CÁI BÓNG TRÊN MÁ

Từ trên chiếc tàu đưa anh về Island, Niels Jacobsen đưa mắt tìm trong đám cha mẹ, bà con và bạn bè tụ họp trên bến tàu, hình dáng Maria Bormann, hôn thê của anh, một cách vô hiệu. Thế nhưng anh trở về là chỉ vì cô ấy. Anh đã bỏ ngang cuộc du lịch ở Âu châu bởi vì cách đây sáu tháng bỗng nhiên Maria ngưng viết thư cho anh, sau khi đã cho anh quen nhận được mỗi tuần một bức thư âu yếm nhất, viết với một tấm lòng tha thiết nhất. Gia đình anh tránh đáp những câu hỏi tuyệt vọng của anh, anh chỉ biết cô còn sống, vì anh không thấy tên cô trên danh sách những người đã qua đời đăng trên tờ báo của Reykjavik. Anh có nghĩ đến việc không cập bến nước này, nơi mà có lẽ anh sẽ gặp cô đang quàng tay một người đàn ông khác. Nhưng vì những tiếng chuông thánh thót vang lên từ những gác chuông bằng gỗ, vì những mỏm đá bên bờ biển tròn lại dưới một ánh sáng êm dịu, vì những tiếng chó sủa quen thuộc, với lại Niels không có can đảm trốn cái quê hương tội nghiệp kia đã được trang hoàng như ngày lễ để tiếp đón anh.

Cha mẹ anh vừa hôn anh vừa khóc, nhưng khi anh thử tìm hiểu trong đôi mắt của hai đấng sinh thành, ngày hôm đó và những ngày sau, anh cảm thấy họ quyết tâm giữ bí mật. Vì kính trọng họ, và cũng vì kiêu hãnh về một nỗi tuyệt vọng mà anh khó giữ kỹ, anh không tìm hiểu điều đó với kẻ khác nữa. Trọn năm trôi qua một cách đau đớn.

Nhưng những tuyệt vọng do tình yêu gây nên chắc chắn đưa chúng ta trở về lại với tình yêu. Niels không còn đủ sức cưỡng lại một mối tình. Gerta Bruble, cô em họ của anh, đến nghỉ hè ở Reykjavik ; nụ cười, cử chỉ nghiêm trang, giọng nói ân cần và mệt mỏi của cô làm anh nhớ tiếng cười và lòng nhiệt thành của Maria, như một tiếng vọng kín đáo và đầy thương yêu. Vì Gerta trở nên quá thân thiết nên anh không chịu rời cô ta, và người ta làm hôn lễ cho đôi lứa vào mùa xuân.

Axel, một bác sĩ trẻ tuổi, người Thụy điển, mà Niels đã quen biết ở đại học Copenhague, đến viếng Island nhân dịp đám cưới của anh. Niels làm hướng dẫn viên cho Axel, và lần đầu tiên anh mạo hiểm đi xa thành phố Reykjavik, khi thì hướng về phía bắc, đến tận trung tâm của hòn đảo, đến những cái hồ đóng băng mà mây che khuất, khi thì đến vùng chài lưới, đến những vách đá ngoài bờ biển, ở phía đông, nơi có những bệnh viện kiểu mẫu mà Axel nhất thiết muốn thăm viếng. Họ nói chuyện lâu với những bệnh nhân đang phục hồi sức khỏe, giọng nói Thụy điển của người bác sĩ trẻ làm cho những người này vui lên.

Một buổi chiều khi sự yên tĩnh lạnh lẽo, sáng chói và dày đặc như tuyết, bao phủ nền trời, biển cả và các bãi chăn thì Axel và vợ chồng Niels đi ngang qua một trung tâm trị bệnh phong. Người giám đốc mới, ông Nansen, đã từng là học trò của thân phụ Axel, và họ ghé vào để chào ông. Trong khi Gerta giúp bà Nansen đun nước pha trà thì ông bác sĩ già đưa khách đi ngang qua những căn phòng rộng rãi có những khung cửa lớn hướng ra bầu trời và biển cả vô tận. Trong các hành lang màu xanh, trên đá lát tráng men, trong các nếp màn cửa, đâu đâu cũng tràn đầy ánh sáng và sự thanh thản, đến nỗi Niels và Axel quên khuấy đi sự khủng khiếp của căn bệnh tàn nhẫn đã đày các nạn nhân vào ở nơi này. Trong hành lang thứ nhất, vài đứa trẻ, mặt mày còn nguyên vẹn, tay mang găng, chân quấn trong những đôi dép to tướng, đang chơi một cách thầm lặng và ngây ngô, chúng hướng về khách lạ những cặp mắt đầy ngờ vực, làm như chúng sợ sức khỏe của họ. Rồi đến lượt căn phòng của đàn ông, gương mặt của những người này bị bệnh phong ăn mòn một cách khiếp đảm, chỉ có một người ngồi trong góc có gương mặt bị băng bó và đeo kính đen. Đó là người con trai khi xưa nổi tiếng đẹp trai và giờ đây không chấp nhận tình trạng mắc bệnh phong của mình. Ngày nọ, không biết làm sao mà anh ta kiếm ra được một cái gương và cho tất cả các bạn mượn vì muốn trả thù.

