước hết biểu tượng là gì ? Theo tự điển Dictionnaire des termes littéraires (Nxb Honoré Champion, Paris, 2005), thì khi người ta nói đến biểu tưng, người ta nghĩ đến sự liên hệ gián tiếp nối liền một hình tượng (một đồ vật, một hành động, một cử chỉ…) với một ýởng hay một khái niệm. Lắm khi sự liên hệ đó căn cứ vào một hoán dụ, ví dụ : cái vương trưng để chỉ vương quyền, hay căn cứ vào một ẩn dụ, ví dụ : hoa huệ được dùng để chỉ sự trong trắng. Sự liên hệ giữa cái biểu tượng và cái nó dẫn đến thuộc tính gợi cảm hơn là tính hợp lý. Còn theo tự điển Le Dictionnaire du Littéraire (Nxb PUF, 2002), thì biểu tượng không thể tách biệt với đời sống con người, với sự thấu hiểu về thế giới. Biểu tượng khiến sự lưu truyền quá khứ có tính truyền thuyết được thêm vững chắc và khiến những truyền thống (tín ngưỡng, nghi lễ, cách xử sự) trở nên chính đáng. Như thế biểu tượng làm cho sự kết hợp chặt chẽ của một cộng đồng được lâu bền.

Ngoài ra, biểu tượng nuôi dưỡng văn chương và phong phú hóa văn chương.

Trong bài tựa cho cuốn sách phê bình : « Jean-Jacques Rousseau, la transparence et l’obstacle » (Jean-Jacques Rousseau, sự trong suốt và sự cản trở), nhà phê bình văn học nổi tiếng Jean Starobinski muốn làm mới cách đọc một văn bản bằng cách đưa lên hàng đầu giá trị của biểu tượng, ông viết : « Ngược lại với một lối phê bình có tính ép buộc, áp đặt từ bên ngoài những giá trị, thứ tự và những xếp đt đã định sẵn của nó, chúng tôi thích có một lối đọc chỉ cố gắng phát hiện sự thứ tự hay vô thứ tự bên trong của văn bản mà lối đọc đó tra vấn, cố gắng phát hiện những biểu tượng và những ý tưng theo đó tư duy ca nhà văn được sắp đặt ».

Nhiều lý do cho phép đọc truyện Chuyến trở về sau cùng theo biểu tưng. Trước hết các nhân vật trong truyện không có tên riêng, chỉ được chỉ định theo chức vụ : người tài xế, người lính, và nhân vật chính, trọng tâm của truyện, là người lính trẻ chết nằm trong quan tài cũng không có tên ; vì nếu căn cứ vào cái tên Nguyễn Văn T. trên giấy tờ thì cái tên đó cũng bằng như vô danh : đa số người Việt Nam đều mang tên họ Nguyễn, họ Nguyễn cộng thêm tên T. viết tắt đều không có khả năng cá biệt hóa người lính đã chết. Thứ đến không có địa danh của các nơi, chỉ biết chiếc xe khởi hành từ trên cao nguyên, nhưng ở địa điểm nào ? Cao nguyên, quốc lộ, rừng cao su, tỉnh lỵ, thành phố, tất cả tạo nên một không gian có tính phổ quát. Vậy trong truyện không có sự chỉ định rõ ràng về nhân vật và nơi chốn khiến cho chiều kích truyện có thể được mở rộng, đđt đến chiều kích của dân tộc, của đt nước. Dương Nghiễm Mậu viết : Có gia đình nào ngày nay không có con em trong quân đội ? Có gia đình nào trong suốt mưi năm nay không có nhng cái tang đau đớn ? (tr.62) Người tài xế nói : Thằng này chết vậy là có phúc lắm. Một mình một ngựa trở về thảnh thơi. Có thể nói tất cả những người trai trẻ đã bỏ mình trong cuộc chiến đu đưc người lính vô danh nằm trong quan tài đại diện, vô số anh hùng đu được gom lại thành một người anh hùng. Vậy người chết trong quan tài có một giá trị biểu tượng. Cái vòng hoa cũng là một biểu tượng. Vòng hoa rơi xuống đất hai lần, lần đu khi người lính thức dậy, nhảy xuống xe đđi rửa mặt, vòng hoa vướng vào quần anh ta và rơi xuống đất ; lần thứ hai khi xe đang chạy, người lính thấy hoa đã héo úa nên vứt vòng hoa xuống đường. Thông thường vòng hoa là dấu hiệu của sự tôn vinh, sự ca ngợi, chẳng hạn vòng hoa được đt trước một đài kỷ niệm, trong những dịp lễởng niệm ; nhưng trong trường hợp này, vòng hoa có vẻ thảm thương, xơ xác, giây kẽm gai biểu tượng cho hoàn cảnh gian nan, nguy khốn của người lính, những cánh hoa dại chóng tàn biểu tượng cho sự mong manh, ngắn hạn của mạng sống người lính. Vòng hoa đồng hành với quan tài trên một đoạn đường rồi héo rũ, không còn xứng đáng với người lính nằm trong quan tài, vì người lính đã được thanh cao hóa để trở nên người anh hùng của dân tộc.