Phòng của phụ nữ ở cuối hành lang, xung quanh có những ngôi vườn. Khi nghe cánh cửa bật mở, cả năm người phụ nữ thình lình đứng dậy, họ sắp hàng, quay lưng với những người lạ mặt, họ nhìn ra biển. Khách càng đi qua gần họ, họ càng xoay người bằng một cử động do bản năng thúc đẩy, để người ta không nhìn thấy được ngay cả phía nghiêng của mặt họ. Bỗng nhiên Niels ngừng lại. Hình như trong người đàn bà phía tay phải anh nhận ra được Maria, hôn thê đầu tiên của anh. Vì quá ghê sợ, anh chạy theo mấy ông bạn ; nhưng khi ra đến cửa, anh không chịu đựng được một sự ngờ vực còn ghê gớm hơn sự thật, nó sẽ ám ảnh đời anh. Anh đứng lại, nhìn chăm chăm những người phụ nữ đang đứng im lìm, cái đầu bị thương của họ gục xuống ngực và bị ánh nắng biến thành những cái bóng đen chạy dài đến chân anh.

Đúng là tóc màu hạt dẻ của Maria, mái tóc quá dày đã làm gẫy tất cả các chiếc lược. Đúng là cái gáy của cô luôn luôn khỏe, căn ra, hơi cúi xuống trước sức nặng của đau khổ. Đúng là đôi vai của cô mập tròn khiến cô đưa cánh tay lên một cách khó khăn để hái trái xơ ri ; đúng là cái thân thể đó mềm mại gập lại trên đầu gối và trên hông mà khi xưa anh thích bắt gặp khi anh nhón gót đến gần và đặt tay lên mắt cô. Và kẻ phụ bạc chính là anh.

Người con gái mà anh nghi ngờ nay đã từ biệt mọi hạnh phúc, mọi hy vọng. Bị chôn vùi mãi mãi, có lẽ cô chạm phải mỗi ý tưởng, mỗi đồ vật như một người chết trỗi dậy dưới ngôi mộ tối tăm nhất.

– Maria ơi ! Maria ơi ! Niels hét lên.

Tất cả các người phụ nữ đều giật mình. Tiếng dội nào đó nghe xé ruột của một thế giới mà họ khó quên được mặc dù đã bao năm im lặng ?

– Maria ơi ! Niels lặp lại. Hôn thê của anh ơi !

Lần này, không một người phụ nữ nào cử động. Có lẽ, có lẽ không phải là cô ấy. Vả lại tại sao đóng kịch một cách đau đớn như thế ? Tại sao anh lại đến với những người phụ nữ không còn sống nữa, và tại sao anh la lên một cái tên có thể là tên của một người trong số họ, cái tên gợi lên những mùa hoa quả và hương thơm, gợi lên những ngày lễ và ánh nắng gắt mà khi xưa họ tránh để da mặt khỏi bị vết tàn nhang ? Khi thốt ra cái tên đó với giọng nồng nhiệt của anh, Niels cũng có tội như người đã mở ra phía biển cái lồng ở trong có những con chim mù. Tính tò mò điên rồ nào đã thúc đẩy anh, và nếu những người phụ nữ kia quay lại anh với gương mặt bị tàn phá của họ, làm sao anh có thể xin lỗi vì anh chỉ biết có sức khỏe và đã phô trương cái sức khỏe đó trước mặt họ, như để trả thù, như người đàn ông kia đã đưa ra cái gương ?

Nhưng cánh cửa bật mở. Axel lo lắng tìm bạn.

– Niels, anh ta gọi, nhanh lên. Vợ anh đang chờ đấy !

Thế rồi cái dáng người giống Maria ngồi sụp xuống. Cô che lấy mặt với hai tay, gương mặt mà ánh nắng không còn đủ để làm cái bóng che khuất. Một tiếng thổn thức giật giật và lặng lẽ lay lắt người cô, lan qua các bạn cô đang đứng, tay cầm cái suốt hình thoi quấn chỉ bây giờ trở nên vô ích, như những Nữ Thần Định Mệnh khi cái chết đi qua.

Niels đâm ra ngây dại, để người bạn dẫn ra xe. Anh nắm cương ngựa và cho xe chạy dọc theo núi đá, trên con đường nhô cao trên vực thẳm, mà không để ngựa trượt chân. Nhưng khi về đến nhà Niels đau nặng. Anh nằm liệt giường trong sáu tháng trời, lẵng lặng, đôi mắt sợ hãi chăm chăm nhìn Gerta, trong đôi mắt mà nỗi đau đớn làm cho ngày càng mở to, bóng tối lớn dần như một cơn bệnh tàn nhẫn.

Và anh từ giã cõi đời vào mùa thu.

Jean Giraudoux

Nguyên tác : « L’ombre sur les joues »

Trích từ tập truyện « Les contes d’un matin »,

                                      Nxb. Gallimard, 1952.

 

 

 

Advertisements