Lá quốc kỳ có giá trị biểu tượng lớn nhất, đó là biểu tượng của Tổ quốc. Trong truyện, sự hiện diện của lá quốc kỳ được nhắc đến năm lần :

Người tài xế kéo ngay lại lá quốc kỳ xô lệch trên cỗ quan tài…  (tr. 54)

Nắng sáng trên lá quốc kỳ… (tr. 57)

Gió thổi mạnh làm mép lá quốc kỳ tung bay… (tr. 57)

Người tài xế xuống xe, đóng cửa lại, anh ta đi về phía sau nhìn màu lá quốc kỳ rực rỡới nắng. (tr. 60)

Trong con ngõ hẻm chưa lúc nào đông ngưi như lúc đó, họ tụm lại bàn tán với nhau, có người tới gần xe nhìn lên cỗ quan tài phủ lá quốc kỳ với màu sắc rực rỡ.  (tr. 63)

Lá quốc kỳ phủ lên quan tài là cử chỉ người mẹ ôm lấy đứa con, mẹ Tổ quốc ôm con, đưa con về xứ mẹ.

Con đường từ trên cao nguyên về đến thành phố là một con đường quá dài, đầy gay go, như một mê lộ. Trong thần thoại Hy lạp, mê lộ là những con đường chằng chịt tréo nhau do Dédale xây cất theo lệnh của vua Minos để giam giữ con quái vật Minautore thích ăn thịt người. Những con đường chằng chịt đó khó cho con quái vật thoát ra ngoài.

Tự điển Dictionnaire des Symboles (Nxb Robert Laffont, 1982) định nghĩa mê lộ như những con đường chằng chịt bắt tréo nhau mà một số không có ngõ ra, biến thành ngõ cụt. Qua những con đường đó phải tìm cho ra cái con đường đưa đến trung tâm. Mê lộ là biểu tượng của một hệ thống phòng thủ, mê lộ báo hiệu sự hiện diện của một cái gì quý báu hay thiêng liêng. Mê lộ có thể có một chức năng quân sự để bảo vệ một lãnh thổ, hay một chức năng tôn giáo chống lại những tấn công của điều ác. Trung tâm của mê lộ được gìn giữ và dành cho ngưi được khai tâm, người đãợt mọi khó khăn qua những chặng đường vòng trong mê lộ, xứng đáng đt đến sự thần khải mầu nhiệm, xứng đáng được thừa nhận là ngưi được khai tâm.

Mê lộ trong Chuyến trở về sau cùng là một con đường dài thăm thẳm và ngoằn ngoèo, đầy gian nan, thử thách. Mê lộ có những ngõ cụt ; như đã nói, có một lúc chiếc xe chở quan tài bị lạc mất ở tiểu khu, người tài xế và người lính ngỡ chiếc xe đã bị mất cắp, trong khi họ đi ăn sáng, sự thật xe đã bị đưa vào một ngõ cụt ; và các con hẻm trong khu dân cư cũng là những ngõ cụt. Quan tài của người anh hùng phải đi hết mê lộ mới đến đích. Sở dĩ người tài xế và người lính không tìm ra được địa chỉ của gia đình là vì người anh hùng không còn thuộc về một gia đình riêng tư nào nữa, người anh hùng thuộc về dân tộc, người anh hùng đang đi về Tổ quốc ở cuối mê lộ, ở đy người anh hùng sẽ được Tổ quốc trao cho ánh hào quang để sống mãi trong lòng dân tộc.

Hiếm khi một văn bản có đưọc hai cách đọc song song như thế, hai lưới đọc, nói theo giới phê bình Pháp. Trong truyện Chuyến trở về sau cùng của Dương Nghiễm Mậu hiển ngôn và ẩn ngôn chồng lên nhau tạo nên tính đa nghĩa, mở rộng chiều kích của văn bản và đưa đến một hệ thống biểu tượng.